Khi tòa án bang Oklahoma đã kết thúc việc xét xử vụ án Ron Williamson và ngày hành quyết anh đã được ấn định thì các quan chức của tòa án bang vội vã lên gặp tòa án Liên bang Hoa Kỳ để nhận kế hoạch tiến hành những bước phúc thẩm tiếp theo.
Thủ tục tiến hành cái gọi là lệnh “định quyền giam giữ” yêu cầu phải giải tù nhân đến trước tòa để xác định xem việc giam giữ người ấy có thực hợp pháp hay không.
Việc xác định quyền giam giữ trong vụ án của Ron Williamson được giao cho bà Janet Chesley, một luật gia cộng tác chặt chẽ với Cục Bảo vệ quyền lợi tù nhân nghèo tại thành phố Norman. Bà có nhiều kinh nghiệm về “xác định quyền giam giữ” và đã quen với lối hối hả, vừa làm vừa nhìn đồng hồ, chỉ muốn tiến hành các thủ tục những bước tiếp theo cho nhanh để kịp nộp trước ngày thi hành án. Bà đến gặp Ron Williamson, giảng cho anh hiểu trình tự và cách thức tiến hành các bước của tiến trình xem xét này và khuyên anh làm đơn xin hoãn việc thi hành án của anh.
Trong thực tiễn hoạt động của bà Janet Chesley, cách xử sự như thế này đối với tù nhân hiếm khi xảy ra, và các thân chủ của bà, mặc dù thế này thế nọ, đều tin ở bà. Tuy việc ấn định ngày giờ hành quyết là chuyện nghiêm túc, không phải mỗi lúc có thể thay đổi, nhưng không tù nhân nào bị hành quyết trong khi thủ tục “xác định quyền giam giữ” của người ấy chưa kết thúc.
Nhưng Ron thì khác. Sau khi nghe thông báo về ngày hành quyết, anh càng thêm lún sâu vào tình trạng mất trí. Anh tính từng ngày và không tin vào những lời hứa hẹn của bà Janet Chesley. Thời gian có dừng lại nghỉ đâu mà vẫn chạy. Phòng hành quyết đang chờ anh...
Một tuần trôi qua, rồi một tuần nữa. Ron dùng toàn bộ thời gian để đọc kinh và cầu nguyện. Anh cũng ngủ rất nhiều và thôi không gào thét nữa. Người ta cấp thuốc an thần thoải mái cho anh. Nhà tù yên lặng, chờ đợi. Các tù nhân khác coi chuyện hành quyết Ron không dính dáng gì đến mình. Kết liễu cuộc đời một người điên thì có gì đặc biệt? Chẳng đáng làm ai quan tâm.
Đã sang đến tuần thứ ba.
Tòa án khu vực phía Đông thuộc bang Oklahoma đóng tại thị trấn Muskogee. Năm 1994, ở đấy có hai thẩm phán, và không người nào trong họ thích thủ cái thủ tục “xác định quyền giam giữ” cũng như các thể chế giam giữ.
Họ đến nhà tù này, rồi được chở vào khám bằng xe tải. Tù nhân nào cũng có vô vàn điều than phiền và kêu ca. Hầu hết kêu oan. Các tù nhân trong khám tử tù đều có luật sư giỏi được họ thuê của những hãng luật lớn và mỗi tù nhân đều có sẵn trong người biên bản phiên tòa xét xử họ. Biên bản này rất dày. Rất nhiều tù nhân tự đứng ra bào chữa cho bản thân. Và có cả những tù nhân chăm chỉ lục lọi các thư viện luật, tìm ra những lập luận có khả năng xin giảm án, đem bán cho họ với giá là những điếu thuốc lá. Nếu tù nhân nào không nộp đơn chống án theo quy định thẩm tra để “định quyền giam giữ” đã chính xác chưa, thì họ cũng nộp đơn khiếu nại, vạch ra những điều tồi tệ trong chế độ nhà tù, nào ăn uống quá kém, nước tắm quá lạnh, còng tay quá chặt, quá thiếu ánh sáng mặt trời... Nhưng điều quan trọng nhất trong đơn khiếu nại của họ vẫn là kêu oan. Bản kê các điều khiếu nại bao giờ cũng rất dài.
Hầu hết các đơn khiếu nại của tù nhân đều bị coi là không hợp lý và bị bác bỏ hoàn toàn, sau đấy được đưa đến tòa án Phúc thẩm lưu động số Mười, đóng trụ sở tại thành phố Denver, thủ phủ của một hạt trực thuộc Liên bang Hoa Kỳ. Phạm vi hạt này bao gồm cả bang Oklahoma.
Đơn xin xem xét quyền được giam giữ do bà Janet Chesley thảo ra tình cờ lại rơi vào thẩm phán Frank Seay, một thẩm phán thành viên của tòa án Tối cao Hoa Kỳ. Ông là người được đích thân Tổng thống Jimmy Carter chỉ định vào chân quan trọng này năm 1979. Thẩm phán Frank Seay quê ở quận Seminole. Trước khi lên nhận chức vụ quan trọng tại tòa án Tối cao Liên bang Hoa Kỳ, ông đã mười một năm làm chân chủ tọa phiên tòa tại hạt số Hai mươi hai, phạm vi bao gồm cả quận Pontotoc. Vì thế ông biết rất rõ tòa án quận Pontotoc cùng các thẩm phán cũng như luật sư ở quận này.
Cách đây hơn hai chục năm, vào tháng Năm năm 1971, thẩm phán Frank Seay đã đến thị trấn Asher để đọc diễn văn khai giảng khóa học mới của trường trung học tại đây. Một trong mười bảy học sinh tốt nghiệp trung học phổ thông khóa ấy chính là Ron Williamson.
Sau mười lăm năm ngồi ghế thẩm phán của tòa án Tối cao Hoa Kỳ, thẩm phán Frank Seay ít coi trọng những đơn xin xem xét lại theo chế độ thẩm tra quyền giam giữ gửi đến văn phòng của ông. Đơn của Ron Williamson đến văn phòng này vào tháng Chín 1994, chỉ vài hôm trước ngày hành quyết. Ông thẩm phán Frank Seay nghi ngờ, thật ra là ông biết, mẹo của các luật sư đại diện cho quyền lợi của tù nhân. Họ thường chờ cho đến ngày cuối cùng, không thể chậm hơn được nữa mới nộp đơn xin hoãn thi hành án, để các thẩm phán cấp Liên bang không thể giải quyết cách nào khác là phải cho tạm hoãn việc hành quyết. Nhiều khi thẩm phán Seay suy nghĩ, không hiểu nổi tại sao trong khi tù nhân chịu mọi khốn khổ trong nhà tù thì các luật sư đại diện quyền lợi cho họ lại ung dung chờ nước đến chân mới nhảy, tức là chờ đến. sát ngày hành quyết thân chủ của họ mới nộp đơn lên cơ quan cấp Liên bang như thế này?
Nhưng ông phải công nhận đấy là một mẹo khôn ngoan của luật sư. Ông thẩm phán Frank Seay hiểu điều ấy, ông chỉ không tán thành tiến trình xem xét. Ông có thể ra lệnh cho tạm hoãn ít lâu, nhưng không thể ra lệnh tổ chức một phiên tòa xét xử mới theo trình tự “xác định quyền giam giữ”.
Theo lệ thường, đơn của Ron Williamson được đưa cho luật gia Jim Payne đọc trước. Ông này là quan chức của văn phòng tòa án Tối cao Hoa Kỳ. Ông bị mang tiếng là có quan điểm bảo thủ và ông cũng không thích cái quy định về “xét quyền giam giữ”, nhưng ông vẫn được mọi người đánh giá rất cao vì lòng công tâm gần như tuyệt đối của ông.
Nhiệm vụ được giao cho luật gia Jim Payne trong nhiều năm nay là hàng ngày đọc các đơn xin “xác định quyền giam giữ”, tìm trong đống hồ sơ biên bản các phiên tòa dày cộp những chi tiết đáng quan tâm, số chi tiết này nói chung hiếm, để việc đọc đỡ ngán ngẩm.
Đối với luật gia Jim Payne, việc đọc này vô cùng quan trọng. Nếu ông bỏ sót một chi tiết nào trong đống hồ sơ biên bản dày cộp kia, rất có thể một con người vô tội phải chịu chết oan.
Đơn của bà Janet Chesley viết tốt đến mức thu hút sự chú ý của luật gia Jim Payne ngay từ đoạn mở đầu. Và khi đọc xong, ông luật gia thấy ngay phiên tòa xử Ron Williamson có nhiều khiếm khuyết lớn và rõ ràng là không công bằng. Lập luận của bà Janet Chesley đưa ra tập trung vào mấy khiếm khuyết chính: 1) Luật sư bào chữa gặp đâu hay đó, không đủ tận tụy đối với quyền lợi của thân chủ, 2) Trạng thái tâm thần của bị cáo chưa bảo đảm cho việc xét xử công minh, và 3) Việc so sánh mẫu lông tóc không chính xác, rõ ràng là sai.
Đêm hôm ấy, ông luật gia Jim Payne lại đem lá đơn ra đọc lại và sáng hôm sau, khi ông đến văn phòng làm việc, ông đến gặp ngay thẩm phán Frank Seay, chính thức đề xuất là nên đồng ý hoãn hành quyết tù nhân Ron Williamson theo đúng đề nghị của người viết đơn.
Sau hai mươi ba ngày chăm chỉ nhìn đồng hồ và cầu nguyện, Ron Williamson được thông báo là việc hành quyết anh được hoãn vô thời hạn.
***
Luật gia Jim Payne bàn giao hồ sơ xin xem xét quyền giam giữ kia cho trợ lý của ông là Gail Steward. Ông này đọc và đồng ý là cần phải xem xét lại phiên tòa xét xử sơ thẩm. Ông bèn giao việc này cho nữ nhân viên văn phòng tên là Vicky Hildebrand, một cử nhân luật nhưng vì chưa có thâm niên nên vẫn được gọi một cách đơn giản là “Thư ký tử hình”. Trước khi học trường Luật, Vicky là nhân viên phụ trách công tác xã hội nên vào đây làm việc, chị đem bầu nhiệt huyết của mình bổ sung cho thái độ bảo thủ và dè dặt của thủ trưởng, luật gia Jim Payne.
Trường hợp của Ron Williamson là trường hợp đầu tiên về xem xét nhằm “định quyền giam giữ” Vicky được giao. Chị đọc lá đơn và bị hút ngay vào những câu đầu tiên trong đơn.
“Vụ án này là một vụ án quái đản, xuất phát chỉ từ một giấc mộng rồi bị biến thành một ác mộng của Ron Williamson. Quyết định bắt giam anh ta xảy ra sau vụ án mạng những năm năm, sau khi nhân chứng cho tình trạng ngoại phạm của bị cáo đã chết, và chỉ dựa độc nhất trên “lời thủ tội", bắt nguồn từ một giấc mộng, của một bệnh nhân tâm thần, Ron Williamson
Vicky đọc tiếp và ngày càng bị cuốn theo những khiếm khuyết trong phiên tòa, chứng cứ quá nghèo nàn và không có độ tin cậy, cách bào chữa đại khái của luật sư biện hộ. Khi đọc xong, chị hoàn toàn nghi ngờ về sự phạm tội của Ron.
Vicky lập tức tự hỏi liệu chị có đủ thần kinh để nhận vụ án này không? Vì không phải vụ khiếu nại, xin được xem xét quyền giam giữ nào cũng có lý, đáng được quan tâm. Phải chăng mọi án tử hình đều “có vấn đề”? Vicky đưa băn khoăn này ra thổ lộ với cấp trên, luật gia Jim Payne. Ông này bèn thảo ra một chương trình làm việc. Ông quyết định hỏi thêm ý kiến Gail Seward, một luật gia “ở giữa”, không bảo thủ cũng không cấp tiến quá.
Thế là Vicky dành hết cả một ngày Thứ sáu chép lại biên bản phiên tòa, một tập hồ sơ dày cộp thành ba bản, cho mỗi người trong nhóm một bản. Và mỗi người lại sử dụng cả một kỳ nghỉ cuối tuần để đọc kỹ từng câu phát biểu trong phiên tòa. Và sáng Thứ hai, khi gặp lại nhau, cả ba người đã nhất trí. Mỗi người một cách nhận thức, nhưng cả ba đều chung một nhận định, là phiên tòa sơ thẩm xét xử Ron Williamson phạm nhiều sai lầm nghiêm trọng và nhiều điều vi phạm hiến pháp Hoa Kỳ. Cả ba cũng thống nhất cảm thấy rất có thể bị cáo Ron Williamson vô tội.
***
Dennis Fritz đã mất liên lạc với Ron. Anh viết một lá thư cho Ron nhưng không nhận được thư trả lời.
Kim Marks và Leslie Delk đến thành phố Conner phỏng vấn Dennis Fritz về những điều liên quan đến cuộc điều tra của họ. Họ đem theo băng ghi hình cuộc thú tội của Ricky Joe Simmons. Giống như Ron, Dennis Fritz rất tức giận thấy có một kẻ lại thú nhận là thủ phạm vụ án mạng, vụ án mạng mà anh và Ron bị tòa xử là có tội và là thủ phạm. Tuy nhiên, lời thú tội của Ricky Joe Simmons lại không được tòa nhắc gì đến trong khi xét xử anh và Ron. Anh bèn viết thư trao đổi với Kim Marks, thế là chị này giữ anh lại để tham dự vào quá trình tiến triển của vụ án Ron Williamson.
Là người đã ngồi mòn đũng quần trong thư viện luật, Dennis Fritz nghe thấy mọi lời đồn đại liên quan đến pháp luật và biết những quy định mới nhất về luật pháp. Anh cùng các luật gia của nhà tù nắm rất vững mọi thủ tục cũng như thứ tự các bước trong quá trình xét xử. Lần đầu tiên thử DNA được nói đến vào những năm đầu của thập niên 1990, thế là anh đọc tất cả những gì liên quan đến vấn đề này.
Năm 1993, mấy trang liền của tạp chí Donabue được dành cho câu chuyện về bốn người được minh oan nhờ phân tích DNA. Bài báo được mọi người tìm đọc, nhất là trong các nhà tù, và trở thành nhân tố thúc đẩy phong trào minh oan lan khắp đất nước Hoa Kỳ.
Một nhóm tình nguyện được đặc biệt chú ý lấy tên là Dự Án Minh Oan, do hai luật gia người New York, Peter Neufeld và Barry Scheck, thành lập năm 1992. Họ mở một cửa hiệu trong trường luật Benjamin N. Cardozo, như một thứ văn phòng tư vấn luật, cho các sinh viên nhận việc rà soát lại các vụ án dưới sự giám sát và kiểm tra của một số luật sư trong văn phòng. Ông Neufeld đã có một quá khứ hoạt động tư pháp tại Brooklyn. Còn Scheck thì là chuyên gia chuyên về DNA liên quan đến xét xử, về sau nổi tiếng là một trong những luật sư đại diện của OJ. Simpson.
Dennis Fritz theo dõi sít sao diễn biến của phiên tòa xét xử OJ. Simpson, và khi phiên tòa kết thúc, anh thấy đã có thể bắt liên lạc với chuyên gia về DNA Barry Scheck.
***
Sau khi nhận được vô số lời khiếu nại về Khám H, năm 1994 Tổ chức Ân xá quốc tế đã đến tận nơi khảo sát tình hình. Họ phát hiện ra rất nhiều sự vi phạm tiêu chuẩn quốc tế, kể cả vi phạm những quy định của Hoa Kỳ, cũng như những quy định tối thiểu của Liên hiệp quốc. Các vi phạm bao gồm kích cỡ xà lim quá nhỏ, thiếu những đồ đạc tối thiểu, không được chiếu sáng đủ, không được thông gió đủ, không có cửa sổ, và không có chỗ để ánh sáng bên ngoài lọt vào. Không có gì lạ là đoàn khảo sát nhận thấy sân thể thao quá bé và thiếu mọi điều kiện để tập. Nhiều tù nhân bỏ giờ ra sân thể thao chỉ cốt được ở lại xà lim một mình, không có người thứ hai. Không có tổ chức cho tù nhân học thêm và lao động kiếm thêm. Hoạt động tín ngưỡng hết sức hạn chế. Chế độ cung cấp thực phẩm quá tồi tệ, cần được gấp rút cải tiến.
Đoàn của Tổ chức Ân xá Quốc tế kết luận là các điều kiện giam giữ tù nhân trong Khám H quá tàn bạo và nghiệt ngã, vi phạm nặng nề các tiêu chuẩn quốc tế. Các điều kiện này, nếu được áp dụng trong một thời gian tương đối dài, sẽ ảnh hưởng tai hại đến sức khỏe thể xác và tinh thần của tù nhân.
Bản báo cáo được công bố, nhưng không được phổ biến trong nhà tù. Nhưng nó cũng thổi bùng lên một phong trào phản kháng trong tù nhân. Họ thi nhau gửi những đơn kiến nghị lên các cơ quan có thẩm quyền.
***
Sau ba năm cách quãng do lúng túng, phòng hành quyết bắt đầu hoạt động trở lại. Ngày 20 tháng Ba 1995, Thomas Grosso, nam giới, da trắng, hai mươi hai tuổi, bị hành quyết sau hai năm nằm trong khám tử tù. Tuy chuyện ấy khó khăn, nhưng Grosso vẫn ngừng viết các đơn chống án và vượt qua được.
Tiếp theo y đến Roger Dale Stafford, sát nhân nổi tiếng ở một nhà hàng, và cuộc hành quyết của y là một trong những cuộc hành quyết có tiếng vang lớn nhất. Các sát thủ hàng loạt tại những thành phố lớn thường được các phương tiện truyền thông nói đến nhiều, và Stafford là một trong những sát thủ danh tiếng nhất. Y đã mười lăm năm ngồi trong khám tử tù và vụ án của y đã được cảnh sát và các ủy viên công tố cũng như các chính trị gia sử dụng như một điển hình tiêu biểu cho những thiếu sót trong quá trình phúc thẩm.
Ngày 11 tháng Tám 1995, đã xảy ra một cuộc hành quyết kỳ lạ. Robert Brecheen, nam giới, da trắng, bốn mươi tuổi, đã tự thi hành án trước khi đến phòng hành quyết. Chẳng là một ngày trước đấy, y uống một vốc thuốc ngủ, thế là rơi vào hôn mê. Y định dùng cách tự tử để thóa mạ nhà nước, nhưng nhà nước vẫn thắng. Quản giáo phát hiện y bị hôn mê, bèn vội vã chở y đến bệnh viện. Y được rửa ruột ngay lập tức, được cứu thoát và chở về Khám H để hôm sau đưa vào phòng hành quyết theo đúng lịch.
***
Thẩm phán Seay chỉ đạo bộ máy tham mưu của ông tiến hành nghiên cứu tỉ mỉ từng khía cạnh nhỏ trong vụ án Ron Williamson. Họ soi vào từng chữ trong các bản sao, kể cả biên bản lời khai mạc phiên tòa cũng như mọi lời phát biểu khác trong quá trình xét xử. Họ lập bản thống kê các lần điều trị, các thuốc cấp cho Ron Williamson. Họ rà soát các hồ sơ, biên bản của cảnh sát và các báo cáo của Cục Điều tra Hình sự bang Oklahoma.
Khối lượng công việc khổng lồ được chia ra cho ba thành viên của nhóm: nữ thư ký, cử nhân luật Vicky Hildebrand, luật gia Jim Payne, và trợ lý Gail Seward. Công việc của họ không thiếu những ý tưởng cần thiết và cũng không hấp tấp. Cuối cùng họ đi đến kết luận là việc xét xử trong phiên sơ thẩm là sai, công lý đã bị gạt ra ngoài, bây giờ cần phải sửa sai.
Thẩm phán Seay xưa nay chưa bao giờ tin vào chứng cứ do so sánh mẫu lông tóc. Ông đã chủ tọa một phiên tòa xét xử một vụ giết người, mà nhân chứng hàng đầu là chuyên gia số một về lông tóc của FBI. Phân tích của ông ta không ai có thể bác bỏ và ông ta đã xác minh trong nhiều vụ án, nhưng thẩm phán Seay vẫn không bị ấn tượng. Ông không sử dụng chứng cứ của vị chuyên gia số một này và loại ông ta ra khỏi số nhân chứng trong phiên tòa ấy.
Cô thư ký, cử nhân luật Vicky Hildebrand lại sẵn sàng chấp nhận chứng cứ về lông tóc. Trong nhiều tháng trời, cô đã đọc biên bản của hàng chục phiên tòa và những công trình khảo sát xung quanh vấn đề này, cuối cùng cô đi đến kết luận rằng, chứng cứ dựa trên sự so sánh này là không có giá trị. Có điều quái đản là đáng lẽ kiểu chứng cứ này phải cấm không được sử dụng trong xét xử, điều mà ông thẩm phán của tòa án tối cao Hoa Kỳ Seay đã áp dụng từ lâu.
Trợ lý Gail Seward tập trung xem xét cách làm việc của luật sư già Barney Ward và những khuyết điểm của ông ta trong phiên tòa sơ thẩm xét xử Ron Williamson và Dennis Fritz. Chuyên viên Jim Payne thì chốt xung quanh các quy định Brady. Suốt trong nhiều tháng, họ làm việc thong thả, nhiều lần phải gạt vụ án Ron Williamson sang một bên để làm những vụ khác cấp thiết hơn. Tuy không có ấn định thời hạn cuối cùng cho vụ án này, nhưng thẩm phán Seay là người không chịu nổi sự lề mề chậm chạp. Bận vào các vụ án khác thì họ làm vụ án Ron Williamson vào ban đêm, vào các kỳ nghỉ cuối tuần. Họ đọc cho nhau và góp ý cho nhau đối với từng văn bản của mỗi người viết ra. Họ loại dần những chi tiết thứ yếu để cuối cùng tìm ra được khuyết điểm cốt lõi của phiên tòa. Và mỗi bước phát hiện lại làm họ vui mừng và phấn khởi đẩy thêm công việc.
Trợ lý Jim Payne ngày nào cũng hội ý với thẩm phán Seay và nhận của ông này cả chỉ thị lẫn những lời khuyên.
Đến khi thấy rõ là phải xét xử lại vụ án này, thẩm phán Seay rất băn khoăn. Luật sư Barney Ward vốn là người quen biết lâu năm của ông. Không những thế, trong quá khứ, luật sư Barney Ward đã có nhiều chiến công xuất sắc trong nhiều phiên tòa, từng nổi tiếng là một luật sư đã đem lại công bằng cho nhiều vụ án, và nhất là được dân chúng thị trấn Ada rất ngưỡng mộ. Nếu bây giờ vạch ra những yếu kém của vị luật sư đã gần như bạn của ông, thì dân chúng thị trấn Ada sẽ phản ứng ra sao? Nhất là trước cái tin vị thẩm phán nổi tiếng thông minh và chân chính lại đứng về phía tên sát nhân Ron Williamson?
Ba người này cũng hiểu rằng nếu xử lại, vụ án sẽ phải được đưa lên cấp cao hơn, trực tiếp ở đây tức là tòa án phúc thẩm lưu động Số Mười đóng trụ sở tại thành phố Denver. Nếu tòa án ấy bác bỏ thì sao? Liệu mấy chuyên gia ở tòa phúc thẩm tối cao có đủ lý lẽ để thuyết phục tòa án phúc thẩm lưu động dưới quyền mình không?
Tốp ba người làm việc cật lực dưới sự chỉ đạo của thẩm phán Seay, mất gần một năm mới hoàn thành công việc. Cuối cùng, ngày 19 tháng Chín 1995, một năm sau ngày lúc trước đã được ấn định là ngày hành quyết Ron, thẩm phán Seay ký dưới bản ra lệnh tiến hành xem xét lại quyền giam giữ đối với tù nhân Ron Williamson và tổ chức phiên tòa xét xử lại vụ án này.
Bản nhận định kèm theo lệnh kể trên quả là một văn bản đồ sộ và được soạn thảo hết sức công phu. Một trăm trang, viết bằng một thể văn vừa khoa học vừa sáng sủa, thẩm phán Seay đã gửi mấy bản sao cho luật sư Barney Ward, ủy viên công tố Bill Peterson, Phòng cảnh sát thị trấn Ada, và Cục Điều tra Hình sự bang Oklahoma. Tuy phần nào nương nhẹ chánh án Jones, nhưng thẩm phán Seay vẫn không thể bỏ qua những thiếu sót trầm trọng của ông này. Dù sao thẩm phán Seay cũng chưa biết ông bạn ngày xưa sẽ phản ứng thế nào.
***
Ron xứng đáng được hưởng một phiên tòa mới vì nhiều lý do. Lý do chính yếu là sự bào chữa không có hiệu quả của luật sư Barney. Các khuyết điểm của ông này có nhiều và đều tai hại. Trong số khuyết điểm ấy có việc ông đã không đưa ra vấn đề sức khỏe tâm thần của bị cáo để xin hoãn việc xét xử. Hai là đã không điều tra và đưa ra trước hội đồng xét xử bằng chứng chống lại Glen Gore. Rồi ông không đưa ra chuyện nhân chứng Terri Holland của ủy viên công tố lúc trước đã khai chống lại Karl Fontenot và Tommy Ward. Cả việc luật sư Barney đã không báo cho tòa biết Ricky Joe Simmons đã thú nhận là thủ phạm đã giết Debbie Carter, thậm chí còn bằng lòng cho thu hình sự thú tội của anh ta. Rồi thất bại trong việc lên án cách sử dụng “giấc mộng” của Ron là vi phạm và chấm dứt việc sử dựng nó trước khi tòa bắt đầu. Cả khuyết điểm đã không tìm được nhân chứng cho mình để ra khai trước tòa.
Tội của ủy viên công tố Bill Peterson và cơ quan cảnh sát là đã giấu đi băng ghi hình cuộc thẩm vấn Ron Williamson năm 1983; sử dụng làm lời thú tội những thứ không có giá trị thực, tỉ như giấc mộng; đưa lên bục nhân chứng những kẻ có tội và đã hoặc đang bị giam giữ trong nhà tù; kết luận một vụ án hầu như không có chứng cứ vật chất. Ngoài ra còn nhiều sai trái khác nữa ở mức độ nhỏ hơn.
Thẩm phán Seay phân tích câu chuyện về chứng cứ dựa trên mẫu lông tóc, và quy định cách sử dụng chứng cứ này là không có giá trị và phải bãi bỏ trong mọi phiên tòa. Ông phê phán các chuyện gia ở Cục Điều tra Hình sự bang Oklahoma là đã sử dụng không chính đáng mẫu lông tóc trong cuộc điều tra Dennis Fritz và Ron Williamson.
Bill Peterson, chánh án Jones và chánh án John David Miller bị phê là có lỗi đã không ngừng việc xét xử khi bị cáo bị bệnh tâm thần còn đang điều trị, chưa đủ thẩm quyền tinh thần để tham dự một phiên tòa.
Với sự chính xác của nhà phẫu thuật, thẩm phán Seay đã mổ xẻ từng bước trong quá trình xét xử và chứng minh sự vô căn cứ trong việc kết tội Ron Williamson. Không giống như tòa án phúc thẩm hình sự bang Oklahoma, một tòa án xét vụ án hai lần, thẩm phán Seay nhìn thấy rõ những sai lầm, lệch lạc và ông vặn hỏi mọi thứ.
Sau khi trình bày hết nhận xét của mình, ông thẩm phán của tòa án Tối cao Hoa Kỳ kết luận, hoặc có thể nói ông viết một vĩ thanh cho câu chuyện như sau:
«Trong khi nhìn lại quyết định của mình trong vụ án này, tôi nói với một người bạn, là dân thường rằng, tôi tin tưởng sự thật và luật pháp đòi hỏi tôi phải bảo đảm cho việc mở một phiên tòa mới để xét xử một con người đã bị xét xử oan và đã phải nhận bản án tử hình.
Người bạn hỏi tôi: “Anh ta có phải tên giết người không?"
Tôi trả lời đơn giản: “Chúng tôi chỉ có thể trả lời câu hỏi của ông sau khi anh ta đã được một phiên tòa công minh xét xử."
Xin Chúa Trời hãy phù hộ cho chúng con, nếu như có bao giờ trong cái đất nước rộng lớn này, chúng con quay mặt đi để mặc cho những người vô tội phải bị hành quyết oan uổng. Mà tình hình xảy ra ở vụ án này gần đúng như thế.»
Vốn tính khiêm tốn, thẩm phán tòa án tối cao Hoa Kỳ Seay gửi một bản sao ý kiến của ông cho luật sư Barney Ward, kèm theo một thư ngắn tỏ ý rất tiếc nhưng ông không có lựa chọn nào khác. Rất có thể Barney Ward sẽ không bao giờ nói chuyện với ông nữa.
Mặc dù ba người, nữ thư ký, cử nhân luật Vicky Hulderbrand, chuyên viên Gail Seward và trợ lý Jim Payne rất tự tin vào tính đúng đắn trong công trình của mình, họ vẫn hồi hộp chờ đến lúc công trình ấy được công bố rộng rãi. Mở một phiên tòa mới để xét xử lại một tù nhân đang nằm trong khám tử hình là chuyện hiếm thấy ở bang Oklahoma. Vụ án của Ron đã ngốn một năm cuộc đời của họ và tuy họ tự tin vào bản thân, họ cũng không muốn thẩm phán Seay và văn phòng của ông bị phê phán.
***
“Các ủy viên công tố thề đấu tranh để giành kỷ cương trong phiên tòa sắp đến." Đấy là đầu đề in bằng chữ rất to trên trang nhất tờ báo hàng ngày Tin tức buổi chiều ở Ada số ra ngày 27 tháng Chín 1995. Một bên bài báo là tấm ảnh Ron Williamson lúc còn là học sinh trung học, bên đối diện là ảnh Bill Peterson. Bài tường thuật viết:
“Một ông Bill Peterson giận dữ nói rằng ông còn hơn cả sự vui mừng được ra mắt trước tòa án Tối cao Hoa Kỳ, nếu cần, để lật ngược lệnh của vị thẩm phán tòa án Tối cao vừa mới ký, rằng ông ta ra lệnh mở một phiên tòa mới để xét xử tên sát nhân đã bị tòa án quận Pontotoc kết án.
May thay, ít ra cũng may cho Bill Peterson là đã không có dịp được đến thủ đô Washington tranh cãi về vụ án. Ông ta luôn miệng nói rằng ông ta được Chánh án tòa án bang Oklahoma khẳng định, cho phép ông chủ động kháng cáo lên tòa án phúc thẩm lưu động đóng tại thành phố Denver. Ông ta viết đơn, trong có đoạn:
“Tôi choáng váng, sửng sốt, uất giận, hoang mang và gì gì nữa. Người ta đưa vụ án này đi qua nhiều bước phúc thấm đến thế mà không hề có ai hỏi việc kết tội ra sao. Như thể là hết sức vô lý”.
Ông ta quên không nói, hoặc nhà báo quên không chỉ ra rằng mọi sự kết tội án tử hình đều phải thông qua thủ tục định quyền giam giữ và kết thúc tại tòa án tối cao Hoa Kỳ và cơ quan này sớm hay muộn sẽ phải ban bố ý kiến của mình.
Bill Peterson đang phẫn nộ, ông ta tiếp tục viết:
“Vụ án nay đã được tòa án Tối cao Hoa Kỳ xem xét hai lần. Và cả trong hai lần ấy, tòa án Tối cao đều khẳng định tội của bị cáo và khước từ việc xét xử lại".
Không đúng. Tòa án Tối cao Hoa Kỳ chưa hề xem xét trường hợp của Ron Williamson. Trên thực tế, tòa án tối cao đã từ chối bằng văn bản việc xem xét vụ án đó và gửi trả lại cho tòa án bang Oklahoma. Đấy là một trình tự quen thuộc.
Bill Peterson đã cố níu cái huyền thoại phi lý của ông ta. Trong một đoạn chú thích, thẩm phán tòa án Tối cao Seay đã trích dẫn một đoạn trong cuốn “Giấc mộng ở thị trấn Ada" của Robert Mayer và chỉ ra một loạt lý do kết tội bị cáo dựa trên lời thú tội qua giấc mộng được đưa ra trước phiên tòa ấy. Bill Peterson rất phẫn nộ thấy cuốn sách được trích dẫn trong một văn bản tư pháp và ông ta nhăn nhó:
“Bảo ba bị cáo Ron Williamson, Karl Fontenot và Tommy Ward bị kết tội dựa trên giấc mộng là không đúng. Hoàn toàn không có chuyện ấy”.
***
Bang Oklahoma phản đối việc thẩm phán Seay chỉ đạo Tòa án Phúc thẩm Lưu động số Mười đóng tại Denver. Tuy Ron Williamson vui mừng thấy diễn biến sự việc như vậy và nhìn thấy triển vọng của một phiên tòa mới, nhưng anh vẫn còn nằm trong nhà tù và chịu đựng mọi nỗi khổ ải.
Tuy nhiên Ron không chiến đấu đơn độc. Điều tra viên của anh Kim Marks, luật sư của anh, Janet Chesley và bác sĩ Foster vẫn tiếp tục đấu tranh để có một giải pháp đúng đắn. Suốt gần bốn năm trời, nhà tù vẫn không chịu cho Ron Williamson sang điều trị ở Trạm Y tế phạm nhân, nơi anh có thể được hưởng một sự điều trị chu đáo hơn và dùng những thuốc thích hợp hơn. Trạm y tế này đóng ngay gần Khám H, chỉ cách vài bước chân, nhưng lại bị cấm nhận các tử tù.
Trong báo cáo, điều tra viên Kim Marks miêu tả thân chủ của bà luật sư Janet Chesley như sau:
“Tôi hết sức hoảng sợ, không phải vì anh ta mà cho anh ta. Tôi tha thiết đề nghị chúng ta thử nghĩ xem có thể đề đạt với một cấp nào cao hơn trong hệ thống tư pháp để họ giúp đỡ anh ta đôi chút. Anh ta để tóc dài xuống trùm cả vai, và tóc anh ta đã có những mảng bạc và ông có thể nhìn thấy những vết nicôtin ở dọc các ngón tay anh ta, không chỉ ở đầu. Răng anh ta như muốn rữa ra. Khi anh ta đi thì không phải là bước mà là lê chân. Mỗi khi nói, anh ta như phải cố lắm mới làm bật ra các âm thanh, và các chữ dính vào nhau khiến nghe rất khó hiểu anh ta muốn nói gì. Tôi nghĩ rất có thể anh ta không sống được bao lâu nữa, và anh ta sẽ chết trong nhà tù không phải chỉ vì sức khỏe cơ thể mà nhiều hơn là vì tâm thần rệu rã”.
Janet Chesley, Kim Marks và Ken Foster vận động một số quan chức trong ngành tư pháp cùng kéo đến nhà tù McAlester, nhằm tác động đến Cục Quản lý tù nhân. Cuối cùng, vào tháng Hai 1996, James Saffle, bấy giờ là một quan chức cao cấp của Cục đã đồng ý gặp Kim Marks và Janet Chesley. Mới vào chuyện, ông James Saffle thông báo ngay rằng ông đã cho phép giám đốc nhà tù McAlester là Ron Ward được xét riêng trường hợp tù nhân Ron Williamson và lập tức đưa anh ta sang điều trị tại Trạm Y tế phạm nhân. Và giám đốc nhà tù Ron Ward đã gửi công văn đến ông Trạm trưởng Y tế phạm nhân, trong có đoạn như sau:
“Tôi đã được phép xét riêng trường hợp tù nhân Ron Williamson và cho y được hưởng chế độ ngoại lệ, có nghĩa mặc dù anh ta là tử tù, nhưng cho anh ta hưởng chế độ điều trị bệnh tâm thần tại Trạm Y tế”.
Thật ra có được cử chỉ nhân đạo này là do trước đấy hai tuần lễ, một chuyên gia tâm lý của nhà tù đã gửi một bức thư riêng đến cho phó giám đốc nhà tù về tình trạng sức khỏe của Ron Williamson. Trong thư, chuyên gia tâm lý kia viết:
“Trong cuộc trao đổi trong nhóm bác sĩ tâm lý, chúng tôi nhất trí nhận thấy tù nhân Ron Williamson mắc bệnh tâm thần trầm trọng, cần được điều trị gấp. Tôi thấy phải nói thêm rằng chính bản thân anh ta cũng nhất quyết từ chối việc đưa anh ta đi điều trị.
Và như ông biết đấy, Trạm Y tế phạm nhân có lệ buộc bệnh nhân phải thực hiện chế độ thuốc thang cần thiết”.
Khám H đã mệt vì trường hợp Ron WiIliamson nên cũng đang muốn cho anh đi khỏi đây một thời gian. Bức thư của chuyên gia tâm lý viết tiếp:
“Chúng tôi thấy rõ là bệnh trạng của Ron Williamson xấu đi từng tuần lễ. Tôi đã nhận thấy điều ấy, và ban quản đốc Khám H cũng thấy như thế. Mới sáng nay, ông Mike Mullens cũng nhắc lại với tôi điều này và ông còn nói thêm là bệnh tâm thần của Ron Williamson khiến anh ta lên những cơn điên khùng, ảnh hưởng rất xấu đến không khí chung của khám..."
Nhưng lý do đưa Ron đi còn nhằm đẩy nhanh thêm ngày hành quyết. Bức thư của chuyên gia tâm lý kết luận:
“Theo nhận xét của tôi, tình trạng bệnh tâm thần của Ron Williamson đã đến mức y không thể chịu trách nhiệm về những gì diễn ra với y lúc thực hiện hành quyết. Một thời gian ngan điều trị tại Trạm sẽ giải quyết được trở ngại này".
Thế là Ron được chuyển đến Trạm Y tế phạm nhân và bố trí nằm trong một phòng bệnh riêng sạch sẽ, sáng sủa, có một cửa sổ trông ra vườn. Bác sĩ Foster thay đổi thuốc cho anh và trực tiếp theo dõi việc anh sử dụng thuốc men thế nào. Tuy sức khỏe còn rệu rã, nhưng Ron đã điềm tĩnh hơn và không còn luôn miệng kêu đau nữa.
Nhưng anh vẫn rất yếu và những khoảng thời gian mê muội vẫn luôn xảy ra. Thế rồi đột nhiên ngày 25 tháng Tư, sau ba tháng nằm điều trị, Ron bỗng bị đem đi khỏi Trạm Y tế, giải về Khám H trong hai tuần lễ. Việc chuyển này không được bác sĩ cho phép, thậm chí chính ông cũng không biết. Bác sĩ Foster bèn gửi đến quản đốc Khám H một bức thư phản kháng, nêu ảnh hưởng tai hại có thể xảy ra một cách trầm trọng khi bệnh nhân bị cưỡng bức chuyển đi chưa được sự đồng ý của bác sĩ cũng như của trạm.
Và một sự trùng khớp đã xảy ra. Ngày 25 tháng Tư ấy lại chính là ngày hôm trước của cuộc hành quyết một tù nhân khác. Ngày 26 tháng Tư, Benjamin Brewer bị hành quyết về tội đâm chết một nữ sinh hai mươi tuổi tại thị trấn Tulsa năm 1978. Brewer đã ngồi trong khám tử tù mười bảy năm.
Ngay cả khi nằm điều trị trong Trạm Y tế phạm nhân, Ron vẫn là một tử tù. Và anh không được phép chứng kiến một vụ hành quyết người khác tại Khám H.
Nữ thư ký, cử nhân luật Janet Chesley ngờ rằng việc đột ngột chuyển Ron Williamson từ Trạm y tế về Khám H có dính dáng đến tiến trình giam giữ. Bang Oklahoma đã phản đối lệnh của thẩm phán Seay chuyển vụ án lên tòa án Phúc thẩm Lưu động Số Mười, và họ bố trí một cuộc tranh luận. Để chặn trước bà Janet Chesley khỏi viện ra lý do tù nhân bị bệnh tâm thần nặng và đang điều trị tại Trạm Y tế phạm nhân nên người ta quyết định chuyển anh trở lại Khám H. Khi được tin thân chủ của bà bị chuyển đột ngột về Khám H, bà rất phẫn nộ. Bà lên án các quan chức nhà tù và các ủy viên công tố của bang là đã không chấp hành lệnh tiến hành phúc thẩm vụ án Ron Williamson. Cuối cùng bà hứa trong cuộc thảo luận miệng sẽ không nhắc đến việc Ron Williamson đã có lần nằm trong Trạm Y tế phạm nhân.
Ron được chuyển trở lại Trạm Y tế phạm nhân, nhưng điều tai hại đã rõ ràng.
***
Dennis Fritz nghe được tin vui là Ron đã đạt thắng lợi ở cấp Liên bang và người ta sắp tiến hành một phiên tòa để xử lại Ron. Còn anh, Dennis Fritz, không được may mắn như thế. Vì bản án của anh không phải bản án tử hình, và vì không có luật sư riêng nên anh phải tự mình làm đơn xét “định quyền giam giữ”. Anh bị sa vào tòa án cấp quận năm 1995 và phải gửi đơn chống án lên tòa án Liên bang.
Việc Ron được xử lại khiến Dennis Fritz vừa vui nhưng cũng pha lẫn một chút cay đắng. Anh bị kết tội cũng do những nhân chứng ấy và cũng dựa vào những sự kiện ấy, thế mà đơn xin xem lại “định quyền giam giữ” của anh lại bị bác. Trong khi ấy anh vẫn mừng cho Ron đã đạt được quyền xét xử lại.
Cuối cùng vào tháng Ba năm 1996, Dennis Fritz viết một lá đơn gửi cho một tổ chức nhân đạo tự nguyện gọi là Dự Án Minh Oan, yêu cầu được giúp đỡ. Một sinh viên tình nguyện đã viết thư trả lời Dennis Fritz và gửi cho anh một bản ghi những câu hỏi để anh trả lời cho rõ hơn. Tháng Sáu năm ấy, người sinh viên kia yêu cầu gửi cho anh ta biên bản của phòng xét nghiệm về kết quả phân tích mẫu máu cũng như mẫu nước bọt. Những tài liệu ấy lúc nào anh cũng giữ bên mình, ngay trong xà lim, và anh lập tức gửi đi New York cho người sinh viên kia. Tháng Tám, anh gửi đi bản tóm tắt vụ án của anh để xin chống án. Đến tháng Mười một thì anh gửi đi toàn bộ biên bản phiên tòa. Ngay trong tháng ấy Dennis Fritz nhận được tin tuyệt vời là tổ chức Dự Án Minh Oan chính thức chấp nhận lo vụ án của anh.
Thư từ gửi đi gửi lại và thời gian trôi nhanh. Tòa án Phúc thẩm Lưu động số Mười bác đơn chống án của Dennis Fritz và đến tháng Năm 1997, khi tòa án Tối cao từ chối tiến hành phiên tòa để nghe trình bày về trường hợp của anh thì Dennis Fritz tinh thần suy sụp. Vậy là các đơn chống án của anh đều không có tác dụng. Không một ai chịu nghiên cứu một vấn đề hết sức rõ ràng: Một người vô tội bị kết án oan.
Trước nay chưa bao giờ Dennis Fritz tin rằng mình sẽ phải ngồi tù mãi mãi, cho đến ngày tận số, bây giờ thì anh tin.
Tháng Năm, Dennis Fritz gửi liền bốn lá thư cho Dự Án Minh Oan.
***
Năm 1979, trong thị trấn nhỏ Okarche, ngay phía Bắc Oklahoma City, hai gã tên là Steven Hatch và Glen Ake đột nhập nhà của giám mục Richard Douglas. Hai vợ chồng ông giám mục đều trúng đạn rồi bị giết. Hai đứa con nhỏ của họ cũng bị trúng đạn nhưng may được cứu thoát. Hung thủ giết hai ông bà và bắn hai người con là Glen Ake, và khi ra tòa, gã phải nhận bản án tử hình, về sau gã được xử lại vì trong phiên tòa trước, chánh án đã từ chối không cho gã được một chuyên gia tâm thần khám và xác định trạng thái tâm thần có đủ để dự phiên tòa hay không. Kết quả phiên tòa xét xử lần này, gã được giảm án thành tù chung thân, hiện nay vẫn còn đang trả án.
Gã thứ hai, Stephen Hatch, cũng tham gia vụ đột nhập vào nhà vị giám mục hôm ấy, nhưng tội giết người thì còn nhiều nghi hoặc là có thể gã không tham gia giết. Cuộc tranh biện tại tòa rất sôi nổi, tuy nhiên, gã vẫn bị kết án tử hình. Tháng Chín năm 1996, Stephen Hatch bị đưa vào phòng tử hình, và hành quyết bằng cách tiêm thuốc độc. Hôm ấy có cả hai con của vị giám mục kia, lúc này đã lớn, đến chứng kiến cuộc hành quyết.
Glen Ake, gã hung thủ ai cũng phải công nhận là có tội, không phải bàn cãi gì nữa, thì vẫn còn sống, trong khi bạn hắn, không giết người thì lại phải chết.
Cũng vậy, năm 1994, một thanh niên da đen Hoa Kỳ, tên là Scott Dawn Carpenter vào cướp một cửa hàng tại thị trấn Hồ Eufaula, và giết chủ cửa hàng. Chỉ nằm hai năm trong khám tử tù, y đã bị bác đơn chống án và nhận mũi kim tiêm.
***
Ngày 10 tháng Tư 1997, tòa án Phúc thẩm Lưu động số Mười tại thành phố Denver chấp hành lệnh của thẩm phán Seay. Phiên tòa chỉ bác bỏ nhận định của ông, cho rằng việc so sánh mẫu lông tóc không có giá trị, còn tán thành việc công nhận Ron Williamson đã bị tòa án sơ thẩm xét xử chưa đúng luật.
Để chuẩn bị cho một phiên tòa mới, vụ án Ron Williamson được đưa đến Phân cục Capital Trial Division thuộc Cục Bảo vệ tù nhân nghèo. Giám đốc mới của Cục, Mark Barrett, lãnh đạo một đội luật sư gồm tám người. Vì tính chất phức tạp của vụ án và vì đã từng có kinh nghiệm làm việc với Ron Williamson, nên ông trực tiếp nhận nó. Chuyến xe tải đầu tiên chở đến tài liệu vụ án, chất đầy mười sáu thùng.
Tháng Năm năm 1997, hai luật sư Mark Barrett và Janet Chesley đến nhà tù McAlester gặp thân chủ của họ, Ron Williamson. Nhiệm vụ của bà Janet Chesley là giới thiệu Mark Barrett với Ron. Hai người đã gặp nhau lần cuối cùng năm 1988, sau khi Ron bị giải đến Khám F và Mark Barrett thì nhận đơn chống án đầu tiên của anh.
Tuy đã biết Janet Chesley và Kim Marks cùng toàn thể luật sư trong Phân cục Phúc thẩm tù nhân nghèo, và tuy đã nghe nhiều dư luận bàn tán và bày đặt xung quanh con người Ron cùng những hành vi quái đản của anh tại khám tử tù, Mark Barrett vẫn sửng sốt khi nhìn thấy Ron. Năm 1988 Ron là một chàng trai ba mươi lăm tuổi, nặng một tạ, thân hình lực sĩ, dáng đi tự tin, tóc đen và một khuôn mặt bầu bầu như mặt trẻ con.
Chín năm sau, anh mới bốn mươi ba tuổi nhưng trông như ông già sáu mươi lăm. Sau một năm nằm trong Trạm Y tế phạm nhân của nhà tù, Ron lại còn thảm hại hơn, đi không vững, gầy như cái bóng và rất ốm yếu.
Nhưng Ron vẫn tiếp chuyện hai người được khá lâu và kể rất nhiều về vụ án của mình. Tất nhiên, có những lúc anh nói lắp bắp, rất khó nghe, có lúc lại huyên thuyên một tràng nghe chẳng ai hiểu anh nói những gì, nhưng cuối cùng Ron cũng hiểu được vụ án của anh hiện đi đến đâu và tương lai sẽ thế nào.
Mark Barrett giảng giải cho Ron hiểu rằng xét nghiệm DNA có thể giúp so sánh mẫu máu, lông, tóc, nước bọt của Ron với các mẫu cùng lấy được tại hiện trường vụ án, Và kết quả sự so sánh ấy sẽ nói lên sự thật. DNA không bao giờ nói dối.
Ron không tỏ ra do dự chút nào. Anh đã nóng lòng mong chờ kết quả của cuộc thử kia.
“Tôi vô tội”, Ron nhắc đi nhắc lại không biết mệt. “Và tôi không có gì phải giấu cả.”
Luật sư Mark Barrett và ủy viên công tố Bill Peterson thống nhất rằng Ron cần được kiểm tra về khả năng trí óc xem có đủ thẩm quyền trí óc để dự phiên tòa hay không. Hai bên cũng đồng ý với nhau về thử DNA. Bill Peterson rất coi trọng việc thử DNA vì ông ta tin rằng sau khi thử sẽ có đủ bằng chứng để kết tội Ron, khi ấy không ai còn có thể nghi ngờ gì nữa.
Tuy nhiên việc thử chưa tiến hành được ngay, vì ngân sách của Mark Barrett rất eo hẹp. Muốn thử, đầu tiên phải đưa 5.000 đô la, số tiền ông có thể chi cho gia đình trong vài tháng. Chưa kể về sau còn phải trả thêm ít nhiều nữa.
Trong khi ấy, Mark Barrett lo tiến hành phiên điều trần. Ông cùng với bộ tham mưu mỏng của ông tiến hành tổng kết diễn biến tình trạng sức khỏe tâm thần của Ron Williamson dựa trên tài liệu y tế và các kết quả khám nghiệm của Ron. Họ thuê một nhà tâm lý học để ông này đánh giá lại bản tổng kết và phỏng vấn Ron, đồng thời đến thị trấn Ada để xác nhận trước tòa.
Sau hai chuyến đến tòa Phúc thẩm Hình sự bang Oklahoma, một năm làm việc với văn phòng thẩm phán Seay và hai năm nằm ì tại tòa án Phúc thẩm Lưu động số Mười ở thành phố Denver, hai chuyến đến làm việc với tòa án Tối cao Hoa Kỳ tại thủ đô Washington và vô số những chuyến qua lại, vận động, thuyết phục nơi này nơi kia, cuối cùng Ron Williamson mới được giải về nhà tù bản quán.
Anh trở lại thị trấn Ada, tròn mười năm sau cái hôm bốn nhân viên cảnh sát vũ khí đầy người, mặt mũi đằng đằng sát khí bao vây anh, lúc ấy anh đang cởi trần, đi đôi dép rách, bên cạnh chiếc máy xén cỏ bốn bánh nhưng mất một chỉ còn ba, rồi họ còng tay anh đem bỏ tù về tội giết người.