***

Người Vô Tội

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 1 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương Mười Hai

❊ ❊ ❊

Sau mười ba năm thất bại, bang Oklahoma cuối cùng đã tìm cách gỡ rối quy trình thực hiện việc xét xử phúc thẩm và lên lịch cho một vụ hành quyết.

Tù nhân không may mắn lần này là Charles Troy Coleman, một người đàn ông da trắng đã giết ba người và đã ngồi tù trong khám tử tù mười một năm. Anh ta là người đứng đầu một hội chuyên gây rối trật tự trong khám, và nhiều tù nhân trong khám không lấy gì làm ngạc nhiên khi nghe tin là cuối cùng Coleman sẽ nhận phương pháp hành quyết mới, là dùng kim tiêm. Tuy nhiên hầu hết tù nhân cho rằng một khi án tử hình được thực hiện thì rồi sẽ không bao giờ dừng lại nữa.

Vụ hành quyết Coleman đã thành một sự kiện cho các cơ quan truyền thông đại chúng tha hồ khai thác. Và các nhà báo tụ tập bên ngoài khám “Big Mac". Có những trạm canh chừng bên ngoài và các nhà báo phỏng vấn tù nhân, những người phản đối án tử hình, những linh mục, và tất cả những ai có dịp đi ngang qua. Càng đến gần giờ hành quyết, không khí càng sôi động.

Greg Wilhoit và Ron đã trở thành đôi bạn, mặc dù hai người cãi nhau rất hăng xung quanh án tử hình. Ron cũng vẫn tán thành án tử hình mặc dù thỉnh thoảng anh lại thay đổi ý kiến. Anh không mê Coleman, vì đây là người tỏ ra rất khó chịu mỗi khi thấy Ron làm ầm ĩ. Điều này không có gì lạ.

Cái đêm Coleman bị hành quyết, khám tử tù vẫn yên tĩnh và được canh phòng hết sức cẩn mật. Bên ngoài nhà tù, rất đông người làm huyên náo và các nhà báo theo dõi từng giây diễn biến bên trong, có cái gì tương tự như mọi người đếm giây đồng hồ để đón Giao thừa. Greg Wilhoit ngồi trong xà lim theo dõi vụ hành quyết được truyền hình tại chỗ trên màn hình nhỏ của anh. Sau mười hai giờ đêm, tin báo về: Coleman đã chết.

Nhiều tù nhân vỗ tay, reo mừng. Nhưng đại đa số ngồi im lặng trong xà lim. Một số lầm rầm cầu nguyện.

Phản ứng của Greg Wilhoit hoàn toàn bất ngờ. Anh đột nhiên ghìm cảm xúc và nỗi tức giận những người reo mừng trước vụ hành quyết. Bạn anh đã không còn. Thế giới bây giờ không còn là nơi an toàn hơn nữa. Không một kẻ sát nhân nào trong tương lai bị phát hiện nữa. Greg Wilhoit biết những kẻ sát nhân và cái gì thúc đẩy chúng giết người. Nếu như gia đình của nạn nhân được hài lòng, thì còn lâu mới chấm dứt được nạn giết người. Greg Wilhoit được giáo dục theo giáo lý Methodist và bây giờ hàng ngày anh lại nghiên cứu Kinh Thánh. Phải chăng Chúa Jesus đã khuyên con người biết tha thứ? Nếu giết người là sai, là xấu thì tại sao nhà nước lại cho phép giết người? Từ trước anh đã quan tâm đến vấn đề này, nhưng bây giờ anh nhìn nó theo một góc độ khác.

Cái chết của Coleman vừa rồi là một phát hiện bi kịch đối với Greg Wilhoit. Lúc này cách suy nghĩ của anh bỗng thay đổi 180 độ, và sẽ không bao giờ anh quay lại kiểu suy nghĩ “mắt phải trả thù bằng mắt” nữa.

Sau này Greg Wilhoit trao đổi suy nghĩ của mình với Ron Williamson. Ron thú nhận rằng anh chia sẻ rất nhiều điểm với Greg Wilhoit. Tuy nhiên ngày hôm sau, Ron lại trở về là người tán thành hoàn toàn án tử hình, một người muốn Ricky Joe Simmons phải bị đưa ra khỏi thị trấn Ada và nhận một viên đạn ngay tại chỗ anh đã phạm tội giết người.

Việc phúc thẩm vụ án Ron Williamson đã bị quật ngược trở lại ngày 15 tháng Năm 1991, khi tòa phúc thẩm bang Oklahoma nhất trí khẳng định bản án trước là đúng và vẫn giữ nguyên án tử hình. Hội đồng xét xử, theo bài viết của chánh án Gary Lumpkin, nhận định rằng, đúng là phiên tòa xét xử sơ thẩm đã phạm nhiều sai lầm, nhưng “chứng cứ áp đảo” chống lại bị cáo lớn hơn rất nhiều, khiến những sai lầm của luật sư Barney, của cảnh sát, của ủy viên công tố Bill Peterson và của chánh án Jones hồi ấy chỉ còn là thứ yếu và mờ nhạt. Hội đồng xét xử đã dành rất ít thời gian để thảo luận cái “chứng cứ áp đảo” kia thật ra là cái gì.

Luật sư Bill Luker gọi điện cho Ron Williamson báo tin buồn và cho anh biết là ông ta đã nắm vững vụ án. Ron đã nghiên cứu các biên bản, đã nói chuyện với Bill Luker nhiều lần, nên vẫn kiên trì giữ vững niềm lạc quan.

***

Vào đúng ngày hôm ấy, Dennis Fritz cũng nhận được những tin như thế. Hội đồng xét xử cũng lại công nhận phiên tòa sơ thẩm anh trước đây phạm nhiều sai lầm, nhưng lại cho rằng mọi sai lầm ấy đều bị “bằng chứng áp đảo” chống lại Dennis Fritz làm lu mờ.

Khi đọc bản nhận định về phiên tòa sơ thẩm xét xử anh của luật sư chuẩn bị phiên xét xử phúc thẩm, Dennis Fritz không thấy bị ấn tượng gì mấy, cho nên bây giờ nghe cái tin xấu kia, anh cũng không ngạc nhiên là bao. Sau ba năm ngồi cặm cụi trong thư viện của nhà tù, Dennis Fritz tin tưởng chắc chắn rằng anh hiểu các điều luật và quy định của bộ luật tố tụng còn hơn cả luật sư của anh.

Dennis Fritz thất vọng nhưng không buông. Giống như Ron Williamson, anh có những lập luận khác để trình bày tại những phiên xét xử khác. Buông xuôi không phải là một cách xử lý. Nhưng khác với Ron, bây giờ Dennis Fritz quyết định tự lo liệu lấy một mình. Vì bây giờ anh không còn nằm ở khám tử tù nữa cho nên anh không có thể thuê một luật sư túng bấn nào để tư vấn và giúp đỡ anh.

***

Nhưng tòa Phúc thẩm Hình sự không phải bao giờ cũng là một thứ con dấu bằng cao su đóng lên bản án.

Luật sư Mark Barrett nhận được tin xấu kia ngày 16 tháng Tư năm 1991. Và điều làm ông thích thú là tòa sắp mở phiên tòa khác xét xử Greg Wilhoit. Tòa phúc thẩm thấy không thể bỏ qua chất lượng tồi tệ của công việc bào chữa cho Greg Wilhoit do luật sư George Briggs thực hiện lần xét xử trước, và quyết định lần này không để ông ta được nhận toàn quyền bào chữa nữa.

Khi ta đứng trước phiên tòa xét xử quan trọng đến mức tác động đến toàn bộ cuộc đời ta, nếu không chọn được luật sư giỏi nhất, thì hãy chọn luật sư tồi nhất. Greg Wilhoit đã chọn luật sư tồi nhất và bây giờ anh đứng trước phiên tòa mới.

Mỗi khi một tù nhân rời khỏi khám tử tù và ra ngoài sống vì nguyên nhân nào đấy, không hề bao giờ có sự giải thích. Quản giáo chỉ chìa ra lệnh tha rồi bỏ đi ngay.

Greg Wilhoit biết rằng anh đã đạt được yêu cầu là tòa án chịu tiến hành phiên xét xử phúc thẩm, vậy mà khi quản giáo đến trước cửa xà lim, chìa ra cho anh tờ lệnh và nói: “Thu dọn đồ đạc đi!”, có nghĩa đến giờ rời khỏi đây, thì chỉ trong vài phút, anh đã thu dọn xong toàn bộ đồ đạc vào một thùng bằng các tông rồi theo mấy nhân viên gác nhà tù đi ra cổng.

Ron Williamson đã chuyển đến xà lim ở đầu kia hành lang nên Greg Wilhoit không có điều kiện chào tạm biệt bạn. Tuy nhiên, khi ra khỏi cổng nhà tù McAlester, ý nghĩ đầu tiên của Greg là hướng về người bạn còn phải ở lại đây.

Lúc Greg Wilhoit đến nhà tù của quận Osage, luật sư Mark Barrett đã nhanh chóng tổ chức một buổi xét xử thẩm tra. Do bản án sơ thẩm của bị cáo là tử hình và vì ngày tiến hành phiên phúc thẩm chưa được ấn định, nên Greg Wilhoit chưa hẳn đã đủ tư cách là người tự do. Thay vì khoản tiền bảo lãnh lớn đến mức khủng khiếp khiến tù nhân không sao kiếm được để nộp, thì kỳ này chánh án ấn định tiền bảo lãnh chỉ là 50.000 đô la, một khoản mà chỉ cần cha mẹ và hai bà chị anh góp nhau vào là có được ngay.

Sau năm năm ngồi tù, bốn năm trong khám tử tù, bây giờ Greg Wilhoit tự do, anh sẽ không quay lại xà lim nhà tù nữa.

***

Khám H được khởi công xây dựng từ năm 1990. Gần như tất cả đều bằng bê tông: từ sàn, tường, trần, giường, đến giá sách. Để không ai có thể đóng thứ gì vào tường, người ta loại mọi vật bằng kim khí ra khỏi thiết kế. Nhà tù dùng rất nhiều thanh sắt và tấm kính, nhưng không có trong các xà lim. Trong xà lim, mọi thứ đều chỉ bằng xi măng hoặc bê tông.

Khi phần chính yếu xây xong, người ta phủ các thứ bẩn lên trên và xung quanh. Lý do chính là để tận dụng hiệu quả của năng lượng. Ánh sáng thiên nhiên và gió trời là hai thứ tuyệt đối không được để lọt vào khám.

Khi Khám H khánh thành vào tháng Mười một năm 1991, nhà tù tổ chức ăn mừng sự ra đời của “khu vực chết”. Quay phim, chụp ảnh rồi cắt băng khánh thành. Dàn nhạc của nhà tù buộc phải chơi một số bản nhạc. Người ta tổ chức những cuộc tham quan, vì tù nhân lúc này vẫn còn ở một nhà tù khác, cách đây nửa dặm. Khách tham quan có thể ngủ một đêm trong xà lim mới toanh, chưa hề có người ở.

Sau bữa tiệc, cũng để khách thấy lạ mắt, người ta đưa một số tù nhân loại tội không nặng lắm dọn vào trước, chủ yếu để khách thấy cuộc sống tương lai của tù nhân ở đây. Khi Khám H được công nhận là đẹp, tiện dụng và không tù nhân nào có thể chạy trốn, người ta mới cho giải các tù nhân khác từ Khám F sang.

Ngay từ phút đầu tiên đã rộn lên đủ loại tiếng phàn nàn kêu ca. Nào không có cửa sổ, không có chút ánh sáng mặt trời nào lọt vào được. Trần thì được bố trí hai lớp, xà lim thì quá nhỏ, hai tù nhân nằm cũng không đủ chỗ. Giường tầng thì quá cứng, vì bằng bê tông, hai tầng lại cách nhau có một mét, thành thử hai tù nhân, một nằm tầng trên một nằm tầng dưới, cách nhau quá gần. Tù nhân nằm dưới không thể ngồi thẳng lưng lên được. Chậu rửa kiêm bồn xí thì lại đặt ở giữa hai giường, cho nên một người đi ngoài thì coi như cả hai đều đi. Cách bố trí cống thoát nước bất hợp lý khiến điều quan trọng nhất trong cuộc sống xà lim là trò chuyện với nhau thì coi như không thực hiện được. Do nguyên tắc không tiếp xúc của Khám H cho nên không cần quản giáo canh giữ tù nhân mà để mặc tù nhân tự trông nom nhau. Thức ăn thì còn tồi tệ hơn ở khám F. Sân thể thao, nơi duy nhất còn khiến tù nhân được giải tỏa tinh thần đôi chút thì ở Khám H chỉ là một cái hộp bằng bê tông, nhỏ hơn cái sân bóng rổ nhiều. Tường chỉ cao chừng bốn mét rưỡi và dày đến mức không tia sáng mặt trời nào lọt vào được. Và hoàn toàn không nhìn thấy cỏ xanh.

Lớp bê tông mới không được sơn quét gì. Bụi bê tông có ở khắp mọi nơi. Bụi bám thành lớp trên tường, phủ một lớp trên sàn nhà, bay lơ lửng trong không trung, và tất nhiên chui vào phổi tù nhân theo hơi thở. Các luật sư, mỗi lần đến gặp thân chủ của họ lúc ra về bao giờ cũng ho húng hắng, vì hít quá nhiều bụi.

Hệ thống thông gió hiện đại đã bị “bít kín”, nghĩa là không có lỗ thông ra bên ngoài. Tình trạng này có phần dễ chịu hơn khi điện bị cắt, mà tình trạng này xảy ra luôn, bởi những những con rệp và bọ hoạt động bên ngoài hệ thống.

Luật sư bào chữa Leslie Delk, được tòa chỉ định bào chữa cho Ron Williamson, đã kể về tình trạng này cho một đồng nghiệp đã từng đưa việc này kiện ra tòa.

”Tình trạng thức ăn thì khủng khiếp và hầu như tất cả các thân chủ của tôi đều xuống cân. Một thân chủ của tôi trong có mười tháng mất đến bốn mươi nhăm kilô. Tôi đã thông báo điều này với ban chỉ huy nhà tù, nhưng tất nhiên họ bảo tôi rằng tù nhân ấy vẫn khỏe mạnh... Trong chuyến đến bệnh xá gần đây nhất, tôi phát hiện ra là thức ăn được nấu ở nhà tù cũ và chỗ nấu là sau một bức tường. Khi thức ăn ấy được chở đến Khám H, có những tù nhân được phân công làm việc ấy, thì thức ăn đã nguội tanh và rất khó nuốt. Những tù nhân chuyển thực phẩm bảo tôi rằng trong khi vận chuyển họ được quyền ăn thoải mái, có nghĩa thức ăn khi đến tay tù nhân Khám H thì chỉ còn một nửa suất. Qua đấy ta có thể hiểu và tôi cũng đã thấy là không có ai kiểm tra việc chuẩn bị thức ăn cho tù nhân, hoặc nếu có thì cũng rất sơ sài. Tất cả các tù nhân thân chủ của tôi đều phàn nàn là thức ăn nấu tồi, lại nguội tanh nên rất khó nuốt, rằng nhiều người ốm vì ăn thức ăn như vậy. Bên cạnh đó, lượng thức ăn lại quá ít ỏi khiến ai cũng phải cố tìm cách xin gia đình ít tiền để mua thức ăn tại căng tin ăn bù vào mới tạm đủ. Căng tin là một cửa hàng thực phẩm đặt trong nhà tù và giá bao giờ cũng đắt hơn bên ngoài nhiều. Đấy là chưa kể rất nhiều tù nhân không có gia đình, hoặc gia đình nghèo không thể gửi tiền cho họ được.

Khám H quả là một nỗi bất ngờ quá lớn đối với các tù nhân. Bởi từ lâu họ đã nghe nói đang xây một nhà tù “hiện đại” với số tiền trang bị lên đến mười một triệu đô la, nhưng đến khi chuyển đến đây và nhìn mọi thứ trên thực tế, họ bị vỡ mộng. Khám H còn tồi tệ hơn cả Khám F mà họ đã ngồi tại đó, trước khi chuyển đến đây.

***

Ron Williamson căm ghét Khám H. Bạn tù ở cùng một xà lim với anh là Rick Rojem, một tù nhân đã nằm ở khám tử tù từ năm 1985 và là một tù nhân cam chịu. Rick Rojem theo đạo Phật. Anh ngồi thiền hàng giờ và cũng thích đàn ghi-ta. Trong xà lim kiểu này làm gì có sự riêng tư. Hai anh treo một tấm khăn trải lên trần rồi thả xuống, bố trí khéo để mỗi người đều có được một khoảng nhỏ riêng, tách khỏi bạn tù được phần nào hay phần ấy.

Rick Rojem rất lo cho Ron Williamson. Ron đã mất hứng thú đọc sách báo. Trí óc anh mỗi lúc ở một nơi và những điều anh nói rối rắm đến nỗi không ai hiểu anh định nói gì. Các câu hầu như không có chút mạch lạc nào. Ý này xọ ý khác. Ron không còn khả năng tập trung vào một đề tài nào. Thỉnh thoảng anh ta cũng được cấp thuốc chữa bệnh, nhưng có vẻ không đúng bệnh và không đủ liều lượng, cho nên tác dụng hầu như không thấy đâu. Ron nằm ngủ li bì nhiều giờ đồng hồ liền, rồi lúc tỉnh dậy thì đi đi lại lại trong xà lim nhỏ xíu hết cả đêm, cho đến sáng, miệng lẩm bẩm điều gì đấy hoặc hát, hoặc nhăn nhó kêu ca. Nhiều lúc Ron đứng cạnh cửa, hướng ra ngoài, gào thét đau đớn. Vì hai người ở bên nhau mỗi ngày hai mươi ba tiếng đồng hồ, nên Rick Rojem quan sát bạn và thấy bạn đang dần dần mất trí, nhưng anh không thể giúp gì cho Ron được.

Từ khi chuyển sang Khám H đến nay, Ron sút mất năm ki lô. Tóc anh bạc trắng, và trông anh như bóng ma. Hôm chị Annette đến thăm, đứng đợi em ở phòng tiếp thân nhân, thì nhìn thấy quản giáo dắt vào một ông cụ tóc bạc, để râu, gầy gò xương xẩu, đi không vững. Khi y bước vào phòng, chị Annette không nhận ra em mình. Ai vậy? Chị nghĩ. Thì ra Ron, chính là Ron, em chị.

Annette kể lại: “Khi nhìn thấy người ta dẫn vào một người già, tóc râu bạc, gầy gò, ốm yếu như cái xác chết, tôi không thể ngờ đấy là em tôi, là cậu Ron yêu quý. Bây giờ giá như gặp ngoài đường, hẳn tôi không dám chào vì không thể ngờ đấy là em trai mình. Sau khi ra về, tôi đã viết thư ngay cho nhà tù, yêu cầu họ cho Ron đi xét nghiệm, bởi tôi nghĩ em tôi bị AIDS.”

Giám đốc nhà tù viết thư trả lời chị, khẳng định với chị là Ron em chị không bị AIDS. Chị Annette liền viết luôn một lá thư khác than phiền về thức ăn trong khám, về giá bán các thứ ở căng tin quá cao, và tiền lãi của căng tin, chị được biết là được đem xung vào quỹ tương trợ của các nhân viên nhà tù và các quản giáo.

Năm 1992, một bác sĩ tâm thần tên là Ken Foster được nhà tù thuê để đến khám cho Ron Williamson. Ông thấy Ron bị mất thăng bằng thần kinh, mất khả năng định hướng, mất khả năng tiếp cận với thực tế, gầy, tóc râu đều bạc, yếu ớt và mọi chỉ số sức khỏe đều ở mức rất thấp. Thấy như thế, bác sĩ Ken Foster cho rằng những người quản lý khám phải có trách nhiệm đã để tù nhân rơi vào tình trạng khủng khiếp như vậy.

Tình trạng sức khỏe thân thể của Ron đã tồi tệ, nhưng sức khỏe tâm thần của anh còn tồi tệ hơn nhiều. Những cơn nổi khùng luôn nổ ra khiến các tù nhân cũng như các quản giáo không ai không biết rằng Ron Williamson đã mất khả năng nhận biết thực tế xung quanh.

Bác sĩ Ken Foster chứng kiến rất nhiều cơn nổi khùng không có nguyên nhân của Ron. Ông nhận thấy nội dung những lời Ron gào thét là: 1) Ron vô tội, 2) Ricky Joe Simmons đã thú nhận là thủ phạm vụ án mạng thì cần phải đưa y ra xét xử, 3) Ron hiện đang đau đớn thân thể, nhất là đau ngực và anh ta sợ anh ta sắp chết đến nơi.

Tuy các triệu chứng đã rõ ràng và đến mức nguy kịch, bản nhận xét cuối cùng của bác sĩ Ken Foster vẫn cho nguyên nhân chỉ là do một thời gian quá dài Ron không được uống thuốc.

Bác sĩ Ken Foster viết: “Phản ứng cảm xúc và tâm thần tản mạn bị sa sút rất nhiều khi bệnh nhân chịu sức ép từ nhiều phía, liên tục tạo cho anh ta stress, và do nhiều nguyên nhân khác nữa. Tình trạng thần kinh như thế lại sống giữa một môi trường khám tử tù, và bệnh nhân thấy rõ chẳng bao lâu nữa sẽ bị hành quyết để rời khỏi cõi đời. Theo cách đánh giá thang độ của tình trạng bị stress tác động, thì Ron Williamson đang ở mức nguy cấp".

Khó có thể hình dung mức thần kinh nguy cấp kia lại có thể tồi tệ hơn đối với một người vô tội.

Bác sĩ Ken Foster quyết định Ron Williamson cần được khám và điều trị tốt hơn và được sống trong một môi trường tốt hơn. Tuy anh ta đã mắc chứng suy nhược thần kinh nặng, nhưng vẫn có thể cải thiện, thậm chí với một tử tù. Tuy nhiên, chẳng bao lâu bác sĩ Ken Foster biết được rằng tù nhân trong khám tử tù thì dù ốm nặng đến đâu cũng không thể được hưởng bất cứ một ưu đãi nào.

Ông đem nói với James Saffle, giám đốc cơ quan Cải tạo tù nhân, và với Dan Reynolds, giám đốc nhà tù McAlester. Cả hai người đều rất biết trường hợp của Ron Williamson cùng những vấn đề của anh, tuy nhiên cả hai đều có những thứ còn quan trọng hơn để quan tâm.

Tuy vậy, bác sĩ Ken Foster chứng tỏ ông là người kiên quyết, suy nghĩ độc lập, không ưa những quyết định quan liêu và ông thật sự muốn giúp bệnh nhân. Ông tiếp tục thông báo với hai vị quan chức, James Saffle và Dan Reynolds, để họ nhận thấy đầy đủ và chi tiết tình trạng sức khỏe thân thể và tinh thần của Ron Williamson. Bác sĩ nài nỉ được gặp giám đốc nhà tù McAlester ít nhất mỗi tuần một lần để xem xét điều kiện và hoàn cảnh sinh hoạt của các bệnh nhân của ông. Trong những buổi gặp gỡ ấy, họ tên Ron Williamson luôn được nhắc đến. Không những thế, hàng ngày bác sĩ Ken Foster còn gặp phó giám đốc Khám H để đề đạt những ý kiến về cải thiện điều kiện sống của các tù nhân, trước hết là của những tù nhân đồng thời là bệnh nhân của ông.

Ông luôn nhắc với giám đốc nhà tù McAlester và phó giám đốc Khám H là đã lâu Ron Williamson không được hưởng một chế độ điều trị cần thiết và sức khỏe thân thể cũng như tinh thần của anh hiện nay xuống rất thấp. Nguyên do là không được dùng thuốc đều đặn và đúng liều lượng. Ông tỏ ra rất phẫn nộ khi thấy Ron Williamson không được đưa đến điều trị tại Trạm y tế Đặc biệt, gọi tắt là SCU, nằm cách Khám H chỉ một quãng ngắn, có thể nhìn thấy bằng mắt thường.

Các tù nhân mắc bệnh tâm thần nặng bao giờ cũng tự khắc được đưa đến Trạm SCU điều trị. Nhưng lại có một quy tắc là Trạm SCU không nhận bệnh nhân là tử tù. Lý do đưa ra chính thức thì rất mơ hồ. Tuy nhiên dư luận cho rằng cảnh sát không muốn điều trị các bệnh nhân là tử tù vì nếu đúng là họ mắc bệnh tâm thần thì sẽ rắc rối và việc hành quyết họ sẽ không dễ dàng như đối với tử tù không mắc bệnh tâm thần.

Cơ quan cảnh sát đã nhiều lần bị dư luận chê trách nhưng họ vẫn không sửa chữa.

Bác sĩ Ken Foster cũng lên án cả hệ thống nhà tù. Ông giảng giải cho giám đốc Cơ quan Cải tạo phạm nhân James Saffle và giám đốc nhà tù McAlester hiểu rằng Ron Williamson không thể bình phục nếu không được đưa đến Trạm y tế Đặc biệt SCU. Mặc dù vị bác sĩ đã nói bằng giọng gay gắt và gần như ép buộc, nhưng giám đốc Reynold vẫn khăng khăng không chịu. Ông này còn nói: “Đằng nào thì họ cũng sắp chết rồi!”

Bác sĩ Ken Foster nói dai đến mức cuối cùng giám đốc nhà tù McAlester là Reynold cũng phải thả Ron Williamson ra. Bác sĩ Foster lập tức đưa anh đến Trạm CPU. Việc này ông mất bốn năm đấu tranh mới đạt kết quả.

***

Sau khi kết thúc thời gian phúc thẩm trực tiếp đã qua, trường hợp của Ron Williamson bước vào giai đoạn “trợ giúp hậu án” tức là giai đoạn tiếp theo, trong đó anh được trình bày tiếp những chứng cứ trước đây chưa được đưa ra tòa.

Theo cách thức hồi ấy, luật sư Bill Luker chuyển hồ sơ vụ án của Ron sang cho nữ luật sư Leslie Delk. Việc đầu tiên của bà luật sư này là xin được cho thân chủ của bà đi điều trị bệnh tâm thần ở một chỗ tốt hơn.

Đã một lần bà Leslie Delk nhìn thấy Ron Williamson ở Khám F và bà đinh ninh đấy là một người ốm. Sau khi Ron được chuyển sang Khám H, bà thấy bệnh trạng của anh ngày càng tồi tệ hơn, khiến bà rất lo.

Tuy Leslie Delk không phải bác sĩ tâm thần hay nhà tâm lý, nhưng bà đã theo học một khóa bổ túc về phát hiện và điều trị bệnh tâm thần. Một phần trong công vụ của bà là xem xét vấn đề này và tạo điều kiện để thân chủ được điều trị tốt nhất. Tuy nhiên, ở Khám H điều này rất khó khăn. Do chế độ “an ninh tuyệt đối”, cấm không ai được ngồi cùng phòng với một tử tù, kể cả luật sư của anh ta, cho nên một bác sĩ tâm thần, muốn khám bệnh cho Ron Williamson, không được ngồi cạnh mà phải cách xa, ở hai bên một vật chắn, thí dụ một bức tường hay một tấm kính dày. Và bác sĩ với bệnh nhân cũng chỉ có thể nói chuyện qua máy điện thoại.

Bà luật sư Leslie Delk thu xếp để nữ bác sĩ Pat Fleming có thể khám cho bệnh nhân Ron Williamson, theo như yêu cầu của giai đoạn “hậu án”. Bác sĩ Fleming tuy hết sức cố gắng nhưng vẫn chưa đánh giá được đầy đủ tình trạng sức khỏe của người bệnh. Ron không lúc nào ngồi yên, và không lúc nào bình tĩnh để bà khám. Thậm chí anh còn nghi ngờ, rồi phản đối, không chịu cộng tác với bác sĩ. Các quản giáo nhà tù kể với bà bác sĩ rằng tình trạng ấy của tù nhân Ron Williamson là bình thường, thường xuyên, không có gì là đặc biệt riêng của ngày hôm nay.

Bác sĩ Fleming đến gặp bác sĩ chịu trách nhiệm của Khám H để trình bày những nhận xét và băn khoăn của mình về bệnh trạng của Ron Williamson. Sau này bà biết được rằng Ron đã từng được những chuyên gia tâm thần của nhà tù khám nhưng bà không thấy tâm thần anh được cải thiện. Bà tha thiết và quyết tâm yêu cầu đưa Ron Williamson đến điều trị tại bệnh viện nhà nước khu vực phía Đông trong một thời gian tương đối dài để ổn định lại bệnh trạng cho anh và để đánh giá anh một cách chính xác.

Điều bà bác sĩ đề nghị đã bị từ chối.

Bà Leslie Delk năng nổ đến gặp từng quan chức trong ban giám đốc nhà tù. Bà gặp bộ phận cải tạo, bộ phận y tế cùng rất nhiều quản giáo để họ chấp nhận đề nghị của bà nhằm cải thiện cuộc sống của tù nhân. Người ta hứa đủ thứ, nhưng rồi lại quên. Cố gắng của bà vô cùng lớn nhưng kết quả đạt được vô cùng nhỏ, và Ron Williamson vẫn chưa nhận được một sự trợ giúp về y tế hiệu quả.

Bà tập hợp các biểu hiện suy sụp tinh thần và rối loạn tâm thần của thân chủ rồi đem gửi cho các quan chức nhà tù kèm theo những lá thư tha thiết. Bà đến thăm Ron rất nhiều lần, và khi bà đã thấy rõ là tình hình không thể xấu hơn, rất có thể Ron chết lúc nào không biết.

Trong khi các chuyên gia y tế đấu tranh để giữ cho sức khỏe của Ron Williamson không xấu thêm thì các quan chức bộ phận cải tạo lại được một mẻ cười thỏa thích cũng chính nhờ cuộc đấu tranh ấy. Chẳng là để giải trí, một số quản giáo bèn tổ chức khai thác hệ thống thông tin điện tử nội bộ mới được đặt trong Khám H. Mỗi xà lim có một máy thu phát nối với phòng trực, một thứ trang bị nhằm tạo điều kiện cho các quản giáo, tuy ở xa các tù nhân nhưng vẫn theo dõi được họ.

Nhưng như thế vẫn chưa đủ.

“Ron, Chúa Trời đây!”, một giọng nói nghe như từ trên trời vọng xuống vang lên trong xà lim của Ron giữa đêm khuya. “Tại sao con giết Debbie Carter?” Đến đấy giọng nói trên ngừng lại. Thế là các quản giáo phá lên cười thích thú. Họ càng cười to hơn khi nghe thấy Ron gào lên toong máy: “Tôi không giết Debbie Carter! Tôi vô tội!” Giọng vang và trầm của Ron lan ra khắp cả một khu trại, rồi chìm vào bóng đêm. Trò chơi ấy thường kéo dài khoảng trên dưới một tiếng đồng hồ, làm tù nhân mất ngủ nhưng lại khiến các quản giáo được mẻ cười vỡ bụng.

Khi tiếng động đã lắng xuống, giọng nói ban nãy lại vang lên: “Ron! Debbie Carter đây! Tại sao anh giết em?”

Ron lại rên rỉ: “Tôi không giết ai cả! Tôi vô tội!”

Một giọng nói khác lại cất lên: “Ron, tôi là Charlie Carter đây. Tại sao cậu giết con gái tôi?”

Các tù nhân van nài các quản giáo ngừng cái trò chơi ấy đi cho họ còn ngủ, nhưng các quản giáo đang khoái trá và họ rất thích thú đã nghĩ ra được cái trò chơi này. Tù nhân nằm cùng xà lim với Ron là Rick Rojem, thì tin rằng hai gã quản giáo xấu xa nhất trong các quản giáo đã nghĩ ra cái trò ấy để hành hạ Ron. Cái trò tồi tệ này đêm nào họ cũng lặp lại trong suốt nhiều tháng liền.

“Cậu cứ coi như không nghe thấy.” Rick Rojem khuyên bạn. “Nếu cậu coi như không nghe thấy, và lờ đi được, bọn chúng sẽ thôi không chơi cái trò ấy nữa.”

Ron không thể tiếp nhận ý kiến góp ấy. Anh vẫn kiên nhẫn thuyết phục mọi người rằng anh không giết Debbie Carter, và cũng không giết ai cả. Anh bị kết tội oan. Mấy ý đó lúc nào cũng nằm sẵn trong cổ họng Ron, chỉ chờ dịp là anh gào lên. Bây giờ bảo anh coi như không nghe thấy, lờ đi, không đáp lại thì Ron không thể. Anh hét đến nỗi cổ họng khàn đặc. Vậy mà anh vẫn đứng đấy, trước cái loa thu phát, nói những câu kia bằng thứ giọng đặc sệt, không ra tiếng.

Cuối cùng cái trò độc ác ấy đến tai bác sĩ Leslie Delk. Bà bèn viết một lá thư gửi cho giám đốc Khám H. Thư có đoạn:

“Như trên, tôi đã nói với ngài rằng tôi nghe thấy nhiều người nói. Họ bảo một số quản giáo thường trêu chọc Ron bằng cách sử dụng hệ thống thông tin điện tử nội bộ. Họ làm thế để kích động dây thần kinh của Ron Williamson, cốt để họ cười đùa với nhau. Thậm chí tôi còn nghe chính ông Martin, quan chức cao của nhà tù cũng thích đến cạnh cửa xà lim Ron Williamson, trêu chọc anh ta bằng cách lấy giọng Ricky Joe Simmons hoặc Debbie Carter trách cứ anh ta, cốt làm anh ta nổi xung, gào thét ầm ĩ và văng tục này nọ, đồng thời khẳng định anh ta vô tội. Tôi thấy đây là một trò chơi rất vô ý thức và vô cùng có hại cho Ron Williamson, người mắc bệnh rối loạn tâm thần trầm trọng, cần được nương nhẹ về cảm xúc.

Tôi tha thiết đề nghị ông vì lòng nhân đạo đối với một con người bệnh tật, điều tra xem những kẻ nào đã đầu têu và chơi cái trò hết sức vô ý thức ấy, và ra lệnh ngừng ngay cái trò chơi ấy lại”.

Thực ra, công bằng mà nói không phải tất cả các quản giáo đều độc ác như thế. Một nữ quản giáo đã đến bên cánh cửa xà lim của Ron trò chuyện với anh. Chị đã nhìn thấy anh gầy còm, già nua và dáng điệu thảm hại. Ron than phiền là anh đói và đã mấy ngày nay không ăn thứ gì vào bụng. Chị quản giáo tin Ron nói thật. Chị đi và lát sau quay lại, đem theo một bát lạc rang dầu thực vật và một khoanh bánh mì.

Trong một bức thư gửi chị Renee. Ron viết rằng hôm ấy anh được ăn một bữa tiệc hết sức ngon, và anh ăn hết, không để lại một mẩu nào trong bát.

Kim Marks là một nữ điều tra viên của ủy ban bảo vệ tội phạm nghèo. Thời gian gần đây bà dành nhiều thời gian ở lại Khám H, và tiếp xúc với Ron nhiều hơn với bất cứ tù nhân nào khác. Lần đầu tiên khi bà tìm hiểu trường hợp của anh, bà thấy có nhiều điều không bình thường. Bà bèn tìm đọc hồ sơ vụ án cùng các tài liệu liên quan, vốn từng là phóng viên báo và có tính tò mò, bà Kim Marks thấy việc kết tội Ron Williamson có vẻ không chính xác.

Bà thử lên danh sách những người có khả năng là kẻ tình nghi, đa số là những người đã có lai lịch phạm tội. Trong số ấy, nổi lên hàng đầu là Glen Gore, do những nguyên nhân khá rõ. Y là kẻ cuối cùng người ta nhìn thấy đứng bên cạnh nạn nhân trong cái đêm xảy ra vụ án. Y và cô Debbie quen biết nhau đã nhiều năm. Y có khả năng lọt vào căn hộ của cô mà không cần phải dùng bạo lực. Y lại có cả một lịch sử về việc thô bạo với phụ nữ. Y đã cố tình hướng mọi người chú ý đến Ron và nghi cho anh.

Tại sao cảnh sát ít chú ý đến gã này như thế? Bà Kim Marks bèn đi sâu tìm đọc những tài liệu của cảnh sát và tài liệu xung quanh phiên tòa. Càng đọc, bà càng tin rằng Ron Williamson vô tội. Và sự phản đối của anh là có cơ sở.

Bà Kim Marks đến Khám H nhiều lần để thăm Ron, và giống như bà bác sĩ Leslie Delk, bà thấy Ron rất không thăng bằng thần kinh. Lần nào đến thăm anh, bà cũng cảm thấy vừa tò mò vừa sợ. Chưa bao giờ bà thấy một tù nhân già nhanh như Ron. Mỗi lần đến, bà đều thấy thêm một loạt tóc trắng trên đầu anh. Những sợi tóc mới lần trước đến thăm bà còn thấy màu nâu sẫm. Vậy mà Ron chưa đầy bốn mươi tuổi. Anh gầy và yếu như một bóng ma, nước da xanh lướt, nhợt nhạt, một phần không nhỏ là do thiếu ánh sáng mặt trời. Quần áo của anh bẩn thỉu và rộng thùng thình. Hai con mắt anh nằm sâu trong hốc mắt, lờ đờ và tuyệt vọng.

Một phần quan trọng trong công vụ của Kim Marks là điều tra xem thân chủ của bà có vấn đề về tâm thần không, và nếu có thì không chỉ tìm cách chữa trị mà còn tìm cách giải quyết những nguyên nhân dẫn đến các rối loạn tinh thần ấy. Và cùng với bác sĩ Leslie Delk bà đã đấu tranh quyết liệt với các quan chức của Khám H buộc họ phải để Ron Williamson được khám và điều trị bệnh một cách cơ bản.

Bà Kim Marks nói chuyện với họ và được họ cho biết là Ron Williamson có khả năng gào thét suốt cả một ngày không biết mệt. Mỗi lần đến làm việc tại Khám H, bà nghỉ tại dãy phòng dành cho khách nữ. Và theo thiết kế của tòa nhà thì dãy phòng này nằm ở cuối gió, cho nên đêm nào ở lại đây bà cũng nghe thấy tiếng Ron từ trong xà lim của anh gào thét rằng anh vô tội, anh không giết Debbie Carter... Và bà có cảm giác nghe tiếng nói của một người điên.

Tuy nhiên bao nhiêu cố gắng của bà và của nữ bác sĩ Leslie Delk đều thành công cốc. Các quan chức của Khám H nhất định không chịu nghe theo bất cứ đề nghị nào của hai người.

Tháng Sáu 1992, thực hiện một bước trong quá trình hậu án, nữ bác sĩ Leslie Delk thảo một lá đơn gửi cho tòa phúc thẩm, đánh giá tình trạng tâm thần của bị cáo Ron Williamson, và đề nghị tiến hành một phiên tòa riêng để đánh giá tình trạng ấy tại tòa án quận Pontotoc. Ủy viên công tố Bill Peterson ký một công văn bác lời đề nghị trên và tòa án quận cũng bác đề xuất của bà.

Lời từ chối ấy lập tức được chuyển lên Toà phúc thẩm hình sự bang Oklahoma, nơi sẽ tiến hành xét xử phúc thẩm vụ án Ron Williamson. Kết quả là đề nghị của bà bác sĩ Leslie Delk được ủng hộ.

Tháng Bảy, bà bác sĩ Leslie Delk lại gửi một lá đơn nữa, lần này bà trình bày đầy đủ hơn. Đề nghị của bà dựa trên cơ sở vô số biên bản, bệnh án của rất nhiều bác sĩ, chuyên gia tâm thần. Bà còn khẳng định tình trạng tâm thần của Ron Williamson không đủ để chịu trách nhiệm về những lời khai trước tòa, và chính vì thế mà việc xét xử chưa thể công bằng. Hai tháng sau, đề nghị cho Ron được hưởng chế độ “giảm nhẹ hậu án” bị bác bỏ, thế là bà bác sĩ Leslie Delk lại kháng cáo lên tòa phúc thẩm Hình sự bang Oklahoma.

Không có gì lạ, khi lần này việc kháng cáo của bà cũng lại thất bại. Bước tiếp theo là một đơn kháng cáo nữa, mà bà không tin là sẽ có kết quả, nhưng bà cứ làm, đệ lên tòa án Tối cao Hoa Kỳ. Một năm sau, tòa án tối cao Hoa Kỳ ra quyết định từ chối, sau khi chỉ xem xét qua loa. Bà bác sĩ Leslie Delk vẫn gửi tiếp đơn kháng cáo. Tuy nhiên mọi đơn của bà đều bị khước từ hoặc bác bỏ. Và ngày 26 tháng Tám 1994, tòa Phúc thẩm Hình sự ra quyết định thi hành án tử hình đối với Ron Williamson, và sẽ thi hành ngày 27 tháng Chín 1994.

Thế là Ron đã nằm trong khám tử hình sáu năm bốn tháng.

***

Sau hai năm được sống tự do bên ngoài mọi sự giam giữ, Greg Wilhoit lại bị triệu tập đến tòa, và một lần nữa anh bị kết tội giết vợ.

Sau khi ra khỏi khám McAlester, Greg Wilhoit về sống tại thị trấn Tulsa và cố khôi phục dần dần cuộc sống ổn định, bình thường. Việc này đâu phải dễ. Những khổ cực thời gian qua để lại trên thân thể cũng như tinh thần anh những vết sẹo chưa lành hẳn. Khi anh đi vắng, hai con gái của anh, một lên tám, một lên chín, được bạn bè cùng giáo khu với anh nuôi nấng giúp. Thêm vào đấy, hai giáo viên giúp các cháu học hành. Mọi thứ đang tạm ổn. Cha mẹ và hai chị anh cũng hỗ trợ thêm.

Vụ án của anh được một số người quan tâm. Luật sư của anh, ông già George Briggs may thay đã qua đời nhưng vẫn chưa để nhà nước thu lại giấy phép hành nghề. Nhiều luật sư giỏi liên hệ với Greg Wilhoit ngỏ ý muốn đại diện cho anh trước tòa. Các luật sư bám theo máy thu hình giống như đám kiến bám theo những thức ăn còn sót lại, và Greg Wilhoit thích thú thấy họ quan tâm đến vụ án của anh đến mức ấy.

Nhưng việc chọn lựa không khó khăn gì. Greg Wilhoit chọn luôn bạn của anh, luật sư Mark Barrett, và anh rất tin tưởng là anh sẽ thắng cuộc trong phiên tòa sắp tới.

Trong phiên xét xử đầu tiên, bằng chứng tai hại nhất đối với anh là xác nhận của hai chuyên gia về vết răng cắn, cả hai đều là nhân viên nhà nước. Cả hai đều khẳng định vết cắn trên vú chị Kathy chính là vết răng của người chồng vừa mới li hôn chưa lâu, Greg Wilhoit. Gia đình anh bèn tìm ông chuyên gia giỏi nhất trong lĩnh vực vết răng cắn, tiến sĩ Thomas Krauss ở thành phố Kansas. Ông tiến sĩ này lấy làm lạ trước sự khác nhau rõ rệt giữa vết răng của Greg Wilhoit với vết răng để lại trên vú nạn nhân. Hai vết không có điểm gì giống nhau.

Luật sư Mark Barrett bèn gửi vết răng cắn cho mười một chuyên gia nổi tiếng quốc gia, đa số các chuyên gia này thường vẫn làm chứng cho cơ quan công tố của nhà nước. Trong số họ có chuyên gia cố vấn hàng đầu về vết răng của FBI, đồng thời cũng là người đã xác nhận vết răng của Ted Bindy. Bản án được nhất trí, tất cả mười hai chuyên gia về vết răng đều kết luận Greg Wilhoit phải được loại trừ ra khỏi danh sách những người tình nghi. Tuy nhiên, điều kết luận kia vẫn chưa được cấp trên phê chuẩn.

Trong một phiên tòa họp để nghe điều trần, một chuyên gia của bên bị chỉ ra hai mươi điểm khác nhau chính yếu giữa hàm răng của Greg Wilhoit và vết răng cắn để lại trên vú nạn nhân và xác nhận rằng chỉ cần một trong ngần ấy điểm khác nhau kia cũng đủ để loại Greg Wilhoit ra khỏi danh sách tình nghi.

Nhưng ủy viên công tố ngoan cố, vẫn yêu cầu tiến hành xét xử, và ông ta nhanh chóng trở thành trò cười cho thiên hạ. Luật sư Mark Barrett đã thành công trong việc gạt bỏ các chuyên gia về vết răng của nhà nước, đồng thời cũng chứng minh được sự không đáng tin của chuyên gia về DNA do nhà nước chỉ định.

Sau giờ nghỉ giải lao, luật sư Mark Barrett đưa ra lập luận để loại bỏ chứng cứ do ủy viên công tố nhà nước đưa ra và hướng hội đồng xét xử đến chỗ thông qua một bản án có lợi cho Greg Wilhoit. Sau đấy, chánh án tuyên bố nghỉ để ăn trưa. Sau bữa ăn, khi mọi người quay lại và hội trường đã đông đủ, chánh án, trong một sự thay đổi thái độ, tuyên bố không đủ bằng chứng kết tội bị cáo và hủy bỏ vụ án.

Ngài chánh án tuyên bố: “Thưa ông Greg Wilhoit, bây giờ ông là người tự do.”

Sau một buổi tối ăn mừng đến khuya cùng với gia đình và bè bạn, sáng sớm hôm sau Greg Wilhoit vội vã ra sân bay để đi California và không bao giờ quay lại bang Oklahoma nữa, trừ khi phải về thăm gia đình hoặc đấu tranh đòi hủy bỏ án tử hình. Tám năm sau cái chết của vợ, Kathy, anh lại được là người tự do.

Do săn đuổi lầm một nghi can, cơ quan cảnh sát và viện công tố đã để cho tên hung thủ thật sự của vụ án mạng chạy thoát. Cho đến nay người ta vẫn chưa tìm được hắn.

***

Căn phòng hành quyết mới xây ở Khám H được sử dụng hiệu quả tuyệt vời. Ngày 10 tháng Ba 1992, Robyn Leroy Parks, một nam giới da đen, bốn mươi ba tuổi, bị hành quyết về tội giết nhân viên phục vụ ở trạm xăng, sau mười ba năm y nằm ở khám tử tù.

Ba ngày sau, Olan Randle Robison, nam giới da trắng, bốn mươi sáu tuổi, bị hành quyết về tội giết một đôi vợ chồng sau khi y đột nhập vào ngôi nhà ở nông thôn của họ năm 1980.

Ron Williamson là người thứ ba sẽ nhận sự hành quyết tại căn phòng chết của Khám H sau khi nói vài lời vĩnh biệt.

Ngày 30 tháng Tám 1994, một đội quản giáo, gồm năm người, vẻ mặt nghiêm khắc đến cửa xà lim của Ron Williamson để giải anh đi đâu đấy. Anh bị còng hai cổ tay và xích hai cổ chân, đồng thời một sợi dây xích nữa vòng qua bụng, hai đầu nối với còng tay và xích chân. Xem chừng đây là sự di chuyển có nhiều điềm gở.

Như mọi khi, Ron mặt mũi nhem nhuốc, áo quần xộc xệch, bẩn thỉu, râu tóc không cạo, đi loạng choạng, khiến những người áp giải phải đi cách anh một quãng để khỏi chạm vào người anh. Trong toán này có sĩ quan Martin.

Ron Williamson được giải ra khỏi Khám H, đến một chiếc xe tải, đẩy lên xe rồi được chở qua một quãng đường ngắn đến văn phòng của nhà tù. Đi giữa những người áp giải, Ron bước vào phòng giấy của giám đốc nhà tù. Trong phòng kê một chiếc bàn hội nghị, xung quanh đã ngồi khá đông người, có vẻ đang chờ thông báo một sự kiện quan trọng. Tay chân bị còng và xích, xung quanh là những người áp giải, Ron được dìu đến ngồi chiếc ghế ở đầu bàn. Đầu bàn đối diện là giám đốc nhà tù.

Mở đầu cuộc họp, ông giám đốc giới thiệu Ron Williamson với các quan chức ngồi quanh bàn. Mọi người ngồi nghe một cách nặng nề.

“Rất vui được gặp tất cả các vị...”

Ron được người ta đưa một bản “Thông báo”. Ông giám đốc nhà tù bắt đầu đọc bản thông báo ấy.

“Ông bị kết án tử hình về tội giết người lúc 12h 01 phút, ngày Thứ ba 27 tháng Chín năm 1994. Buổi họp hôm nay là để thông báo với ông về quy tắc và diễn biến công việc của ba mươi ngày tới và thảo luận một số ưu đãi mà ông được hưởng”.

Ron Williamson choáng váng. Anh nói rằng anh không giết ai cả. Có thể trong cuộc đời, anh đã làm một số điều xấu, nhưng giết người thì không.

Giám đốc nhà tù McAlester và quản đốc Khám H trò chuyện với Ron và trấn an anh. Họ có mặt ở đây không phải để xét xử anh, họ chỉ thực hiện những nghị quyết của tòa án.

Nhưng Ron có một băng hình quay cảnh Ricky Joe Simmons thú nhận là thủ phạm đã giết người trong vụ án này, và anh rất muốn cho giám đốc nhà tù xem. Lại một lần nữa Ron không nhận mình đã giết cô Debbie Carter. Anh còn đưa ra những lời bình luận của Đài Truyền hình thị trấn Ada chứng minh anh vô tội. Anh còn nhắc đến chuyện chị của anh đã đến trường đại học đóng ở thị trấn Ada.

Ông giám đốc vẫn đọc tiếp.

“Buổi sáng hôm trước ngày hành quyết, ông sẽ được đưa vào một xà lim đặc biệt và sẽ ở đấy cho đến lúc hành quyết. Trong thời gian ở xà lim và thời gian từ lúc ấy cho đến lúc hành quyết, ông liên tục phải chịu sự giám sát nghiêm ngặt của các quan chức thi hành án.”

Ron lại ngắt lời ông giám đốc, gào to rằng anh vô tội, rằng anh không giết Debbie Carter.

Ông giám đốc coi như không nghe thấy, tiếp tục đọc những quy định về thủ tục và tiến trình thực hiện hành quyết, về quy chế khách đến thăm viếng, về hướng xử lý tài sản của tù nhân và về việc mai táng. Ron lao ra ngoài nhưng bị giữ lại.

“Ông muốn thi hài ông được xử lý theo kiểu nào?”

Ron bối rối và lúng túng. Anh chưa chuẩn bị gì cho câu hỏi này. Cuối cùng, Ron bảo anh muốn người ta đưa xác anh về thị trấn Ada, trao cho chị anh, chị Annette.

Khi Ron nói anh không còn ý kiến gì nữa và đã hiểu mọi điều ông giám đốc thông báo, người ta lại giải anh về xà lim.

Ron quên không gọi điện báo cho chị Annette. Hai ngày sau, khi kiểm những thư từ gửi đến, Annette thấy một phong bì lạ, đề ngoài là Cục Thi hành án của nhà tù McAlester. Bên trong là thư của phó giám đốc nhà tù:

“Bà Annette Hudson kính mến,

Tôi trân trọng và kính mến thông báo với bà rằng em trai bà, ông Ron Williamson (số tù 134846) sẽ bị hành quyết tại nhà tù bang Oklahoma lúc 12h 01 sáng ngày Thứ ba 27 tháng Chín năm 1994.

Việc thăm viếng ông Ron Williamson vào ngày trước đấy rất hạn chế, chỉ gồm linh mục, luật gia văn phòng, và hai người nữa do giám đốc nhà tù phê chuẩn.

Việc mai táng thi thể ông Ron Wiliiamson sẽ do gia đình thu xếp. Nếu gia đình khước từ công việc ấy, nhà nước sẽ tổ chức mai táng. Xin bà vui lòng cho chúng tôi biết quyết định của bà.

Kính thư, Ken Klinger"

Chị Annette vội gọi điện cho em gái, Renee, báo tin dữ. Hai chị em đều choáng váng và vô cùng đau đớn. Rồi họ thuyết phục với nhau rằng đây là tin sai. Hai chị em bàn bạc và quyết định sẽ không đưa thi hài em họ về thị trấn Ada. Không thể để hãng tang lễ Criswell muốn xử lý thi hài của em mình thế nào cũng được. Hai chị quyết định sẽ mai táng em họ ngay tại nghĩa trang McAlester và đến dự lễ mai táng sẽ chỉ có gia đình và một số bạn bè thân thiết nhất.

Nhà tù McAlester thông báo với họ rằng họ được chấp thuận đến dự buổi thăm viếng cuối cùng tại địa điểm tiến hành hành quyết. Chị Renee nói chị không thể dự. Còn chị Annette thì bảo phút cuối cùng mới đến.

Tin này lan nhanh khắp thị trấn Ada. Bà Peggy Stillwell, mẹ của cô Debbie Carter đã bị sát hại, lúc xem bản tin của Đài Truyền hình địa phương, rất ngạc nhiên thấy công bố ngày hành quyết Ron Williamson. Mặc dù đấy là tin vui đối với bà, nhưng bà vẫn cảm thấy tức giận là sao không ai thông báo cho bà biết cái tin ấy. Người ta đã hứa cho bà được đến dự buổi hành quyết Ron Williamson kia mà, và tất nhiên bà muốn đến đấy tham dự. Bà đoán thế nào trong vài ngày tới người ta cũng sẽ báo cho bà biết.

Chị Annette cố giữ tin ấy cho riêng mình, ai hỏi cũng trả lời là không biết. Chị giảm bớt số lần đến nhà tù thăm em và thời gian mỗi lần thăm cũng ngắn hơn. Ron đầu óc để tận đâu đâu, có khi anh hét lên với chị, có khi lại lờ đi, coi như không nhìn thấy chị ngồi trước mặt. Nhiều lần chị Annette chỉ ngồi với em được năm phút thì không chịu nổi nữa, phải bỏ về.

Giống như mọi chàng trai trẻ khác ở thị trấn Ada, Ron cũng sưu tầm hàng ngàn tấm ảnh, các tờ rơi, quảng cáo có hình các cầu thủ bóng chầy nổi tiếng và các tên tuổi khác trong làng bóng chầy như Mickey Mantle, Whitey Ford, Yogi Berra, Roger
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.