***

Người Vô Tội

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 7 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương Tám

❊ ❊ ❊

Công văn giấy tờ được di chuyển qua lại. Cơ quan tư pháp sửa lại sự buộc tội và gạt bỏ tội cưỡng hiếp. Bên bào chữa phản đối sự buộc tội mới này. Cần tổ chức một phiên xét xử sơ thẩm khác nữa.

Chánh án tòa án quận là Ronald Jones, cư trú tại quận Pontotoc, một trong ba quận hợp thành Khu Tư pháp số hai mươi hai. Ông được bầu vào chức vụ này năm 1982 và không lấy gì làm lạ khi ông bênh phía công tố và khắt khe với phía bào chữa. Ông tin rằng tội tử hình là cần thiết. Ông là một tín đồ Thiên chúa giáo sùng tín, và rất coi trọng tác dụng cải tạo của nhà tù. Một số luật sư bào chữa khuyên thân chủ của họ nên viện đến Chúa Trời thì sẽ có tác dụng tốt đối với chánh án Jones.

Ngày 20 tháng Tám, Ron Williamson, vốn bị coi là không chịu hối cải, được giải đến trước chánh án Jones để chịu sự kết án. Đây là lần đầu tiên hai người giáp mặt nhau tại tòa. Chánh án Jones nói với Ron và hỏi anh muốn đề nghị điều gì. Thế là Ron thao thao nói:

“Tôi có một điều muốn nói, thưa ngài,” sau đấy anh cao giọng: “Tôi rất thương cảm gia đình nhà Carter vàhọ hàng, con cháu của họ.”

Chánh án Jones yêu cầu anh im lặng.

Nhưng Ron vẫn không ngừng, anh nói: “Thưa ngài, tôi biết ngài không muốn nghe. Tôi sẽ không nói nữa.”

Nhân viên bảo vệ túm lấy anh, bắt anh im. Việc tuyên án bị hoãn lại để chánh án Jones có thể đọc những biên bản của phiên xét xử sơ thẩm.

Hai tuần sau, Ron quay lại mang theo những đề nghị của các luật sư bào chữa cho anh. Đám quản giáo nhà tù rất biết cách khai thác tác dụng của thuốc Thorazine. Khi Ron nằm trong tù và họ cần được yên tĩnh, họ cho anh uống liều cao, thế là mọi người đều dễ chịu. Nhưng khi anh được lệnh đến phòng xét xử thì họ giảm bớt liều thuốc cho anh để anh có thể xuất hiện trước tòa với tinh thần mạnh mẽ. Nữ bác sĩ Norma Walker ở Phòng Y tế nghi đám quản giáo nhà tù bơm thuốc cho Ron Williamson quá nhiều, nên đã ghi ý kiến này của bà vào hồ sơ bệnh án của anh.

Cuộc tiếp kiến lần thứ hai với chánh án Jones cũng không tốt đẹp hơn. Ron nói huyên thuyên. Anh luôn miệng kêu mình vô tội, kêu mọi người bịa ra những chuyện không có đem gán vào cho anh. Có một chỗ anh nói: “Mẹ tôi khi còn sống biết rõ đêm hôm ấy tôi ngồi nhà, không đi đâu cả.”

Ron bị giải về nhà tù và phiên tòa sơ thẩm vẫn tiếp tục làm việc. Hai luật sư bào chữa Bamey Ward và Greg Saunders yêu cầu xét xử từng bị cáo riêng rẽ và cả hai rất kiên quyết trong yêu cầu này. Luật sư Greg Saunders tha thiết muốn có hội đồng xét xử riêng và không để bị cáo Ron Williamson làm vướng chân.

Chánh án Jones đồng ý và ra lệnh tổ chức xét xử riêng rẽ từng bị cáo. Ông còn đề cập đến khả năng tâm thần của Ron Williamson và nói với luật sư Bamey là vấn đề này cần được quyết định trước khi mở phiên tòa xét xử. Cuối cùng, Ron bị kết án, làm đơn khiếu nại là mình vô tội, rồi bị giải trở lại nhà tù.

Việc xét xử Dennis Fritz bây giờ được đưa sang một phiên tòa khác. Chánh án Jones ra lệnh tiến hành một phiên sơ thẩm mới vì trong phiên sơ thẩm trước, người ta đưa ra quá ít bằng chứng kết tội anh.

Nhà chức trách không có đủ nhân chứng.

Thông thường, khi bên công tố không có bằng chứng cốt lõi thì họ khiến bên cảnh sát hồ nghi. Nhưng đấy là tình trạng ở mọi nơi khác, chứ không phải ở thị trấn Ada. Tại đây không ai hồ nghi gì cả. Nhà tù quận Pontotoc đầy chật những nghi can. Để thêm chứng cớ kết tội Dennis Fritz, người ta tìm ra được một phụ nữ vô lại cỡ nhỏ tên là Cindy Mclntosh.

Dennis Fritz xoay xở để được nằm tại một xà lim gần xà lim của Ron Williamson, cốt để hai người có thể trò chuyện, bàn bạc. Mối bất hòa giữa họ đã chấm dứt khi Dennis Fritz nói anh không hề thú tội gì hết.

Cindy Mclntosh tuyên bố với quản giáo nhà tù là chị ta nằm gần chỗ hai nghi can kia, đủ để nghe lỏm những gì hai người trao đổi. Theo lời khai của Cindy Mclntosh thì Dennis Fritz và Ron Williamson trao đổi về mấy tấm ảnh được đưa ra làm chứng cứ trong phiên sơ thẩm thứ nhất. Lúc ấy Ron đã bị giải ra ngoài nên không nhìn thấy những tấm ảnh ấy. Ron hỏi có gì bên những tấm ảnh. Dennis đáp đấy là những tấm ảnh chụp hiện trường vụ án. Ron bèn hỏi thêm: “Cô ta (tức là Debbie Carter) nằm trên giường hay dưới đất?”

“Dưới đất”, Dennis Fritz đáp.

Chi tiết chị Cindy Mclntosh khai ra này được cơ quan cảnh sát coi là bằng chứng rõ ràng chứng tỏ Ron và Dennis đều có mặt tại căn hộ của Debbie Carter, đã cưỡng hiếp cô rồi giết cô.

Ủy viên công tố Bill Peterson chỉ chờ có thế và tất nhiên là ông ta tin ngay. Ngày 22 tháng Chín, ông ta gửi luôn một công văn xin bổ sung nữ tù nhân Cindy Mclntosh vào danh sách nhân chứng của bên nhà chức trách, tức là bên công tố.

Tên gian dối thứ ba kiếm được trong nhà tù là James Riggins, tuy nhiên “sự nghiệp” của gã sớm chết yểu. Gã được giam tại một xà lim gần xà lim của Ron Williamson. Gã báo cáo với quản giáo là gã nghe thấy ai, không biết có phải Ron Williamson không, nhận rằng y đã giết cô Debbie Carter, rằng y đã hai lần ra tòa ở thị trấn Tulsa về tội cưỡng hiếp. Y còn nói rằng hai lần trước y phạm tội mà vẫn thoát thì lần này y cũng sẽ thoát tội. James Riggins không biết Ron Williamson thổ lộ điều ấy với ai, nhưng trong thế giới can phạm và tù đầy này, điều ấy đâu có quan trọng gì?

Một tháng sau, James Riggins nghĩ lại. Trong một lần được cảnh sát thẩm vấn, gã khai gã đã nói không đúng về Ron Williamson, và kẻ nhận những tội trên kia chính ra là Glen Gore.

“Thú tội” là một hiện tượng lan rất nhanh ở thị trấn Ada. Ngày 23 tháng Chín, một thanh niên nghiện ma túy tên là Ricky Joe Simmons tự động đến cơ quan cảnh sát, thú nhận y đã giết Debbie Carter và xin được khai ti mỉ, được “thú tội” về chuyện này. Thanh tra Dennis Smith và thám tử Gary Rogers bố trí một máy ghi hình trước khi Ricky Joe Simmons bắt đầu kể. Ricky thừa nhận đã nghiện ma túy nhiều năm, thứ ma túy cậu ta thích nhất là một thứ nước nhà làm gọi là “crack”, hỗn hợp nhiều chất với nhau, trong ấy có cả axít battery. Ricky kể cuối cùng cậu ta cai được ma túy, tìm được đến với Chúa và đã đọc Kinh Phúc âm trong suốt một đêm vào năm 1982. Ricky nghĩ đấy là năm 1982 nhưng chưa dám chắc. Rồi do một nguyên nhân nào đấy, cậu ta đi lang thang trên các đường phố thị trấn Ada. Cậu ta tình cờ gặp một cô gái, tạm cho đấy là cô Debbie Carter, nhưng cậu ta không dám quả quyết. Cậu ta kể ra khá nhiều dị bản khác nhau về chuyện hai cô cậu đã làm những gì. Rất có thể Ricky đã cưỡng hiếp cô ta, mà cũng có thể là không phải, và cậu ta dùng tay bóp cổ cô ấy đến chết. Sau đấy cậu ta cầu nguyện rồi nôn mửa ra khắp căn hộ.

Có những tiếng nói từ đâu vẳng đến tai cậu, bảo cậu hãy làm thế nào. Các chi tiết rất mơ hồ, rồi đến một chỗ nào đấy, Ricky nói, “Chuyện ấy giống như một giấc mơ”.

Lạ một điều là sao lần này thanh tra Dennis Smith và thám tử Gary Rogers lại không quan tâm mấy đến cái “giấc mộng” của Ricky.

Khi được hỏi tại sao Ricky Joe Simmons lại chờ đến năm năm sau, bây giờ mới ra đầu thú? Thì cậu ta giải thích là những lời đàm tiếu lan truyền trong thị trấn đã khiến cậu ta nhớ lại một chuyện cậu ta đã làm cách đây năm năm, vào năm 1982, mà cũng có thể là năm 1981. Nhưng Ricky không nhớ đã vào căn hộ của cô Debbie Carter bằng cách nào, cũng không nhớ căn hộ ấy có mấy phòng, và cậu ta đã giết cô kia trong phòng nào. Thế rồi, đột nhiên Ricky lại nhớ ra cái lọ tương cà chua và việc cậu lấy nước tương ấy viết nguệch ngoạc lên tường, về sau Ricky lại kể là một người bạn đã kể lại chi tiết vụ ấy.

Ricky Joe Simmons vừa khóc vừa bảo câu chuyện cậu kể chính là sự thật, nhưng thanh tra Dennis Smith và thám tử Gary Rogers hiểu ngay đấy là do tác dụng của chất ma tuý “crack” kia. Hai ông lập tức bỏ qua lời thú tội ấy. Tuy “giấc mộng” của Ricky có rất nhiều chỗ vô lý giống như “giấc mộng” của Tommy Ward, nhưng hai viên sĩ quan cảnh sát lại không bị ấn tượng về nó. Cuối cùng, thanh tra Dennis Smith nói: “Theo tôi, anh không phải là người giết cô Debbie Carter.”

Nghe thấy thế, Ricky Joe Simmons rất băn khoăn. Cậu ta khăng khăng là chính cậu ta đã giết cô Debbie. Trong khi ấy, hai sĩ quan cảnh sát lại nhất định bảo cậu ta không giết.

Hai ông cảm ơn Ricky đã bỏ thời gian đến đây khai và mời cậu ta về.

***

Trong nhà tù quận Pontotoc có rất ít tin vui, nhưng đầu tháng Mười một, Ron Williamson nhận được một lá thư anh không ngờ. Một thẩm phán chuyên về luật hành chính thông báo với anh là anh được hưởng chế độ theo Luật An ninh xã hội.

Một năm trước đấy, chị Annette có nộp đơn thay cho em, khai rằng Ron Williamson đã không còn khả năng làm việc từ năm 1979 và xin cho Ron hưởng chế độ dành cho những người mất sức lao động. Thẩm phán Howard O’Bryan, sau khi nghiên cứu bệnh sử của Ron đã quyết định tiến hành một cuộc xét xử cho bị cáo được trình bày vào ngày 26 tháng Mười năm 1987. Ron được giải ra khỏi nhà tù.

Trong quyết định của mình, thẩm phán Howard O’Bryan ghi rõ: “Căn cứ vào bệnh sử của can phạm Ron Williamson, nhận thấy y có một quá khứ nghiện rượu, trạng thái trầm cảm kéo dài, được điều trị bằng Lithium, cộng thêm rối loạn hoạt động não, rối loạn nhân cách, rất có thể là tâm thần phân liệt và u sầu, ngại giao tiếp xã hội.. Thấy rõ thiếu thuốc, anh ta dễ trở nên hung hăng, hiếu chiến và tư duy hỗn loạn.”

Ông còn viết: “Anh ta có những thời gian rối loạn nhận thức về thời gian, rối loạn về khả năng chú ý, có khuynh hướng thấy ảo ảnh và kém về tư duy trừu tượng.”

Thẩm phán Howard O’Bryan yêu cầu miễn cho Ron Williamson mọi hình thức lao động, đồng thời được hưởng chế độ thuốc men và bồi dưỡng đặc biệt. Tuy thuộc vụ trọng án, nhưng đây là vấn đề giữa cái sống và cái chết. Mặt khác, hai chánh án Miller và Jones, có bổn phận đảm bảo cho các tội phạm, nhất là những ai mắc chứng bệnh gần với cái chết, được hưởng một sự xét xử có chiếu cố. Điều đáng buồn là thẩm phán Howard O’Bryan thấy được những khó khăn trầm trọng của bị can Ron Williamson, trong khi hai chánh án Miller và Jones lại không nhìn thấy.

Luật sư già Barney Ward rất quan tâm đến việc Ron Williamson được đánh giá chính xác. Ông bố trí cho anh đi kiểm tra sức khỏe tại Phòng Y tế quận Pontotoc. Chủ nhiệm phòng khám, nữ bác sĩ Claudette Ray thực hiện một loạt tét tâm lý rồi viết một bản kết luận gửi đến cho luật sư Barney. Bản kết luận như sau: “Bệnh nhân Ron Williamson đau khổ và chịu stress nặng. Anh ta tuyệt vọng, không tin là hoàn cảnh của mình có thể khá hơn. Có thể anh ta xử sự nhiều khi không đúng, không khôn ngoan, thí dụ không chịu dự nghe phiên xét xử sơ thẩm, chỉ vì anh ta bối rối và không biết mình nên suy nghĩ và xử sự thế nào. Hầu hết mọi con người đều yêu cầu được nghe thông tin và dư luận để biết triển vọng của mình sau này, nhất là triển vọng ấy liên quan đến cái chết.”

Bản kết luận của bệnh viện được đưa vào hồ sơ của luật sư Barney và nằm yên trong ấy. Yêu cầu tiến hành một phiên xét xử chỉ để nghe bị can là điều cần thiết và luật sư Barney đã nắm vững được vấn đề từ trước. Thân chủ của ông hiện nằm trong nhà tù, cách phòng xử án chưa đầy một trăm bước chân, nơi ông Barney đến hàng ngày.

Vụ án cần đến một người có khả năng đề xuất vấn đề khả năng tâm thần của bị cáo.

***

Trong vụ xét xử Dennis Fritz bên công tố có được một bước tiến khổng lồ khi nghe lời chứng của một thanh niên da đen, chỉ mới thoát nạn mù chữ, tên là James C. Harjo. Năm nay y hai mươi hai tuổi, nhưng đã nằm tù về tội trộm cắp. Y bị bắt lúc y đột nhập lần thứ hai vào vẫn một ngôi nhà ấy để ăn trộm. Trong tháng Chín và tháng Mười, trong khi chờ chuyển đến nhà tù khác, y có được một bạn tù mới, cùng giam trong một xà lim với y. Đấy là Dennis Fritz.

Hai người trở thành bạn. Dennis Fritz rất thông cảm với James C. Harjo và anh viết hộ y rất nhiều lá thư, chủ yếu gửi cho vợ y. James C. Harjo cũng biết chính xác cảnh sát có kế hoạch ra sao. Ngày nào cũng một lần người ta kiếm một cớ nào đấy gọi James C. Harjo ra ngoài một lát, và mỗi lần về xà lim như thế, y lại vặn hỏi Dennis Fritz về vụ giết cô Debbie Carter. Nhà tù đầy rẫy những kẻ nham hiểm, nhưng James C. Harjo là đứa kinh khủng nhất.

Kế hoạch của cảnh sát lộ liễu đến mức Dennis Fritz chuẩn bị sẵn một bản trình bày và mỗi khi cảnh sát gọi James C. Harjo ra ngoài, Dennis Fritz đều bắt y ký vào một tờ giấy có ghi: “Dennis Fritz luôn nói rằng anh ta vô tội”.

Rồi Dennis Fritz cũng thoái thác không nói chuyện về vụ án với James C. Harjo.

Cách làm như thế không cản được chân y. Ngày 19 tháng Mười một, ủy viên công tố Bill Peterson đưa họ tên James C. Harjo vào danh sách các nhân chứng của bên luận tội. Cũng đúng ngày hôm ấy, phiên tòa sơ thẩm vụ Dennis Fritz được tiến hành dưới sự chủ tọa của chánh án Miller.

Khi ủy viên công tố Bill Peterson báo rằng nhân chứng tiếp theo của ông là James C. Harjo, Dennis Fritz đã hết hồn. Thằng cha ngu dốt này sẽ làm những trò gì đây?

Sau khi tuyên thệ nói sự thật, James C. Harjo khai đúng như ủy viên công tố Bill Peterson đang nóng lòng chờ, là y bị giam trong cùng một xà lim với Dennis Fritz và hai người thân thiết nói với nhau mọi chuyện. Tối hôm lễ Halloween, câu chuyện chuyển sang đề tài khác. James C. Harjo ngỏ ý muốn Dennis Fritz kể chi tiết về vụ anh ta cưỡng hiếp và giết cô Debbie Carter. Dennis Fritz không muốn kể, nhưng qua những lời anh ta nói, James C. Harjo có thể dựng lại câu chuyện. Và y tin rằng đúng Dennis Fritz là hung thủ đã giết cô Debbie Carter. Theo James C. Harjo kể thì khi nghe thấy y nói như thế, Dennis Fritz rất uất ức. Anh đi đi lại lại, như thể lồng lộn trong xà lim. Cuối cùng, khi cơn giận dữ đã dịu xuống, Dennis Fritz òa khóc, nói với y (vẫn là lời James C. Harjo): “Hai đứa chúng mình có định làm cô ấy chết đâu. Ai ngờ kết quả lại thành như thế.”...

Ngồi trong phòng xét xử, Dennis Fritz không chịu nổi. Anh quát lên: “Mày nói dối! Mày bịa ra mọi thứ ấy! Đồ ăn gian nói dối!”

Chánh án Miller phải yêu cầu Dennis Fritz bình tĩnh lại.

James C. Harjo và ủy viên công tố Bill Peterson vẫn cố kể ra những chuyện bịa đặt của họ. James C. Harjo còn kể rằng Dennis Fritz rất thương cho đứa con gái nhỏ của anh ta. Anh ta nói với James C. Harjo: “Tội nghiệp! Đứa con gái nhỏ của tao sẽ đau khổ đến đâu khi biết bố nó là một kẻ giết người.” James C. Harjo còn trắng trợn bịa ra những chuyện không ai có chút hiểu biết mà có thể tin nổi. Để làm cho lời khai có vẻ thật, y thêm vào những chi tiết sinh hoạt, như Dennis Fritz thổ lộ với y là lúc đến nhà cô Debbie Carter, Ron Williamson và anh ta đã chuẩn bị sẵn mấy chai bia. Khi đã cưỡng hiếp và giết cô ta xong, hai người ném mấy chai bia rỗng đi, chùi hết những dấu vết, các chỗ có thể để lại dấu vân tay, rồi mới ra về.

Khi đối chất, luật sư Greg Saunders yêu cầu James C. Harjo giải thích là tại sao bảo Dennis Fritz và Ron Williamson chùi hết các dấu vân tay nhưng trên thực tế, vẫn để lại hàng chục dấu vân tay của những người khác? James C. Harjo không trả lời được. Y công nhận là khi Dennis Fritz thú tội trong đêm Halloween, có ít nhất sáu tù nhân ở gần đấy nghe thấy, nhưng trên thực tế, không ai nói có nghe thấy cả. Luật sư Greg Saunders sao bản tuyên bố do Dennis Fritz thảo ra và được James C. Harjo ký công nhận.

Sau cuộc đối chất với luật sư Greg Saunders, James CHarjo nổi cáu. Nhưng điều ấy không quan trọng gì. Chánh án Miller không còn sự lựa chọn nào khác là trói Dennis Fritz lại trong lúc cho anh dự phiên xét xử sơ thẩm. Theo luật bang Oklahoma thì trong phiên xét xử sơ thẩm, chánh án không được phép đánh giá lời khai của từng nhân chứng có đáng tin hay không.

***

Phiên xét xử chính thức đã định ngày, nhưng lại phải hoãn. Mùa đông năm 1987 sang 1988, Ron Williamson và Dennis Fritz phải ngồi trong tù, mong chóng đến ngày được ra hầu tòa. Sau nhiều tháng ngồi sau chấn song sắt, hai người vẫn tin rằng công lý sẽ thắng và sự thật sẽ được khẳng định.

Trong không khí đấu tranh giằng co trước khi phiên tòa chính thức bắt đầu, thắng lợi duy nhất của bên bị là quyết định của thẩm phán Jones, cho hai người được xử riêng rẽ. Mặc dù thế, ủy viên công tố Bill Peterson vẫn cố đấu tranh để hai bị can ấy được xử chung trong cùng một phiên tòa, ông ta thấy sẽ rất có lợi cho ông ta nếu xử xong người này mới xử đến người kia. Nếu được như thế, ông ta sẽ xin xử Dennis Fritz trước, và để mặc cho báo chí đưa tin chi tiết, gây náo động trong khắp thị trấn Ada và cả các thị trấn và làng mạc xung quanh.

Kể từ ngày xảy ra vụ án mạng cho đến nay, cảnh sát vẫn kiên quyết giữ nhận định cho rằng hung thủ không phải một người mà là hai. Và “cặp” hung thủ ấy (cũng là “cặp” duy nhất) chính là Ron Williamson và Dennis Fritz. Từ ngày ấy, trong mọi bước, từ nghi hoặc, điều tra, buộc tội, bắt giam, luận tội, xét xử sơ thẩm, hai người này bị dính vào với nhau. Ảnh của họ đăng trên báo được đặt cạnh nhau. Các dòng đầu đề báo đều viết: “Ron Williamson và Dennis Fritz...”

Nếu như ủy viên công tố Bill Peterson đạt được yêu cầu xử chung hai người vào một phiên tòa thì người đầu tiên bị đưa ra xét xử sẽ là Dennis Fritz. Khi ấy, các bồi thẩm của vụ Ron Wiỉliamson sẽ chỉ ngồi dự và nghe.

Tại thị trấn Ada, khái niệm về nghiêm túc có nghĩa là xét xử Dennis Fritz trước, sau đấy xét xử tiếp đến Ron Williamson, trong cùng một phòng xử án, cùng một chủ tọa phiên tòa, vẫn những bồi thẩm ấy, những nhân chứng ấy, và vẫn bài phóng sự ấy đăng trên báo.

Ngày 1 tháng Tư, ba tuần lễ trước khi phiên tòa bắt đầu, và xét xử Dennis Fritz trước, hội đồng cố vấn pháp lý của anh do tòa chỉ định, luật sư Baber nộp đơn xin rút khỏi vụ án. Ông ta tìm được một chân ủy viên công tố tại một quận khác.

Chánh án Jones chấp nhận yêu cầu và Baber rời đi. Luật sư Barney đành làm việc một mình, không có ai cộng tác. Có nghĩa không có ai đọc giúp ông các tài liệu, văn bản đủ loại, những thứ mang tính chất chống lại thân chủ của ông.

***

Ngày 6 tháng Tư, năm năm rưỡi sau khi xảy ra vụ án cô Debbie Carter, Dennis Fritz bị giải đến hội trường xét xử. Phòng xử án tiến hành trên tầng hai của tòa nhà cơ quan của tòa án quận Pontotoc đóng.

Dennis Fritz mới được cắt tóc, cạo râu, mặc vào người bộ complê duy nhất, bộ do mẹ anh, bà Wanda Fritz mua để con trai dùng trong thời gian xét xử. Bà ngồi hàng ghế đầu tiên, vị trí gần con trai bà nhất. Bên cạnh bà là chị gái anh, Wilma Foss. Hai người không bỏ sót một lời nào trong phiên tòa.

Khi được cảnh sát tháo còng ra khỏi tay, Dennis Fritz nhìn xuống dưới và không biết trong số trên dưới một trăm người có khả năng làm bồi thẩm, chỉ được chọn ra mười hai, thì là những ai? Ai sẽ là những người xét xử anh?

Dennis Fritz chờ khá lâu. Sau khi chịu đựng mười một tháng tám giam trong nhà tù chật chội, ngột ngạt, bây giờ anh đã được ra tòa. Anh có một luật sư bào chữa giỏi. Anh hy vọng chánh án sẽ bảo đảm cho việc xét xử được công minh. Mười hai bồi thẩm sẽ cân nhắc các chứng cứ và sẽ thấy ngay rằng anh vô tội.

Thời điểm bắt đầu là thời điểm giải tỏa nhưng cũng là thời điểm đáng sợ. Đây dù sao cũng là quận Pontotoc và dân chứng ở đây rất có thể sẽ kết tội một người vô tội. Một thời gian ngắn anh đã ngồi cùng xà lim với Karl Fontenot, một con người đơn giản và ngây thơ, vậy mà bây giờ đã đang ngồi trong phòng tử tù để đợi ngày người ta tiêm cho một mũi kết liễu cuộc đời. Và bây giờ thì anh ta không còn một chút hy vọng gì gỡ lại được nữa.

Chánh án Jones đi vào. Toàn thể các bồi thẩm đứng dậy chào đón. Khởi đầu là phần khai mạc, tiếp đến phần thông qua danh sách hội đồng xét xử. Thủ tục diễn ra chậm chạp và tỉ mẩn. Thời gian kéo dài khiến những người già yếu, tai điếc đều lần lượt bỏ về.

Bắt đầu phần trả lời các câu hỏi. Một số câu hỏi do các luật sư bào chữa đưa ra, nhưng hầu hết là do chánh án Jones. Luật sư bào chữa Greg Saunders và ủy viên công tố Bill Peterson tranh nhau từng bồi thẩm. Ai họ giữ còn ai họ gạt đi.

Đến một thời điểm trong diễn tiến kéo dài lê thê, chánh án Jones đưa ra câu hỏi sau đây cho một ứng viên bồi thẩm, tên là Cecil Smith: “Nghề nghiệp của ông trước đây là gì?”

Cecil Smith đáp: “Ủy ban Liên kết bang Oklahoma”.

Không có câu hỏi nào tiếp theo, của chánh án hay của các luật sư. Điều Cecil Smith bỏ đi trong câu trả lời chính là việc ông đã nhiều năm làm việc trong ngành tư pháp.

Lát sau, chánh án Jones hỏi Cecil Smith, có biết thanh tra Dennis Smith không, hoặc có phải họ hàng với ông thanh tra ấy không?

Cecil Smith đáp: “Không có họ hàng.”

Chánh án Jones: “Thế ông quen ông ấy thế nào?”

Cecil Smith đáp: “Tôi chỉ là quen ông ấy thôi, và cũng hay gặp nhau trò chuyện. Thỉnh thoảng có cộng tác với nhau trong vài công việc.”

Mấy tiếng đồng hồ sau, đã bầu xong hội đồng xét xử. Các thành viên tuyên thệ để nhận trách nhiệm. Trong số này, bồi thẩm khiến Dennis Fritz ngại nhất là Cecil Smith. Ngồi xuống xong, ông ta nhìn anh bằng ánh mắt nghiệt ngã.

Hôm sau công việc xét xử mới thực sự bắt đầu. Bà Nancy Shew, trợ lý tư pháp quận, trích ra những chứng cứ sẽ đưa ra cho hội đồng xét xử. Luật sư Greg Saunders phản bác lại, nói trong bài phát biểu khai mạc của ông rằng vụ án này có rất ít chứng cứ.

Nhân chứng đầu tiên là Glen Gore, mới được giải từ nhà tù đến. Chịu sự chỉ đạo trực tiếp của ủy viên công tố Bill Peterson, y đưa ra một bằng chứng khá quái đản. Glen Gore nói y không nhìn thấy Dennis Fritz đi với cô Debbie Carter trong đêm xảy ra vụ án mạng.

Hầu hết các ủy viên công tố, đều thích dùng cách là tung nhân chứng giá trị nhất ra đầu tiên. Nhân chứng này phải chứng minh được rằng hung thủ và nạn nhân gần nhau và gặp nhau trong cùng một thời điểm, hoặc hai thời điểm so với vụ án, nhưng không cách xa nhau nhiều. Glen Gore khai rằng y có nhìn thấy Dennis Fritz tại câu lạc bộ Coachlight nhưng đấy là trước kia, y không còn nhớ là bao giờ. Mà cũng có thể là y hoàn toàn không nhìn thấy anh ta ở câu lạc bộ Coachlight chưa biết chừng.

Chiến thuật của nhà chức trách, tức là của ủy viên công tố, đã lộ ra ngay từ nhân chứng đầu tiên. Glen Gore nói đến Ron Williamson nhiều hơn đến Dennis Fritz. Thế là ủy viên công tố Bill Peterson hỏi y về Ron. Thủ đoạn nêu tội thông qua liên tưởng đã được áp dụng và phát huy hết tầm cỡ.

Trước khi luật sư bào chữa Greg Saunders có được quyền nói và bác bỏ nhận xét của Glen Gore, thì ủy viên công tố Bill Peterson đoán trước được và đã đi trước một bước, bằng cách phủ nhận nhân chứng đầu tiên này của ông ta. Peterson hỏi Glen Gore về thành tích phạm pháp của y. Thì ra y có rất nhiều lần ra tòa về đủ các tội, tấn công có vũ khí, bắt cóc, bắn vào một sĩ quan cảnh sát...

Không phải chỉ nhân chứng đầu tiên của nhà chức trách bị mất tác dụng trong việc buộc tội cho Dennis Fritz, mà y còn lộ ra là một tội phạm đang nằm tù với bản án bốn mươi năm tù giam.

Khởi đầu một cách ít hiệu quả như vậy, ủy viên công tố Bill Peterson mời đến nhân chứng tiếp theo, cũng là người không biết gì hết. Tên anh ta là Tommy Glover. Anh ta thuật lại hoàn cảnh anh ta nhìn thấy cô Debbie Carter đang nói chuyện với Glen Gore trước khi cô ta rời câu lạc bộ Coachlight về nhà. Sau một khoảnh khắc đứng trên bục nhân chứng, Tommy Glover lui xuống, chưa hề nhắc gì đến Dennis Fritz.

Nhân chứng thứ ba của nhà chức trách là Gina Vietta. Cô ta khai về những cuộc nói chuyện điện thoại kỳ quái của Debbie Carter lúc mờ sáng ngày 8 tháng Mười hai. Cô cũng xác nhận cô đã nhìn thấy Dennis Fritz tại câu lạc bộ Coachlight trong nhiều dịp, nhưng đêm hôm xảy ra vụ án mạng thì cô không nhìn thấy anh ta.

Nhân chứng tiếp theo là bố nạn nhân, ông Charlie Carter, kể về câu chuyện đau lòng lúc ông đến và nhìn thấy con gái đã chết.

Sau đấy thanh tra Dennis Smith được mời lên. Ông ta thuật lại một cách dài dòng quá trình nghiên cứu hiện trường vụ án, đồng thời đưa ra một loạt ảnh chụp để minh họa cho lời kể. Tiếp đấy, ông thuật lại quá trình điều tra, việc thu thập các mẫu nước bọt, các mẫu lông tóc, các mẫu máu, vân vân và vân vân.

Câu hỏi đầu tiên là của nữ trợ lý tư pháp quận Nancy Shew, về những ai là nghi can, và một điều đáng ngạc nhiên là bà ta không hề nhắc đến Dennis Fritz.

Bà ta hỏi: “Trong quá trình điều tra, ông đã thẩm vấn một người tên là Ron Williamson chưa?”

“Có, tôi đã thẩm vấn ông ta.” Thanh tra Dennis Smith đáp, rồi lại tiếp tục trình bày dài dòng văn tự về quá trình cảnh sát điều tra về Ron Williamson, rồi giải thích căn cứ vào đâu mà cảnh sát xếp anh ta vào diện tình nghi. Cuối cùng nữ trợ lý tư pháp quận Nancy Shew mới sực nhớ hôm nay xét xử ai, bèn hỏi về mẫu nước bọt của Dennis Fritz.

Thanh tra Dennis Smith miêu tả quá trình ông ta thu thập các mẫu nước bọt, rồi nộp lên phòng thí nghiệm của Cục Điều tra Hình sự bang Oklahoma để phân tích.

Nữ trợ lý tư pháp của quận, Nancy Shew hỏi và nghe trả lời xong, bèn mời nhân chứng lên đối chất. Khi bà ta ngồi xuống, nhà chức trách vẫn chưa đưa ra căn cứ vào đâu mà xếp Dennis Fritz vào diện tình nghi. Anh ta không có chút liên quan nào đến vụ án mạng hoặc với nạn nhân. Không ai thấy anh có mặt ở gần chỗ của nạn nhân vào thời điểm xảy ra vụ án mạng. Tuy vậy thanh tra Dennis Smith vẫn xác nhận Dennis Fritz sống “gần” căn hộ của Debbie Carter. Và cũng không thấy ông ta nói gì về động cơ gây án.

Cuối cùng thì người ta thấy được tại sao Dennis Fritz lại bị gắn vào với vụ án. Nguyên nhân được thể hiện trong lời trình bày của thám tử Gary Rogers. Lúc này ông ngồi ghế nhân chứng, và là nhân chứng tiếp theo. Ông ta nói: “Qua điều tra về Ron Williamson, chúng tôi thấy hiện lên tên của một tội phạm nữa, đấy là Dennis Fritz, bạn và đồng lõa của Ron Williamson.”

Thám tử Gary Rogers giảng giải với hội đồng xét xử, ông ta và thanh tra Dennis Smith đã trao đổi với nhau rất kỹ, và cuối cùng thấy vụ án mạng này phải được tiến hành do hai tên. Một tên không thể làm được tất cả những thứ mạnh mẽ và vất vả kia, những tội ác xảy ra trong căn hộ của nạn nhân Debbie Carter. Rồi câu viết bằng chất tương cà chua: “Đừng có điều tra chúng tao...” Chúng tao có nghĩa không phải một người mà ít nhất là hai. Vậy là thanh tra Dennis Smith và thám tử Gary Rogers đã nhận định chính xác.

Về sau, do cách làm việc khôn khéo của cảnh sát, hai thám tử lại phát hiện thêm rằng hai người ấy là bạn của nhau từ đã lâu. Và theo lý thuyết thì bạn thân hay cộng tác với nhau, nhất là trong những hành động ám muội.

Luật sự Greg Saunders đã khuyên Dennis Fritz là đừng quan tâm đến hội đồng xét xử, hãy quên họ đi. Anh biết là nên thế nhưng không thực hiện được. Mười hai người kia đang nắm vận mệnh của anh, nẳm tính mạng của anh nữa. Anh không sao nhìn được và thỉnh thoảng lại ngước mắt lên, lén nhìn họ. Bồi thẩm Cecil Smith ngồi ngay trên hàng ghế đầu của bồi thẩm đoàn, và mỗi khi Dennis Fritz nhìn lên hội đồng xét xử, anh đều thấy Cecil ngoái đầu nhìn lại anh.

Ông ta có chuyện gì nhỉ? Dennis Fritz thầm nghĩ. Nhưng rồi anh tìm ra được ngay.

Trong một lần giải lao, khi luật sư Greg Saunders bước vào phòng xử án thì một luật sư già, một trong những tay kỳ cựu của thị trấn Ada, hỏi ông: “Thằng cha Cecil Smith chó chết kia định chơi ai trong chúng ta đấy?”

Luật sư Greg Saunders đáp: “Có lẽ là tôi. Mà hắn là ai thế, cái lão Cecil Smith chó chết ấy?”

“Hắn đã từng là cảnh sát trưởng thị trấn Ada một thời gian dài đấy.”

Luật sư Greg Saunders sửng sốt. Ông bước vào phòng giấy của chánh án Jones và đề nghị hủy bỏ phiên tòa này vì một bồi thẩm không chịu khai thân thế trong cuộc bầu chọn bồi thẩm đoàn và vị bồi thẩm ấy rõ ràng đứng về phía cảnh sát và công tổ.

Đề nghị bị bác bỏ.

***

Bác sĩ Fred Jordan chứng thực về kết quả mổ tử thi của nạn nhân và nghe ông ta nói, cả bồi thẩm đoàn đều ghê người. Ông đưa ra cho mọi người xem những tấm ảnh chụp tại hiện trường, gợi lên những tiếng chặc lưỡi kinh hoàng. Một số liếc nhìn Dennis Fritz bằng cặp mắt ghê tởm.

Những điều bác sĩ Fred Jordan trình bày vẫn còn đọng lại, chưa tan trong tâm trí mọi người, thì bên công tố quyết định tung ra một số nhân chứng, ít thôi, nhưng hiệu quả ghê gớm. Một người tên là Gary Allen tuyên thệ nói sự thật rồi đứng lên bục. Lời chứng của y hết sức tinh vi. Allen kể rằng nhà y ở gần nhà Dennis Fritz. Một đêm vào đầu tháng Mười hai 1982, khoảng 3h30 sáng, y nghe thấy có hai người nói gì ầm ĩ bên ngoài căn hộ của y. Y không nhớ đích xác ngày nào, chỉ biết là trước ngày 10 tháng Mười hai. Hai người này y không nhìn rõ hẳn để có thể nói là ai, đang cười hô hố, văng tục rồi phun nước vào nhau bằng cái vòi dùng để tưới cây cối. Lúc ấy thời tiết rất lạnh, vậy mà cả hai đều cởi trần. Trong hai người ấy, Allen nhận ra một là Dennis Fritz gần đây y đã biết thông qua giọng nói của anh ta. Nhưng y cũng chưa dám chắc lắm. Y lắng nghe tiếng ồn ào một lúc, khoảng mười phút, rồi quay vào, lên giường ngủ.

Khi Gary Allen rời khỏi vị trí nhân chứng, có những cặp mắt nhìn xuống phòng cử tọa. Nghĩa là sao? Nhân chứng vừa rồi kể ra như thế là định ám chỉ cái gì?

Vấn đề đâm càng rối rắm hơn khi hội đồng xét xử nghe nhân chứng tiếp theo, Tony Vick.

Tony Vick sống trong một căn hộ chật chội bên dưới căn hộ của Gary Allen, và cũng biết Dennis Fritz. Y biết cả Ron Williamson. Tony Vick khai rằng y nhìn thấy Ron đứng bên cổng nhà Dennis Fritz, và y biết hai người là bạn thân, đã cùng đi với nhau một chuyến đến Texas mùa hè năm 1982.

Bồi thẩm đoàn còn hỏi gì được nữa không?

Chứng cứ buộc tội đầy thêm lên với lời chứng của Donna Walker, một phụ nữ làm công tại một nhà hàng tùy chọn. Chị ta đã nhận ra Dennis Fritz trong phòng xét xử và khai rằng chị ta từng biết rất rõ anh ta. Đấy là vào năm 1982, Dennis Fritz là khách hàng thường xuyên của cửa hàng chị ta, một khách uống cà phê đều đặn và rất thích tán chuyện gẫu với chị vào lúc sáng sớm. Ron Williamson cũng là một khách hàng và Donna Walker biết một điều rõ ràng: hai người là bạn cánh hẩu của nhau. Thế rồi đột nhiên, sau ngày xảy ra vụ án mạng, hai ông khách này thôi không uống cà phê ở nhà hàng của chị ta nữa. Cả hai bỗng mất tăm. Thế rồi, sau khi xa nhau một thời gian chừng vài tuần, họ lại dính với nhau, như thể không có chuyện gì xảy ra vậy. Vậy là họ đã thay đổi! Thay đổi như thế nào?

“Họ thay đổi cả tính nết lẫn áo quần. Trước kia cả hai đều ăn mặc lịch sự, râu tóc bao giờ cũng cạo nhẵn nhụi, vậy mà bây giờ họ ăn mặc lôi thôi lếch thếch, bẩn thỉu, râu ria thì lởm chởm, không cạo. Cả tính nết họ cũng không còn như xưa. Bây giờ họ nóng nảy, cau có, hình như thế.”

Khi bị luật sư Greg Saunders dồn, Donna Walker bí, không sao giải thích được tại sao chị ta đợi đến năm năm mới thổ lộ bằng chứng quan trọng này ra với nhà chức trách? Chị ta thừa nhận là cảnh sát mới bắt liên lạc với chị tháng Tám vừa qua, sau khi Dennis Fritz và Ron Williamson bị bắt.

Cuộc diễu hành của bên công tố tiếp tục với nhân chứng Letha Caldwell, một phụ nữ đã ly hôn, trước kia đã từng theo học trường trung học cùng với Ron Williamson ở Byng. Chị ta kể với hội đồng xét xử rằng Dennis Fritz và Ron Williamson là khách thường xuyên của chị, rất hay đến nhà chị chơi và thường đến vào buổi tối, lúc đã muộn, vào những giờ rất khác nhau và lần nào đến, cả hai cũng say túy lúy. Đến một độ, chị ta thấy sợ hai ông khách và bảo cả hai hãy tránh xa chị ra. Khi hai người từ chối, Letha Caldwell bèn mua mộtkhẩu súng, chĩa vào họ. Đến lúc ấy, họ mới cho rằng chị ta nói thật.

Lời chứng của Letha Caldwell không có gì liên quan đến vụ án mạng cô Debbie Carter, và trong nhiều phòng xử án, những lời chứng kiểu như thế thường bị bác bỏ, coi như không liên quan gì đến những vấn đề tòa cần quan tâm.

Sự phản đối cuối cùng đã đến khi thám tử Rusty Featherstone, người của Cục Điều tra Hình sự bang Oklahoma, lên bục nói lời chứng. Chẳng là ủy viên công tố Bill Peterson, muốn chứng minh hai người, Dennis Fritz và Ron Williamson, là bạn thân của nhau, đã từng cùng nhau lang thang ở thành phố Norman từ bốn tháng trời trước khi xảy ra vụ án mạng, nên đã đưa Featherstone lên bục nhân chứng. Người nhân viên Cục Điều tra Hình sự bang Oklahoma này đã tiến hành thẩm vấn Dennis Fritz hai lần, có máy kiểm tra nói dối vào năm 1983, nhưng vì nhiều nguyên do, kết quả không được tốt về mặt kỹ thuật máy móc và không được cấp trên chấp nhận. Trong hai cuộc thẩm vấn ấy, Dennis Fritz đã thuật lại một đêm ở thành phố Norman, đôi bạn thân la cà hết quán rượu này đến nhà hàng khác. Khi ủy viên công tố Bill Peterson định rút ra điều gì từ câu chuyện của Featherstone thì luật sư Greg Saunders phản đối rất mạnh. Chánh án Jones ủng hộ ý kiến của ông luật sư, với lý do là câu chuyện kể kia không thích hợp trong phiên toà này.

Trong lúc tranh cãi ngọài hành lang, ủy viên công tố Bill Peterson nói: “Ông ta (tức là Featherstone) đặt hai người, Ron Williamson và Dennis Fritz bên cạnh nhau là vào tháng Tám năm 1982.”

Chánh án Jones bèn vặn lại: “Cho tôi biết cái gì bảo đảm cho tính xác thực của lời chứng kia!”

Ủy viên công tố Bill Peterson tắc, không trả lời được. Thế là Featherstone vội vã rời khỏi bục nhân chứng, ra khỏi phòng xử án. Còn thêm một nhân chứng nữa không biết gì về vụ án mạng cô Debbie Carter.

Nhân chứng tiếp theo cũng vô tích sự như thế, mặc dù lời chứng của anh ta khá lý thú. William Martin là hiệu trưởng trường trung học ở thành phố Noble, nơi Dennis Fritz làm giáo viên dạy môn hóa học, năm 1982. Anh ta chứng thực rằng sáng ngày 8 tháng Mười hai, một ngày Thứ tư, Dennis Fritz đã gọi điện báo ốm và để cho một giáo viên khác dạy thay. Theo sổ theo dõi giờ dạy ở trường Martin đem đến, thì trong niên học ấy, Dennis Fritz đã nghỉ tất cả bảy ngày.

Sau mười hai nhân chứng, vẫn chưa có gì khẳng định Dennis Fritz có tội. Bên công tố đã cho thấy rõ ràng những vi phạm vụn vặt của anh, như say rượu, giao du với những người hư hỏng (thí dụ Ron Williamson), sống với mẹ và chị tại một căn hộ gần cô Debbie Carter và nghỉ dạy học sau hôm xảy ra án mạng. Nhưng đến nay vẫn chưa ai đưa ra được bằng chứng nào chứng tỏ anh có liên quan đến vụ án cô Debbie Carter.

Ủy viên công tố Peterson là người làm việc rất có kế hoạch. Ông ta tin rằng cách làm như thế sẽ dần dần dựng lên được một vụ phạm tội. Cứ xây dần, từng viên gạch một. Hết nhân chứng này đến nhân chứng khác, dần dần sẽ hình thành một tội ác. Và dần dần mọi hồ nghi của người nghe, cụ thể ở đây là các bồi thẩm, thành viên hội đồng xét xử, sẽ tan biến hết lúc nào không biết. Nhưng trường hợp của Dennis Fritz lại quá hóc búa. Ông ta không tìm ra được một bằng chứng nào thật sự giá trị.

Cần có những điều bịa đặt, những kẻ mạnh dạn bịa đặt.

Tên đầu tiên trong số nhân chứng loại này là James C. Harjo, giống như Glen Gore, cũng được lấy ra từ trong nhà tù. Đần độn và gian xảo, James C. Harjo không chỉ vào ăn trộm cùng một nhà ấy hai lần mà còn sử dụng trong cả hai lần cách thức giống nhau, tức là cũng vẫn chui vào cái cửa sổ ấy vào căn phòng. Khi bị bắt, y đã bị cảnh sát thẩm vấn. Đưa y một tờ giấy và một cây bút, hai thứ hoàn toàn xa lạ với tên lưu manh ngu đần này, cảnh sát đã mớm y vẽ ra một sơ đồ và bịa ra một câu chuyện để giải quyết vụ án mạng. Tất nhiên câu chuyện cảnh sát gợi ý đã gây ấn tượng mạnh cho James C. Harjo. Thế là khi vào trong nhà tù, nằm gần Dennis Fritz, hắn đã nghe theo lời cảnh sát, vẽ nguệch ngoạc một bản sơ đồ lên tờ giấy.

James C. Harjo miêu tả mưu mẹo ấy cho hội đồng xét xử nghe. Trong tù y đã khôn khéo moi Dennis Fritz kể về vụ án mạng. Y kể là đến một chỗ nào đấy, khi Dennis Fritz đã bị cuốn theo và câu chuyện anh ta kể ra đã đến đỉnh điểm, James C. Harjo bảo anh: “Cậu biết rõ thế, hẳn cậu chính là tên hung thủ kia.” Theo lời chứng của y thì nghe bạn tù nói câu ấy, Dennis Fritz bị lương tâm cắn rứt, đã nức nở khóc, mếu máo nói: “Hai đứa chúng mình lúc đầu có định sẽ giết cô ta đâu. Nhưng rồi về sau tình hình không thể không giết đựợc.”

Hôm lần đầu tiên James C. Harjo khai ra câu chuyện này, bấy giờ là ngày đầu tiên của phiên sơ thẩm, Dennis Fritz đã uất quá quát lên: “Anh nói dối! Anh dựng đứng lên một câu chuyện không có thật!” Nhưng lần này, không khí phiên tòa quá nghiêm túc, và trật tự được coi sóc nghiêm ngặt, Dennis Fritz không dám phản ứng mạnh như thế. Tuy nhiên anh cũng cảm thấy được giải tỏa phần nào khi nhìn thấy các bồi thẩm cố nhịn cười khi nghe câu chuyện ngu dốt của gã James C. Harjo.

Lúc đối chất, luật sư Greg Saunders đưa ra chi tiết là nhân chứng khai được giam cùng xà lim với Dennis Fritz, một xà lim chật ních nhưng lại nằm giữa bốn xà lim khác, rộng hơn nhưng lúc nào cũng chật cứng người, đến mức các tù nhân thở cả vào mặt nhau. Hoàn cảnh này khiến nhất cử nhất động của Dennis Fritz đều không giấu được ai. Vậy mà sao không tù nhân nào nghe thấy gì tương tự như nhân chứng vừa kể.

James C. Harjo còn kể rằng y rất thú vị khi bịa chuyện chuyện về Ron Williamson để kể với Dennis Fritz và bịa chuyện về Dennis Fritz với Ron.

Luật sư Greg Saunders bèn hỏi y: “Anh bịa chuyện về Ron Williamson để kể với Dennis Fritz và bịa chuyện về Dennis Fritz để kể với Ron Williamson nhằm mục đích gì?”

“Nhằm mục đích xem họ nói về nhau như thế nào. Tôi chờ xem bao giờ hai đứa chúng nó giết nhau, để xem cho thú.”

“Anh bịa chuyện người này đem nói với người kia để họ giết nhau, làm như thế anh cho là hay ho sao?”

“Chỉ cốt khích cho chúng vạch tội nhau ra rồi đem báo với nhà chức trách.”

“Anh có biết sau khi tuyên thệ nói toàn sự thật mà anh lại bịa đặt ra chuyện này chuyện khác thì như thế là phạm tội “perjury”[1] không?"

James Harjo ngơ ngác. Y đần độn, không hiểu “perjury” nghĩa là gì.

Nhân chứng tiếp theo là Mike Tenney. Y là một tên tạm tuyển vào làm quản giáo ở nhà tù và đang trong thời gian tập sự. Y được cảnh sát sử dụng để vấy bẩn cho Dennis Fritz, vốn chỉ được đào tạo sơ qua và lại lười biếng, đây là lần đầu tiên y làm công việc này, và Dennis Fritz chính là tù nhân đầu tiên Mike Tenney được giao để tác động. Để tỏ ra tích cực, y suốt ngày quanh quẩn bên cạnh chấn song sắt xà lim của Dennis Fritz, gợi chuyện, chủ yếu là khích để anh nói ra những gì liên quan đến vụ án mạng cô Debbie Carter.

Y bảo Dennis Fritz, trong hoàn cảnh của anh lúc này, cách duy nhất thoát tội chết là thỏa hiệp với cảnh sát, vu tội cho Ron Williamson, đổ hết tội lên đầu bạn. Và nếu anh chịu làm như thế thì ủy viên công tố Bill Peterson sẽ hết sức hài lòng.

Tuy nghĩ trong lòng như vậy, nhưng Dennis Fritz vẫn rất dè dặt. Vốn là người hiểu biết, anh biết rằng nói ra câu nào ở đây là câu ấy sẽ được nhắc lại trước tòa. Vì vậy anh rất tiết kiệm lời nói và hết sức thận trọng trong phát ngôn.

Chỉ là quân tốt đen, tay sai của người khác, Mike Tenney khai không được nhiều và cũng không nhắc lại được hết những gì người ta đã mớm trước cho hắn. Thoạt đầu, hắn kể câu chuyện về cuộc du ngoạn của Dennis Fritz với Ron Williamson, la cà các nhà hàng và quán rượu ở thành phố Oklahoma City, một câu chuyện hầu như không liên quan gì đến vụ án mạng cô Debbie Carter.

Luật sư Greg Saunders phản đối. Chánh án Jones chấp thuận lời phản đối.

Thế là Mike Tenney nhảy vào lửa khi y chứng rằng y và Dennis Fritz bàn bạc về chuyện thỏa hiệp với nhà chức trách để thoát cái án tử hình. Y hai lần nói đến chuyện này mà đây lại là chuyện hết sức hệ trọng, bởi như thế có nghĩa Dennis Fritz có phạm tội.

Luật sư Greg Saunders nói rất to để phản đối, và yêu cầu chấm dứt lời khai của nhân chứng vì như thế là vi phạm mục đích của việc xét xử. Chánh án Jones bác lời yêu cầu của luật sư.

Cuối cùng Mike Tenney nói theo cách tự động, không theo hướng dẫn của cảnh sát. Y giảng giải với tòa rằng y rất hay trò chuyện với Dennis Fritz, và sau mỗi lần trò chuyện như thế, y đều chạy vội ra cái bàn ở gần cửa, ghi ngay những gì y moi được của anh. Theo lời căn dặn của cấp trên của y, là thám tử Gary Rogers, y đã làm đúng như thế. Đấy là một cách điều tra rất hiệu quả. Một lần, thám tử Gary Rogers nói với y: “Ta có thể tưởng tượng sự việc diễn ra như thế này. Chẳng hạn Ron đến cửa căn hộ của Debbie Carter rồi đột nhập vào trong. Sau đấy, ta tưởng tượng tiếp là có thể Ron vào lấy một thứ gì đấy của cô ta, rồi khi bị lộ, hắn giết cô ta. Sự việc có thể xảy ra như thế chăng?" “Nhưng tôi không nhìn thấy Ron giết cô ấy, vậy làm sao tôi có thể kể với cảnh sát hay tòa về cái điều tôi không nhìn thấy ấy.”

Sau khi nhân chứng Mike Tenney nói xong, tòa tuyên bố hôm nay chỉ xét xử đến đây. Dennis Fritz bị giải về nhà tù. Anh thận trọng cởi bộ complê mới may ra rồi treo lên mắc. Sau đấy anh nằm dài ra tấm phản gỗ, nhắm mắt. Chao ôi, bao giờ cơn ác mộng này mới kết thúc đây? Anh biết các nhân chứng bịa đặt. Nhưng còn hội đồng xét xử thì sao? Liệu họ có làm việc chính đáng không?

Sáng hôm sau, ủy viên công tố Bill Peterson mời lên bục nhân chứng Cindy McIntosh. Chị này thừa nhận bị vào tù do tội làm ngân phiếu giả. Vào tù, chị gặp Ron Williamson và Dennis Fritz. Chị chứng rằng đã nghe lỏm thấy hai người ấy nói chuyện với nhau, Ron hỏi Dennis về những tấm ảnh chụp hiện trường:

“Cô ta nằm trên giường hay dưới sàn?” Ron hỏi Dennis.

“Dưới sàn”, Dennis đáp.

Cindy McIntosh nói rằng tội làm ngân phiếu giả đã được xử. Chị ta nói: “Tôi đã trả hết số tiền tôi lừa của người ta và bây giờ tôi sắp được thả ra.”

Thấy các nhân chứng mình dựng lên nói điều bịa đặt không gây tác dụng, ủy viên công tố Bill Peterson quay lại những nhân chứng có bằng chứng đáng tin hơn. Chỉ cần hơi đáng tin hơn một chút cũng được. Ông ta mời liền một mạch bốn nhân chứng nối tiếp nhau, cả bốn đều là chuyên gia làm việc tại phòng thí nghiệm của Cục Điều tra Hình sự bang Oklahoma.

Lời chứng của loại nhân chứng này xưa nay đều gây ấn tượng rất mạnh cho bồi thẩm đoàn. Họ đều có trình độ học vấn cao, có bằng cấp, giàu kinh nghiệm. Họ là những chuyên gia có thẩm quyền. Vậy mà. bây giờ Bill Peterson mời được họ đến để đưa ra những chứng cứ nhằm buộc tội bị cáo, chứng minh bị cáo thật sự có tội.

Người đầu tiên là chuyên gia về dấu vân tay, Jerry Peters. Ông trình bày với tòa rằng ông đã phân tích hai mươi mốt dấu vân tay lấy tại hiện trường vụ án, tức là tại căn hộ của cô Debbie Carter. Trong số dấu vân tay ấy, có mười chín dấu vân tay là của nạn nhân. Một dấu của thanh tra Dennis Smith, một dấu của Mike Carpentier, không có dấu vân tay nào của Dennis Fritz hay Ron Williamson.

Lạ thật! Chuyên gia vân tay lại chứng rằng không một dấu vân tay nào lấy được trong căn hộ của nạn nhân là của bị cáo!

Chuyên gia Larry Mullins thuật lại việc ông đã in lại dấu vân lòng bàn tay của cô Debbie Carter vào tháng Năm vừa rồi, sau khi người ta khai quật tử thi của cô lên. Ông đã đưa bản in mới dấu vân lòng bàn tay này cho Jerry Peters, chuyên gia về vân tay. Ông này lập tức nhận ra dấu vân lòng bàn tay này ông không thấy trước đây bốn năm rưỡi.

Lập luận của bên công tố, được sử dụng để quy tội cho Ron Williamson, là trong cuộc tấn công kéo dài của anh, cô Debbie Carter bị thương, và tình cờ máu dây lên lòng bàn tay bên trái của cô, và bàn tay ấy làm thế nào lại vịn vào mảnh gỗ nhỏ ở chân bức tường trong phòng ngủ của cô. Vì dấu vân lòng bàn tay này không của Ron Williamson cũng như Dennis Fritz, và chắc chắn cũng không thuộc một người “vô danh” được giả định là hung thủ, tất nó phải thuộc về cô Debbie Carter.

Mary Long là chuyên gia chủ yếu về các chất dịch trong cơ thể con người. Bà giải thích cho tòa rằng khoảng 20% con người không thể hiện loại máu của mình trong các chất dịch, như nước bọt, tinh dịch và mồ hôi. Số 20% người này trong chuyên môn được gọi là “vô tiết nhân”. Căn cứ vào các thí nghiệm và phân tích, bà khẳng định mẫu máu và mẫu nước bọt lấy được của Ron Williamson và Dennis Fritz cho thấy cả hai đều thuộc “vô tiết nhân”.

Người để lại vết tinh dịch tại hiện trường vụ án có khả năng cũng thuộc “vô tiết nhân”, tuy nhiên điều này bà Mary Long không dám quả quyết bởi vì chứng cứ chưa đủ.

Có nghĩa 80% được loại khỏi vòng nghi vấn. Chính xác hơn, phải nói khoảng 80%. Tuy nhiên Ron Williamson và Dennis Fritz lại không nằm trong số ấy.

Cách tính kiểu toán học của bà Mary Long bị luật sư Greg Saunders đập tan, trong khi đối chất ông buộc bà Mary Long phải thừa nhận rằng hầu hết các mẫu máu và nước bọt bà nhận được từ cuộc điều tra vụ án cô Debbie Carter cũng thuộc về những người được gọi là “vô tiết nhân”. Và trong hai mươi mẫu máu và tinh dịch bà phân tích, mười hai mẫu thuộc về những người gọi là “vô tiết nhân”, trong số này có cả mẫu của Ron Williamson và Dennis Fritz.

Đồng thời cũng có nghĩa 60% những người được bà phân tích các dịch vừa rồi đáng được gọi là “vô tiết nhân”, so với con số tỉ lệ chung là 20%.

Điều này không quan trọng. Lời chứng của bà ta đã loại rất nhiều người, kể cả Dennis Fritz ra khỏi diện nghi vấn.

Nhân chứng cuối cùng của bên công tố không có tác dụng gì mấy. Ủy viên công tố Bill Peterson sử dụng nhân chứng này để cứu vãn chủ trương của ông đang bị đổ vỡ. Và khi Melvin Hett trình bày xong thì bồi thẩm đoàn đã bị thuyết phục hoàn toàn.

Melvin Hett là chuyên gia về tóc của Cục Điều tra Hình sự bang Oklahoma, cũng chính là người đã đưa vô số người vô tội vào tù.

Phân tích lông tóc của con người nhằm mục đích tư pháp, từ thế kỷ XIX, cụ thể là vào năm 1882, đã vấp phải một chướng ngại vật đáng kể. Vào năm ấy, trong một vụ án ở bang Wisconsin, một “chuyên gia thành thạo nổi tiếng” đã so sánh một mẫu tóc “đã biết” với mẫu tóc thu được ở hiện trường vụ án. Và ông đã kết luận hai mẫu tóc phù hợp với nhau. Người có mẫu tóc “đã biết” kia bị đưa ra tòa và kết tội. May thay tòa án tối cao bang Wisconsin đã mở phiên phúc thẩm và bản án được đảo ngược. Và chính năm đó, tòa án tối cao Hoa Kỳ đã ra tuyên bố, nêu rõ: “Bằng chứng qua so sánh lông tóc mang tính chất cực kỳ nguy hiểm.”

Hàng ngàn người vô tội đáng lẽ được vô can thì lại bị nhốt vào tù, nhiều khi phải chịu những hình phạt nặng nhất. Trong khi ấy, từ cảnh sát, nhân viên điều tra, các chuyên gia phòng thí nghiệm, ủy viên công tố... đã luồn lách vất vả theo lối đi quanh co của việc so sánh mẫu lông tóc, thường là con bài duy nhất, bằng chứng có thật duy nhất, để buộc tội người mà họ nghi là thủ phạm. Kiểu phân tích và so sánh mẫu lông tóc để lại ở hiện trường vụ án với mẫu lông tóc của một người nào đấy, thường là một nghi can, đã được áp dụng rộng rãi và gây tranh cãi quyết liệt đến mức suốt trong thế kỷ XX, vô số nhà tư pháp học và các khoa học khác lao vào nghiên cứu để tìm ra một cách nhận định chính xác.

Rất nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng kiểu so sánh mẫu lông tóc này có tỉ lệ sai lầm rất cao. Để đáp ứng cuộc tranh cãi ấy, năm 1978, Bộ Tư pháp Hoa Kỳ đã tài trợ cho một chương trình thí nghiệm và khảo sát độ tin cậy của phương pháp so sánh mẫu lông tóc này. Hai trăm bốn mươi phòng thí nghiệm lớn nhất trên khắp Liên bang Hoa Kỳ đã tham gia chương trình này, nhằm đưa ra tỉ lệ chính xác trong việc so sánh các mẫu sinh học lấy trong cơ thể con người, đặc biệt là mẫu lông tóc, thứ gây tranh cãi nhiều nhất.

Kết quả được rút ra từ chương trình này thật khủng khiếp: số kết luận sai của các phòng thí nghiệm là bốn trên năm lần! Nghĩa là cứ năm lần thì sai bốn!

Cuộc tranh luận về độ chính xác trong việc so sánh mẫu lông tóc là sôi nổi nhất. Người ta tiến hành nhiều thí nghiệm, một trong những thí nghiệm ấy là đem một mẫu lông tóc lấy được tại hiện trường vụ án so sánh với năm mẫu lông tóc khác, không báo trước là của những ai, để tránh hiện tượng có định kiến từ trước. Sau đấy người ta tiến hành lại thí nghiệm trên nhưng cho biết trong năm mẫu tóc kia, mẫu nào là của người đang bị cảnh sát nghi là thủ phạm. Kết quả của hai lần thí nghiệm ấy cho những số liệu chênh nhau đến mức kỳ lạ. Và số kết luận rằng mẫu lông tóc lấy được tại hiện trường vụ án “phù hợp” với mẫu lông tóc của người bị cảnh sát nghi ngờ chiếm tỉ lệ cao đến mức người ta không thấy tính khách quan của việc so sánh này ở đâu.

Chuyên gia về lông tóc giống như người bước chân lên một lớp băng mỏng, bất cứ lúc nào lớp băng cũng có thể vỡ và hất người ấy xuống nước. Khốn nỗi kết luận của các chuyên gia ấy lại có sức nặng lớn, ảnh hưởng đến quyết định của tòa. Câu kết luận của chuyên gia về lông tóc kiểu như sau: “Mầu tóc thu được tại hiện trường vụ án phù hợp với mẫu tóc của bị cáo” là câu kết luận thường mang tính quyết định, nhưng lại không có giá trị khách quan, thậm chí trong đa số trường hợp.

Hàng trăm mẫu lông tóc thanh tra Dennis Smith thu thập được tại hiện trường vụ án đã phải trải qua nhiều chặng đường quanh co để đến được phòng xử án. Ít ra thì cũng có ba chuyên gia của Phòng thí nghiệm thuộc Cục Điều tra Hình sự bang Oklahoma nhận chúng, cùng với hàng chục mẫu lông tóc của những người đã biết mà cảnh sát thu thập được trong những cuộc “vây ráp” nhẹ nhàng, do thanh tra Dennis Smith và thám tử Gary Rogers tiến hành để lấy các mẫu..

Đầu tiên, nữ chuyên gia Mary Long tập hợp rồi phân loại các mẫu lông tóc trong phòng thí nghiệm. Nhưng ngay sau đấy, bà gói ghém lại rồi chuyển cho một nữ chuyên gia khác tên là Susan Land. Vào thời điểm chị Susan Land tiếp nhận số mẫu lông tóc trên, tức là tháng Ba năm 1983, thanh tra Dennis Smith và thám tử Gary Rogers đã tin chắc rằng hai hung thủ trong vụ án mạng cô Debbie Carter chính là Ron Williamson và Dennis Fritz. Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu các mẫu lông tóc ở phòng thí nghiệm lại trái với mong muốn của hai vị thám tử: các mẫu lông tóc ấy chỉ phù hợp với mẫu lông tóc của nạn nhân, cô Debbie Carter.

Trong một thời gian ngắn, Ron Williamson và Dennis Fritz thoát ra khỏi lưỡi câu, mặc dù hai ngươi không hề biết về kết quả thí nghiệm kia. Và sau đấy nhiều năm, các thẩm phán xét xử tội ác của họ cũng không biết tí gì về kết quả tìm được của chị Susan Land.

Nhà chức trách, cụ thể là ủy viên công tố Bill Peterson cần có một nhận định khác.

Tháng Chín năm 1983, lấy cớ nữ nghiên cứu viên Susan Land bị căng thẳng thần kinh vì công việc quá tải, lãnh đạo Cục Điều tra Hình sự bang Oklahoma quyết định “chuyển” vụ án sang cho Melvin Hett. Động tác chuyển này hết sức không bình thường, nhất là hai nghiên cứu viên Susan Land và Melvin Hett lại làm việc ở hai phòng thí nghiệm tội phạm khác nhau, và cũng tại hai vùng khác nhau. Susan Land làm việc tại phòng thí nghiệm trung ương của Cục Điều tra Hình sự bang Oklahoma, đóng tại thành phố Oklahoma City, trong khi Melvin Hett lại làm việc tại một chi nhánh của phòng thí nghiệm trung ương, đóng tại một thành phố nhỏ, tên là Enid. Thành phố này là một trung tâm nhỏ và quản mười tám quận, nhưng quận Pontotoc không nằm trong đó.

Nghiên cứu viên Melvin Hett tỏ ra làm việc có phương pháp. Ông phải mất hai mươi bảy tháng mới phân tích xong các mẫu lông tóc, mà lại mới chỉ những mẫu của Dennis Fritz, Ron Williamson và Debbie Carter. Hai mươi mốt mẫu kia không quan trọng cho nên có thể để lui lại sau.

Do cảnh sát đã biết ai là hung thủ đã giết cô Debbie Carter nên họ thông báo cho Melvin Hett để tạo thuận lợi hơn cho ông này. Khi Melvin Hett nhận được các mẫu lông tóc do chị Susan Land bàn giao, hai chữ “nghi can” đã được ghi bằng chữ nhỏ bên cạnh tên của Dennis Fritz và Ron Williamson trong bảng danh sách những người cung cấp mẫu lông tóc.

Glen Gore vẫn chưa nộp mẫu lông tóc của y cho cảnh sát.

Đây là một công việc tỉ mẩn, vì vậy không thiếu những chỗ không chính xác. Melvin Hett mất rất nhiều thời gian ngồi trước kính hiển vi. Một lần ông ta tin chắc một mẫu lông tóc là của cô Debbie Carter, nhưng rồi ông ta lại thay đổi ý kiến và cho rằng đấy là mẫu tóc của Dennis Fritz.

Tính chất việc phân tích mẫu lông tóc là như thế. Một số kết quả phân tích của Melvin Hett trái với của Susan Land, và gặp những trường hợp như thế, Melvin Hett thường giữ lại kết quả của mình mà bỏ kết quả của Susan Land. Lúc đầu ông ta nhận thấy tất cả mười ba sợi lông tìm thấy ở bộ phận sinh dục nạn nhân là của Dennis Fritz, chỉ có hai sợi của Ron Williamson. Nhưng sau ông ta lại thay đổi con số. Mười hai của Dennis Fritz và hai của Ron Williamson. Sau đấy ông ta lại thay đổi lần cuối cùng: mười một của Dennis Fritz, còn hai sợi là tóc.

Vì nguyên nhân nào đấy, mẫu lông tóc của Glen Gore cuối cùng cũng lọt được vào số những mẫu nộp lên Cục Điều tra Hình sự bang Oklahoma, mặc dù lúc ấy đã quá chậm: mãi tháng Sáu năm 1986. Nghe đâu có một nhân viên nào đấy ở thị trấn Ada, một đêm thức dậy, nhớ ra là còn một người nữa bị bỏ quên, đấy là Glen Gore. Thanh tra Dennis Smith thu lấy mẫu tóc trên đầu và lông ở bộ phận sinh dục của Glen Gore và của một tội phạm đã thú nhận tội lỗi, là Ricky Joe Simmons, gửi cùng một lúc đến cho chuyên gia Meivin Hett, nhưng xem chừng ông này quá bận nên mãi một năm sau mới có thời gian phân tích các mẫu này. Tháng Bảy năm 1987, Glen Gore lại được yêu cầu nộp mẫu lông và tóc. Tại sao phải nộp nữa? Y hỏi. Cảnh sát trả lời là do các mẫu y đã nộp năm ngoái đã bị thất lạc.

Nhiều tháng trôi qua mà không thấy chuyên gia Melvin Hett thông báo kết quả phân tích, so sánh. Mùa xuân năm 1988, khi phiên tòa xử vụ án này sắp được mở, người ta vẫn chưa nhận được kết quả phân tích của ông chuyên gia Melvin Hett kia đối với các mẫu lông và tóc của Glen Gore và của Ricky Joe Simmons.

Ngày 7 tháng Tư năm 1988, khi phiên tòa xét xử Dennis Fritz đang diễn ra, cuối cùng chuyên gia Melvin Hett mới gửi báo cáo cuối cùng của ông ta đến. Theo đó, các mẫu lông tóc của Glen Gore không phù hợp với các mẫu lông tóc cần tìm chủ nhân. Chuyên gia Melvin Hett đã phải mất hai năm trời mới đi đến được cái kết luận này. Và thời điểm là ra ngoài mọi nghi ngờ. Vả lại, có một thông báo của bên công tố là hai hung thủ trong vụ án đã rõ ràng là Ron Williamson và Dennis Fritz cho nên kết quả phân tích các mẫu lông tóc không còn cần thiết nữa.

Bất chấp những điều không bảo đảm trong kết quả phân tích các mẫu lông và tóc, chuyên gia Melvin Hett vẫn hết sức tin vào tính xác thực của việc phân tích ấy. Ông ta và ủy viên công tố Bill Peterson mau chóng trở thành đôi bạn thân thiết, và trước khi phiên tòa xét xử Dennis Fritz được bắt đầu, chuyên gia Melvin Hett đã đưa cho ủy viên công tố Bill Peterson các bài báo khẳng định tính chính xác tuyệt đối của phương pháp phân tích và so sánh mẫu lông tóc này. Tuy nhiên ông ta lại không đưa ủy viên công tố Bill Peterson đọc những bài phản bác lại nhận định kia, đồng thời nhận định coi kết luận về phân tích và so sánh lông tóc của phòng thí nghiệm là chứng cứ tuyệt đối đáng tin cậy.

Hai tháng trước khi phiên tòa bắt đầu, chuyên gia Melvin Hett lái xe đi Chicago và đưa các kết quả ông ta tìm được cho một phòng thí nghiệm tư của một người tên là McCrone. Tại đây, một người quen của Melvin Hett, tên là Richard Bisbing đã nhận các kết quả này để kiểm tra độ chính xác của chúng, ông này chính ra là do bà mẹ của Dennis Fritz, bà Wanda Fritz, thuê riêng để làm việc ấy. Và để có tiền trả Richard Bisbing, bà đã phải bán xe ô tô của con trai.

Tuy chuyên gia Richard Bisbing có kinh nghiệm hơn Melvin Hett rất nhiều, nhưng các kết luận của ông ta cũng rất mâu thuẫn.

Trong chưa đến sáu tiếng đồng hồ, Richard Bisbing bác hầu hết các kết luận của chuyên gia Melvin Hett. Chỉ phân tích mười một mẫu lông tóc mà Melvin Hett tin chắc là phù họp với lông tóc của Dennis Fritz, Richard Bisbing nhận thấy chỉ có ba mẫu là “có cơ sở” để tin là phù hợp với mẫu lông tóc của Dennis Fritz, có nghĩa chỉ ba sợi “có khả năng” là của anh. Nhắc lại: “có khả năng” chứ chưa phải đã chắc chắn là của anh.

Bực mình vì thấy một chuyên gia khác đánh giá thấp mình,chuyên gia Melvin Hett giận dữ lái xe về bang Oklahoma, chuẩn bị trình trước hội đồng xét xử kết quả phân tích của mình chứ nhất định không chịu thay đổi theo lời khuyên của Richard Bisbing.

Chuyên gia Melvin Hett lên bục nhân chứng vào buổi chiều Thứ sáu, ngày 8 tháng Tư, Ngay thoạt đầu, ông ta đã thao thao đọc bản báo cáo của mình, toàn những từ chuyên môn, cốt để “chọe” người nghe. Hoặc nói cách khác, bản báo cáo của Melvin Hett nhằm “chọe” chứ không phải nhằm cung cấp thông tin.

Bị cáo Dennis Fritz là người có bằng đại học và đã dạy khoa học tại trường trung học, vậy mà cũng không theo được chuyên gia Melvin Hett và không sao hiểu nổi ông ta nói những gì. Và anh tin rằng nhiều bồi thẩm cũng như anh, không hiểu Melvin Hett nói những gì. Thỉnh thoảng anh lại nhìn lên bàn bồi thẩm đoàn, anh thấy mắt họ đều ngơ ngác, nhưng có vẻ rất thán phục vị chuyên gia kia. Ông Melvin Hett giỏi thật, kiến thức rất rộng, rất sâu!

Nhân chứng đầu tiên của bên bào chữa là bị cáo Dennis Fritz. Anh khai về quá khứ của mình, tình bạn với Ron Williamson, vân vân. Anh thừa nhận đã một lần bị tù về tội trồng cần sa năm 1973 và đã giấu điều này khi viết hồ sơ xin làm giáo viên trường trung học tại thành phố Noble, bảy năm sau khi trả án. Lý do Dennis làm như thế rất đơn giản: anh cần có công ăn việc làm. Anh nhắc đi nhắc lại nhiều lần là anh chưa gặp cô Debbie Carter bao giờ và chắc chắn là anh không biết gì về hung thủ đã giết cô ấy.

Người đối chất với Dennis Fritz là ủy viên công tố Bill Peterson.

Có một hiện tượng rất xấu trong thực tiễn hoạt động của ngành tư pháp là khi không có bằng chứng có sức thuyết phục thì người ta thay chứng cứ bằng cách gào lên, hét lên. Ủy viên công tố Bill Peterson nhảy lên bục, nhìn thẳng vào bị cáo, bắt đầu quát tháo.

Chỉ vài giây sau, chánh án Jones yêu cầu ông ta (Peterson) về chỗ và trấn tĩnh lại. Chánh án Jones nhẹ nhàng nói: “Ông có thể không ưa bị cáo, nhưng ông không nên nổi cơn giận dữ khi ở trong phòng xét xử.”

“Tôi không giận dữ!” Ủy viên công tố Bill Peterson cãi.

“Có đấy. Và đừng nên thế.”

“Được thôi.”

Ủy viên công tố Bill Peterson rất cáu khi thấy Dennis Fritz nói chưa đúng về chuyện xin làm giáo viên. Điều ấy là có thể, nhưng ông ta lại bịa ra một chuyện khác. Đấy là Dennis Fritz đã điền vào tờ mẫu để cầm một khẩu súng ngắn cho cửa hàng cầm đồ tại thành phố Durant, bang Oklahoma. Và trong việc ấy, Dennis Fritz cũng lại giấu chuyện anh đã bị tù về tội trồng cần sa.

Hai sự cố rõ ràng là gây thất vọng hoàn toàn. Cả hai đều không dính dáng gì đến vụ án mạng cô Debbie Carter.

Bằng mọi cách ủy viên công tố Bill Peterson hạ càng thấp càng tốt mọi phẩm chất của Dennis Fritz.

Thật là nực cười và cũng chua xót nữa khi một ủy viên công tố Bill Peterson tự biến ông ta thành một nhân chứng giống như những nhân chứng khác của ông ta, nghĩa là bịa ra mọi thứ, quy cho bị cáo mọi vi phạm vụn vặt, chẳng có giá trị gì.

Peterson nhắc lại vô số những điều các nhân chứng được ông ta đào tạo đã khai, mà không một bằng chứng nào liên quan đến vụ án cô Debbie Carter có sức thuyết phục, ông ta hùng hổ bao nhiêu thì Dennis Fritz điềm tĩnh bấy nhiêu. Anh cố giữ vững lập trường của một người bị vu oan và kiên quyết không chịu nhận tội không do mình gây ra, kiên quyết khẳng định mình vô tội trong vụ án mạng cô Debbie Carter.

Sau một tiếng đồng hồ đối chất căng thẳng và quyết liệt, ủy viên công tố Bill Peterson ngồi xuống.

Nhân chứng duy nhất do luật sư bào chữa Greg Saunders mời đến là Richard Bisbing, người đã kiểm tra lại các kết quả phân tích của chuyên gia Melvin Hett ở Cục Điều tra Hình sự bang Oklahoma. Richard Bisbing nói thẳng với tòa rằng ông không tán thành hầu hết những kết luận của chuyên gia Melvin Hett.

Lúc này đã là chiều Thứ sáu, chánh án Jones tuyên bố phiên tòa hôm nay kết thúc và sẽ tiếp tục sau kỳ nghỉ cuối tuần. Dennis Fritz đi bộ về nhà tù, thay bộ complê ra rồi nằm xuống cố nghỉ ngơi cho dịu đi nỗi căng thẳng. Anh thấy được là nhà chức trách hiện chưa có đủ bằng chứng để kết tội anh, nhưng anh chưa tin lắm là người ta chịu để yên cho anh. Dennis Fritz đã nhìn thấy những cặp mắt đầy ác cảm của các bồi thẩm khi họ được xem những tấm ảnh khủng khiếp chụp cảnh hiện trường vụ án. Anh cũng đã quan sát họ khi họ nghe chuyên gia Melvin Hett trình bày và có vẻ họ tin ông ta.

Đối với Dennis Fritz, đây là một kỳ nghỉ cuối tuần dài nhất trên đời.

***

Sáng Thứ hai bắt đầu phần tranh tụng. Nữ trợ lý tư pháp quận, Nancy Shew, đại diện nhà chức trách, bước lên bục đầu tiên. Bà nhắc lại lần lượt lời khai của tất cả các nhân chứng bên buộc tội.

Luật sư Greg Saunders phản bác, nói rằng hầu hết những điều họ nói lên đều nhằm buộc tội bị cáo và phải thấy rõ rằng rất nhiều điều trong ấy không có chút cơ sở nào. Những cái gọi là bằng chứng ấy, không có bằng chứng nào đủ sức chứng minh bị cáo có tội, mà tất cả chỉ là một mớ hỗn độn chồng chất những chuyện vụn vặt, chỉ nhằm tạo nên một số đông các chi tiết để hướng mọi người đến sự buộc tội.

Luật sư bào chữa nói rằng hội đồng xét xử nên thấy là bị cáo không có tội.

Ủy viên công tố Bill Peterson nã một loạt đại bác cuối cùng. Trong gần một tiếng đồng hồ, ông ta nhắc lại lời khai của các nhân chứng của bên buộc tội, nhấn mạnh điều cốt lõi trong mỗi lời khai của họ. Sau đấy ông ta cố thuyết phục một cách tuyệt vọng các thành viên của hội đồng xét xử để họ tin vào những lời bịa đặt của các nhân chứng do ông ta mớm lời cho.

Đến giữa trưa thì hội đồng xét xử rút vào họp kín để thảo luận. Sáu tiếng đồng hồ sau, họ ra và thông báo là trong mười hai thành viên thì mười một đứng về một phía, phía bên kia chỉ có một thành viên. Chánh án Jones tuyên bố nghỉ cho các thành viên hội đồng xét xử đi ăn chiều, để đến tám giờ tối sẽ làm việc tiếp và tuyên án.

Dennis Fritz nghe lời tuyên án bằng một sự im lặng lạnh người. Anh sửng sốt vì mình vô tội mà lại bị quy là có tội. Đồng thời anh uất ức vì người ta kết tội anh chỉ với một số chứng cứ bịa đặt một cách đê tiện, không có giá trị. Anh muốn mắng chửi thậm tệ các bồi thẩm, chánh án, các nhân viên cảnh sát, hệ thống tư pháp, nhưng phiên tòa chưa kết thúc.

Tuy nhiên, Dennis Fritz cũng không ngạc nhiên lắm. Anh đã quan sát các vị bồi thẩm và thấy vẻ nghi ngờ của họ. Thấy họ không tin lời khai của các nhân chứng. Họ đại diện cho thị trấn Ada, mà thị trấn này lại cần có một bản án. Nếu như đám cảnh sát và ủy viên công tố Bill Peterson tin chắc rằng Dennis Fritz là thủ phạm đã giết cô Debbie Carter thì sự thật hẳn phải là như thế.

Dennis Fritz nhắm mắt lại, nghĩ đến con gái, cháu Elizabeth, năm nay mười bốn tuổi, chắc hẳn đã đủ lớn để hiểu thế nào là có tội, thế nào là vô tội. Bây giờ, khi anh bị kết án, làm sao anh nói cho con gái hiểu được rằng anh vô tội?

Trong lúc đám đông theo nhau ra khỏi tòa nhà, bà Peggy Stillwell, mẹ cô Debbie Carter, ngất đi trên bãi cỏ. Bà kiệt sức đo phải cố hết sức kiềm chế nỗi xúc động và đau thương. Bà được người ta đưa đến bệnh viện, nhưng chỉ sau đấy một lúc, bệnh viện cho bà về nhà.

***

Bây giờ, đã khẳng định xong ai là người có tội, phiên tòa sẽ nhanh chóng đi đến bản án. Về lý thuyết, hội đồng xét xử quyết định bản án dựa trên những yếu tố làm nặng thêm tội do bên phía nhà chức trách, tức là bên buộc tội đề xuất, cụ thể là bản án tử hình. Và trên những yếu tố giảm nhẹ do bị cáo đưa ra với hy vọng thoát được tội chết.

Bước tuyên án trong vụ xét xử Dennis Fritz diễn ra chóng vánh, ủy viên công tố Bill Peterson mời viên chức cảnh sát Rusty Featherstone lên bục. Ông này cuối cùng đã khai ra được với tòa là Dennis Fritz thừa nhận đã cùng với Ron Williamson la cà các quán rượu ở thành phố Norman bốn tháng trước khi vụ án xảy ra. Đấy là điều ông ta khai thêm. Có nghĩa hai nghi can của vụ án mạng đã có lần lái xe bẩy mươi dặm đến thành phố Norman và chơi bời suốt đêm trong các nhà hàng và quán rượu ở đó.

Nhân chứng tiếp theo, cũng là nhân chứng cuối cùng lên bục, mở rộng câu chuyện trên. Tên chị ta là Lavita Brewer. Chị ta kể là đang ngồi uống giải khát trong quán rượu Holiday Inn tại thành phố Norman thì gặp Dennis Fritz và Ron Williamson. Ba người uống đến say mèm thì cùng đi ra và lên ô tô. Chị ta ngồi vào ghế sau, Dennis Fritz cầm tay lái. Ron Williamson ngồi bên cạnh anh ta. Và họ cho xe chạy. Bên ngoài trời mưa. Dennis Fritz cho xe chạy rất nhanh, bất chấp đèn đỏ, cứ thế, đến một lúc chị ta, Lavita Brewer lên cơn thần kinh. Tuy hai người đàn ông kia không đụng đến người chị và cũng không đe dọa gì chị, nhưng chị quyết định đòi cho chị ra khỏi xe. Dennis Fritz không chịu đỗ lại. Xe cứ lao nhanh như thế khoảng mười lăm hoặc hai mươi phút, rồi chạy chậm lại để chị mở cửa, nhảy ra. Chị bèn chạy đến một máy điện thoại thẻ, quay số gọi đồn cảnh sát.

Không ai bị thương. Không có văn bản nào về phạm pháp. Không ai bị kết án.

Nhưng đối với ủy viên công tố Bill Peterson thì sự việc kia là bằng chứng rõ ràng, rằng Dennis Fritz là một mối đe dọa cho xã hội và cần phải được loại trừ bằng một bản án tử hình, để bảo vệ các nữ thanh niên khác. Lavita Brewer là nhân chứng có giá trị nhất mà ông ta có thể nặn ra được.

Trong lúc trình bày bản đề nghị tội tử hình cho bị cáo, ủy viên công tố Bill Peterson nhìn thẳng vào mặt Dennis Fritz, trỏ ngón tay vào anh, rồi nói: “Dennis Fritz, anh đáng phải chết vì những gì anh và Ron Williamson đã gây ra cho cô Debbie Carter”.

Dennis Fritz ngắt lời ông ta, và nói với hội đồng xét xử : “Tôi không giết cô Debbie Carter".

Hai tiếng đồng hồ sau, bồi thẩm đoàn quay lại hội trường, đem theo bản án tù chung thân. Khi bản án được đọc xong, Dennis Fritz đứng lên, quay mặt về phía hội đồng xét xử, nói: “Thưa quý bà, thưa quý ông bồi thẩm, thành viên của hội đồng xét xử. Tôi chỉ muốn nói rằng...”

“Xin lỗi”, Chánh án Jones nói.

Luật sư Greg Saunders nói: “Dennis Fritz, anh đừng làm như thế. Đừng!”

Nhưng Dennis Fritz đâu chịu để người ta chặn lại điều anh muốn nói. Anh vẫn nói tiếp: “Hỡi Chúa Trời! Hỡi đấng Jesus! Ngài ở trên trên cao biết rằng tôi không làm cái việc tội lỗi kia. Tôi chỉ cầu xin Ngài biết cho rằng, tôi tha thứ cho Ngài. Tôi sẽ cầu nguyện cho Ngài.”

Trở về nhà tù, trong bóng tối mù mờ của xà lim chật hẹp, Dennis Fritz không hề thấy được rằng anh cần thở phào nhẹ nhõm vì đã thoát được cái án tử hình. Năm nay anh ba mươi tám tuổi, là người vô tội, không hề có tính thích gây gổ, và nhìn xa ra cả quãng đời còn lại nằm trong tù, anh thấy như mọi thứ tối sầm.

❀ ❀ ❀

[1] Perjury tiếng Anh nghĩa là “làm trái lời thề”.

Giống như mọi chàng trai trẻ khác ở thị trấn Ada, Ron cũng sưu tầm hàng ngàn tấm ảnh, các tờ rơi, quảng cáo có hình các cầu thủ bóng chầy nổi tiếng và các tên tuổi khác trong làng bóng chầy như Mickey Mantle, Whitey Ford, Yogi Berra, Roger
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

Truyện bạn đang đọc dở dang

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.