Ron Williamson có nghe nói đến vụ cô gái Denice Haraway bị mất tích. Lúc này anh đang ở tại vị trí tốt nhất trong ngôi nhà, đấy là chiếc giường trong nhà tù quận Pontotoc. Cái án tù ba năm, anh đã ngồi được mười tháng, và người ta cho anh được trở về thị trấn Ada, hưởng chế độ “giam giữ tại nhà” nhưng vẫn dưới sự giám sát của cảnh sát địa phương.
Thông thường, sau khi ngồi trong nhà tù, người được hưởng chế độ “giam giữ tại nhà” này phải cảm thấy dễ chịu hơn nhiều, nhưng Ron thì không như thế. Do không được điều trị bệnh tâm thần, hầu như anh đã mất hết khái niệm về thời gian và cả không gian.
Tháng Mười một, vẫn trong thời gian giam giữ tại nhà, Ron Williamson bị kết tội tự ý đi ra ngoài phạm vi mà không xin phép cảnh sát địa phương. Theo Ron trình bày thì anh chỉ ra phố mua một bao thuốc lá và về muộn hơn giờ quy định ba mươi phút. Tuy vậy Ron vẫn bị bắt lại, giam vào tù. Bốn ngày sau, anh bị kết án chính thức về tội “trốn khỏi nơi giam giữ”.
Trong nhà tù, người ta bàn tán xôn xao về vụ cô Denice Haraway mất tích. Hai nghi can, Tommy Ward và Karl Fontenot đều đã bị tống giam. Do rỗi rãi, suốt ngày các tù nhân bàn tán về vụ án và về hai tù nhân mới vào kia. Vả lại vụ án hai người này dính vào là vụ trọng án xảy ra gần đây nhất, cho nên cũng là vụ được bàn tán nhiều nhất.
Tommy Ward kể lại cho các bạn tù nghe về các mưu mẹo của cảnh sát để dẫn dụ anh đến chỗ kể ra giấc mộng, rồi bám lấy giấc mộng ấy, thúc ép anh thêu dệt thêm, cho nên chỉ gồm toàn những chuyện hoang đường, không gì có thật. Tommy Ward khẳng định anh không biết và cũng không dính dáng gì đến vụ án cô gái Denice Haraway bị mất tích. Anh bảo rằng những thủ phạm thật sự của vụ án hiện đang nhỏn nhơ tự do. Chúng đang cười giễu cái khờ khạo của anh cũng như mưu mẹo không chính đáng của hai thám tử cảnh sát.
Không tìm thấy thi thể cô Denice Haraway, ủy viên công tố Bill Peterson càng phải giải quyết cho xong một khối lượng khổng lồ các chứng cứ. Đấy là hai bản “thú tội” được ghi hình, nhưng không có được vật chứng nào củng cố cho cái giả thiết cho rằng hai tác giả bản thú tội kia là thủ phạm.
Trong tay Bill Peterson còn có hai bức vẽ phác thảo chân dung của hai kẻ được coi là có tham gia vụ án, nhưng chúng cũng không có gì đáng tin cậy. Bản phác thảo chân dung Tornrny Ward còn có đôi chỗ hơi giống anh ta, chứ bản phác thảo chân dung của Karl Fontenot thì tuyệt nhiên không giống chút nào.
Lễ Tạ ơn đến rồi qua đi. Tiếp đến lễ Thiên chúa Giáng sinh.
Tháng Giêng 1985, ủy viên công tố Bill Peterson thuyết phục được một thẩm phán rằng cơ quan điều tra đã có đủ bằng chứng là cô Denice Haraway đã chết. Trong buổi xem chiếu và nghe hai bản “thú tội” của hai nghi can Tommy Ward và Karl Fontenot, người ta chỉ triệu tập một số người trong phạm vi hẹp. Phản ứng của người nghe là kinh ngạc. Và bất chấp những khác biệt lồ lộ giữa hai bản thú tội, người ta vẫn quyết định mở phiên tòa xét xử hai nghi can này.
Nhưng cuộc tranh luận đã diễn ra căng thẳng. Có hai thẩm phán thấy quá nhiều điều vô lý, không tin được, nên đã từ chối không tham gia phiên tòa. Đội điều tra của cảnh sát chưa tìm đủ chứng cứ, mặc dù vụ án xảy ra đã lâu: tính từ ngày cô Denice Haraway mất tích đến nay, một năm đã trôi qua. Dân chúng thị trấn Ada thì tin rằng Tommy Ward và Karl Fontenot đích thực là thủ phạm, và họ lấy làm lạ sao mãi cơ quan pháp luật không đem vụ án ra xét xử.
Tháng Tư năm 1985, sau khi cô Denice Haraway mất tích một năm, báo Tin tức buổi chiều của Ada đăng bài phát biểu của bà Dorothy Hogue, nói về nỗi băn khoăn của dân thị trấn về tiến triển của cuộc điều tra vụ cô Denice Haraway mất tích.
Bà viết “Vụ án không được điều tra có kết quả nên dân chúng trong thị trấn bị ám ảnh bởi một không khí tội phạm”, về vụ cô Denice Haraway, bà Dorothy Hogue viết: “Tuy nhà chức trách sục sạo nhiều địa điểm trong vùng, xung quanh thị trấn, cả trước và sau khi bắt giữ hai nghi can Tommy Ward và Karl Fontenot, nhưng cho đến nay, cuối cùng vẫn chưa tìm thấy dấu vết nào của nạn nhân. Tuy nhiên thanh tra Dennis Smith lại nói rằng, theo ông, vụ án thế là đã giải quyết xong.” Bài báo không nhắc gì đến hai bản thú tội của các nghi can.
Về vụ cô gái Debbie Carter bị hiếp và giết một cách tàn bạo, bà Dorothy Hogue viết: “Chứng cứ tìm thấy ở hiện trường vụ án và chứng cứ thu được của nghi can đều được gửi về phòng thí nghiệm của Cục Điều tra Hình sự bang Oklahoma đã gần hai năm rồi, vậy mà các nhân viên cảnh sát bảo vẫn chưa có kết luận của cơ quan chuyên môn.”
Về vấn đề này, thanh tra Dennis Smith nói: “Cảnh sát đã thu hẹp diện tình nghi nhưng vẫn chưa quyết định bắt ai bị nghi là có liên quan đến vụ án”.
***
Tháng Hai năm 1985, tòa xử Ron Williamson về tội bỏ trốn khỏi nơi giam giữ tại gia. Tòa án chỉ định người bào chữa là luật sư David Morris, một người biết rõ gia đình Williamsọn. Ron bị kết án hai năm tù giam nhưng sẽ được giảm án nếu Ron chịu:
— Đi khám và có kết luận của bác sĩ tâm thần.
— Chịu nằm yên, không gây rối.
— Không ra khỏi địa phận quận Pontotoc.
— Cai rượu hoàn toàn.
Vài tháng sau, Ron lại bị bắt về tội say rượu nơi công cộng. Cảnh sát trưởng thị trấn Ada lập biên bản, chấm dứt chế độ giam giữ tại nhà và bắt Ron Williamson phải vào nhà tù theo bản án đã xử. Lần này luật sư David Morris lại được chỉ định bảo vệ quyền lợi cho bị can. Phiên xét xử diễn ra ngày 26 tháng Bẩy, có mặt cả chánh án tòa án quận Pontotoc, ông John David Miller. Trong phiên tòa, Ron Williamson lớn tiếng tranh luận với luật sư Morris, với chánh án tòa án Quận Miller, với cả các quan chức khác. Cuối cùng phiên tòa phải hoãn lại để hôm sau nghe tiếp.
Ba ngày sau, tòa tiếp tục làm việc. Chánh án Miller tuyên bố tòa cảnh cáo bị can về thái độ trước tòa, cấm anh không được quát tháo và văng tục. Ron Williamson yêu cầu chỉ định luật sư khác, nhưng anh không nêu được lý do chính đáng.
Thái độ trước tòa của Ron rất lỗ mãng, nhưng đến giữa phiên tòa thì người ta thấy rõ đầu óc anh không bình thường. Tâm thần anh bất ổn, ăn nói không mạch lạc và nhiều lúc anh ta nói mà không ai hiểu gì hết, thậm chí người ta nghĩ có lẽ bản thân Ron cũng không hiểu mình nói gì.
Sau nhiều lần cảnh cáo, chánh án Miller ra lệnh giải Ron về nhà tù và hoãn phiên xét xử đến một buổi khác. Hôm sau, luật sư David Morris đề nghị tòa cho Ron Williamson đi kiểm tra về sức khỏe tâm thần. Luật sư cũng đề nghị xin rút khỏi cương vị bào chữa.
Trong trí óc mụ mị của mình, Ron Williamson cho rằng trí óc mình hoàn toàn bình thường. Anh rất tức giận khi thấy luật sư bào chữa cho anh đặt vấn đề về tình trạng tâm thần của anh, đến nỗi anh không thèm nói chuyện với ông nữa. Điều ấy làm ông luật sư Morris ngán đến tận cổ.
Đề nghị của luật sư cho bị can đi kiểm tra về tâm thần được tòa chấp thuận, nhưng đề nghị xin rút khỏi cương vị người bào chữa bị tòa bác.
Hai tuần lễ sau, phiên tòa được tiếp tục, nhưng chỉ được một lúc thì lại phải ngừng, vì bị can Ron Williamson điên khùng quá đáng, hung hãn hơn mọi khi.
***
Đầu năm 1985, mẹ Ron Williamson, bà Juanita, được chẩn đoán là mắc bênh ung thư buồng trứng. Bệnh tiến triển rất nhanh. Trong suốt hai năm rưỡi, bà liên tục nghe thấy lời bàn tán xôn xao về việc con trai bà, Ron Williamson, bị nghi có liên quan đến vụ án Debbie Carter. Và bà thấy cần làm rõ vấn đề trước khi bà qua đời.
Bà Juanita Williamson rất cẩn thận trong các công việc giấy tờ. Bà chăm chỉ và đều đặn ghi chép hàng ngày các sự kiện xảy ra với bà và gia đình bà, không bỏ sót một ngày nào, trong suốt nhiều thập niên, sổ sách kinh doanh của bà hết sức hoàn chỉnh. Chỉ cần hỏi, sau một phút bà đã trả lời được ngay hôm nào, tháng nào, năm nào bà làm những công việc gì. Các giấy tờ đều được bà lưu lại, không vứt đi thứ gì: từ các hóa đơn, các tấm ngân phiếu ghi sai không có giá trị lẽ ra phải vứt đi, các giấy biên nhận, sổ học bạ và giấy tờ của con cái, cũng mọi thứ giấy tờ khác.
Bà Juanita Williamson đã kiểm tra lại sổ nhật biên của bà hàng trăm lần và biết rằng đêm 7 tháng Mười hai năm 1982, Ron ở nhà với bà. Đã hơn một lần bà nói điều này ra với cảnh sát. Nhưng lý luận của cảnh sát lại là con trai bà có thể dễ dàng lẻn ra khỏi nhà, sang căn hộ cô Debbie Carter gây án rồi quay lại mà không ai nhận thấy anh ta vắng mặt một thời gian. Bởi hai nhà rất gần nhau. Chưa cần biết động cơ. Chưa cần biết cả đến lời Glen Gore bịa ra rằng có nhìn thấy Ron Williamson đến câu lạc bộ Coachlight đêm hôm ấy, điều không được ai chứng thực. Vấn đề cảnh sát quan tâm hơn cả là làm sao có được thủ phạm.
Nhưng cảnh sát cũng biết bà Juanita Williamson được mọi người trong thị trấn hết sức kính trọng. Bà rất sùng tín và chăm chỉ đi lễ nhà thờ các Thứ năm, Chủ nhật đã đành, mà cả các ngày có lễ lạt khác. Rồi bà có hàng trăm khách hàng đến cửa hàng chăm sóc sắc đẹp của bà, đối với người nào bà cũng tận tụy và thân ái như đối với bạn bè thân thiết. Cảnh sát lo rằng nếu bà Juanita Williamson lên bục nhân chứng và khai trước tòa rằng con trai bà, Ron Williamson, chỉ ở nhà, không đi đâu trong cái đêm xảy ra vụ án mạng kia thì chắc chắn hội đồng xét xử sẽ tin vào lời khai của bà.
Bây giờ bà Juanita Williamson nhớ đến một sự việc khác. Năm 1982, việc thuê băng hình trở thành chuyện phổ biến. Một cửa hàng cho thuê băng hình được mở trên Phố Chính. Ngày 7 tháng Mười Hai 1982, bà Juanita Williamson thuê ở cửa hàng một đầu video và năm băng hình phim truyện. Đêm hôm ấy bà và con trai ngồi xem suốt đêm cho đến sáng hôm sau mới đi nghỉ. Đêm hôm ấy Ron ở nhà, nằm trên đi văng trong phòng, xem các băng hình phim truyện cùng với mẹ. Bà Juanita còn giữ được cả hóa đơn thuê đầu video và các băng hình.
Luật sư David Morris thường nhận giúp đỡ cho những vấn đề pháp lý nhỏ mỗi khi bà Juanita cần đến. Ông rất khâm phục bà và sẵn sàng bảo vệ Ron Williamson mỗi khi anh phạm những khuyết điểm nhỏ nhặt, mặc dù Ron hoàn toàn không phải là một thân chủ lý tưởng.
Luật sư David Morris nghe câu chuyện bà Juanita kể. Trong khi nghe, mắt ông nhìn vào tờ hóa đơn, trong bụng hoàn toàn tin là bà nói đúng sự thật. Ông cảm thấy nhẹ bỗng trong lòng vì giống như rất nhiều người khác trong thị trấn Ada, ông cũng nghe quá nhiều tin đồn về việc Ron Williamson dính vào vụ án mạng cô Debbie Carter bị sát hại tàn bạo.
Hầu hết công việc của luật sư David Morris là bào chữa trong những vụ án hình sự, và ông ít tin vào cách làm việc của cảnh sát thị trấn này. Nhưng ông quen họ. Ông bèn bố trí một cuộc gặp giữa ông với thanh tra Dennis Smith, có mặt cả bà Juanita. Thậm chí ông còn lái xe chở bà đến phòng cảnh sát và ngồi nghe bà trình bày với thanh tra Dennis Smith. Ông này nghe rất chăm chú, xem xét kỹ tờ hóa đơn thuê băng hình, rồi hỏi bà có muốn ghi hình buổi trao đổi hôm nay không. Tất nhiên là bà muốn.
Luật sư David Morris nhìn vào qua ô cửa sổ để theo dõi. Ông thấy bà Juanita được đặt ngồi trong một chiếc ghế bành, ngoảnh nhìn về phía máy thu hình, rồi trả lời những câu hỏi của thanh tra Dennis Smith. Trên đường về nhà, bà Juanita Williamson thấy hài lòng vì bà tin rằng bà đã nói lên sự thật và được người ta nghe. Có nghĩa sự việc sẽ tốt đẹp.
Không biết máy thu hình có được lắp băng hay không, chỉ biết về sau, không ai được nhìn thấy cái băng ghi hình cuộc thẩm vấn bà Juanita Williamson hôm ấy. Nếu thanh tra Dennis Smith có làm báo cáo về việc này thì bản báo cáo ấy cũng không được sử dụng trong các phiên xét xử của tòa án.
***
Ngồi trong tù, giết thời gian hết ngày này sang ngày khác, tuần lễ này sang tuần lễ khác, Ron Williamson rất lo cho mẹ. Sang tháng Tám, bà Juanita nằm chờ chết trong bệnh viện, vậy mà anh không được phép vào thăm mẹ.
Vào tháng ấy, theo lệnh của tòa, Ron lại được bác sĩ Charles Amos khám lần nữa. Ông bác sĩ tính sẽ tiến hành vài thí nghiệm. Trong cuộc thí nghiệm thứ nhất, ông ghi nhận xét: “Tất cả các câu hỏi, bệnh nhân đều trả lời một cách tỉnh táo.” Khi thấy bác sĩ Amos tiến hành tiếp, Ron hỏi: “Cái gì quan trọng hơn? Việc thí nghiệm này hay bệnh tình của mẹ tôi?” Cuộc thí nghiệm lần này không thành, nhưng về sau bác sĩ Amos vẫn nhận xét: “Cuộc thí nghiệm cuối cùng tiến hành vào năm 1982 chứng tỏ bệnh nhân Ronnie Williamson tâm thần không ổn định.”
Ron Williamson van nài cảnh sát cho anh vào gặp mẹ anh lần cuối cùng trước khi bà mất. Chị Annette cũng cố nài nỉ và chạy chọt để em mình được vào gặp mẹ lần cuối cùng. Chị có quen một số quản giáo trông coi nhà tù. Và mỗi khi chị đến tiếp tế cho em, chị đều có quà cho họ và các phạm nhân. Thậm chí có hôm chị còn đem thức ăn vào bếp của nhà tù nấu nướng, thết đãi họ. Vậy mà họ vẫn không cho phép em chị được vào thăm bà Juanita trong bệnh viện.
Bệnh viện ở ngay gần đây, chứ xa xôi gì đâu, chị Annette cố thuyết phục. Thị trấn này nhỏ, hầu như tất cả mọi người đều quen biết nhau. Họ đều biết Ron, em trai chị. Đời nào lại có chuyện em chị giấu con dao hay vật gì nhọn trong người rồi gây thương tích cho người khác? Cuối cùng hai bên cũng đạt được một thỏa hiệp. Ron được giải ra khỏi nhà tù và đưa đến bệnh viện, với hai tay bị còng và hai chân bị xích. Đi theo áp giải anh là cả một đội cảnh sát đông đúc có trang bị vũ khí. Và lúc vào bệnh viện, Ron được đặt lên một chiếc xe lăn, được cảnh sát đẩy đến chỗ bà Juanita.
Bà Juanita Williamson nói rõ rằng thà bà không gặp con trai còn hơn phải nhìn thấy con bị còng tay. Nghe mẹ nói thế, chị Annette bèn năn nỉ cảnh sát linh động, và họ miễn cưỡng phải đồng ý tháo còng tay một lúc cho Ron Williamson. Nhưng không hiểu sao trên đường đến bệnh viện, họ lại quên mất cái điều họ đã đồng ý ấy. Còng vẫn ở trên hai cổ tay và xích vẫn ở hai bàn chân Ron Williamson.
Anh van nài cảnh sát áp giải tháo còng ra trong vài phút trong lúc anh ngồi bên bà mẹ lần cuối cùng trên đời. Chuyện ấy nào có gì ghê gớm, vậy mà cũng không được cảnh sát đồng ý. Họ yêu cầu Ron vẫn phải ngồi trên xe đẩy trong lúc vào gặp mẹ.
Ron đề nghị cho anh mượn một tấm khăn trải giường để anh che cái còng ở cổ tay. Lúc đầu cảnh sát do dự, vì làm như thế có vi phạm nguyên tắc an ninh hay không? Nhưng rồi cuối cùng họ cũng nhân nhượng và sai lấy một tấm khăn để anh che hai cổ tay bị còng trong lúc đến gần mẹ.
Ron Williamson ngồi trên xe lăn, được đẩy đến bên giường bệnh của bà Juanita. Cảnh sát yêu cầu chỉ cho mình Ron vào còn hai chị Annette và Renee phải đi ra. Hai chị lại năn nỉ xin cho được ngồi lại với mẹ và em trai, để gia đình ít ra cũng được đoàn tụ một lần cuối cùng. “Nguy hiểm quá!” Cảnh sát trả lời. “Không được. Mời hai bà ra ngoài kia chờ thôi”.
Ron nói với mẹ, anh yêu bà biết chừng nào và anh đau xót biết bao khi nhớ lại những nỗi khổ tâm anh đã gây cho bà. Anh khóc như mưa như gió và lạy van bà tha thứ cho anh. Tất nhiên bà tha thứ. Ron đọc một số đoạn trong Kinh Phúc âm. Tất nhiên không khí thân tình giữa hai mẹ con không được như hai người mong muốn, vì vẫn có cảnh sát túc trực, đề phòng gì đấy, chắc họ sợ Ron nhảy qua cửa sổ ra ngoài và gây thương tích thêm cho những ai nữa.
Cuộc vĩnh biệt diễn ra ngắn ngủi. Chỉ sau vài phút, cảnh sát yêu cầu Ron chào mẹ rồi ra. “Hết giờ rồi”, thật ra chỉ mới được vài phút. Hai chị Annette và Renee nghe thấy tiếng em trai họ khóc ầm ĩ lúc bị cảnh sát đấy chiếc xe lăn cậu ngồi ra ngoài sân bệnh viện.
Bà Juanita Williamson trút thở hơi cuối cùng ngày 31 tháng Tám năm 1985. Thoạt đầu cảnh sát từ chối đề nghị của gia đình cho phép Ron đến dự tang lễ bà. Chỉ đến khi chồng của chị Annette, nhờ quen được với một số quan chức tòa án, vận động, và được sự cho phép của tòa án, cảnh sát mới cho phép Ron đến dự lễ với hai nhân viên cảnh sát kèm hai bên.
Để tăng thêm “kịch tính” cho tang lễ bà Juanita Williamson, cảnh sát quy định, chỉ sau khi mọi người đã vào phòng tang lễ hết, Ron mới được phép vào, và sau đấy cửa đóng chặt, không ai được vào thêm.
Phòng tang lễ chật cứng. Quan tài được mở nắp để những ai yêu mến người xấu số có thể nhìn mặt lần cuối cùng trước khi xa nhau vĩnh viễn. Cửa ngách mở ra. Ron ngồi trên xe lăn được một tốp cảnh sát canh giữ và đẩy vào. Hai tay anh vẫn bị còng và hai chân bị xích. Để cẩn thận thêm, cảnh sát còn thêm một sợi dây xích nối còng tay với xích chân rồi quấn một vòng xung quanh bụng anh nữa. Trong khi Ron nhích từng bước ngắn đến gần quan tài mẹ, thì tiếng xích sắt va vào nhau kêu loảng xoảng, đánh vào thần kinh của những người đến dự tang lễ.
Khi nhìn thấy mặt bà Juanita trong quan tài mở nắp, Ron khóc nức nở, vừa khóc vừa rên rỉ: “Mẹ tha tội cho con.. Con hối hận biết chừng nào đã làm mẹ đau lòng không biết bao nhiêu lần”. Tiếng khóc chuyển sang thành tiếng rên rỉ đau đớn, trong lúc anh lê bước lại gần quan tài.
Người ta dìu Ron ngồi vào vị trí của anh, hai cảnh sát vẫn liên tục đứng kèm hai bên, và mỗi lần anh cử động tiếng xích lại kêu loảng xoảng. Anh như thể phát điên, gào thét, rên rỉ, và hình như đã cố trấn tĩnh lại nhưng không nổi.
Lúc này Ron đang ngồi trong nhà thờ Pentecost Thứ Nhất, nơi thuở nhỏ anh đã thường xuyên đến đây để nghe giảng Thánh Kinh và để cầu nguyện. Tại đây, chị Annette của anh thường đánh đàn óoc gan vào các ngày Chủ nhật. Và giờ đây Ron nhìn khuôn mặt nhăn nheo của chị.
Trong hành lang nhà thờ, người ta tổ chức một bữa ăn đơn giản cho những người đến dự tang lễ. Ron lê chân đến đấy. Hai cảnh sát vẫn áp sát hai bên anh. Ron đã ăn cơm tù quá nhiều đến mức đối với anh bây giờ, thức ăn bên ngoài có tồi tệ đến mấy anh cũng coi như một món tiệc. Chị Annette xin với nhân viên cảnh sát tháo còng tay ra một lúc để em chị có thể ăn. Câu trả lời là không được. Chị lại van nài lần nữa, vẫn là câu đáp: không thể được.
Cuối cùng, họ hàng và bè bạn thương xót nhìn hai chị Annette và Renee lần lượt bón từng miếng ăn cho cậu em trai.
Bên canh ngôi mộ, sau khi mai táng, những người đến dự tang lễ lần lượt đi ngang trước mặt ba chị em nhà Williamson: Annette, Renee và Ron, để chia sẻ nỗi đau thương và nói vài câu an ủi. Hai chị ôm hôn nhẹ từng người để cảm ơn, nhưng Ron thì không thể. Các khách đành nghiêng đầu, phụ nữ thì áp nhẹ má hoặc trán lên môi anh, nam giới thì nắm bàn tay anh lắc nhẹ, khiến xích kêu loảng xoảng.
Lúc ấy là tháng Chín, thời tiết còn rất nóng, mồ hôi chảy ròng ròng trên khuôn mặt Ron. Anh không thể lau được. Hai chị anh lau mặt hộ em.
***
Bác sĩ Charles Amos đưa đến tòa một bản báo cáo, trong ấy ông nói rằng tù nhân Ron mắc bệnh tâm thần ở mức độ mà nếu căn cứ theo bộ luật hình sự bang Oklahoma thì cần được đưa đi chữa trị. Bởi trong tình trạng tâm thần như hiện nay, tù nhân không thể hiểu được những tội mà tòa khép cho y, cũng không thể có đủ sáng suốt để tự bào chữa. Tù nhân Ron Williamson chỉ có thể có được khả năng tâm thần cần thiết tối thiểu sau khi được chữa trị hẳn hoi. Bác sĩ còn nói rõ trong báo cáo gửi tòa là nếu Ron được thả ra bây giờ thì y sẽ là một hiểm họa đối với bản thân y và với mọi người xung quanh.
Chánh án Miller chấp nhận những đề nghị của bác sĩ Amos và ra một văn bản thừa nhận Ron Williamson không đủ thẩm quyền về tâm thần. Anh được đưa đến bệnh viện nhà nước Miền Đông tại thành phố Vinita để khám và điều trị. Tại đây anh được bác sĩ RD. Garcia khám và ông kê đơn cho anh dùng Dalmane và Restoril để chữa bệnh mất ngủ, Mellaril để chữa bệnh hoang tưởng và mê sảng, hung hăng, hiếu chiến. Dùng các thuốc trên được một thời gian ngắn thì tâm thần Ron dịu xuống và có được cải thiện.
Sau hai tuần lễ, bác sĩ Garcia nhận định: “Ron Williamson bị mắc chứng sợ hãi xã hội và chịu tác động của một thời gian dài lạm dụng rượu. Anh ta phải tiếp tục dùng các thuốc Thorazine 100 mg. Ngày bốn lần. Bệnh nhân không gây lo ngại về mặt ý định chạy trốn.”
Nhận xét này đúng là một thứ chế giễu nỗi lo của cảnh sát là bất cứ lúc nào Ron cũng chỉ chực chạy trốn.
Khi trả lời những câu hỏi đã làm thành văn bản của tòa, bác sĩ Garcia viết:
“Anh ta là người đánh giá được những tội lỗi tòa khép cho anh ta.
Anh ta có đủ tỉnh táo để trao đổi với luật sư bào chữa và đủ khả năng để ngồi tham dự những phiên làm việc của bộ phận bào chữa.
Anh ta không còn bị rối loạn hoặc không bình thường về mặt tâm thần nữa.
Bây giờ nếu anh ta được tha hoặc được tại ngoại thì cũng không gây lo ngại gì cho bản thân anh ta cũng như cho người xung quanh anh ta. Tuy nhiên, nếu anh ta tiếp tục lạm dụng rượu, tình hình có thể xấu đi ”.
Ron được đưa về thị trấn Ada và tiếp tục xét xử. Nhưng chánh án Miller chấp thuận ý kiến đề xuất của bác sĩ Garcia, quyết định tiếp tục thi hành bản án cũ, đưa Ron trở lại nhà tù trả nốt thời hạn hai năm anh còn thiếu của bản án trước. Khi ra khỏi bệnh viện Miền Đông, Ron được cấp thêm thuốc cho hai tuần lễ nữa.
***
Tháng Chín, hai bị can trong vụ cô Denice Haraway mất tích, là Tommy Ward và Karl Fontenot, bị đưa ra xét xử tại tòa án thị trấn Ada. Các luật sư bào chữa cho hai người đã phản bác rất gay gắt và quyết liệt, đòi phải xét xử riêng từng người, và quan trọng hơn, là phải xử bên ngoài địa phận quận Pontotoc.
Vẫn chưa tìm thấy tăm tích cô Denice Haraway. Hàng trăm người được huy động để tiến hành việc tìm kiếm nhưng chưa đạt kết quả. Và người ta vẫn đưa ra những giả thiết hết sức khác nhau.
Bố chồng cô, một bác sĩ nha khoa nổi tiếng tại địa phương là người được dân chúng thị trấn và các vùng lân cận rất kính nể.
Hai nghi can Tommy Ward và Karl Fontenot đã bị giam mười một tháng rồi. Từ tháng Mười trở đi, khi các “bản thú tội” của họ được đăng trên báo chí và trở thành đề tài quan tâm số một của tất cả mọi người. Đến đâu cũng nghe thấy người ta bàn tán về hai nghi can và hai bản “thú tội” của họ. Ở khắp mọi nơi, từ quán giải khát đến trung tâm thẩm mỹ.
Làm sao các bị cáo có thể hy vọng được một bản án khách quan? Ngày nào cũng có bao nhiêu đơn đề nghị thay đổi bị cáo. Nhưng mọi đề nghị như thế đều bị bác bỏ. Trước khi phiên xét xử bắt đầu, đã diễn ra một cuộc tranh luận sơ bộ, xoay quanh hai bản “thú tội”. Các luật sư bào chữa cho Tommy Ward và Karl Fontenot phản đổi kết luận của cơ quan điều tra, đặc biệt là phản đối phương pháp làm việc của thanh tra Dennis Smith và thám tử Gary Rogers trong khi tiến hành điều tra. Rõ ràng lời khai của hai chàng trai kia không phải là sự thật, không có một bằng chứng cụ thể nào làm giá đỡ cho các câu chuyện họ kể.
Ủy viên công tố Bill Peterson chống trả quyết liệt. Bởi nếu không chấp nhận hai bản “thú tội” ấy thì lấy gì ra mà xử? Sau cuộc tranh luận gay gắt và kéo dài ấy, chánh án Miller tuyên bố sẽ đưa ra lấy ý kiến các thành viên của Hội đồng xét xử.
Bên công tố, thay mặt nhà chức trách triệu tập năm mươi mốt nhân chứng, trong đó, chỉ rất ít cung cấp được đôi điều có giá trị: Số khá đông là bè bạn của nạn nhân Denice Haraway, được triệu tập để khai trước tòa, xác nhận bạn gái của họ bị mất tích thật và thậm chí còn bị nghi là đã chết.
Phiên tòa xét xử chỉ có một điều bất ngờ. Đấy là một nữ tội phạm “chuyên nghiệp”, tên là Terri Holland, cũng được triệu tập ngồi ghế nhân chứng. Chị ta kể với tòa một câu chuyện như sau. Vào tháng Mười vừa rồi, khi Karl Fontenot được đưa vào nhà tù thì chị cũng đang ngồi trong ấy. Hai người nói chuyện với nhau, và một lần Karl Fontenot buột miệng thú nhận với chị ta là chính anh ta cùng với Tommy Ward và Odell Titsworth đã bắt cóc cô Denice Haraway, hiếp rồi thủ tiêu cô ta.
Bị cáo Karl Fontenot phủ nhận, bảo anh không hề gặp người phụ nữ này và cũng không nói chuyện với chị ta bao giờ.
Terri Holland không chỉ là “mụ phù thủy trong nhà tù” duy nhất được triệu tập đến làm nhân chứng. Một tội phạm khác, cỡ nhỏ, tên là Leonard Martin cũng được triệu tập đến làm nhân chứng. Bên công tố mời y lên trình bày. Leonard Martin kể trước tòa là có một lần y nghe thấy Karl Fontenot nằm trong phòng giam khóc nức nở rồi đấm ngực kêu lên: “Tao đã biết là chúng mình sẽ bị bắt. Tao biết ngay từ lúc gây án mà.”
Chất lượng các nhân chứng là như vậy. Phía công tố triệu tập họ đến chỉ cốt để thêm bằng chứng kết tội hai nghi can bị đưa ra xét xử hôm nay.
Không có bằng chứng cụ thể, vật chất, hai băng ghi hình cuộc “thú tội” của hai bị cáo chứa đầy mâu thuẫn, đến mức ai cũng thấy rõ. Bên công tố bị buộc phải giơ bộ mặt gian dối ra trước thiên hạ, bằng cách xin với tòa là mặc dù hai bị cáo nói dối nhưng đề nghị hội đồng xét xử cứ tin vào họ. Các đề nghị quái đản ấy như sau:
— Đề nghị bỏ qua những chỗ nhắc đến Titsworth vì người này thật ra không liên quan đến vụ án.
— Đề nghị bỏ qua chi tiết về ngôi nhà bị đốt cháy, vì chủ nhân ngôi nhà ấy đã đốt nó từ trước khi cô Denice Haraway mất tích đến mười tháng.
Rồi máy chiếu được chở vào phòng xét xử. Ánh sáng trong phòng tắt, màn ảnh sáng lên. Hai băng hình “thú tội” được chiếu lên. Kết quả là hai bị cáo Tommy Ward và Karl Fontenot bị tuyên án tử hình.
Khi trình bày bản kết luận cuối cùng, thẩm phán DA. Chris Ross, lần đầu tiên được làm công việc này, đã cố gắng gây kịch tính cho nó bằng cách dùng giọng bi thảm, thương xót và căm giận thuật lại câu chuyện đầy những máu, nước mắt, dao găm, súng, cảnh cô gái xinh đẹp nhường ấy bị cưỡng hiếp tàn bạo và sát hại vô cùng dã man, rồi ông ta tả cảnh bọn tội phạm đã ác độc đốt cái xác của cô gái kia như thế nào.
Các thành viên của Hội đồng xét xử bị kích động mạnh. Thế là họ tán thành bản án tử hình cho cả hai bị cáo.
***
Tuy nhiên sự thật lại là thi thể cô Denice Haraway không hề bị đâm, cũng không hề bị đốt cháy, bất chấp lời hai nghi can
Tommy Ward và Karl Fontenot đã kể trong những bản “thú tội” của họ. Và sự thật ấy như sau:
Cô Denice Haraway bị giết, do một phát đạn duy nhất bắn vào đầu. Thi thể của cô được một người đi săn tình cờ nhìn thấy trong một khu rừng rậm rạp gần làng Gerty, thuộc quận Hughes, cách thị trấn Ada hai mươi bảy dặm về phía đông, cách xa mọi địa điểm cảnh sát nghi ngờ và đã đến sục sạo.
Lẽ ra nguyên nhân thật sự cái chết của cô Denice Haraway phải thuyết phục được Hội đồng xét xử tin rằng Tommy Ward và Karl Fontenot chỉ là “mơ thấy” những sự việc mà họ đã thuật lại trong các bản “thú tội” của họ. Vậy mà không!
Lẽ ra nguyên nhân thật sự cái chết của cô Denice Haraway phải thúc đẩy nhà chức trách thú nhận là họ đã lầm và cần tiến hành điều tra hung thủ thật sự của vụ án. Vậy mà không!
Sau khi phiên tòa kết thúc, nhưng trước khi thi thể cô Denice Haraway được tìm thấy, Tommy Ward ngồi trong nhà tù quận Pontotoc, chờ để chuyển sang nhà tù McAlester, một nhà tù nằm cách thị trấn Ada năm mươi lăm dặm. Trong đầu vẫn bàng hoàng về kết quả phiên tòa đã đưa anh lên hàng những tù nhân sẽ phải chịu tử hình bằng một mũi tiêm thuốc độc, Tommy Ward thấy kinh hoàng và hoàn toàn tuyệt vọng. Mới trước đây một năm anh còn là một thanh niên khỏe mạnh, thông minh, cuộc đời đầy những hứa hẹn: có được một công việc hợp ý và lấy được một cô gái xinh đẹp.
Vậy là thủ phạm thật sự của vụ án lúc này vẫn nhởn nhơ ngoài vòng pháp luật, hẳn đang cười giễu chúng ta. Cười giễu cảnh sát.
Tommy Ward tự hỏi liệu chúng có gan đến dự phiên tòa để xem anh và Karl Fontenot bị kết án oan thay cho chúng hay không? Sao không? Chúng đang được an toàn, thậm chí còn an toàn hom cả khi vụ án chưa được đem ra xử.
Một hôm, Tommy Ward tiếp hai vị khách, hai “cớm” của thị trấn Ada. Họ bùi ngùi nói, bây giờ họ đã là bạn của anh và họ đang lo, không biết đến nhà tù McAlester số phận anh sẽ ra sao. Họ rất thương xót anh. Họ bảo họ đến gặp anh chỉ vì muốn cứu anh. Họ khuyên Tommy Ward hãy chỉ ra nơi giấu thi thể cô Denice Haraway, bởi nếu anh làm thế thì họ có thể giúp anh được. Họ sẽ báo cáo với tòa án, để tòa giảm án cho anh, từ tử hình xuống chung thân. Họ nói rằng điều nhà chức trách muốn biết nhất hiện nay chỉ là thi thể cô gái ấy hiện ở đâu.
Tommy Ward trả lời, nào anh có biết thi thể cô ấy hiện ở đâu? Anh nhắc lại cái câu anh đã lặp đi lặp lại suốt một năm nay, là anh không biết gì về vụ mất tích ấy. Bây giờ đứng trước cái chết, anh thấy không có gì để “khai” thêm với cảnh sát.
***
Sau khi Tommy Ward và Karl Fontenot bị bắt ít lâu, câu chuyện của hai người được một nhà báo đáng kính ở New York chú ý. Tên nhà báo đáng kính ấy là Robert Mayer, lúc ấy sống ở miền Tây Nam Hoa Kỳ. Ông nghe được câu chuyện là do người phụ nữ ông hò hẹn kể cho người tình nghe. Chị có người anh lấy một trong hai bà chị của Tommy Ward.
Nhà báo Robert Mayer chú ý vì cái chi tiết dính đến giấc mộng. Nghi can đã nói lời thú tội thông qua giấc mộng. Sao lại thế được? Ông bèn tìm đến thị trấn Ada để điều tra xem sự việc cụ thể ra sao. Ông xin dự cuộc tranh luận kéo dài trước khi tòa đưa vụ án ra xét xử chính thức. Rồi ông đến dự các phiên tòa. Ông cũng tìm hiểu thị trấn, dân chúng tại đây ra sao, nội dung vụ án thế nào, cơ quan công tố... Đặc biệt, ông nghiên cứu kỹ về hai nghi can Tommy Ward và Karl Fontenot.
Dân chúng thị trấn Ada tò mò chăm chú quan sát ông. Hiếm khi một thị trấn nhỏ, hẻo lánh như thế này được một nhà báo đích thực đến xem xét, nghiên cứu để sẽ viết một tác phẩm nào đấy. Có trời mà biết ông ấy sẽ viết gì. Dần dần nhà báo Robert Mayer chiếm được lòng tin của các quan chức và nhân viên chính quyền có uy thế. Ông phỏng vấn ủy viên công tố Bill Peterson khá lâu. Ông cũng gặp và nói chuyện nhiều lần với các luật sư bào chữa cho hai bị cáo Tommy Ward và Karl Fontenot. Ông ngồi trao đổi nhiều tiếng đồng hồ với các nhân viên cảnh sát.
Trong một cuộc gặp và trò chuyện, thanh tra Dennis Smith kể ông nhà báo nghe về sức ép đè lên ông ta: trong một thị trấn nhỏ như thế này mà có đến hai vụ trọng án chưa được phá. Viên thanh tra lấy ra tấm ảnh của cô gái Debbie Carter đưa ông nhà báo xem, rồi nói: “Chúng tôi biểt Ron Williamson chính là hung thủ đã giết cô gái này. Chỉ có điều lúc này chúng tôi chưa có đủ chứng cứ để buộc tội y.”
Khi nhà báo Robert Mayer bắt đầu viết bản phác thảo, ông cho rằng có thể có khả năng mấy chàng trai kia là thủ phạm thật. Nhưng về sau, ông rất phẫn nộ thấy những hành động mớm cung, ép cung của thanh tra Dennis Smith và thám tử Gary Rogers. Và ông thấy trình tự xét xử hai nghi can Tommy Ward và Karl Fontenot không theo nguyên tắc nào. Không có bằng chứng gì, mà chỉ có bản “thú tội” của họ, chưa kể hai bản thú tội ấy mâu thuẫn với nhau trong vô số chi tiết, đến mức không thể tin vào các bản thú tội ấy được..
Tuy nhiên, nhà báo Robert Mayer cũng cố trình bày một cách công bằng, có nghĩa hai bên đều có lý ngang nhau, giữa nhà chức trách và các tội phạm. Cuốn sách của ông: “Những giấc mộng ở thị trấn Ada" được nhà xuất bản Viking phát hành vào tháng Tư năm 1987 và được dân chúng thị trấn Ada rất háo hức tìm đọc.
Phản ứng xảy ra tức thì và có thể đoán trước. Một số người đọc không tin vào cuốn sách vì cho rằng tác giả quen thân với gia đình Tommy Ward cho nên thiếu khách quan. Một số khác tin rằng mấy thanh niên kia có tội thực, vì chính họ đã tự thú nhận.
Còn dư luận rộng rãi thì cho rằng cảnh sát và cơ quan công tố đã “nặn” ra nhiều thứ, đã đổ oan cho mấy thanh niên kia, trong khi lại để những thủ phạm đích thực được tự do nhỏm nhơ ngoài vòng pháp luật.
***
Xấu mặt vì bị phê phán - đây là chuyện hiếm hoi trong một thị trấn nhỏ như thế này - trong một cuốn sách, viết về một trong những vụ án được ông ta khởi xướng và chỉ đạo, ủy viên công tố Bill Peterson lồng lộn. Ông ta quyết định dồn hết mọi đòn tấn công vào vụ cô Debbie Carter bị giết. Peterson cảm thấy ông ta đã có trong tay một cái để mà từ đó phát triển ra. Không lúc nào bằng lúc này, ủy viên công tố Bill Peterson thấy cần phải gỡ lại uy tín bằng cách phá cho được một vụ án lớn.
Thời gian đã trôi qua quá lâu và vụ án đã trở thành chuyện cổ xưa rồi... Gần bốn năm chứ ít đâu? Nhưng cũng đã đến lúc không thể trì hoãn thêm được nữa. Nhất thiết phải “tóm” một vài tên nào đấy.
Suốt mấy năm nay, ủy viên công tố Bill Peterson và cơ quan cảnh sát một mực tin rằng thủ phạm hiếp và giết cô Debbie Carter chính là Ron Williamson. Chỉ có điều chưa tìm ra chứng cứ. Có thể Dennis Fritz dính đến vụ này, mà cũng có thể không. Nhưng anh ta quen Ron Williamson. Mà cảnh sát thì tin chắc đêm hôm ấy Ron Williamson có đến căn hộ cô Debbie. Họ không có bằng chứng gì, nhưng họ “cảm thấy” như thế.
***
Ron Williamson đã hết hạn tù, trở về thị trấn Ada. Vào thời điểm mẹ anh, bà Juanita Williamson qua đời, Ron vẫn còn nằm trong tù vì còn những hai năm nữa. Trong thời gian ấy, hai chị anh, Annette và Renee miễn cưỡng phải bán ngôi nhà nhỏ của cha mẹ để lại, nơi ba chị em đã sống những năm niên thiếu.
Khi Ron mãn hạn tù vào tháng Mười 1986, anh không có chỗ nào về ở. Anh đành đến sống với chị và anh rể cùng một đứa con trai, gọi anh bằng cậu. Ron phải cố gắng rất nhiều để thích ứng với hoàn cảnh mới. Nhưng rồi những tật xấu cũ vẫn trở lại: thói ăn lúc đêm khuya mà anh nấu một cách ầm ĩ, rồi thói xem truyền hình suốt đêm, thói vặn nhạc lớn đến chói tai, thói hút thuốc lá và nốc bia rượu, thói suốt ngày nằm ườn ra trên đi văng.
Được khoảng một tháng thì chị Annette thấy thần kinh cả nhà bị kích động quá mức. Thế là để bảo vệ cuộc sống gia đình, chị buộc phải bảo em chuyển đi ở chỗ khác.
Hai năm ngồi tù không giúp cải thiện căn bệnh tâm thần của Ron chút nào. Anh nhập rồi lại xuất liên tiếp ở nhiều bệnh viện, khám nhiều bác sĩ và sử dụng nhiều loại thuốc khác nhau. Có cả những thời gian anh không dùng thuốc gì. Thông thường anh vào nằm nhà tù một thời gian rồi người ta phát hiện anh có những biểu hiện tâm thần, thế là họ đưa anh đến một bệnh viện nào đấy, khám một bác sĩ nào đấy và uống vài thứ thuốc nào đấy. Thấy bệnh thuyên giảm, Ron lại quay về nhà tù để rồi ít lâu sau lại được đưa đến một bệnh viện tâm thần nào đấy.
Sau khi Ron Williamson ra khỏi tù, Cục Hỗ trợ cựu tù nhân yêu cầu anh đến gặp một viên chức phụ trách công tác xã hội tại Viện Y tế tâm thần thị trấn Ada. Ngày 15, tháng Mười, Ron đến gặp nữ nhân viên xã hội Norma Walker. Chị thấy Ron đang dùng hai loại thuốc có lithium là Navane và Artane. Chị nhận xét thấy Ron dễ mến, tự chủ được, chỉ thái độ hơi “lạ”. Chị ghi nhận xét: “Anh ta hay có thói nhìn chằm chằm vào một thứ gì đấy trước mặt và nhìn rất lâu, không nói một lời.”
Ron Williamson thổ lộ là anh dự định sẽ vào học trường đạo để sau có thể làm mục sư. Hoặc có thể anh sẽ tổ chức một công ty xây dựng riêng của mình. Chị Walker thầm nghĩ, toàn những dự định viển vông.
Mấy tuần lễ sau, vẫn còn trong thời gian điều trị, Ron Williamson đến bệnh viện tâm thần, ngày 9 tháng Mười hai, xin cho gặp nữ bác sĩ Marie Snow. Anh bảo với bà bác sĩ là đã ngừng uống thuốc vì anh gặp một cô gái, cô này tỏ vẻ không tin thuốc có tác dụng. Bà bác sĩ Marie Snow khuyên anh cứ tiếp tục dùng thuốc nhưng Ron nói rằng Chúa đã ra lệnh cho anh ngừng mọi chất ma túy và hóa chất.
Ron Williamson bỏ lỡ hai cuộc hẹn khám, ngày 18 tháng Mười hai và ngày 14 tháng Giêng. Ngày 16 tháng Hai, chị Annette gọi điện cho chị Norma Walker, nữ viên chức công tác xã hội, báo rằng Ron không còn kiểm soát được hành vi của cậu ta nữa. Chị Annette miêu tả em chị tỏ ra là một người mất trí, và cậu ta tuyên bố sẽ tự tử bằng một phát súng. Hôm sau, Ron đến cơ quan của Norma Walker, dáng bồn chồn, nhưng vẫn bình tĩnh. Anh đề nghị đổi thuốc khác.
Ba ngày sau, chị Norma Walker nhận được một cú điện thoại từ nhà thờ McCall. Ron đang gây náo động tại đây, la hét ầm ĩ, rồi đòi phải cho anh ta một việc làm. Chị Norma Walker khuyên nhà thờ hãy đối xử nhẹ nhàng với Ron và nếu cần thì gọi cảnh sát. Chiều hôm ấy, chị Annette cùng chồng đem xe đến đón cậu em đi gặp chị Norma Walker. Cả hai vợ chồng đều rất buồn, thấy không có cách gì giúp em được.
Chị Norma Walker nhận thấy Ron đã ngừng dùng thuốc, bây giờ trông anh đờ đẫn, hoàn toàn không có khả năng tự chăm sóc bản thân, tự ăn uống. Chị không tin Ron có thể sống cô đơn một mình với những viên thuốc. Chị nghĩ, cách giải quyết tốt nhất là nằm viện trong một thời gian dài để điều trị các rối loạn về tâm thần.
Ba người rời khỏi cơ quan chị Norma Walker, không có kế hoạch đi đâu và cũng không đem theo thuốc men gì. Ron đi loanh quanh trong thị trấn Ada rồi biến đâu mất.
Một đêm, ông anh rể Gary Simmons đang ở nhà tại Chickasha, tiếp chuyện hai người bạn thì nghe thấy chuông cửa reo. Anh nói to: “Xin mời”, thì thấy cậu em vợ đẩy cửa, xô vào, rồi ngã quỵ xuống sàn nhà. “Em cần giúp đỡ!” Cậu nói tiếp: “Em đang lên cơn điên, cần giúp đỡ.” Râu ria không cạo, mặt mũi lem luốc, tóc rậm bù rối, cậu thì thào: “Em không biết em hiện đang ở đâu, em làm sao? Ai cứu em với.”
Hai người bạn của anh Gary Simmons do không biết Ron nên rất ngạc nhiên thấy một con người như vậy. Một người cáo từ ra về, còn một người ở lại, muốn xem thử. Ron dần dần bình tĩnh trở lại. Anh rể cậu nói sẽ đưa cậu đến bệnh viện. Rồi anh dắt cậu em ra xe. Xe chạy đến gần bệnh viện thì đỗ lại. Họ hỏi thăm xem bệnh viện tâm thần ở đâu. Người ta mách cho họ đến bệnh viện nhà nước tại thành phố Norman. Xe lại chạy. Đột nhiên Ron kêu đói. Ông anh rể Gary Simmons biết có một nhà hàng bán sườn nổi tiếng, bèn lái xe đến. Anh đã đỗ xe trong bãi, thì Ron lại hỏi: “Hai anh em mình đi đâu thế này?”
“Vào đây ăn”. Gary đáp. Nhưng Ron lại bảo không đói.
Thế là hai anh em lại lái xe đi.
Ron hỏi: “Tại sao anh đỗ xe chỗ vừa rồi?”
“Tại cậu bảo đói, nên tôi đỗ xe định đưa cậu vào nhà hàng cho cậu ăn.”
“Em bảo đói lúc nào?” Ron nổi cáu với ông anh rể. Xe vẫn chạy tiếp. Ron lại nói: “Em đói rồi.”
Anh Gary Simmons nhìn thấy một cửa hiệu ăn McDonald bèn đỗ xe.
Ron lại hỏi: “Anh làm gì thế?” Gary đáp: “Sao cậu bảo đói? Ta vào đây ăn.”
“Tôi nói thế bao giờ?”
“Thì mới vừa rồi thôi.”
“Tôi không đói. Anh cho xe đưa tôi đến bệnh viện thật nhanh đi.”
Anh Gary Simmons lái xe đi tiếp và quay lại thành phố Norman. Đến đây Ron lại kêu đói. Anh Gary vẫn nhẫn nại, lái xe đến một cửa hiệu McDonald khác. Nhưng Ron lại bảo sao anh đỗ lại đây?
“Tại cậu bảo cậu đói. Ta vào đây ăn.”
“Tôi không đói. Tôi bảo anh chở tôi đến bệnh viện kia mà.”
Chỗ dừng cuối cùng trước khi đến bệnh viện là để mua xăng tại một trạm xăng trên Phố Chính. Gary Simmons đi rồi quay lại xe, tay cầm hai chiếc bánh ngọt to. Ron giật lấy một chiếc, ăn ngấu ăn nghiến, chỉ trong vài giây đồng hồ đã hết. Gary Simmons và người bạn cùng ngồi trong xe ngạc nhiên thấy sao cậu em ăn nhanh đến thế.
Đến bệnh viện số Một, Ron vào rồi lại ra, như thể anh không nghĩ ra điều gì. Cuối cùng anh vào phòng khám của một bác sĩ. Ông bác sĩ rất khó chịu thấy nói gì Ron cũng cãi và bảo uống thuốc gì Ron cũng không chịu. Lúc ra khỏi bệnh viện, anh Gary Simmons trách em vợ.
Thấy thế, Ron phản ứng bằng cách đứng quay mặt vào một bức tường, cứ đứng như thế liền trong mấy phút. Anh Gary định nói với cậu em điều gì đấy thì nhìn ra cậu đã biến đâu mất rồi. Sau đấy, một bác sĩ đã biết Ron, nhìn thấy anh ta đi bên ngoài bèn kéo vào phòng để khám.
Ron nói: “Tôi đến đây vì thấy cần phải đến một nơi nào đấy.”
Bác sĩ giữ Ron nằm lại bệnh viện, và cho anh dùng Lithium trị trầm cảm, Navane trị hoang tưởng và tâm thần phân liệt. Nhưng sau vài hôm, thấy tâm thần tạm ổn định, Ron lại tự ý bỏ về thị trấn Ada.
Đấy là một trong những chuyến hai anh em rể đi với nhau. Chuyến đi sau đấy của họ là đến thành phố Dallas, dự một chương trình chữa trị dành cho những cựu tù nhân và người nghiện các chất ma túy. Ông mục sư của Gary Simmons tiếp Ron rồi nhận anh vào khóa chữa trị. Ông nói riêng với Gary Simmons: “Cậu ta đang tối tăm, cần phải rọi ánh sáng vào cho cậu ta.”
Gary Simmons lo thu xếp các thứ cho em vợ. Khi thấy đã tạm ổn, anh chia tay để về nhà với gia đình. Ron ở lại. Trước khi đi, anh Gary nhét lén vào túi em vợ tờ 50 đô la, đấy là một sự vi phạm quy chế của chương trình.
Gary Simmons về đến bang Oklahoma mới chỉ vài ngày đã thấy cậu em vợ cũng mò về. Thì ra cậu đã dùng số tiền anh rể cho để mua vé xe buýt về nhà.
***
Lần vào bệnh viện tiếp theo của Ron Williamson không do tự nguyện. Ngày 23 tháng Ba, chín ngày sau khi được thả ra, Ron định tự tử bằng cách uống thuốc an thần quá liều: Hai mươi viên Navane liền một lúc. Nguyên nhân, theo anh nói với chị y tá, thì vì anh không tìm được việc làm.
Ron Williamson bị yêu cầu tuyệt đối nghỉ ngơi và dùng thuốc. Nhưng sau ba ngày, anh ngừng uống thuốc. Các bác sĩ kết luận, anh là nỗi nguy hiểm cho bản thân và cho người khác. Họ yêu cầu anh vào nằm viện thêm hai mươi tám ngày nữa.
Khi trở về thị trấn Ada, Ron Williamson tìm thuê được một phòng trong một ngôi nhà nhỏ trên phố Mười Hai, phía tây thị trấn.
Phòng không có bếp, cũng không có nước. Muốn tắm anh phải bắc vòi cao su lồng vào ống nước công cộng phía sau nhà.
Chị Annette đem thức ăn đến và chăm sóc mọi thứ cho em. Trong một lần đến thăm, chị thấy cổ tay Ron rớm máu. Chị hỏi thì Ron trả lời anh ta đã dùng lưỡi dao cạo cứa cổ tay định chết, bởi anh nghĩ anh có thể chịu khổ giống như những người anh đã nhiều lần làm khổ họ. Ron bảo muốn chết để lên trời gặp cha mẹ, những người mà anh chịu ơn không biết bao nhiêu mà kể.
Chị Annette khuyên em đi khám một bác sĩ nhưng Ron từ chối. Ron cũng từ chối không xin trung tâm sức khỏe tâm thần của thị trấn giúp đỡ, mặc dù anh có rất nhiều thời gian.
Lúc này Ron đã sử dụng hết số thuốc được cấp.
Ông già chủ ngôi nhà Ron thuê rất tốt với anh. Nhiều tháng ông không lấy tiền thuê, mà còn giúp đỡ anh nhiều thứ. Nhà có một chiếc máy xén cỏ bị hỏng một bánh. Ron bèn đem máy ấy ra xén cỏ cho các gia đình, lấy mỗi ngày công 5 đô la, số tiền ấy anh đem về đưa ông già chủ nhà.
Ngày 4 tháng Tư, cảnh sát thị trấn Ada nhận được điện thoại của một người sống tại lô nhà ở phía tây thị trấn. Ông ta nói ông ta có việc sắp phải đi vắng xa thị trấn một thời gian, nhưng ông ta rất lo cho sự an toàn của gia đình, vì gần đây ông ta thấy đêm đêm Ron Williamson hay đi lại quanh quẩn, như sục sạo khu vực xung quanh nhà ông. Tất nhiên ông ta biết Ron và rất cảnh giác đề phòng, ông ta mách cảnh sát rằng mỗi đêm Ron bốn lần đi đến cửa hàng tùy chọn Circle K và hai hoặc ba lần đến cửa hàng tùy chọn Love. Cứ thế lục sục suốt cả đêm.
Nhân viên cảnh sát nhận điện là người tốt bụng. Ai cũng biết Ron luôn có những thái độ dở điên dở khùng, hoặc đờ đẫn. Vả lại không có điều luật nào cấm đi lại ban đêm. Anh nhân viên cảnh sát hứa sẽ quan tâm theo dõi khu vục ấy.
Ngày 10 tháng Tư, lúc ba giờ sáng, cảnh sát nhận được điện thoại của một nhân viên làm ở cửa hàng tùy chọn Circle K, báo tin Ron Williamson đến đây mấy lần rồi và lần nào cũng có những thái độ kỳ quái. Trong khi sĩ quan cảnh sát Jeff Smith viết báo cáo thì thấy một bóng người khả nghi xuất hiện. Jeff Smith quát: “Ronnie, đi đi!” Thế là bóng người bỏ đi.
Một tiếng đồng hồ sau, Ron đến nhà tù, ấn chuông gọi cửa và bảo anh ta muốn sám hối rất nhiều tội anh ta đã phạm phải trước kia. Ngụời ta đưa anh một tờ mẫu để khai, thế là anh ta ngồi xuống viết. Ron nhận đã giật một cái ví tại câu lạc bộ Coachlight cách đây bốn năm, ăn trộm một khẩu súng ngắn tại một ngôi nhà, sờ soạng hai phụ nữ, đánh và suýt nữa cưỡng hiếp một cô gái trẻ tại thị trấn Asher. Nhưng viết đến đây anh bỏ tờ khai đấy, đi ra khỏi nhà tù.
Sĩ quan Rick Carson đuổi theo, túm được Ron cách đấy vài lô nhà. Rick Carson hỏi Ron làm gì ở đây vào giờ này. Ron trả lời nhưng thái độ rất lúng túng. Cuối cùng anh nói anh ra để tìm xem nơi nào cần thuê xén cỏ. Sĩ quan Carson bảo, ban ngày người ta mới thuê.
Ngày 13 tháng Tư, Ron Williamson đến bệnh viện tâm thần rồi dọa các nhân viên. Một trong những người gặp Ron hôm ấy miêu tả Ron là con người quái đản. Ron xin gặp bác sĩ Snow, rồi đi dọc theo hành lang để đến phòng khám của bác sĩ này. Khi có người bảo bác sĩ Snow không có trong ấy, Ron lập tức quay về, không hề gây chuyện với bất cứ ai.
Ba ngày sau, cuốn “Những giấc mộng ở thị trấn Ada" ra mắt công chúng.
***
Cảnh sát rất muốn ghép Ron Williamson là thủ phạm gây ra vụ án cô Debbie Carter nhưng họ không có đủ bằng chứng.
Cuối mùa xuân năm 1987, họ không có thêm được bằng chứng nào ngoài những thứ họ đã có vào năm 1983. Việc phân tích các mẫu lông tóc đã được phòng thí nghiệm của Cục Điều tra Hình sự bang Oklahoma hoàn thành, sau khi vụ án xảy ra hai năm. Rất khó so sánh các mẫu lấy được của Ron Williamson và Dennis Fritz với những mẫu thu thập được tại hiện trường vụ án.
Bên công tố gặp khó khăn lớn nhất là về dấu vân lòng bàn tay in vào vệt máu nằm trên mảnh gỗ nhân viên cảnh sát đã cắt được trong phòng ngủ của nạn nhân. Đầu năm 1983, chuyên gia Jerry Peters nghiên cứu rất kỹ dấu vân lòng bàn tay ấy và đã kết luận không phải của Dennis Fritz cũng không phải của Ron Williamson. Mà dấu vân lòng bàn tay này cũng không phải của nạn nhân, cô Debbie Carter. Dấu vân lòng bàn tay ấy là của hung thủ, một kẻ hiện vẫn vô danh.
Nhưng nếu chuyên gia Jerry Peters lầm thì sao? Bởi khi vội vã, ông ta rất có thể sai sót một chi tiết nào đấy. Nếu dấu vân lòng bàn tay ấy là của nạn nhân, cô Debbie Carter, thì không nhất thiết phải loại hai người, Ron Williamson và Dennis Fritz ra khỏi diện nghi vấn.
Ủy viên công tố Bill Peterson nắm ngay lấy ý kiến cho rằng nên khai quật thi thể nạn nhân để so sánh lại dấu vân lòng bàn tay lấy được trên tường ở hiện trường với dấu vân lòng bàn tay thật của nạn nhân, cô Debbie Carter. May thay thi thể cô chưa bị phá hủy hoàn toàn và người ta vẫn lấy được dấu vân lòng bàn tay của cô, tất nhiên nếu chịu khó quan sát nó theo một góc độ chưa bị phân hủy hoàn toàn. Kết quả của việc phân tích này sẽ quyết định giữ lại hay không giữ lại hai nghi can Ron Williamson và Dennis Fritz.
Mẹ nạn nhân, bà Peggy Stillwell nhận được điện thoại của thanh tra Dennis Smith. Ông này mời bà đến phòng cảnh sát thị trấn có việc cần đến bà, nhưng không nói việc gì. Bà Peggy nghĩ bụng, mà ai gặp trường hợp ấy chẳng nghĩ như thế, là chắc cảnh sát đã có phát hiện gì mới về nguyên nhân cái chết của con gái bà.
Khi đến nơi bà Peggy thấy ủy viên công tố Bill Peterson đã ngồi sau bàn giấy, trước mặt là chồng giấy trắng. Anh ta giải thích với bà rằng nhà chức trách muốn khai quật tử thi cô Debbie, do đấy cần phải có chữ ký ưng thuận của gia đình người quá cố. Cha cô Debbie và chồng đã li hôn của bà Peggy là ông Charlie Carter đã đến đây và ký rồi.
Bà Peggy rất hoảng sợ. Ý nghĩ sẽ xáo động sự yên tĩnh của con gái đã quá cố của bà khiến bà không chịu nổi. Bà nói không đồng ý, nhưng ủy viên công tố Bill Peterson đã chuẩn bị từ trước cách thuyết phục bà. Ông ta hỏi bà có muốn tìm ra kẻ đã giết con gái bà không. Tất nhiên bà muốn. Nếu bà muốn thế thì bà phải đồng ý cho nhà chức trách khai quật thi thể cô Debbie, bởi chỉ có bằng cách ấy mới có thể giữ lại hai nghi can Ron Williamson và Dennis Fritz trong diện nghi vấn.
Sau một phút nghe giảng giải, bà Peggy đành phải đồng ý. Bà ký vào bản ưng thuận để nhà chức trách khai quật thi thể con gái bà. Sau đấy, bà vội vã ra khỏi trụ sở cảnh sát rồi lái xe đến nhà em gái là bà Glenna Lucas.
Bà Peggy Stillwell kể cho em gái nghe về cuộc gặp giữa bà với ủy viên công tố Bill Peterson và về kế hoạch người ta định sẽ khai quật thi thể con gái bà. Bà Peggy xúc động mạnh mẽ vì nghĩ đến chuyện sẽ nhìn thấy con gái bà một lần nữa. “Tôi sẽ đụng vào người nó và ôm nó vào lòng một lần nữa”, bà lẩm bẩm mãi cái câu ấy.
Bà Glenna không chia sẻ niềm vui ấy của chị, thậm chí bà còn cho rằng đụng đến một cái thi hài chôn đã bốn năm là chuyện rất mất vệ sinh. Đấy là chưa kể bà đã mất lòng tin với những người chỉ đạo cuộc điều tra về nguyên nhân cái chết thảm thương của cháu gái bà. Bà đã tự bắt mình phải đến gặp ủy viên công tố Bill Peterson nhiều lần, và sau mỗi lần gặp, bà Glenna đều thêm mất lòng tin vào ông ta.
Bà Peggy, mẹ cô Debbie xấu số, thì đầu óc rất hỗn loạn. Nhiều lúc bà không tin là con gái bà đã chết. Em gái bà, bà Glenna đã bao nhiêu lần tiếp cận với ủy viên công tố Bill Peterson và các thám tử cũng như nhân viên cảnh sát để thăm dò xem họ đã điều tra được đến đâu. Nhưng bà Peggy thì không dám nghe những tin tức về cuộc điều tra ấy. Bởi mỗi lần nghe ai nhắc đến số phận bất hạnh của con gái, bà lại xót xa đến mức không chịu nổi.
Nghe bà chị kể xong, bà Glenna lập tức gọi điện đến hỏi ủy viên công tố Bill Peterson, để biết ông ta định kế hoạch ra sao. Peterson trả lời rằng việc khai quật tử thi cô Debbie là hết sức cần thiết, nếu như gia đình không muốn loại Ron Williamson và Dennis Fritz ra khỏi diện tình nghi. Hiện nay cuộc điều tra không tiến triển được chính vì vấp phải trở ngại là dấu vân lòng bàn tay in vào vết máu trên miếng gỗ ở chân tường. Nếu khai quật tử thi cô Debbie lên, rồi so sánh dấu vân lòng bàn tay cảnh sát thu thập được trên miếng gỗ kia với vân lòng bàn tay của cô Debbie. Nếu trùng khớp, tức là dấu vân lòng bàn tay ấy là của cô Debbie, chứ không phải dấu vân lòng bàn tay của một kẻ vô danh nào đấy mà cảnh sát chưa tìm ra, thì nhà chức trách sẽ lập tức khởi tố hai nghi can Ron Williamson và Dennis Fritz.
Bà Glenna thấy việc ủy viên công tố Bill Peterson định làm sẽ khó có kết quả như mong muốn, bởi thi thể cháu gái bà nằm dưới đất đã hơn bốn năm trời, dấu vân lòng bàn tay tất sẽ khô lại và biến dạng, làm sao so sánh được với dấu vân lòng bàn tay nào khác? Trong trường hợp này là dấu vân lòng bàn tay cảnh sát đã thu thập được tại hiện trường vụ án ngày ấy?
Bà Peggy, mẹ nạn nhân, thì rất hồi hộp trước triển vọng được nhìn thấy mặt con gái một lần nữa. Bà tâm sự với em gái: “Chị đã quên cả giọng nói của nó ngày xưa như thế nào.” Bà Glenna trấn an chị và nói rằng ủy viên công tố Bill Peterson đã hứa sẽ tiến hành thật nhanh và không để ai nhìn thấy tử thi cô Debbie.
Bà Peggy còn đang đứng ở xưởng thủy tinh thì có một người quen đi ngang qua hỏi bà có biết ở nghĩa trang Rosedale xảy ra chuyện gì không mà cảnh sát đứng đông lắm, ngay gần mộ của cô Debbie. Bà Peggy vội bỏ công việc ở xưởng thủy tinh, ba chân bốn cẳng chạy ra nghĩa trang Rosedale. Đến nơi, bà chỉ thấy một cái hố trống rỗng. Thi thể con gái bà đã bị đào lên và đem đi mất rồi.
Bộ sưu tập mẫu vân lòng bàn tay đầu tiên là do chuyên gia Jerry Peters thu ngày 9 tháng Mười hai năm 1982. Ông là người của Cục Điều Tra Hình sự bang Oklahoma. Việc in dấu vân lòng bàn tay này được ông tiến hành trong lúc người ta tiến hành mổ xác nạn nhân, cô Debbie Carter.
Bấy giờ, cách đây trên bốn năm, bàn tay còn nguyên vẹn và Jerry Peters tin chắc ông đã làm rất cẩn thận, in cả các góc và các phần bên rìa lòng bàn tay. Ba tháng sau, khi ông nộp báo cáo lên trên, ông thấy yên tâm là mình đã so sánh rất kỹ và hoàn toàn tin chắc chắn dấu vân lòng bàn tay này không phải của Ron Williamson, không phải của Dennis Fritz, và cũng không thuộc nạn nhân, cô Debbíe Carter, mà đấy là dấu vân lòng bàn tay của hung thủ, một người hiện nay nhà chức trách chưa biết là ai.
Bây giờ, sau bốn năm rưỡi, vụ án vẫn chưa được khám phá, cuộc điều tra bế tắc và nhà chức trách đang rất cần một sự đột phá, ông bỗng nhiên hồ nghi về kết luận của mình ngày trước.
Ba ngày sau khi khai quật, chuyên gia Jerry Peters thảo một bản báo cáo khác, trong đó ông kết luận rằng dấu vân lòng bàn tay thu thập được tại hiện trường vụ án ngày ấy chính là dấu vân lòng bàn tay của nạn nhân, cô Debbie Carter. Đây là lần đầu tiên và cũng là lần duy nhất trong suốt hai mươi tư năm hành nghề, chuyên gia Jerry Peters thay đổi kết luận của mình.
Bản báo cáo “sửa đổi” này của chuyên gia Jerry Peters chính là thứ ủy viên công tố Bill Peterson đang cần. Có được vũ khí này trong tay, ông ta có thể kết luận rằng, dấu vân lòng bàn tay này là của nạn nhân, có nghĩa không phải của một người lạ ta chưa biết là ai, một người tạm gọi là “vô danh” mà cảnh sát buộc phải tìm ra cho bằng được.
Như thế này có nghĩa ông ủy viên công tố Bill Peterson, được tự do điều tra bất cứ người nào ông ta nghi ngờ. Và Peterson thấy cần công bố điều này ra rộng rãi, tức là cho toàn dân thị trấn Ada cùng biết. Bởi dân chúng chính là những quan tòa cuối cùng.
Trong khi nhà chức trách yêu cầu việc khai quật tử thi cũng như các kết quả của nó phải được giữ kín, thì ủy viên công tố Bill Peterson là người vi phạm đầu tiên. Ông ta lộ ra với phóng viên báo Tin tức buổi chiều Ada như sau: “Những gì chúng tôi thấy đã khẳng định các nghi ngờ của chúng tôi trước đây. Chúng tôi đang tiến hành kiểm tra lại một số bằng chứng.”
Và điều Peterson để lộ ra, dù cố tình hay vô tình, đã nhanh chóng lan truyền khắp mọi ngõ ngách. Và “kết quả cuộc khai quật”, cũng như “bản thân cuộc khai quật” đã không còn là điều bí mật nữa.
Cụ thể là người ta tìm ra được cái gì? Ủy viên công tố Bill Peterson không nói ra chi tiết, nhưng một “nguồn tin” không biết từ đâu đã nói ra hộ. “Nguồn tin” này nói rằng: “Nhà chức trách thị trấn Ada đã khai quật tử thi nạn nhân vụ án ngày trước, cốt để so sánh dấu vân lòng bàn tay lấy được ở hiện trường vụ án hồi ấy có trùng khớp với vân lòng bàn tay của nạn nhân, cô Debbie Carter không?”
“Nguồn tin” còn nói rõ thêm: “Đã loại bỏ được khả năng dấu vân lòng bàn tay thu được ở hiện trường ngày ấy là của một người “vô danh” mà cảnh sát chưa biết. Từ điểm xuất phát này, nhà chức trách có thể tiến hành tiếp cuộc điều tra đã bị cơ quan cảnh sát để dở dang mấy năm qua.”
Còn ủy viên công tố Bill Peterson thì nói: “Tôi đã cảm thấy việc phá vụ án sắp hoàn thành.”
Và ông ta xoay được sự chấp thuận của cấp trên về việc ra lệnh bắt Ron Williamson và Dennis Fritz để điều tra.
***
Sáng Thứ sáu ngày 8 tháng Năm, sĩ quan cảnh sát Rick Carson nhìn thấy Ron Williamson đang điều khiển máy xén cỏ chỉ còn ba bánh bên vệ một con đường ở khu phía tây của thị trấn Ada. Hai người trò chuyện với nhau một lát.
Ron tóc để dài, râu ria không cạo, cởi trần, chỉ mặc mỗi chiếc quần bò và đi đôi dép tàng, trông tiều tụy nghèo khổ như mọi khi. Anh đang muốn xin một chân làm việc cho nhà nước ở ngay thị trấn Ada. Rick Carson hứa sẽ đem đến cho Ron một bản mẫu đơn xin việc để Ron điền vào rồi đem nộp. Ron bèn nói, đêm nay sẽ không đi đâu mà ở nhà đợi anh ta, Rick Carson.
Rick Carson lập tức báo cáo với cấp chỉ huy là anh ta biết chắc chắn tối nay đối tượng không đi đâu xa, chỉ quanh quẩn ở nhà tại phố Mười Hai. Thế là kế hoạch bắt giữ được vạch ra và Rick Carson xin được cùng tham gia. Nếu Ron Williamson chống cự quyết liệt thì Rick Carson xin bảo đảm là sẽ không làm ai bị thương. Thế là một tổ bốn người được cử đi, trong ấy có thám tử Mike Baskin.
Ron bị bắt giữ nhẹ nhàng. Anh vẫn mặc chiếc quần bò mọi khi, và cởi trần, chỉ đi đôi dép đơn sơ. Vào đến phòng giam, thám tử Mike Baskin đọc anh nghe bản quy định quyền lợi của người bị bắt giam và hỏi xem Ron có cần hỏi thêm gì không. Tất nhiên là không. Thám tử James Fox bắt đầu tiến hành hỏi cung.
Ron Williamson nhắc đi nhắc lại là anh chưa bao giờ gặp cô Debbie Carter, cũng chưa đến căn hộ của cô bao giờ và theo anh nhớ thì cũng chưa bao giờ anh nhìn thấy cô ta. Ron không phản ứng gì gay gắt, chỉ có vị thám tử quát tháo, nạt nộ, một mực bảo Ron chính là thủ phạm, đã lọt vào căn hộ cô Debbie Carter, cưỡng hiếp và giết cô ta.
Ron Williamson bị giam tại nhà tù của quận Pontotoc. Đã một tháng nay anh không dùng bất cứ một thứ thuốc điều trị bệnh tâm thần nào.
***
Còn Dennis Fritz? Anh này sống với mẹ và một người dì tại thành phố Kansas City. Dennis Fritz làm nghề quét vôi các ngôi nhà. Anh đã chuyển đi khỏi thị trấn Ada cách đây vài tháng. Mối quan hệ bè bạn với Ron Williamson chỉ còn là chuyện xưa cũ. Trong suốt bốn năm qua, không một nhân viên cảnh sát nào đến gặp Dennis Fritz và anh đã quên hẳn vụ cô Debbie Carter bị giết.
Tối ngày 8 tháng Năm, Dennis Fritz ngồi một mình xem tivi. Anh lao động quần quật cả ngày và bây giờ vẫn mặc bộ bảo hộ lao động của công nhân quét vôi. Thời tiết tối nay hơi nóng, anh mở toang cửa sổ cho gió lùa vào chút ít. Chuông điện thoại reo, một giọng phụ nữ hỏi: “Có phải Dennis Fritz đấy không?”
“Vâng. Tôi đây:” Anh đáp. Đầu dây kia người gọi đặt máy xuống.
Có lẽ gọi lầm máy! Hay cô vợ cũ gọi? Dennis Fritz ra ngồi trước máy thu hình. Mẹ và dì anh đã đi ngủ ở gian phòng phía sau nhà. Lúc này gần mười một rưỡi.
Mười lăm phút sau, Dennis Fritz nghe thấy một loạt tiếng sập cửa xe ô tô ngay gần. Anh đứng lên, vẫn đi chân không, ra cửa nhìn, thấy một tốp người mặc quần áo đen, mũ sắt, súng ống sẵn sàng, đang đi ngang qua bãi cỏ trước nhà. Cái quái gì thế này? Dennis Fritz thầm nghĩ. Trong một thoáng, anh đã định gọi điện báo cảnh sát.
Chuông ngoài cổng kêu, và khi Dennis Fritz ra mở, anh thấy hai cảnh sát mặc thường phục túm lấy anh, kéo anh ra ngoài, rồi hỏi: “Anh có phải Dennis Fritz không?”
“Phải. Tôi đây.”
“Vậy anh đã bị bắt về tội nặng số một: giết người.” Một người gầm lên đồng thời còng tay anh lại.
“Ông nói vụ giết người nào vậy?” Dennis Fritz hỏi, đồng thời thoáng nghĩ, tại thành phố Kansas này có bao nhiêu người tên là Dennis Fritz? Họ lầm mình với người khác rồi.
Bà dì anh nhìn ra cửa, thấy đội cảnh sát võ trang còng tay cháu bà, và chĩa khẩu tiểu liên vào anh. Bà hoảng hồn. Mẹ anh cũng chạy ra khi thấy cảnh sát vào phòng ngủ của bà để đề phòng. Dennis Fritz không có vũ khí gì trong tay. Thế nghĩa là sao? Nhưng bà nghĩ, cảnh sát vũ trang đã đến có nghĩa có chuyện thật sự rắc rối rồi.
Trong lúc Dennis Fritz nghĩ mình sắp bị một phát vào ngực thì anh nhìn thấy một chiếc mũ cảnh sát nhãn Stelson, anh chợt nhớ lại chuyện khủng khiếp xảy ra cách đây bốn năm. Thanh tra Dennis Smith và thám tử Gary Rogers lách đám cảnh sát, bước đến.
Ôi, vẫn cái vụ án mạng ngày trước, Dennis Fritz thầm nghĩ. Thì ra hai tay “cớm” này ở thị trấn Ada đã mò đến tận thành phố Kansas này, mượn lực lượng cảnh sát vũ trang tại đây tiến hành vây bắt mình.
“Tôi đi giày có được không?” Dennis Fritz hỏi và một cảnh sát viên đang đứng bên cạnh anh miễn cưỡng gật đầu.
Dennis Fritz được đặt ngồi ghế sau chiếc xe cảnh sát. Thanh tra Dennis Smith đến ngồi bên cạnh anh. Một sĩ quan cảnh sát cầm tay lái. Khi xe lăn bánh, Dennis Fritz nhìn đám cảnh sát vũ trang mặc quần áo đen và súng ống sẵn sàng, thầm nghĩ, đúng là dớ dẩn, chắc lầm lẫn gì đấy thôi, chứ vụ án kia đã lâu quá rồi còn gì.
Hình ảnh cuối cùng đọng lại trong đầu Dennis Fritz là mẹ anh đứng ở cửa nhìn theo, bà đưa hai bàn tay bịt miệng vẻ sợ hãi.
Họ đưa Dennis Fritz vào một phòng hỏi cung nhỏ trong trụ sở cảnh sát thành phố Kansas City. Sau khi làm xong thủ tục, người ta đọc cho Dennis Fritz nghe quyền lợi của người bị bắt tạm giam. Sau đấy thanh tra Dennis Smith và thám tử Gary Rogers bắt đầu cuộc thẩm vấn. Thái độ thanh tra Dennis Smith làm ra bộ hiền lành, thân thiện, trong khi thái độ của thám tử Gary Rogers thì nạt nộ, quát tháo. Y liên tiếp đập tay vào ngực anh.
Bốn năm đã trôi qua từ cái ngày Dennis Fritz bị thẩm vấn lần sau cùng. Đấy là vào tháng Sáu 1983, sau hai lần anh bị máy phát hiện nói dối nhận định là anh đã không nói thật. Khi ấy, ba sĩ quan cảnh sát, thanh tra Dennis Smith với hai thám tử Gary Rogers và Featherstone đã giam anh dưới tầng hầm của trụ sở cảnh sát thị trấn Ada suốt ba tiếng đồng hồ và hành hạ anh đủ kiểu. Bấy giờ họ không moi được gì và bây giờ cũng sẽ như thế, vì anh không dính dáng gì đến cái chết của cô gái ấy.
Thám tử Gary Rogers nổi cơn thịnh nộ. Cảnh sát đã biết từ mấy năm nay, là chính Ron Williamson và Dennis Fritz đã hiếp và giết cô Debbie Carter. Bây giờ phải giải quyết cho xong vụ án ấy. Tất cả những gì họ cần bây giờ là một lời thú nhận.
“Tôi không làm gì để phải thú nhận”, Dennis Fritz nhắc đi nhắc lại câu ấy hàng bao nhiêu lần rồi, và sẽ còn nhắc nữa. “Các ông có bằng chứng nào không? Hãy đưa bằng chứng ra cho tôi thấy”.
Câu thám tử Gary Rogers thích thú nhất là: “Anh đừng hòng hạ thấp óc thông minh của tôi.” Và mỗi lần y nói như thế, Dennis Fritz đều đáp lại: “Óc thông minh nào?” Nhưng lần này anh không muốn bị viên thám tử tát vào mặt một lần nữa.
Sau hai tiếng đồng hồ quần thảo, cuối cùng Dennis Fritz nói: “Thôi được, tôi thú nhận.” Mấy viên chức cảnh sát thở phào nhẹ nhõm. Vậy là tội phạm đã chịu thua. Dennis Fritz chạy ra ngoài tìm một máy ghi âm. Thám tử Gary Rogers chuẩn bị sổ để ghi.
Khi mọi người chuẩn bị xong, Dennis Fritz nhìn thẳng vào máy ghi âm, nói: “Đây là sự thật. Tôi không giết cô Debbie Carter và không biết kẻ nào đã giết cô ấy.”
Thế là thanh tra Dennis Smith và thám tử Gary Rogers nổi trận lôi đình: lại đe dọa, lại quát tháo, nhưng lần này còn hung dữ hơn gấp bội. Dennis Fritz hết sức hoảng sợ, nhưng anh vẫn một mực không thay đổi thái độ, một mực nói mình không giết cô Debbie Carter, cũng không biết kẻ nào đã giết cô ấy. Anh quyết giữ lập trường của người vô tội, và từ chối không chịu để người ta dẫn độ anh đến thành phố thủ phủ bang Oklahoma, mà nhất định đòi vẫn nằm ở nhà tù này để chờ kết quả cuộc điều tra.
Ngay hôm ấy, Thứ bảy, Ron Williamson bị giải từ nhà tù sang trụ sở cảnh sát để chịu một cuộc thẩm vấn khác. Thanh tra Dennis Smith và thám tử Gary Rogers, vừa ở chỗ tra hỏi Dennis Fritz ra, còn đằng đằng sát khí, đang ngồi đợi Ron tại đây. Hai ông hạ quyết tâm phải làm cách nào để Ron khai ra.
Cuộc thẩm vấn này đã được hai thám tử chuẩn bị từ trước. Vào thời điểm này, cuốn sách “Những giấc mộng ở thị trấn Ada" vừa ra mắt công chúng, trong ấy tác giả phê phán phương pháp làm việc của thanh tra Dennis Smith và thám tử Gary Rogers. Cấp lãnh đạo ở đây thấy thanh tra Dennis Smith cư trú tại thị trấn Ada, bèn thay ông ta bằng thám từ Rusty Featherstone, cư trú tại thành phố Oklahoma City. Đồng thời họ cũng quyết định sẽ không dùng máy quay video.
Thanh tra Dennis Smith vẫn làm việc trong tòa nhà ấy nhưng không có mặt trong phòng thẩm vấn. Sau hơn bốn năm chỉ đạo cuộc điều tra, và trong hầu hết quãng thời gian ấy, ông ta tin rằng thủ phạm cưỡng hiếp và giết cô Debbie Carter chính là Ron Williamson. Tuy nhiên ông vẫn tránh chưa tiến hành cuộc thẩm vấn quyết định cuối cùng.
Cơ quan cảnh sát thị trấn Ada được trang bị đầy đủ máy móc ghi âm và ghi hình và thường sử dụng đến chúng. Các cuộc thẩm vấn, nhất là những lần nghi can thú tội, người ta đều ghi vào băng hình. Cảnh sát biết rất rõ sức thuyết phục của việc cho chạy băng để hội đồng xét xử nghe hoặc nhìn thấy cụ thể hình và tiếng của nghi can. Vụ xét xử Tommy Ward và Dennis Fritz đã chứng tỏ điều ấy một cách rõ ràng. Bản ghi hình đầu tiên cuộc thẩm vấn Ron Williamson cách đây bốn năm do thám tử Featherstone thực hiện tại trụ sở cảnh sát thị trấn Ada.
Cuộc thẩm vấn nếu không được ghi hình thì được ghi âm. Cảnh sát có vô số băng ghi âm.
Còn khi không ghi hình cũng không ghi âm thì người ta thường yêu cầu nghi can viết, nếu y đọc và viết được, kể lại diễn biến cuộc thẩm vấn theo cách nhìn của y. Còn nếu nghi can mù chữ, thì một nhân viên cảnh sát viết thay rồi đọc lại cho nghi can nghe rồi ký nhận.
Tất cả những phương pháp ấy đều chưa được áp dụng hôm 9 tháng Năm. Ron Williamson là người có học và có vốn từ nhiều hơn hai nhân viên cảnh sát thẩm vấn anh, cho nên ngồi theo dõi Featherstone ghi. Ron nói anh đã nghe phổ biến về quyền hạn của người bị thẩm vấn và đồng ý trả lời cuộc thẩm vấn này.
Bản ghi lại của cảnh sát như sau:
WilỊiamson nói: “Đúng thế, ngày 8 tháng Mười hai năm 1982, tôi phất phơ bên ngoài câu lạc bộ Coachlight, và tôi ở đấy một đêm, ngắm một cô gái, cô ta rất đẹp, và tôi nghĩ, mình phải đi theo cô ấy về nhà cô ấy thôi ”.
Williamson dừng lại rồi làm một cử chỉ dường như định thốt lên một từ nào đấy bẳt đầu bằng chữ “F”, nhưng rồi lại thôi. Sau đấy y khai tiếp: “Tôi nghĩ lỡ có chuyện gì không hay xảy ra đêm nay thì sao, nhưng tôi vẫn đi theo cô ấy về nhà".
Williamson sau đấy dừng lại rồi kể về chuyện y lấy trộm một máy ghi âm nổi. Rồi Williamson nói: “Lúc ấy tôi đi cùng với Dennis và hai chúng tôi đến quán Holiday, nói với một cô gái là trên xe chúng tôi có sẵn thức ăn, thế là cô ấy nhận lời lên xe ngay".
Williamson kể rời rạc và đứt quãng khiến thám tử Gary Rogers phải yêu cầu y tập trung tư tưởng và bình tĩnh mà nói, và đừng nói lan man, hãy tập trung vào cô Debbie Carter.
Williamson nói: “Đồng ý. Tôi đã nằm mơ thấy tôi giết Debbie Carter, đè lên người cô ta, thít một sợi dây quanh cổ cô ta, rồi làm cô ta ngạt thở. Tôi cứ cố thít cho thật chặt.”
Williamson nói: “Tôi lo không biết tôi làm thế này có ảnh hưởng đến gia đình tôi không”, rồi y nói, “Bây giờ thì mẹ tôi đã mất rồi. ”
Thảm tử Gary Rogers hỏi Williamson xem y và Dennis có ở đấy đêm ấy không? Williamson trả lời: “Có".
Thám tử Featherstone hỏi Williamson: “Trên đường đến đấy có phải anh đã có ý định giết cô ấy không?”
Williamson đáp: “Có lẽ có”.
Thám tử Featherstone hỏi: “Tại sao anh định giết cô ấy?"
Williamson đáp: “Cô ấy làm tôi phát điên".
Thám tử Featherstone hỏi: “Điên nghĩa là sao? Phải chăng cô ấy là một thứ hư hỏng?"
Williamson đáp: “Không phải".
Williamson dừng lại một chút rồi nói tiếp: “Ôi, lạy Chúa. Các ông muốn tôi thú tội, nhưng tôi có gia đình, tôi có đứa cháu và tôi có bổn phận che chở cháu tôi. Rồi chị tôi nữa. Biết chuyện này chị tôi sẽ đau lòng đến chết mất. Mẹ tôi thì không còn đau khổ gì nữa rồi vì bà đã chết. Trong lúc ấy tôi có nghĩ đến những thứ vừa rồi".
Vào khoảng 19h38, Williamson nói: “Nếu các ông muốn moi ở tôi chuyện kia thì tôi yêu cầu có cả Tanner ở Tulsa. Không, tôi yêu cầu có mặt luật sư David Morris".
Nghe nhắc đến luật sư David Morris, hai cảnh sát hoảng sợ, vội ngưng cuộc thẩm vấn. Họ gọi điện cho luật sư David Morris và vị luật sư này yêu cầu ngừng ngay cuộc thẩm vấn.
Bản ghi này không có chữ ký của Ron Williamson, và chưa đưa cho anh nhìn thấy lần nào.
***
Có một bản “thú tội” nữa làm vũ khí, vụ án diễn ra trót lọt đối với cả cảnh sát lẫn ủy viên công tố. Họ đã có kinh nghiệm qua vụ Tommy Ward và Dennis Fritz là không cần chứng cứ cụ thể cũng không sao, không cản trở được việc buộc tội khẩn cấp. Sự thật là cô Debbie Carter không bị đâm bằng dao chỉ có thể gây một trở ngại rất nhỏ, không đáng kể. Các thành viên của hội đồng xét xử, khi được kích lên, sẽ căm giận kẻ có tội và dễ dàng thông qua bản án.
Nếu như một lời “thú tội bằng giấc mơ” có tác dụng kết tội Ron Williamson thì một lời “thú tội bằng giấc mơ” khác lại có thể đẩy anh đi xa hơn. Vài ngày sau, một quản giáo tên là John Christian đứng lại bên cạnh giường của Ron. Anh ta là bạn thuở nhỏ của Ron và hai gia đình là hàng xóm của nhau. Hai người lớn lên cùng chơi bóng chầy với nhau ngoài đường và cùng theo học trường trung học Byng.
Không được điều trị nên Ron hoàn toàn không phải là một tù nhân mẫu mực. Nhà tù quận Pontotoc sử dụng một lô cốt ngày xưa, không biết được xây dựng nhằm mục đích gì, ở rìa phía tây của bãi cỏ trên khuôn viên của tòa án Quận. Vì vốn là lô cốt nên nhà tù không có cửa sổ, trần thì thấp và không khí bên trong vô cùng ngột ngạt. Chỉ cần một người hét lên là cả nhà tù ai cũng nghe thấy. Ron rất hay la hét. Khi không la hét thì anh hát, khóc, rên rỉ hoặc kêu ầm lên là anh không có tội. Có khi anh lại quát tháo, chửi rủa cô Debbie Carter, tại sao lại lăn ra chết để anh bị khép tội.
Người ta đưa Ron ra nằm ở một trong hai xà lim ở phía sau cùng, loại xà lim chỉ dành cho một tù nhân. Chỗ nằm của anh cách xa tối đa phòng giam tạm thời dùng cho những tù nhân mới vào, chưa được xếp chỗ. Phòng giam tạm thời này lúc nào cũng đầy chật và ồn ào, huyên náo. Tuy nhiên do nhà tù quá nhỏ nên tuy hai chỗ gọi là xa nhau tối đa đi nữa, cũng vẫn đủ gần nhau để Ron nghe thấy tiếng huyên náo, khiến anh phản ứng lại ầm ĩ.
Chỉ một mình John Christian trong đội quản giáo có khả năng làm dịu cơn kích động thần kinh cho Ron. Mỗi lần John Christian đến nhận ca trực thay cho quản giáo trước, việc đầu tiên của anh bao giờ cũng là đến bên cạnh xà lim của Ron, chào hỏi, do đấy cũng làm dịu đi cơn kích động thần kinh của Ron. Chính vì vậy, các tù nhân đánh giá cao quãng thời gian đổi ca trực như vậy.
John Christian và Ron trò chuyện, nhắc lại những kỷ niệm thời thơ ấu, chơi bóng chầy cùng với đám trẻ ngoài phố, rồi sau này với đội bóng của trường trung học. Sau đấy họ hỏi thăm nhau về số phận những người bạn ngày xưa hiện nay thế nào. Hai người bạn cũ bàn cả về trường hợp cô Debbie Carter và cùng thấy là Ron bị khép vào tội giết cô ấy thật vô lý. Trong tám tiếng đồng hồ ca trực của John Christian, Ron thường trở lại điềm tĩnh.
Xà lim của Ron chỉ nhỏ như cái hang chuột nhưng anh vẫn xoay xở được để có thể nằm và đọc sách hoặc ngủ. Mỗi lần hết ca trực, trước khi về, John Christian đều ghé qua thăm thú tình hình của bạn. Bạn đi rồi, thông thường Ron đi đi lại lại, hút thuốc, giữ yên tĩnh trong khi chờ một quản giáo khác đến thay ca trực của John Christian.
Tối ngày 22 tháng Năm, Ron tỉnh dậy. Biết lúc này đang ca trực của John Christian, anh bèn gọi bạn đến, ngỏ ý muốn trò chuyện với bạn về vụ án cô Debbie, về khả năng ai có thể là thủ phạm đã giết cô.
Do vừa được đọc cuốn “Những giấc mộng ở thị trấn Ada", Ron nói rằng anh cũng có thể có một giấc mộng thú tội như vậy. Theo lời John Christian thì hôm ấy Ron nói: “Cậu thử tưởng tượng xem nhé. Mình nằm ngủ và mơ thấy một giấc mơ như thế này. Mình đang sống ở thị trấn Tulsa. Một hôm mình uống rượu say bí tỉ rồi lại dùng thuốc ngủ, rồi mình lái xe đến câu lạc bộ Coachlight. Cậu thử hình dung tiếp, mình vào đấy nốc thêm một chầu rượu nữa và say mèm. Thế rồi thế nào mình lại đứng trước cửa căn hộ của con Debbie Carter. Mình gõ cửa rất mạnh. Con bé trong nhà nói ra: ”Đợi một chút, tôi đang bận trả lời điện thoại”. Mình không đợi mà đẩy mạnh cửa, vào nhà. Mình hiếp con bé rồi giết nó luôn”.
Ron Williamson nói tiếp: “Cậu có nghĩ rằng nếu mình là đứa đã giết con bé Debbie Carter thì tất mình sẽ xin bè bạn một ít tiền rồi biến khỏi thị trấn, đúng không nào?”
John Christian nghe câu chuyện, cũng không suy nghĩ gì nhiều về nó. Nhưng một hôm vui miệng, anh ta kể lại cho một quản giáo bạn nghe. Anh bạn thấy hay hay, đem kể lại cho thám tử Gary Rogers. Viên thám tử lập tức nhận thấy ngay là giấc mộng này có thể dùng làm bằng chứng để kết tội một người. Hai tháng sau, ông ta bảo John Christian nhắc lại những gì Ron Williamson đã kể cho anh ta nghe. Sau đấy, viên thám tử đánh máy ngay một bản báo cáo, kể Ron Williamson đã mơ thấy một giấc mộng như thế nào. Ông ta thêm thắt một số tình tiết cho cụ thể hơn. Đặc biệt, ông ta hoàn toàn không nhắc gì đến lời Ron Williamson nói mình không liên quan gì đến cái chết của cô Debbie Carter.
Cũng giống như vụ án cô Denice Haraway, trong vụ này, người ta cũng không coi trọng sự việc diễn ra có đúng như trong thực tế hay không. Thí dụ, thật ra trong thời gian xảy ra vụ án, Ron Williamson không sống ở thị trấn Tulsa. Anh không có ô tô và cũng không có bằng lái.