Ron Williamson sinh tại thị trấn Ada ngày 3 tháng Hai năm 1953, là con trai độc nhất và là con út của ông bà Roy và Juanita Williamson. Ông Roy Williamson làm chân môi giới bán hàng cho công ty Rawleigh, chuyên sản xuất dụng cụ gia đình. Ông là dân gốc của thị trấn Ada, lúc nào cũng ăn mặc nghiêm chỉnh, áo vét và cà-vạt, xách va-li đựng các mẫu sản phẩm của công ty đi rao hàng dọc theo các tuyến phố của thị trấn. Va-li hàng của ông đựng các thức ăn đã đóng gói và các dụng cụ nhà bếp. Túi áo ông Roy lúc nào cũng đầy kẹo để ông phân phát cho đám trẻ con hàng phố, do đấy mỗi khi nhìn thấy ông chúng đều reo mừng chào. Công việc của ông vất vả, thu nhập không được là bao. Sau khi sinh Ron, bà Juanita vợ ông phải xin vào làm chân hộ lý tại một bệnh viện ở thị trấn Ada để có thêm thu nhập.
Bố mẹ bận đi làm kiếm ăn, lẽ tự nhiên cậu bé Ron rơi vào vòng tay của chị anh ta, Annette, năm ấy mười hai tuổi. Annette có được cậu em trai để chăm sóc, chiều chuộng, rất sung sướng. Cô bón thức ăn cho em, tắm rửa cho em, chơi các trò chơi với em. Ron được chị nuông chiều quá mức. Mỗi khi không phải đến trường, Annette chăm sóc em, dọn dẹp nhà cửa và nấu ăn.
Ron còn một người chị nữa tên là Renee, con gái thứ hai của ông bà Roy và Juanita Williamson. Lúc Ron ra đời, Renee lên năm. Tuy không say mê chăm sóc em trai lắm, nhưng Renee cũng yêu em và luôn chơi với em. Thế là chị lớn Annette thay mẹ chăm sóc cả hai em.
Bà Juanita là tín đồ Thiên chúa giáo sùng tín. Bà rất chăm chỉ dẫn ba đứa con đến nhà thờ vào các ngày Chủ nhật và Thứ năm, cùng mọi ngày lễ bất thường khác của giáo xứ. Các con bà không bao giờ bỏ những buổi học giáo lý ngày Chủ nhật, những lớp giảng Kinh Thánh, những chuyến nghỉ hè cùng con cái những gia đình theo đạo khác. Thậm chí bà Juanita còn dắt chúng đến dự cả các nghi lễ hiếu hỉ tại nhà thờ. Ông Roy Williamson tuy không sùng tín như vợ, nhưng bao giờ cũng tuân thủ nghiêm ngặt các quy định của cộng đồng giáo dân. Ông không rượu chè, không cờ bạc, không nói tục, không khiêu vũ và rất gắn bó với gia đình. Với con cái, ông rất nghiêm khắc, không bỏ qua bất cứ lỗi lầm nào của chúng. Không hiếm những lần ông rút thắt lưng da ra quật chúng, nhất là quật vào lưng cậu con trai duy nhất, Ron.
Gia đình Williamson tuân thủ Giáo hội Pentecost, một giáo hội sùng tín. Họ thực hiện đầy đủ và nghiêm ngặt các nghi thức tôn giáo, gìn giữ mối quan hệ cá nhân với Chúa, chăm chỉ đọc Kinh Thánh và thường xuyên, đều đặn cầu nguyện.
Ba đứa con của ông bà Juanita và Roy Williamson được nghe và học thuộc các sự tích trong kinh Cựu Ước. Ngay từ nhỏ ba đứa con họ đã có thói quen thờ phụng Chúa, sám hối trước Chúa và luôn cầu nguyện Chúa dắt dẫn trong mọi việc trên cõi đời.
Cậu bé Ron Williamson đủ sáu tuổi thì được làm lễ rửa tội tại sông Blue River ở phía Nam thị trấn.
Gia đình Williamson sống bình yên trong ngôi nhà nhỏ trên phố Số Bốn, ở phía Đông của thị trấn Ada, ngay gần trường trung học, Những lúc rảnh rỗi, họ đến thăm họ hàng đang sinh sống tại địa phương, bận rộn với công việc của đạo và của đời. Thỉnh thoảng hai ông bà Roy và Juanita Williamson cho các con cắm trại tại Công viên xanh của thị trấn. Họ ít quan tâm đến thể thao, do đó đến khi cậu bé Ron phát hiện ra môn bóng chầy thì tình hình đột nhiên thay đổi theo hướng bất ổn.
Thoạt đầu Ron chơi bóng chày với đám trẻ con trong phố. Ngay từ những ngày đầu tiên, cậu đã bộc lộ sức khỏe của hai cánh tay và sự nhanh nhẹn của đôi bàn tay. Và cũng từ những ngày đầu, cậu đã say mê môn thể thao này. Không thể cản ngăn và thấy con trai năn nỉ mãi, cuối cùng ông Roy buộc phải mua cho con một đôi găng tay bằng da và một cây gậy bóng chầy. Tài chính gia đình eo hẹp, nhưng biết làm sao được? Thế là nảy sinh một tục lệ mới, cứ mỗi lần xuân đến, ông Roy lại đưa vợ con đi mua sắm. Họ đến siêu thị Haynes chọn mua cho con trai một đôi găng tay bằng da, loại găng dành cho cầu thủ bóng chầy. Và bao giờ cũng là đôi găng đắt tiền nhất có trong siêu thị.
Những lúc không dùng đến đôi găng, Ron Williamson cất nó trong góc phòng ngủ của anh. Anh bố trí chỗ này thành như một “góc thờ”. Có cả một “ban thờ” thần tượng bóng chầy của anh, Mickey Mantle, được coi là người công dân vĩ đại nhất bang Oklahoma.
Danh thủ bóng chầy Mickey Mantle được khắp đất nước sùng bái, nhưng riêng ở bang Oklahoma, anh được đề cao như một ông Thánh. Mọi chàng trai, nhất là những cầu thủ bóng chầy trẻ đều ôm mộng một ngày kia sẽ tài giỏi và nổi tiếng như Mickey Mantle. Trong cái “góc thờ” này, Ron Williamson bày các bức ảnh của thần tượng, và cả những tấm áp phích quảng cáo cho Mickey Mantle và cho đội bóng chầy bách chiến bách thắng của anh.
Mỗi khi không chơi bóng chầy bên ngoài, Ron ở nhà, lấy cây gậy bóng chầy ra, tập những động tác mạnh mẽ nhất, những đòn đánh quyết định nhất, bằng toàn bộ sức lực của mình. Nhà thì hẹp, đồ đạc không có gì quý nhưng lại không thứ gì có thể thiếu, cho nên mỗi khi bà Juanita bắt gặp con trai tập cây gậy, làm vỡ một bóng đèn hoặc gãy một chiếc ghế, bà lập tức quát và đuổi con ra khỏi nhà. Vài phút sau, Ron quay về. Tuy nhiên, bà hết sức yêu con. Và tuy được nuông chiều nhưng Ron không hư.
Ron còn có một cái tật là vụng về trong giao tiếp. Tuy trong lòng đầy tình thương yêu cha mẹ, hai chị, cũng nhự bạn bè, nhưng anh luôn lúng túng trong cách bộc lộ tình cảm ấy. Bên cạnh đấy Ron cũng có đôi lúc ích kỷ và đòi hỏi đối với các thành viên khác trong gia đình. Tính tình Ron luôn thay đổi như vậy, lúc thì rất mềm mỏng, ân cần, lúc lại nóng nảy, thô lỗ. Tính xấu này mọi người đã nhận thấy ở Ron từ khi anh còn nhỏ, nhưng không ai để bụng và cũng không ai nghĩ cách sửa chữa cho anh. Hoặc nói cách khác thì thỉnh thoảng Ron có những lúc ương nganh, khó bảo. Cái tính này có thể do anh là con trai duy nhất, lại là con út, được mẹ và các chị chiều chuộng quá mức.
Trong mỗi thành phố nhỏ hoặc thị trấn đều có một “ông bầu bóng chầy” riêng. Ông ta rất yêu môn thể thao này và hết sức quý những tài năng trẻ mới xuất hiện, cho dù tài năng ấy bộc lộ ở một cậu trai mới tám tuổi. Tại thị trấn Ada, đấy là Dewayne Sanders, ông bầu của đội bóng chầy “Những con đại bàng Cảnh sát”. Ông làm việc tại một đồn cảnh sát cách nhà gia đình Williamson không xa, trên phố Số Bốn. Tiếng đồn về tài năng của cậu bé Ron Williamson lọt đến tai ông, thế là ông vội tìm đến và ký luôn hợp đồng, nhận cậu bé là thành viên của đội.
Tuổi còn nhỏ, nhưng Ron đã chơi bóng chầy khá thành thạo. Đây là điều lạ, vì ông Roy cha cậu hầu như không biết gì về môn thể thao này. Ron biết đến nó là từ ngoài đường phố.
Vào những tháng hè, môn thể thao bóng chầy được đám trẻ bắt đầu từ sáng sớm. Chúng tụ tập nhau lại, bàn tán về trận đấu của đội Yankees hôm trước. Chúng chỉ quan tâm đến các cầu thủ câu lạc bộ Yankees[1] nổi tiếng. Chúng nghiên cứu kết quả các trận đấu của câu lạc bộ bóng chầy ấy, bàn tán về thần tượng của chúng, danh thủ Mickey Mantle. Rồi trong khi chờ đợi những đứa khác chậm đến, chúng tung bóng lên chuyền cho nhau. Đấy là những trận đấu thoải mái trên đường phố, cản trở giao thông. Tuy nhiên, vào lúc sáng sớm này xe cộ thưa thớt, chỉ thỉnh thoảng mới có một chiếc xe bị cản, bóp còi inh ỏi. Khi ấy bọn trẻ ngừng chơi bóng để nhường lối cho xe. Đôi khi chúng cũng vô ý làm vỡ một ô kính cửa sổ của gia đình nào đấy. Khi số trẻ đến đã đủ đông, chúng kéo nhau đi, tìm đến một bãi trống nào rộng rãi và không cản trở giao thông để bắt đầu chơi. Chơi suốt ngày. Phải đến bốn, năm giờ chiều, chúng mới chịu về nhà, mà cũng chỉ cốt để tắm rửa, ăn nhanh một thứ gì đấy, mặc lên người bộ đồng phục rồi vội vã đến công viên Kiwanis để dự trận đấu thật sự.
Đội bóng chầy “Những con đại bàng Cảnh sát” thường được xếp đầu bảng, do sự điều khiển của ông bầu Dewayne Sanders, cầu thủ xuất sắc nhất của đội chính là Ron Williamson. Tên cậu lần đầu tiên xuất hiện trên báo Tin tức buổi chiều Ada khi cậu mới tròn chín tuổi. Bài báo viết “Đội Đại bàng Cảnh sát ghi được 12 điểm thì 2 điểm thuộc về Ron Williamson”.
Trận đấu nào ông Roy Williamson cũng đến xem, ngồi trên hàng ghế khán giả, lặng lẽ nhìn. Ông không la hét, cũng không hoan hô ầm ĩ cho ông bầu đội bóng hoặc trọng tài, mà cũng không gào to cổ vũ con trai. Chỉ thỉnh thoảng, ông mới nhẹ lời khuyên con một câu, về kỹ thuật bóng chầy thì ít, mà về thái độ ứng xử thì nhiều. Ông chưa đụng đến quả bóng chầy bao giờ, mới chỉ bắt đầu tìm hiểu về môn thể thao này. Và về mặt ấy, con trai ông vượt cha rất nhiều.
Năm Ron Williamson mười một tuổi, cậu được nhận vào đội bóng chầy “Thiếu niên Ada” và trở thành cầu thủ số một của đội bóng Yankees, do Ngân hàng Nhà nước bang Oklahoma tài trợ. Cậu đã dắt dẫn đội bóng này vào một mùa bách thắng, không bị thua trận nào.
Năm mười hai tuổi, Ron vẫn còn chơi cho đội Yankee, và lúc này tên tuổi cậu đã khá lẫy lừng. Trong các bài tường thuật trên báo chí Ada, tên tuổi Ron Williamson luôn được nhắc đến theo cách ca ngợi.
***
Cách vòng ngoài của thị trấn Ada khoảng tám dặm về phía đông bắc có một thị trấn nhỏ, tên là Byng. Vào thập niên 1960 thị trấn cũng có một trường trung học. Trường này bị coi là trường nông thôn, nhỏ hơn nhiều so với trường trung học Ada. Thế nhưng đa số các gia đình sống trong khu vực phía Đông của thị trấn Ada lại xin cho con vào học trường Byng, chỉ vì một lẽ đơn giản là xe buýt đưa đón học sinh của trường Ada không chạy qua khu vực ấy mà xe buýt của trường Byng lại chạy qua, rất thuận tiện cho việc con cái các gia đình đi học. Do đấy trẻ con cùng phố với Ron hầu hết đều chọn trường Byng để theo học.
Tại trường trung học Byng, Ron Williamson được bầu làm lớp trưởng lớp Bẩy và năm sau cậu được bầu làm lớp trưởng lớp Tám.
Niên học 1967, Ron Williamson thi đậu vào lớp Chín cùng với sáu mươi học sinh mới.
Trường trung học Byng không có đội bóng đá. Bóng đá là dành riêng cho trường trung học Ada. Trường Byng chỉ có đội bóng rổ và đội này hàng năm đều dự cuộc tranh tài với các đội bóng rổ khác của bang Oklahoma. Vì vậy Ron đành phải tham gia đội bóng rổ và chẳng bao lâu cậu đã thành cầu thủ xuất sắc của đội, hệt như cậu đã từng là cầu thủ xuất sắc của đội bóng chầy hồi trước.
Về mặt văn hóa, tuy không phải loại học gạo, nhưng Ron cũng đạt tiêu chuẩn học sinh giỏi. Cậu đặc biệt yêu thích môn toán và cũng đạt những kết quả tốt nhất về môn học này. Vốn tính chịu khó, mỗi lần gặp khó khăn trong học tập, cậu cần cù lục lọi các từ điển và sách tham khảo. Dần dần cậu thành “mê” từ điển. Cậu luôn đố bạn những câu mà các bạn không giải được. Cậu thuộc lòng tiểu sử tất cả các tổng thống của Hoa Kỳ, nhớ tỉ mỉ những sự kiện quan trọng trong lịch sử nước Mỹ. Say mê học văn hóa như vậy nhưng Ron vẫn chịu khó nghiên cứu Kinh Thánh, thuộc từng đoạn dài trong kinh Cựu Ước và Tân Ước, thuộc lòng hàng trăm câu thơ của Shakespeare.
Hơn thế nữa, Ron còn giỏi cả điền kinh. Cậu được bạn bè yêu mến. Các nữ sinh rất mến cậu, yêu cậu, nhiều cô muốn “hẹn hò” với cậu, và tất nhiên cậu cũng không thản nhiên trước các bạn gái. Ron bắt đầu quan tâm đến hình thức bên ngoài, đến cách ăn mặc. Yêu cầu về ăn mặc của Ron vượt ra ngoài khả năng tài chính của gia đình, nhưng biết cả nhà quen chiều cậu nên cậu lợi dụng cái ưu thế ấy. Để con trai được bảnh hơn, ông Roy Willịamson đã mua cho con những áo quần sang trọng, nhưng đã qua sử dụng nên giá được giảm nhiều.
Chị Annette của Ron lấy chồng và vẫn sống tại thị trấn Ada. Năm 1969, chị cùng với mẹ mở một trung tâm thẩm mỹ, rồi một hiệu làm đầu tại tầng một của khách sạn Julienne, một khách sạn lâu đời, cổ kính của thị trấn, nằm đúng giữa khu buôn bán.
Annette vốn mềm yếu, không nỡ nói “không” với cậu em nên đã để cho Ron thường xuyên moi tiền của chị để may sắm những bộ đồ đắt tiền, những trang sức quý, và để bao gái. Khi biết chị cậu có một tài khoản cố định tại một hiệu may nổi tiếng, cậu đã xin với chị cho sử dụng chung. Bây giờ thì không bao giờ Ron chịu mặc áo quần may sẵn hoặc bằng các loại vải thông thường.
Đôi khi Annette thấy cậu em đi quá đà, lựa lời khuyên bảo, nhưng đã không kết quả mà lại thành chị em cãi nhau. Cuối cùng bao giờ Annette cũng đấu dịu và đành chi tiền cho cậu em ăn chơi. Dần dần Ron nhiễm cái tính đã dùng thứ gì đều phải loại “số một” mới được. Và cậu đâm thành ranh ma, mỗi lần làm điều gì khiến chị không bằng lòng và xảy ra cãi nhau, thì khi hai bên đã làm lành, cậu lại nói là yêu chị vô cùng, thế là Annette hết giận.
Không chỉ chị lớn Annette mà chị thứ hai Renee cũng rất lo, thấy em trai họ mỗi ngày một thêm hư hỏng. Nhưng cứ mỗi lần hai chị tổ chức cuộc “đấu em” thì cuối cùng bao giờ Ron cũng đủ lý để bác lại và cả hai chị đều đầu hàng. Thật ra cả hai chị Annette và Renee đều rất yêu em và Ron cũng rất yêu hai chị.
***
Học xong lớp Chín phổ thông trung học, vào mùa hè năm ấy, một số bè bạn có điều kiện kinh tế khá giả tính chuyện đi dự trại hè bóng chầy tổ chức tại một trường trung học gần đấy. Chuyến đi sẽ rất tốn kém. Ron nằng nặc xin đi nhưng cha mẹ cậu, ông Roy và bà Juanita Williamson, không đủ tiền. Tuy nhiên Ron vẫn năn nỉ vì đây là dịp hiếm có để cậu nâng cao trình độ bóng chầy đồng thời lại có dịp để được những ông bầu giỏi các nơi biết đến.
Suốt bốn tuần lễ liền Ron không lúc nào ngơi việc thuyết phục cha mẹ. Đến lúc cảm thấy không hy vọng gì, cậu dằn dỗi.
Thương con, ông Roy Williamson buộc phải nhượng bộ, đành cắn răng đến ngân hàng vay tiền cho con đi dự trại.
Mưu đồ tiếp đấy của Ron là đòi mua một chiếc mô-tô. Hai ông bà Roy và Juanita nhất định không chịu, bảo yêu cầu ấy vượt quá xa khả năng của họ. Thế là Ron tuyên bố tự xoay tiền lấy. Cậu tìm được việc làm đầu tiên trên đời: một chân giao báo buổi chiều. Cậu tích lũy từng xu. Và khi đã đủ để trả khoản ban đầu, cậu quyết định mua xe. Sau đấy cậu tiếp tục trả dần cho người bán.
Kế hoạch trả tiền dần cho chiếc mô-tô bị phá sản, khi một gánh xiếc đến thị trấn. Gánh “Bud Chambers” đến biểu diễn ở thị trấn Ada kéo theo một không khí tưng bừng chưa từng có. Mỗi đêm họ biểu diễn những chương trình hết sức đặc sắc, kỳ lạ đến mức quái đản. Đêm biểu diễn đầu tiên của họ, Ron đến xem và lập tức bị chinh phục. Gánh xiếc có tài móc túi khán giả. Thế là sau đêm biểu diễn ấy, túi tiền của Ron vơi đi quá nửa. Nhưng không thể nhịn được, đêm sau cậu lại đến xem. Sau một tuần, khi gánh xiếc ra đi, thì Ron cũng nhẵn túi.
Ron phải bỏ công việc đưa báo buổi chiều vì thời gian trùng khớp với các trận đấu bóng chầy. Nhưng do rất biết cách moi tiền của hai chị, bằng cả ngọt lẫn xẵng, nên cuối cùng cậu vẫn xoay được tiền và trả xong chiếc mô-tô.
Ron chuẩn bị lên lớp Mười thì ông bầu bóng chầy của thị trấn Ada đến gặp ông Roy cha cậu, gợi ý nên xin cho Ron vào học ở một trường lớn hơn. Ron là một lực sĩ bẩm sinh và mọi người trong thị trấn đều biết cậu là một cầu thủ giỏi, cả môn bóng chầy lẫn môn bóng rổ. Nhưng bang Oklahoma lại là miền đất có ưu thế về bóng đá. Ông bầu kia khuyên ông Roy nên nhìn xa hơn và chuyển con sang học ở một trường khác gần nơi có điều kiện phát huy khả năng bóng chầy của cậu. Vì trường ấy ở xa, nên ông bầu tình nguyện sáng sáng lái xe đến nhà đón Ron, chở cậu đến trường
Cái khó là Ron đã chôn chân hai năm tại trường Byng và bây giờ cậu phải quyết định.
***
Asher là một thị trấn nhỏ, ít ai chú ý, nằm trên đường cao tốc 177, cách thị trấn Ada hai mươi dặm về phía bắc. Dân số ở đây chưa đến năm trăm người. Không có cả khu buôn bán, chỉ có hai nhà thờ, một tháp nước và vài đường phố nhỏ lát đá. Nhà cửa cũ kỹ nằm thưa thớt. Tuy nhiên, Asher lại có một ưu thế đặc biệt để tự hào, đấy là một sân bóng chầy tuyệt vời. Sân bóng lớn hơn cả trường trung học trên phố Division.
Giống như mọi thị trấn nhỏ khác, thị trấn Asher không có gì nổi bật, nhưng lại có một đội bóng chầy xuất sắc. Đấy là đội bóng của trường trung học Asher. Đây là đội bóng chầy chuyên dành chiến thắng trong các cuộc thi đấu và là đội nổi tiếng toàn quốc. Mà đúng như thế, trong lịch sử bóng chầy Hoa Kỳ, không có đội bóng chầy học sinh nào dành nhiều chiến thắng như đội bóng chầy của trường trung học Asher này.
Khởi đầu từ năm 1959. Một huấn luyện viên trẻ tên là Murl Bowen đến đây và thừa hưởng một chương trình đã từ lâu bị coi nhẹ. Năm trước đó, 1958, đội bóng chầy này không thắng được một trận đấu nào. Bowen về đã làm cho tình hình thay đổi rất nhanh. Chỉ trong vòng ba năm, đội bóng Asher đạt danh hiệu đội bóng chầy vô địch của bang Oklahoma. Và cứ thế tiến vùn vụt.
Trong vòng bốn chục năm, đội bóng chầy của huấn luyện viên Bowen thắng 2.115 trận, thua 349 trận, đem về bốn mươi ba cúp vô địch của bang và cung cấp hàng chục cầu thủ cho các đội bóng chầy của các trường trung học và các đội bóng chầy khác. Năm 1975, Bowen được bình chọn là huấn luyện viên các đội bóng chầy học sinh xuất sắc nhất trong năm. Thị trấn Asher thưởng công anh bằng cách đặt tên cho sân bóng chầy của thị trấn là sân Bowen. Đến năm 1995, Bowen lại lần nữa được bình chọn danh hiệu như năm 1975.
“Không phải công của tôi”, anh thường khiêm tốn nói. “Đấy là công của các em cầu thủ trẻ.”
Theo lệ thường, vào tháng Tám, huấn luyện viên Bowen tập hợp đội bóng chầy của anh để tập luyện và lên lịch thi đấu các nơi. Quả thật lực lượng của anh rất mỏng. Mỗi lớp chín chỉ có hai chục học sinh, một nửa lại là nữ. Rất khó tuyển được thành một đội bóng chầy, đấy là đã tính cả những học sinh lớp Tám có triển vọng cũng được nhận vào đội. Để bảo đảm không ai bỏ đội, Bowen đề ra một quy định: không mặc đồng phục cầu thủ, để bất cứ ai khi cần cũng có thể vào sân tham gia.
Tuyển xong, Bowen bắt đầu huấn luyện. Mỗi ngày ba buổi làm các bài tập cơ bản. Bowen rất coi trọng tác phong “quên mình”, đôi chân khỏe, và trên tất cả là phẩm chất của một vận động viên điền kinh. Chàng huấn luyện viên này chủ trương không đấu với những đội trung bình mà chỉ nhận đấu với những đội mạnh. Kết quả là đội bóng chầy của huấn luyện viên Bowen chuyên đấu với những đội của các trường trung học lớn và thắng họ. Danh tiếng lan truyền và các đội mạnh của bang Oklahoma cũng như của nhiều bang khác rất muốn đến Asher thử sức với đội của huấn luyện viên Bowen.
Đội bóng chầy của Bowen có tinh thần kỷ luật rất cao và một số nhà bình lụận nhận xét là các cầu thủ của đội Bowen được tuyển lựa rất công phu. Thị trấn nhỏ Asher đâm thành điểm hút đối với những trai trẻ ôm mộng trở thành cầu thủ bóng chầy nổi tiếng. Và không có gì lạ khi cậu Ron Williamson cũng mong ước đến học ở trường trung học của thị trấn này. Trong các cuộc thi đấu mùa hè, Ron làm quen được với Bruce Leba, một chàng trai ở thị trấn Ada và rất có thể là cầu thủ số hai trong khu vực, chỉ kém mỗi Ron. Hai người thân thiết với nhau và lúc nào cũng dính nhau như hình với bóng. Và tất nhiên họ bàn đến chuyện sẽ cùng theo học lớp Mười ở thị trấn Asher. Tại đây có rất nhiều triển vọng họ sẽ đoạt giải mùa thu 1970 và mùa xuân 1971 của bang.
Chuyển trường có nghĩa phải thuê một nơi ở tại thị trấn Asher. Đây là một hy sinh rất lớn của cha mẹ Ron - hai ông bà Williamson. Tài chính của gia đình anh lúc nào cũng eo hẹp. Đấy là chưa kể nếu thuê nhà cho Ron ở đấy, hai ông bà Roy và Juanita phải đi lại như con thoi giữa hai thị trấn, Ada và Asher, sẽ rất tốn kém. Nhưng Ron đã hạ quyết tâm. Anh cũng như các huấn luyện viên bóng chầy và những người hâm mộ môn thể thao này tại địa phương đều tin chắc chắn vào triển vọng huy hoàng của Ron Williamson. Gần như đã rõ ràng, mùa hè năm sau, tức là sau khi Ron tốt nghiệp lớp Mười, anh sẽ là cầu thủ, bóng chầy số một của bang Oklahoma. Thậm chí người ta còn xì xào rằng Ron Williamson sẽ là người nối nghiệp danh thủ Mickey Mantle.
Nhờ sự giúp đỡ của những người hâm mộ Ron, hai ông bà Roy và Juanita Williamson thuê được một ngôi nhà nhỏ cách trường trung học Asher chỉ hai lô nhà. Thế là Ron liền đăng ký tham dự trại hè của huấn luyện viên Bowen.
Thoạt đầu Ron rất lấy làm lạ thấy huấn luyện viên Bowen bắt các thành viên trại chạy suốt ngày: sáng chạy, chiều chạy, tối chạy. Thấy Ron băn khoăn, huấn luyện viên Bowen phải giải thích rằng đối với cầu thủ bóng chầy, quan trọng nhất là một cặp giò bằng thép. Ông còn bắt các trại viên luyện hai cánh tay, bàn tay, nhảy... Lúc đầu, do quen chủ quan về khả năng và sức khỏe của bản thân, Ron chưa thông lắm. Nhưng rồi chịu ảnh hưởng của bạn, Bruce Leba, và các trại viên khác, anh lao vào tập vô cùng hăng say. Kết quả Ron thành một lực sĩ điền kinh lúc nào không biết.
Huấn luyện viên Bowen ngày càng mê Ron Williamson. Ông rất thích vóc người, chiều cao, cơ bắp nở nang, tốc độ và sức mạnh của Ron khi ném bóng. Sức mạnh này đặc biệt mãnh liệt khi Ron ném bóng từ phía bên trái. Chẳng bao lâu Ron đã trở thành đội trưởng và Bruce Leba đội phó, hai cầu thủ xuất sắc nhất của đội.
Khi giải bóng mùa thu bắt đầu, những quan sát viên thể thao quay lại, bắt đầu ghi tỉ số giao tranh giữa các đội bóng. Họ đặc biệt ghi nhận những thành tích của Ron Williamson và Bruce Leba. Ron dành 468 điểm và Leba 444. Đôi bạn hỗ trợ nhau và kết quả đạt được là thứ chuẩn bị tốt nhất cho những trận đấu với các đội bóng chầy tầm cỡ.
Sau mỗi trận đấu, hai chàng trai lại lao vào những cuộc chơi bời hết mình. Các kỳ nghỉ cuối tuần, họ nốc bia thỏa thích và họ bắt đầu phát hiện ra cần sa. Họ tán tỉnh các cô gái và các cô rất dễ chấp nhận vì dân Asher hết sức hâm mộ các cầu thủ bóng chầy mà họ coi là những anh hùng. Gặp trường hợp quá say rượu không thể lái xe về Asher được, hai chàng vào ngủ lại chỗ chị Annette, dặn chị là không cho hai ông bà Williamson biết.
Hai chàng rất thận trọng để khỏi làm cảnh sát chú ý. Họ rất sợ huấn luyện viên Bowen trách cứ, và nhất là cần yên ổn vì sắp đến giải bóng mùa xuân năm 1971, một giải bóng đầy hứa hẹn đối với hai chàng. Họ luôn nhận được thư khích lệ và ca ngợi của các quan sát viên thể thao và công chúng hâm mộ. Và Ron cùng Leba đem những bức thư ấy ra đọc cho nhau nghe, rồi so sánh lời lẽ trong mỗi lá thư.
Môn bóng rổ ở thị trấn Asher có tác dụng chuẩn bị sức khỏe cho môn bóng chầy sau này. Khi mùa bóng rổ kết thúc vào cuối tháng Hai thì cũng là lúc bắt đầu cuộc diễn tập tại thị trấn Asher. Đội bóng chầy của huấn luyện viên Bowen đấu với nhiều đội khác trong vùng. Lại một dịp để Ron Williamson và Bruce Leba trổ tài. Và đôi bạn được báo chí địa phương cũng như báo chí quận ca ngợi là những cầu thủ “tràn đầy triển vọng”. Và không chỉ hai chàng, mà các cầu thủ khác của huấn luyện viên Bowen cũng được ca ngợi hết lời.
Cuối tháng Tư, Ron Williamson được đề cử vào giải Jim Thorps, lực sĩ điền kinh giỏi nhất của bang Oklahoma.
Đội bóng chầy Asher thắng hai mươi sáu trận, thua năm trận, rồi ngày 1 tháng Năm năm 1971, đánh bại đội Glenpoul với tỉ số 5-0, đoạt giải vô địch bóng chầy của bang Oklahoma.
Huấn luyện Bowen đề cử Ron Williamson và Bruce Leba vào danh sách chính thức những cầu thủ bóng chầy xuất sắc cấp bang. Ron Williamson và Bruce Leba rất xứng đáng được nhận danh hiệu này.
Vài ngày trước kỳ thi tốt nghiệp, trong tâm trạng đứng trước một bước ngoặt lớn trong cuộc đời, hai chàng trai bỗng nhận ra rằng đội bóng chầy thị trấn Asher sắp lùi vào quá khứ trong cuộc đời họ. Và họ thấy cần tiến hành một cuộc “đánh dấu” sự kiện quan trọng bậc nhất này. Đồng thời họ cũng thấy chưa bao giờ họ gắn bó với nhau như bây gỉờ. Cho nên phải tổ chức một cuộc “đập phá” thật dữ dội để kỷ niệm.
Vào năm ấy, thành phố Oklahoma City, thủ phủ bang Oklahoma, có ba câu lạc bộ thoát y. Đôi bạn chọn câu lạc bộ thú vị nhất trong số ba câu lạc bộ ấy. Đấy là câu lạc bộ Red Dog. Và trước khi lên đường, họ lấy một phần năm chai Whisky và một cặp sáu lon bia trong bếp nhà Bruce Leba mang theo. Lúc đến câu lạc bộ Red Dog thì cả hai đã say khướt. Họ gọi thêm bia và ngồi vừa uống bia vừa xem thoát y vũ. Tiếp đến tiết mục múa bụng. Mỗi điệu múa lại phải chi tiền. Cuối cùng hai chàng trai nhẵn túi.
Cha của Bruce Leba quy định với con là đi đâu cũng phải về nhà trước một giờ sáng. Nhưng tiết mục múa bụng chưa kết thúc và đến lúc hai chàng quyết định về thì đồng hồ đã chỉ 12 giờ 30 đêm. Mà từ đây về đến thị trấn Asher, xe phải chạy mất không dưới hai tiếng đồng hồ.
Thế là họ lao như điên. Bruce Leba ngồi sau tay lái, cho chiếc Camaro của cậu ta phóng vùn vụt. Nhưng được một quãng, cậu ta bỗng phanh xe lại vì Ron vừa nói một câu mà cậu cho là xúc phạm cậu. Hai bên bắt đầu cãi nhau, rồi chửi nhau và cuối cùng là đánh nhau. Thấy trong xe chật chội, Bruce Leba yêu cầu dừng lại, để ra ngoài đánh nhau cho thỏa thích.
Sau một vài phút đấm đá nhau, đôi bạn thân quyết định tạm đình chiến, hãy về nhà đã. Chui vào xe, Leba lại lao vun vút theo hướng thị trấn Asher. Cậu ta đi sai đường, một lát mới nhận ra, bèn quay lại để chọn con đường đúng. Xe vẫn lao vùn vụt. Đột nhiên Leba nhìn thấy đèn đỏ phía sau. Xe cảnh sát đuổi kịp, chặn hai cậu lại. Lúc này Leba hơi tỉnh và nhận ra là đã cho xe chạy quá tốc độ.
Nhân viên cảnh sát tỏ ra rất lễ độ, giơ tay chào rồi hỏi có phải cậu đã uống rượu không? Bruce Leba đáp:
“Có thể, thưa ông.”
“Ông có biết ông đã chạy quá tốc độ cho phép không?”
“Có, thưa ông”.
Hai nhân viên cảnh sát bàn nhau. Có vẻ họ không muốn phạt hay giữ xe. Bruce Leba năn nỉ họ, hứa sẽ cho xe chạy với tốc độ cho phép và lái xe nghiêm chỉnh cho đến nhà. Nhưng đúng lúc ấy Ron mở cửa sau, thò đầu ra, lè nhè nói những gì không ai nghe rõ.
Nhân viên cảnh sát hỏi Leba: “Ai thế?”
“Một người bạn”, Leba trả lời.
Nhân viên cảnh sát nói với Ron: “Mời ông ra khỏi xe”.
Ron bước ra, đi loạng choạng thế nào tụt ngay xuống một cái hố bên đường.
Cả hai bị cảnh sát yêu cầu đi theo họ đến đồn. Sau đấy cả hai chàng bị tống vào phòng giam, một căn phòng hẹp, ẩm thấp và lại không có giường nằm. Quản giáo đem đến cho họ hai tấm nệm để đặt ngay lên sàn mà nằm. Thế là đêm hôm ấy hai chàng cầu thủ tài ba nằm run rẩy vì lạnh trong phòng giam chật chội, và vẫn say xỉn. Hai cậu nghĩ không nên gọi điện báo tin này cho gia đình. Đối với Ron, đây là đêm đầu tiên anh nằm trong phòng giam. Sau đấy anh còn nằm biết bao nhiêu đêm nữa.
Sáng hôm sau, quản giáo mang đến hai chiếc bánh mì kẹp mỡ thỏi, hai tách cà phê, và khuyên hai chàng gọi điện về nhà báo tin này. Hai cậu ngập ngừng một lúc lâu, rồi cuối cùng quyết định gọi. Hai tiếng đồng hồ sau, hai ông bố đến và hai cậu được thả ra. Bruce Leba thì lên chiếc Camaro của cậu ta, lái về nhà. Còn Ron không biết tại sao lại bị ép ngồi cùng xe với hai ông bố, ông Leba, cha của Bruce Leba và ông Williamson, cha của Ron. Chặng đường hai tiếng đồng hồ càng trở nên dài dằng dặc vì Ron nghĩ đến khả năng sẽ phải đối mặt với huấn luyện viên Bowen.
Cả hai ông bố đều yêu cầu hai cậu con trai phải đến gặp huấn luyện viên Bowen ngay, và kể toàn bộ sự thật, không được giấu giếm chi tiết nào. Huấn luyện viên Bowen im lặng một lúc lâu, không nói gì và cũng không rút tên hai cậu trong danh sách đề nghị phong danh hiệu cầu thủ bóng chầy cấp bang.
Do đấy việc thi tốt nghiệp bậc phổ thông trung học không gặp trục trặc gì. Mà đối với hai cậu cũng như tất cả học sinh, bằng tốt nghiệp có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Trong buổi lễ nhận bằng, Bruce Leba được giao việc đọc lời cảm ơn các thầy cô giáo.
Tấm bằng còn có ý nghĩa quan trọng đối với tương lai và là một vinh dự cho các bậc cha mẹ, nhiều người trong số này bản thân còn chưa được học bậc trung học.
Một tháng sau, Ron Williamson và Bruce Leba được công bố ra toàn bang Oklahoma là được phong danh hiệu cầu thủ cấp bang. Riêng Ron còn được bầu là cầu thủ bóng chầy xuất sắc nhất của bang trong năm. Trận đấu bóng chầy được tổ chức hàng năm dành cho các cầu thủ mang danh hiệu cầu thủ cấp bang diễn ra vừa trang trọng, vừa sôi động và cũng hết sức quyết liệt. Đến xem trận đấu có cả quan sát viên của các câu lạc bộ trên toàn quốc.
Khi trận đấu kết thúc, hai quan sát viên, đồng thời là đại diện, một của câu lạc bộ Phillies, một của câu lạc bộ Oakland Athletics, kéo hai cậu ra một góc thương lượng riêng. Nếu hai cậu chịu ký hợp đồng đấu cho câu lạc bộ của họ thì mỗi cậu sẽ được một khoản tiền thưởng ban đầu là 18.000 đô la. Câu lạc bộ Phillies nhận Bruce Leba và câu lạc bộ Oakland Athletics nhận Ron Williamson. Ron cho là khoản tiền thưởng còn thấp nên từ chối. Còn Bruce thì lúc đầu băn khoăn về đầu gối của cậu còn chưa bình phục hoàn toàn, nhưng sau cũng từ chối lời đề nghị vì cũng cho là khoản tiền quá thấp. Cậu ta còn nói nhỏ với người quan sát viên đại diện là cậu đã tính sẽ nhận ký hợp đồng với câu lạc bộ trường trung học Junior trong hai năm, nhưng nếu câu lạc bộ Phillies chịu tăng khoản tiền thưởng lên cao hơn, cậu có thể bỏ dự định trước và nhận đấu cho câu lạc bộ Phillies.
Một tháng sau, Ron Williamson được câu lạc bộ Oakland Athletics mời dự tuyển. Trong số tám trăm thí sinh sẽ chọn lấy bốn mươi mốt. Bruce Leba không nhận vào câu lạc bộ Phillies mà nhận làm cầu thủ số một của Câu lạc bộ Trung học Junior. Thế là mộng cùng chơi với nhau suốt đời trong một câu lạc bộ của hai cậu bị đổ vỡ. Hai cậu đành chia tay nhau.
Cha mẹ Ron Williamson cho rằng Câu lạc bộ Oakland Athletics đánh giá con trai họ chưa đúng mức. Thế là Ron một mình đi đến thành phố Oakland gặp ban điều hành của câu lạc bộ. Cuộc thương lượng không thành công, Ron thất bại trở về thị trấn Ada quê hương. Tuy nhiên, ít lâu sau câu lạc bộ Oakland Athletics nghĩ lại, mời Ron đến ký hợp đồng. Lần này Ron được gặp Dick Williams, chủ nhiệm câu lạc bộ cùng nhiều cầu thủ nổi tiếng. Sau khi thương lượng, câu lạc bộ Oakland Athletics bằng lòng ký hợp đồng với Ron Williamson và chi một khoản tiền thưởng cao hơn rất nhiều: 50.000 đô la.
Tin tức này gây sửng sốt dư luận ở hai thị trấn Ada và Asher. Ron trở thành cầu thủ số một trong khu vực! Mơ ước của cậu thành hiện thực. Cậu cảm thấy Chúa Trời đã phù hộ cho cậu. Cậu bèn đến nhà thờ, vào tận ban thờ cầu nguyện tạ ơn Chúa Cứu Thế. Cậu tậu một chiếc xe nhãn Cutlass Supreme mới cứng và một ít quần áo. Cậu tậu cho cha mẹ một chiếc Ti-vi màu. Số tiền còn lại, Ron nướng hết vào cờ bạc.
***
Năm 1971, chủ nhiệm câu lạc bộ Oakland Athletics là Charlie Finley, chính ông đã đưa câu lạc bộ từ Kansas City[2] đến Oakland[3] năm 1968 - Ông ta tự nhận là có tài ngoại cảm, thật ra ông ta chỉ như một anh hề - Ông ta đề ra việc phân biệt cầu thủ câu lạc bộ của Ông với cầu thủ các câu lạc bộ khác bằng cách cho họ mặc đồng phục sặc sỡ, rồi sơn quả bóng màu hồng (sáng kiến này bị chết rất nhanh) và những trò lố lăng khác nữa. Ông ta còn tậu một con lừa, đặt tên là Charley O, rồi cho nó đi diễu trước mỗi trận đấu, thậm chí dắt nó đến cả khách sạn nơi các cầu thủ nghỉ.
Tuy lố lăng như vậy nhưng ông lại rất biết cách làm việc. Ông mời được một Giám đốc điều hành có tài là Dick Williams và tập họp được một đội bóng gồm toàn những cầu thủ hạng A: Reggie Jackson, Joe Rudi, Sal Bando, Bert Campaneris, Rick Monday, Vida Blue, Catfish Hunter, Rollie Fingers và Tony La Russa.
Vào thập niên 1970, đội bóng chầy của câu lạc bộ Oakland Athletics rõ ràng là đội bóng xuất sắc nhất Hoa Kỳ. Cuối tháng Tám năm 1971, Ron Williamson thành cầu thủ chính thức của đội bóng chầy câu lạc bộ Oakland Athletics, cũng có nghĩa trở thành cầu thủ chuyên nghiệp. Lúc này cậu mới mười tám tuổi, mặt non choẹt, nhưng đã nổi tiếng với những đường đi bóng và những cú quật trời giáng. Cậu đã để tóc dài hơn một chút và do bắt đầu mọc râu, cậu định để ria mép, nhưng không thành vì ria mọc quá ít. Bạn bè ở thị trấn Ada tin rằng cậu rất giàu, mà Ron cũng cố tình làm ra vẻ như vậy. Cậu lấy dáng đi kiểu đứng, rồi cách ăn nói lập dị cho khác mọi người xung quanh.
Suốt tháng Chín, Ron Williamson say sưa xem các trận đấu của câu lạc bộ Oakland Athletics. Các cầu thủ của câu lạc bộ này tung hoành, thắng tới 101 trận, vượt cả câu lạc bộ Miền Tây Hoa Kỳ. Chẳng bao lâu nữa Ron cũng sẽ tham gia những trận đấu kia, sẽ trổ hết tài năng và sẽ là cầu thủ loại thượng thặng không chỉ của bang mà của cả đất nước.
Tháng mười một, Ron ký hợp đồng với hãng kẹo cao su Topps, cho phép hãng này sử dụng ảnh và chữ ký của cậu bằng cách trưng bày, in tờ rơi, in vào vé xem bóng chầy... để quảng cáo cho hãng.
Giống như mọi chàng trai trẻ khác ở thị trấn Ada, Ron cũng sưu tầm hàng ngàn tấm ảnh, các tờ rơi, quảng cáo có hình các cầu thủ bóng chầy nổi tiếng và các tên tuổi khác trong làng bóng chầy như Mickey Mantle, Whitey Ford, Yogi Berra, Roger Maris, Willie Mays, Hank Aaron...
Giấc mộng đang nhanh chóng thành sự thật.
***
Đợt tập huấn đầu tiên của Ron Williamson, thành viên của Liên đoàn Bóng chầy Tây - Bắc Hạng A, được tổ chức tại Vịnh Coos, bang Oregon, cách xa thành phố Oakland. Đợt tập huấn mùa xuân 1972 lại ở Mesa, bang Arizona. Và không được thành công lắm. Ron không làm ai sửng sốt, không khiến ai đặc biệt chú ý. Cậu luôn bị đẩy xuống vị trí dưới, một vị trí xưa nay cậu chưa từng bị đặt vào bao giờ. Nếu người ta có đưa cậu lên trên thì chỉ vì cậu có một động tác ném bóng rất mạnh.
Vận đen bắt đầu xuất hiện vào cuối kỳ tập huấn mùa xuân. Ron bị viêm ruột thừa, phải mổ và người ta cho cậu về thị trấn Ada để tiến hành phẫu thuật. Sau đấy, trong khi nóng lòng chờ vết thương lành, cậu bắt đầu uống rượu rất nhiều để giết thời giờ. Tại quán hàng Pizza của thị trấn Ada, bia bán rất rẻ. Đến khi cậu thấy chán uống bia ở đây, Ron lái chiếc xe Curtlass mới tậu đến quán Elks Lodge và dìm nỗi buồn chán trong rượu mạnh và cần sa. Cậu đã tính đến chuyện tìm một câu lạc bộ bóng chầy nào khác, nhưng trong khi còn đang mông lung, cậu trốn vào cần sa để giải sầu. Cuối cùng Ron cũng nhận được điện triệu tập và cậu rời thị trấn Ada đi Oregon.
Chơi theo kiểu không thường xuyên cho đội bóng chầy Vịnh Coos - North Bend, cậu đánh trúng 41 quả trong 155 lần giao bóng. Đây là một kết quả không lấy gì làm ấn tượng. Cậu tham gia bốn mươi sáu trận và chuyên đứng ở vị trí trung vệ. Thời gian cuối của mùa bóng, hợp đồng của cậu được chuyển sang đội bóng chầy của thành phố Burlington, bang Iowa, thuộc liên đoàn bóng chầy Trung-Tây. Vẫn thuộc hạng A nhưng gần nhà hơn.
Mỗi kỳ bị đưa về một đội loại nhỏ đều chỉ mang tính tạm thời. Cầu thủ được trả tiền rất ít, sống khá chật vật, nhất là nếu gặp ông bầu keo kiệt. Khi “ở nhà” họ sống trong các nhà trọ hoặc chung nhau thuê căn hộ. Còn trên đường đi đấu, họ chỉ nghỉ trong các nhà trọ hoặc khách sạn loại trung bình. Giải trí trong các quán rượu, các câu lạc bộ thoát y và hút cần sa. Và đêm nào cũng thức đến sáng.
Hầu hết là những chàng trai hai mươi, hai mốt tuổi, đại đa số chưa lập gia đình, quen được nuông chiều và cách suy nghĩ non nớt, cậu nào cũng đinh ninh mình sẽ thành danh thủ và sẽ kiếm tiền như nước.
Họ làm việc rất vất vả. Các trận đấu đều bắt đầu vào 7 giờ tối và kết thúc vào 10 giờ. Về chỗ trọ, tắm vội tắm vàng, rồi lao ra quán, nhà hàng. Ở lì đấy suốt đêm. Ban ngày thì ngủ, hoặc trong nhà trọ hoặc ngủ gà ngủ gật trong xe buýt. Thú vui của họ chỉ là nốc rượu, tán tỉnh con gái, đánh bài, hút cần sa. Đấy là mặt trái cuộc sống của các thanh thiếu niên đang mơ ước thành cầu thủ lớn.
***
Giống như mọi ông bố khác, ông Roy Williamson cũng theo con trai đi bất cứ nơi nào để xem con đấu bóng, và để được tự hào. Ron thỉnh thoảng có gọi điện về, còn viết thư thì chỉ họa hoằn. Nhưng ông Roy, cha cậu vẫn theo dõi sát sao mọi hoạt động của cậu con trai độc nhất. Hai lần ông cùng bà Juanita lái xe đến tận bang Oregon xem con trai chơi bóng.
Thời gian mới vào câu lạc bộ, Ron rất buồn. Cậu bị coi là lính mới. Vì vậy cậu cố chơi cho thật tốt, tập luyện rất tích cực.
Về đến thị trấn Ada, ông Roy nhận được một cú điện thoại của huấn luyện viên đội bóng của con trai. Người huấn luyện viên cho biết Ron rất hay la cà các quán hàng, luôn say khướt và lại dùng cả cần sa. Huấn luyện viên nói rằng ông hiểu tuổi trẻ dễ như thế và điều ấy cũng không có gì lạ lắm, nhưng ông nghĩ gia đình, bố mẹ Ron, nên có một lời khuyên cho con trai thì tốt hơn.
Ron cũng gọi điện về nhà. Mùa hè đã đến và việc chơi bóng của cậu trở thành không thường xuyên nữa. Ron oán trách ban lãnh đạo, oán các bạn cầu thủ, và luôn than phiền là bị đánh giá không đúng với khả năng thực của cậu.
Ron bỗng nghĩ ra cách đề đạt ý kiến với cấp cao hơn, những người đứng bên trên các huấn luyện viên. Cậu gọi điện cho ông chủ nhiệm cao nhất của liên đoàn, nêu lên một loạt điều không hài lòng. Chủ yếu Ron than phiền là không được chơi bóng nhiều và không được phân vào những vị trí khiến cậu có thể phát huy tốt khả năng.
Nhưng cấp trên cao kia lại có vẻ không có cảm tình với cậu. Dưới quyền họ có hàng trăm cầu thủ thiếu niên mà trong số đó kiểu suy nghĩ như Ron Williamson không thiếu gì. Người ta biết rõ khả năng và những thói tật của Ron Williamson cho nên họ không buồn trả lời cậu mà chỉ đưa chỉ thị xuống cho cấp dưới là nên để Ron tham dự nhiều trận đấu hơn.
***
Khi về thị trấn Ada đầu mùa thu 1972, Ron Williamson vẫn còn là người được trọng vọng ở địa phương. Đám trẻ vẫn coi cậu là một anh hùng, đã từng được thi đấu ở nhiều địa phương trong toàn quốc. Còn Ron thì quay lại kiểu sống về ban đêm như ngày trước.
Khi câu lạc bộ Oakland Athletics (gọi tắt là Oakland A) được xếp vào số mấy câu lạc bộ bóng chầy cỡ thế giới thì Ron tổ chức một cuộc “đập phá” để ăn mừng. Và trong cuộc liên hoan ấy, cậu tuyên bố dõng dạc: “Đấy là câu lạc bộ của mình".
Tuy nhiên cách sinh hoạt của Ron thay đổi đột ngột khi cậu gặp cô Patty O’Brien và hai người bắt đầu hò hẹn. Patty là một cô gái xinh đẹp, đã từng được bình chọn là Hoa hậu của thị trấn Ada và là con một gia đình đứng đắn, nền nếp. Từ khi yêu Patty, Ron giảm hẳn các tật rượu chè, cờ bạc, cần sa. Là tín đồ Thiên chúa giáo sùng đạo, bản thân Patty không bao giờ đụng đến rượu, đến quân bài. Khi thấy Ron có những thói hư tật xấu kia, Patty rất không bằng lòng. Nhưng Ron hứa sẽ thay đổi cuộc sống, thề với người yêu là sẽ không uống rượu, không đánh bạc và không đụng đến ma túy nữa. Sẽ tự cải tạo.
***
Sang năm 1973, Ron Williamson thấy mình không nhích được gần thêm chút nào đến các liên đoàn bóng chạy lớn. Sau một mùa xuân tồi tệ nữa ở Mesa, cậu lại xin gia nhập câu lạc bộ bóng chầy Burlington Bees. Tại đây cậu chơi được có năm trận thì bị chuyển sang câu lạc bộ Key West thuộc Liên đoàn Bóng chầy của bang Florida, hạng A. Trong năm mươi chín trận đấu tại đây, Ron ném trúng 137 quả.
Lần đầu tiên trên đời, Ron Williamson bắt đầu hiểu ra rằng lọt được vào một câu lạc bộ bóng chầy tầm cỡ không dễ dàng gì. Qua hai mùa bóng hiệu quả thấp vừa rồi, cậu thấy rõ, đánh bóng ở trình độ A khó khăn hơn cậu tưởng rất nhiều so với mọi động tác quăng bóng, ném bóng cậu đã thấy ở trường trung học Asher. Khoản tiền cậu nhận ban đầu khi gia nhập liên đoàn đã tiêu hết, trước mắt là cậu phải làm sao dành được uy tín trong kỹ thuật đấu.
Đồng thời Ron cũng nhận ra rằng mọi người đang chờ đợi ở cậu. Đám trẻ thị trấn Ada đặt hy vọng ở cậu. Dân chúng thị trấn Ada cũng như thị trấn Asher đều tin rằng cậu, Ronnie Williamson, sẽ thành ngôi sao bóng chầy nổi tiếng và sẽ đem lại vinh quang cho quê hương họ. Danh thủ lẫy lừng Mickey Mantle nổi tiếng từ năm mười chín tuổi. Cậu chính là người sẽ phải nối gót, rồi thay thế Mickey Mantle.
Ron trở về thị trấn Ada, về với Patty. Cô cố thuyết phục người yêu tìm một công việc nào thật sự có ý nghĩa. Một ông chú của Patty quen một người ở bang Texas, giới thiệu Ron. Thế là cậu đến đấy làm cho một nhà thầu mái lợp trong nhiều tháng liền.
Ngày 3 tháng Mười Một năm 1973, Ron và Patty chính thức thành hôn. Hôn lễ tổ chức ở nhà thờ Thiên chúa giáo Số Một tại thị trấn Ada. Chủ rể tròn hai mươi tuổi và tràn đầy triển vọng cho tương lai.
Dân chúng thị trấn Ada coi Ron là người anh hùng của họ, bây giờ cậu lại cưới một cô gái từng là Hoa hậu. Còn cuộc đời nào đẹp hơn cuộc đời của Ron Williamson nữa?
***
Đôi vợ chồng mới cưới đến thành phố Mesa[4] để Ron theo lớp tập huấn vào tháng Hai năm 1974. Cô vợ mới cưới tạo thêm uy thế cho chàng Ron, và anh được chọn, tuy không phải hạng A nhưng là A'. Thôi cũng được. Hợp đồng anh ký cho năm 1974 là với câu lạc bộ Burlington, nhưng anh không muốn quay lại đấy một chút nào. Anh đã ngán đến tận cổ thành phố Burlington và đảo Key West, ngoài khơi Vịnh Mexico. Và nếu như người ta chuyển anh về đấy thì triển vọng đã rõ ràng: ở đấy người ta không ai cho Ron là “có triển vọng” cả.
Lần này dự lớp tập huấn, Ron Williamson hết sức cố gắng. Anh chạy nhiều hơn, ném nhiều hơn, làm các bài tập nhiều hơn. Ron cảm thấy mình lấy lại được niềm phấn chấn, lại hăng hái, quên mình như hồi ở thị trấn Asher. Nhưng vận đen lại chơi khăm Ron lần nữa. Một lần ném bóng quá mạnh anh bị sai khớp khuỷu tay. Lúc đầu Ron cố không nghĩ đến nó, cứ tập mạnh mẽ như thường, nhưng sau buổi tập, khuỷu tay anh nhức đến mức không chịu nổi. Nghỉ vài ngày, đã đỡ đau, anh lại tiếp tục tập, nhưng lúc này tay rất yếu, chỉ có thể ném với cường độ vừa phải.
Thế là ngày 31 tháng Ba, Liên đoàn sa thải anh. Anh và Patty đành quay về bang Oklahoma.
Trong tình trạng đen đủi, Ron ngại gặp người thị trấn Ada, anh bèn thuyết phục vợ chuyển đến định cư tại thị trấn Tulsa. Tại đây, Ron kiếm được một chỗ làm tại văn phòng đại diện của hãng sản xuất máy điện thoại Bell. Đây không phải nghề mới mà chỉ là công việc kiếm ăn tạm thời trong khi chờ khuỷu tay bình phục. Đồng thời Ron cũng chờ điện thoại của một người nào đấy trong ngành bóng chầy gọi đến, một người nào biết anh và tin ở khả năng của anh. Tuy nhiên trong mấy tháng liền, Ron không thấy ai gọi đến để nói về chuyện anh trở lại với môn thể thao bóng chầy.
Vợ anh, Patty, xin vào làm một chân ở bệnh viện và hai vợ chồng tính kế ổn định lại cuộc sống. Khi thấy vợ chồng Ron Williamson lúng túng, không đủ tiền trả các hóa đơn, chị Annette hàng tuần gửi đến giúp em khi 5 đô la khi 10 đô la. Việc viện trợ thường xuyên này chấm dứt khi cô Patty gọi điện báo cho chị chồng biết là chồng cô, Ron, đã dùng số tiền chị cho để uống bia rượu. Và điều ấy cô không chấp nhận.
Mối mâu thuẫn nảy sinh và phát triển. Thấy chồng lại rượu chè say sưa, Patty rất lo. Mà cô lại quá ngây thơ, nói chung ít hiểu về mối quan hệ vợ chồng. Patty vốn vụng về trong giao tiếp, không thích chỗ đông người, cho nên cũng không hiểu được tâm trạng của chồng. Chị Annette thì chỉ cùng chồng mỗi năm đến thăm em trai và em dâu một lần.
Khi Ron Williamson bị trượt trong một đợt tăng lương, anh thôi việc ở hãng Bell, chuyển sang bán bảo hiểm nhân thọ cho hãng bảo hiểm Equitable. Đấy là vào năm 1975, và anh vẫn chưa có được hợp đồng nào về chơi bóng chầy. Đến lúc này, Ron cũng không thấy có đội bóng hoặc huấn luyện viên nào quan tâm đến những tài năng bị rơi rụng.
Nhưng nhờ vóc người lực sĩ và cá tính khác người, Ron bán được khá nhiều bảo hiểm nhân thọ. Công việc dễ dàng khiến Ron thấy vui và cũng yên tâm về chuyện tiền nong. Nhưng anh vẫn ham chơi, la cà các câu lạc bộ và quán rượu cho đến khuya. Bây giờ anh lại nghiện cần sa và làm vợ rất khó chịu. Patty ghét người nào rượu chè và ghét cả những người cờ bạc. Trước đây, khi quen và yêu cô, Ron đã hứa sẽ bỏ những tật xấu ấy, và quả là một thời gian Patty không thấy chồng say rượu và đánh bạc. Nhưng gần đây cô thấy chồng ngày càng hư hỏng, hôm nào cũng đêm khuya mới về, lại say khướt. Đến khi Patty phát hiện chồng dùng ma túy và nghiện cần sa thì cô không chịu nổi.
Một đêm vào mùa xuân năm 1976, Ron gọi điện cho cha mẹ khóc nức nở kể rằng hai vợ chồng anh vừa đánh nhau dữ dội. Hai ông bà Roy và Juanita cùng hai chị Annette và Renee nghe tin đều choáng váng, nhưng vẫn hy vọng tình hình có thể cứu vãn. Đôi vợ chồng trẻ nào chẳng có những lúc xung đột mạnh. Chỉ nay mai, sẽ có câu lạc bộ bóng chầy gọi điện mời Ron đến ký hợp đồng chơi bóng cho họ, thế là cậu con trai họ sẽ đóng vào người bộ đồng phục cầu thủ và tiếp tục nghề thể thao như cũ. Khi ấy vợ chồng nó lại hòa thuận thôi.
Nhưng mâu thuẫn không có cơ hòa giải. Hai vợ chồng Ron hoàn toàn không nói gì với nhau và lặng lẽ làm đơn ly hôn, với lý do tính tình hoàn toàn xung khắc. Thế là cuộc hôn nhân tan vỡ. Họ chung sống với nhau chưa được ba năm.
***
Ông Roy Williamson có một bạn thuở nhỏ rất thân tên là Harry Brecheen, biệt danh là Harry Mèo. Hai người cùng sinh ra và lớn lên ở thị trấn Francis, thuộc bang Oklahoma. Harry là phái viên cho câu lạc bộ Yankees. Ông Roy bèn dò tìm bạn cũ rồi đưa số điện thoại của ông ta cho con trai.
Tài thuyết phục của Ron đã cứu nguy cho anh vào cái hôm tháng Sáu năm 1976 ấy. Anh làm cho các cấp lãnh đạo của câu lạc bộ Yankees thấy là khuỷu tay anh đã bình phục hoàn toàn và cánh tay anh bây giờ còn khỏe hơn ngày trước. Đồng thời anh cũng biết cách thuyết phục họ về tài năng và các thành tích trước đây của anh. Cuối cùng anh được nhận ký hợp đồng với câu lạc bộ Oneonta Yankees, nằm trong liên đoàn bóng chầy New York - Penn League, hạng A. Anh lập tức rời khỏi thị trấn Tulsa, không để chậm một phút. Hy vọng lại chan chứa tâm hồn Ron Williamson.
Tất nhiên Ron vẫn ném bóng được rất mạnh, nhưng không còn chính xác trong định hướng cho quả bóng. Hình như trong đầu anh chỉ lờ mờ biết quả bóng sẽ bay theo hướng nào. Đấy lại chưa kể vì quá cố gắng, ném quá nhanh, quá mạnh, chỗ đau cũ tái phát, lúc đầu chỉ âm ỉ, nhưng sau nặng dần, đến mức anh không cử động mạnh cánh tay được nữa. Hai năm bỏ môn bóng chầy bây giờ mới để lộ sự tai hại của nó. Và khi mùa bóng năm ấy kết thúc, anh bị câu lạc bộ sa thải.
Vẫn ngại quay về thị trấn Ada, Ron tiếp tục đến sống ở thị trấn Tulsa và lại bán bảo hiểm. Annette đến thăm em trai, khi câu chuyện đụng đến bóng chầy và những thất bại của cậu, Ron òa khóc nức nở, khóc mãi, không sao dừng lại được. Rồi anh thú thật với bà chị là anh cảm thấy mình đã bắt đầu mắc chứng trầm cảm.
Bây giờ đã li dị vợ, được hoàn toàn tự do, Ron quay trở lại những thói xấu thời niên thiếu: lại la cà các quán hàng, các câu lạc bộ, uống bia rượu đến say khướt, chơi bài ăn tiền, tán tỉnh các cô gái. Để tiêu khiển, anh tham gia một đội bóng mềm[5] và lại thích thú thấy mình là ngôi sao trên cái bãi bóng nhỏ xíu ấy. Trong một trận đấu bóng mềm, vào một đêm lạnh giá, Ron đánh trượt một quả ban khiến anh thét lên vì đau. Thì ra khớp vai của anh bị tổn thương nặng. Ron bỏ đội bóng mềm, nhưng chỗ đau vẫn không hết. Anh tìm đến bác sĩ, thực hiện các biện pháp điều trị vật lý nhưng chỗ đau vẫn không giảm là bao.
Cuối cùng Ron quyết định sẽ bất động cái khớp vai ấy, hy vọng đến mùa xuân sẽ khỏi.
Cơ hội cuối cùng của Ron Williamson đến vào mùa xuân năm sau, năm 1977. Anh lại tìm được cách lọt vào câu lạc bộ Yankees. Anh vượt qua một cách dũng cảm và hết sức cố gắng đợt tập huấn mùa xuân, đạt kết quả tương đối tốt và được phân về đội Fort Lauderdale, thuộc Liên đoàn bóng chầy bang Florida. Trong mùa bóng này, anh chơi 140 trận. Tuy nhiên anh đã hai mươi tư tuổi và lại tổn thương ở khớp vai nên anh chỉ thực hiện được cú ném trong mười bốn trận và cả thẩy là ba mươi ba cú. Ánh hào quang rực rỡ của đội bóng Trung học thị trấn Ada và đội bóng của huấn luyện viên Bowen đều đã lui vào dĩ vãng.
Mỗi cầu thủ đều có được cái cảm giác về sự tất yếu, nhưng Ron thì không. Tại thị trấn quê hương, bao nhiêu người vẫn còn kỳ vọng ở anh, Ron Williamson. Gia đình anh, ông Roy, bà Juanita, chị Annetta và cả chị Renee đều đã hy sinh quá nhiều cho anh. Không còn triển vọng làm cầu thủ được nữa, nhưng bỏ thì không thể, Ron không thể chấp nhận.
Anh đã thất bại trong hôn nhân, mà anh chưa được tập quen với sự thất bại. Hơn nữa, anh vẫn còn bộ đồng phục cầu thủ liên đoàn bóng chầy Yankees kia mà. Mỗi khi nhìn nó, anh lại thấy giấc mộng của mình không thể mất.
Ron cố gắng đeo đẳng cho đến khi mùa bóng năm ấy kết thúc và câu lạc bộ Yankees chính thức sa thải anh.
❀ ❀ ❀
[1] Dân gốc gác ở các địa phương miền Đông Bắc Hoa Kỳ. Từ này có nghĩa “dân Da Trắng chính gốc”.
[2] Thủ phủ bang Kansas.
[3] Thành phố nghỉ mát nổi tiếng trên bờ Thái Bình Dương, thuộc bang California.
[4] Thuộc bang Arizona.
[5] Cũng là bóng chầy nhưng quả bóng to hơn và mềm hơn, cách chơi cũng nhẹ nhàng hơn.