Tuy lúc đầu Dennis Fritz chưa nhận ra một điều là mười hai tháng sống trong cái lô cốt ngột ngạt và kín như bưng là nhà tù của quận Pontotoc đóng tại thị trấn Ada đã giúp anh quen dần với điều kiện nghiệt ngã của cuộc sống trong tù.
Dennis Fritz đến Trung tâm cải huấn Conner vào tháng Sáu. Anh ngồi đằng sau một chiếc xe tải chất đầy tù nhân mới, vẫn còn ngơ ngác, hoang mang và khiếp sợ. Điều quan trọng là phải tỏ ra và xử sự một cách tự tin, nên anh cố rèn tập để thực hiện được như thế.
Trại Comer này nổi tiếng là một nơi u ám trong số các nhà tù loại canh gác nghiêm ngặt một cách trung bình. Đây là một địa điểm cằn cỗi, cằn cỗi hơn hầu hết các nơi khác, và Dennis thầm hỏi đi hỏi lại là do đâu người ta lại đưa anh đến giam ở nơi này.
Dennis phải qua một loạt thủ tục nhập trại và được nghe phổ biến cả một loạt nội quy, quy định. Sau đó anh bị đưa đến nằm trong một xà lim có hai giường chồng lên nhau theo lối giường tầng, một trên một dưới, và một cửa sổ cho phép tù nhân có thể nhìn ra ngoài. Cũng như Ron, anh cảm ơn trời đất về cái cửa sổ này. Ở nhà tù tại thị trấn Ada thì có bói cũng không ra một cái cửa sổ như thế.
Bạn tù cùng nằm chung xà lim với Dennis Fritz là một anh chàng gốc Mêhicô, nói tiếng Anh rất kém và như thế lại tốt đối với anh. Anh chỉ biết vài từ tiếng Tây Ban Nha và lại không có hào hứng muốn học để biết thêm. Điều quan trọng đầu tiên ở đây đối với Dennis là tìm cách để có những quãng thời gian ngắn được ở một mình. Và còn gì bằng tuy có người ở cùng để khi cần có thể giúp đỡ nhau, nhưng lại vẫn có được cảm giác riêng tư.
Dennis Fritz thề với bản thân là sẽ làm bất cứ thứ gì có thể để tự giải thoát ra khỏi bản án vô lý này. Nếu như buông xuôi thì dễ ợt. Thể chế tỏ ra vô cùng nghiệt ngã với các tù nhân nhưng anh quyết tâm vượt qua.
Trại Comer đông chật và nổi tiếng là trại xảy ra nhiều bạo lực. Tại đây có các băng đảng, có các vụ thanh toán nhau, trừng trị nhau, cưỡng hiếp, ma túy... và thêm là đám quản giáo cũng rất tàn bạo. Dennis Fritz mau chóng tìm được một khu vực an toàn và tránh xa được những người mà anh cảm thấy không ưa, hoặc có nhiều khả năng gây rắc rối cho anh. Dennis coi sợ là một tài sản, một yếu tố rất có ích. Sau một vài tháng sống trong trại, hầu hết tù nhân bất giác rơi vào tình trạng như cái máy và quen với nếp sinh hoạt của trại, tuân theo mọi thứ đã thành nếp. Họ bớt thủ thế, tranh thủ những thuận lợi chợt đến và coi an toàn là thứ cao nhất.
Có một cách tốt nhất để tránh bị hành xử và Dennis Fritz tâm niệm rằng anh sẽ không bao giờ quên là cần phải sợ.
Tù nhân thức dậy lúc 7 giờ sáng và mọi cửa xà lim đều mở. Họ ăn điểm tâm trong một quán hàng rất rộng và ở đấy ai muốn ngồi đâu thì tùy. Tù nhân da trắng chọn một bên, tù nhân da đen bên phía đối diện, tù nhân gốc da đỏ hoặc Mỹ Latinh thì thường vào khu giữa, nhưng thiên về phía bóng tối. Thức ăn cho điểm tâm không đến nỗi tồi tệ quá: có trứng, thịt rán, mỡ thỏi. Mọi người nói chuyện ầm ĩ, vì vào đây họ được thoải mái tiếp xúc với nhau.
Hầu hết mọi người đều muốn làm việc. Mọi thứ đều nằm bên ngoài, bên trong chỉ toàn xà lim. Vì anh đã từng dạy học, nên Dennis Fritz được chọn để dạy học cho các tù nhân theo chương trình bổ túc văn hóa. Ăn điểm tâm xong, anh đến lớp và dạy cho đến giữa trưa. Lương tháng của anh là 7,20 đô la.
Mẹ và dì anh bắt đầu gửi tiếp tế đến cho anh, mỗi tháng 50 đô la do hai người tằn tiện để dành ra và góp lại. Dennis Fritz tiêu số tiền ấy tại căng tin, để mua thuốc lá, cá ngừ đóng hộp, bánh ngọt. Hầu như tù nhân của trại, ai cũng hút thuốc lá. Và thứ phổ thông nhất là Marlboros. Một bao Marlboros được coi là một tài sản, hoặc một khoản tiền để có thể đổi lấy thứ khác.
Chẳng bao lâu, Dennis Fritz phát hiện ra tủ sách luật và anh vui mừng được biết anh có thể đến đây đọc và nghiên cứu hàng ngày, từ một giờ trưa đến bốn giờ chiều, liên tục. Không bao giờ anh lấy bừa một cuốn sách luật để đọc mà anh quyết định sẽ tập cho thạo cách tìm sách để có thể chọn đọc theo một chương trình anh tự đề ra cho bản thân. Có hai nhân viên chuyên về luật, đấy là hai tù nhân tự khoe là “luật gia của trại”. Cả hai đều khá am hiểu về luật, họ giúp anh tìm các tư liệu và các biên bản và các bản tóm tắt. Và theo lệ, họ đều yêu cầu anh trả thù lao. Thù lao được trả bằng thuốc lá.
Dennis Fritz bắt đầu nghiên cứu môn luật học từ khâu đọc các hồ sơ vụ án của bang Oklahoma, hàng trăm hồ sơ, tìm ra những điểm giống nhau và những sai lầm tiềm ẩn phạm phải trong lúc xét xử. Anh sắp được xét phúc thẩm cho nên anh cần hiểu về luật không kém luật sư của anh. Anh phát hiện ra ở đây có cả những bản tóm tắt hồ sơ các vụ án cấp liên bang. Và đọc xong, anh ghi chép thu hoạch của mình để sau này ôn tập cho dễ. Cứ như thế anh đã nghiên cứu hàng ngàn vụ án ở khắp liên bang Hợp chủng quốc Hoa Kỳ.
Giờ điểm danh từ 4 giờ đến 5 giờ chiều. Các quản giáo đếm lại tù nhân rồi làm báo cáo. Ăn chiều xong là 7 giờ 30 tối và từ đấy cho đến lần điểm đanh tiếp theo vào 10 giờ 15 tối, tù nhân được tự do đi lại, tập thể dục, đánh bài domino hoặc đánh bóng rổ. Nhiều tù nhân chỉ đi dạo hoặc ngồi chơi thành từng nhóm hoặc hút thuốc và giết thời gian.
Dennis Fritz quay lại tủ sách luật.
Con gái anh, cháu Elizabeth, năm nay mười lăm tuổi. Hai cha con viết thư đều cho nhau. Cháu ở với bà ngoại và được bà dạy dỗ chu đáo. Cháu tin rằng bố cháu vô tội, nhưng Dennis Fritz luôn ngờ con gái anh vẫn có phần hồ nghi, chưa phải đã tin một trăm phần trăm như thế. Hai cha con viết thư và trò chuyện điện thoại mỗi tuần ít nhất một lần. Tuy nhiên Dennis Fritz không muốn con gái đến trại thăm cha. Anh không muốn cháu đến gần nhà tù. Anh không muốn cháu thấy cha nó mặc quần áo tù và sống đằng sau hàng rào dây thép gai.
Mẹ Dennis, bà Wanda Fritz, đã đến trại sau khi con trai bị chuyển đến đây không lâu. Việc tiếp khách đến thăm được quy định là vào các ngày Chủ nhật, từ 10 giờ sáng đến 4 giờ chiều, trong một gian phòng có những bàn và ghế gấp. Mỗi lần khoảng hai chục tù nhân được phép tiếp khách. Thân nhân họ đã chờ sẵn ở đây: vợ, con, mẹ, bố. Nỗi xúc động rất lớn. Trẻ con cười nói huyên náo. Tù nhân được tháo còng và được tiếp xúc thoải mái với người thân.
Cách tiếp xúc đúng như mọi người mong muốn, tuy nhiên hôn mạnh quá và nắn bóp nhau bị cấm. Mẹo của họ là nhờ một bạn tù đánh lạc hướng chú ý của quản giáo trong vài giây đồng hồ để họ có thể làm tình kiểu cấp tốc. Không hiếm thấy những cặp nam nữ chui xuống gậm bàn hoặc kéo nhau lách vào khe hở giữa hai cỗ máy gì đấy, thực hiện cuộc làm tình rất nhanh, thậm chí có thể làm bằng miệng.
May thay, Dennis Fritz hướng được sự chú ý của mẹ anh vào những chỗ không diễn ra các trò lén lút ấy. Nhưng giờ tiếp thân nhân vẫn là quãng thời gian đau lòng nhất trong mỗi tuần lễ của tù nhân. Dennis Fritz khuyên mẹ đừng đến thăm anh nữa vừa vất vả vừa thêm nghĩ ngợi.
Chẳng bao lâu, Ron Williamson bắt đầu đi lại lồng lộn và gào thét trong xà lim của anh. Nếu khi đến Khám tử tù anh là người khỏe mạnh về thần kinh thì chỉ sau khi ở đấy ít ngày anh đâm phát điên. Ron thường đứng cạnh cửa, gào thét: “Tôi vô tội! Tôi vô tội!” liên tục trong nhiều tiếng đồng hồ, cho đến khi giọng anh khàn đặc anh mới chịu thôi. Tuy nhiên, do gào thét nhiều, cổ họng anh lại dường như khỏe thêm, và dần dần thời gian anh gào thét kéo được dài hơn, trước khi giọng anh khàn đặc lại. “Tôi không giết Debbie Carter! Tôi không giết Debbie Carter!”
Ron nhớ lại toàn bộ bản ghi lời thú tội của Ricky Joe Simmons, từng chữ, và tuyên đọc lại rất to toàn bộ cho đám quản giáo và tù nhân ở các xà lim gần đấy nghe. Ron còn có thể đọc lại toàn bộ biên bản phiên tòa xét xử anh, hết trang này đến trang khác, không thiếu trang nào, phiên tòa đã kết anh án tử hình và bắt anh đến Khám tử tù này. Các tù nhân khác rất muốn bịt miệng Ron, nhưng họ vẫn phải thán phục trí nhớ kỳ diệu của anh.
Nhưng vào hai giờ sáng thì họ không thể để mặc anh được nữa.
Chị anh, Renee, nhận được một lá thư lạ lùng của một tù nhân trong khám gửi đến cho chị. Bức thư có đoạn:
“Chị Renee thân mến,
Tôi là Jay Neill, số tù 141128. Tôi viết lá thư này theo Ron Williamson nhờ. Ron nằm ở xà lim bên cạnh tôi. Thỉnh thoảng cậu ta lại trải qua những giờ phút cực kỳ khó khăn. Tôi cỏ cảm tưởng cậu ta đang cần một sự thăm khám và điều trị căn bản, nhằm lấy lại thăng bằng thần kinh và cải thiện thái độ ứng xử. Tuy nhiên, những thứ thuốc tốt nhất mà ở đây người ta có thể cấp cho Ron chỉ có thể có tác dụng bề ngoài, nhất thời và cũng rất yếu ớt. Nhược điểm lớn nhất của Ron là thiếu hẳn lòng tự trọng. Và tôi tin rằng những người ở bộ phận thăm dò hệ số thông minh đã xếp cậu ta xuống hàng rất thấp. Thời gian gay go nhất đối với Ron là từ 12 giờ trưa đến 4 giờ chiều.
Nhiều lúc, dường như theo một chu kỳ nào đấy, Ron lại gào lên bằng toàn thể hai lá phổi của cậu ta. Hành động ấy của Ron làm những tù nhân ở các xà lim xung quanh rất khó chịu. Ban đầu họ thử khuyên giải cậu ấy, nhưng không được. Cuối cùng họ đành để yên cho cậu ấy muốn làm gì thì làm. Nhưng dù sao như thế cũng khiến mối quan hệ với các bạn tù xấu đi (Chị biết rằng ở đây rất nhiều người ban đêm mất ngủ).
Tôi là tín đồ Thiên chúa giáo và ngày nào tôi cũng cầu Chúa ban phước cho Ron. Tôi thường xuyên trò chuyện với cậu ta và nghe cậu ta nói. Ron rất yêu cả chị lẫn chị Annette. Tôi là bạn và rất quý cậu ấy. Tôi thường làm vật đệm ở giữa để làm nhẹ đi mối quan hệ của cậu ấy với mọi người xung quanh. Mỗi lần nửa đêm cậu ấy gào thét làm mọi người mất ngủ, tôi lại dậy, tìm cách bắt chuyện với Ron để làm cậu ta tạm quên đi nỗi uất giận.
Cầu Chúa ban phước cho chị và gia đình.
Thân ái. Jay Neill ”
Tình thân của Jay Neill với bất cứ ai trong khám tử tù cũng làm người ta nghi ngờ, và việc anh ta cải sang đạo Thiên Chúa thường được mọi người đưa ra bàn tán. “Bạn” của anh ta đều hồ nghi. Trước khi vào tù, Jay Neill và người bạn thân của anh ta rất thèm được đến thành phố San Francisco để hưởng cuộc sống tự do thoải mái. Vì không có tiền để đi, hai người quyết định tiến hành cướp ngân hàng, một việc mà họ chưa có tí kinh nghiệm nào. Họ chọn một ngân hàng trong thành phố nhỏ Geronimo, rồi vào đấy một cách ầm ĩ và lớn tiếng tuyên bố mục đích của họ. Sau đấy họ bắt đầu thu tiền. Giữa lúc hỗn loạn của vụ cướp, Jay Neill và cậu bạn mất bình tĩnh thế nào đâm ngay ba nhân viên nhà băng, bắn trúng một khách hàng làm ông này chết ngay tại chỗ, và làm bị thương ba người khác. Trong lúc mọi thứ rối tung rối mù, Jay Neill vung tay, thế nào lại chĩa khẩu súng ngắn về phía đầu một em nhỏ và bóp cò. May mà đạn lướt bên cạnh, em nhỏ không việc gì, ít ra thì cũng về phần thể xác. Hai tên cướp bỏ chạy đem theo 20.000 đô la tiền mặt.
Chúng đáp tàu đến San Francisco, bắt đầu mua sắm: áo lông thú, khăn quàng loại đắt tiền, và nhiều thứ quý giá khác. Chúng ném tiền vào các quầy rượu và chơi bời thỏa thích suốt một ngày một đêm. Sau đấy chúng quay về bang Okiahoma, và bị bắt. Chính tại đây, sau này Jay Neill bị tòa kết án tử hình.
Trong khám tử tù, Jay Neill thích dẫn Kinh Thánh và khuyên mọi người đọc kinh nhưng ít người nghe theo.
Trong khám tử tù, người ta không hề quan tâm đến vấn đề y tế. Các tù nhân ở đây nói rằng, vào đây mất rất nhiều nhưng cái mất đầu tiên là sức khỏe, sau đấy là cách sống lành mạnh. Ron được một bác sĩ nhà tù khám. Ông này có trong tay hồ sơ khám chữa bệnh trước đây của anh tại các nhà tù khác. Trong hồ sơ, điều ông bác sĩ thấy ngay là cả một lịch sử dùng rượu và ma túy, điều không có gì đáng ngạc nhiên tại Khám F. Ron mắc chứng trầm cảm và bệnh bipolar trong ít nhất là mười năm qua. Anh còn mắc cả chứng tâm thần phân liệt và những rối loạn về nhân cách.
Bác sĩ kê cho anh thuốc Mellaril. Anh dùng và sau đó tình trạng căng thẳng thần kinh dịu đi nhiều.
Hầu hết các tù nhân khác đều tưởng Ron “đóng kịch”, tưởng anh “làm ra vẻ” mắc bệnh tâm thần để mong người ta cho đi điều trị, khỏi phải nằm lại ở đây.
Cách xà lim Greg Wilhoit hai gian là xà lim của một tù nhân già tên là Sonny Hays. Không ai biết ông ta đã nằm ở đây chờ hành quyết từ bao lâu rồi, chỉ biết, ông đến đây trước tất cả những người hiện nay có mặt. Năm nay ông đã bảy mươi, sức khỏe suy sụp, và ông từ chối gặp và cả trò chuyện với bất cứ ai. Ông ta lấy giấy và khăn trải giường che kín cửa, và bên trong không bật đèn, chỉ ăn vừa đủ để không chết đói, không bao giờ tắm, cạo râu, hoặc cắt tóc. Không thấy ai đến thăm ông ta bao giờ và ông ta cũng từ chối tiếp xúc với các luật sư. Ông không bao giờ gửi thư hoặc nhận thư không bao giờ gọi hay nhận điện thoại, không mua thứ gì ở căng tin, không biết đến việc giặt áo quần, và cũng không có đài thu thanh và thu hình. Ông không bao giờ ra khỏi xà lim và ngày cũng như đêm, xà lim của ông ta lặng lẽ như tờ, không hề có một tiếng động nhỏ.
Ông Sonny Hays đã hoàn toàn mất trí và bởi một người đã mất trí thì chưa thể bị hành quyết, nên ông ta cứ nằm đấy, mòn mỏi dần và chết dần. Bây giờ ở khám tử tù này có thêm một kẻ mất trí nữa, đấy là Ron, mặc dù mọi người vẫn cho rằng không phải anh mất trí mà chỉ là anh giả vờ mất trí.
Nhưng rồi có một lần, một chuyện khiến các tù nhân khác chú ý. Lần ấy Ron đột nhiên bít kín cống thoát nước ở nhà vệ sinh, khiến nước trong xà lim dâng lên ngập sàn tới ba centimet. Anh ta cởi hết quần áo ra rồi nằm xuống sàn cho nước ngập lưng người và kêu la ầm ĩ. Quản giáo phải chạy đến tháo nước ra rồi cho Ron uống thuốc thần kinh để anh ta dịu lại.
Tuy ở Khám F không có máy điều hòa nhiệt độ, nhưng lại có hệ thống sưởi ấm, và khi mùa đông đến, mọi tù nhân hy vọng rằng sẽ được hưởng sức nóng của hệ thống sưởi ấy. Nhưng không có gì tương tự. Các xà lim vẫn lạnh tanh. Ban đêm sương bên ngoài đọng lại thành một lớp băng mỏng, và các tù nhân nằm co quắp trên giường cố nghiến răng chịu đựng cái rét khủng khiếp.
Cách duy nhất để có thể ngủ được là lấy tất cả những gì là vải trải xuống giường: quần áo, tất, khăn quàng... hoặc những gì có thể mua được ở căng tin.
***
Những tội ác đã được tòa kết luận là có thật của Tommy Ward và Karl Fontenot nay được tòa phúc thẩm của bang Oklahoma xem lại hết, vì người ta đã sử dụng những câu chuyện bịa ra dựa theo những giấc mộng của hai người để chống lại họ. Bây giờ kiểm lại, người ta thấy những sự kiện nêu lên dựa theo “giấc mộng” là không có.
Tòa phúc thẩm tiến hành xét xử hai người riêng rẽ, từng người tại một phiên tòa.
Một khi “lời thú tội” đã bị bác bỏ thì cũng không còn căn cứ vào đâu để kết tội hai bị cáo ấy nữa.
Cả hai được ra khỏi khám tử tù và trở về thị trấn Ada. Tommy Ward quay về thị trấn Shawnee, thuộc quận Pottawatonie. Khốn nỗi lần này, tuy là phúc thẩm, nhưng ủy viên công tố của phiên sơ thẩm là Bill Peterson, thì nay ở phiên phúc thẩm vẫn lại là Bill Peterson với Chris Ross. Còn chánh án thì cho phép sử dụng lại bản thú tội mà tòa án bang Oklahoma đã bác. Thế là tòa vẫn lại khép Tommy Ward có tội và lại thưởng cho anh một bản án tử hình khác. Trong thời gian anh được tạm tha, hàng ngày mẹ anh đến tòa đều do chị Annette Hudson lái xe đưa bà đi.
Còn Karl Fontenot thì khi được tạm tha đã quay về sống ở thị trấn Holdenville, thuộc quận Hughes. Nhưng rồi tòa phúc, thẩm cũng vẫn lại kết anh là có tội và lại tặng cho anh một bản án tử hình khác.
***
Ron đang say sưa trước triển vọng của những phiên xét xử của tòa phúc thẩm. Nhưng rồi anh lại buồn, thấy tòa phúc thẩm vẫn không thay đổi kết luận và vẫn kết án tử hình cho hai bị cáo kia. Việc triệu tập phiên tòa phúc thẩm của Ron bị kéo rất dài vì những thủ tục quá rườm rà. Vụ của anh được giao cho Sở Tư pháp phúc thẩm. Do số bản án tử hình tăng mạnh, nên nhiều luật sư bị điều động đến để nghiên cứu các hồ sơ tội phạm ấy. Luật sư Mark Barrett cũng bị quá tải và buộc phải từ chối một hoặc hai trường hợp. Ông cũng đang nóng lòng chờ quyết định của tòa phúc thẩm mở phiên xét xử Greg Wilhoit.
Luật sư mới của Ron Williamson là Bill Luker, và bản nhận định của ông nhấn rất mạnh rằng Ron Williamson đã bị xét xử tại một phiên tòa không công bằng và thiếu chính đáng. Luật sư Bill Luker phê phán cách thức bảo vệ quyền lợi thân chủ của luật sư già Barney Ward. Trong văn bản nhận định, luật sư Bill Luker viết rằng Ron Williamson đã không được nhận “một sự trợ giúp pháp lý hiệu quả” là yêu cầu đầu tiên đối với việc xét xử một trọng án. Khuyết điểm lớn nhất trong các khuyết điểm của luật sư Barney Ward là ông đã không đưa được vấn đề sức khỏe tâm thần của bị cáo Ron Williamson lên thành một yếu tố trong khi xét xử. Luật sư Barney Ward đã không sử dụng bất cứ một hồ sơ bệnh án nào của bị cáo Ron Williamson để đưa ra làm chứng cứ. Luật sư Bill Luker thu thập các khuyết điểm của luật sư Barney Ward, làm thành một bản kê dài.
Ông luật sư này còn lên án các phương pháp và thủ đoạn điều tra của cảnh sát và của ủy viên công tố. Bản nhận xét của luật sư Bill Luker cứ kéo dài thêm mãi. Ông còn phê phán cả chánh án Jones đã cho phép đem bản “lời thú tội thông qua giấc mộng” của Ron Williamson ra đọc cho hội đồng xét xử nghe, không biết rằng như thế là vi phạm theo nghị quyết Brady về quá trình xét xử, và nói chung đã không bảo vệ được bị cáo để bị cáo được hưởng một cuộc xét xử công bằng.
Đại đa số khách hàng của luật sư Bill Luker đều rõ ra là có tội. Nhiệm vụ của ông mọi lần thường chỉ là tạo cho họ được hưởng một sự xét xử công bằng trước tòa phúc thẩm. Trường hợp của Ron Williamson lại khác. Vị luật sư tốt bụng này càng nghiên cứu càng thấy có nhiều vấn đề mù mờ cần phải làm sáng tỏ. Và ông càng cảm thấy ông sẽ thắng trong phiên tòa phúc thẩm này.
Ron là một khách hàng sẵn sàng cộng tác. Anh có sẵn những quan điểm đã cân nhắc kỹ để chia sẻ với luật sư. Anh thường xuyên nói chuyện điện thoại với ông và viết cho ông những bức thư không cần lời lẽ văn hoa. Những nhận xét và bình luận của Ron rất bổ ích cho ông luật sư. Thỉnh thoảng nhớ lại chi tiết về những rối loạn tâm thần và bệnh sử của mình, anh cảm thấy thật đáng sợ.
Lúc nào Ron cũng nghĩ đến lời thú tội của Ricky Joe Simmons, và coi các diễn biến rút ra từ việc xét xử anh là sự phản phúc lớn nhất. Anh viết cho luật sư Bill Luker:
“Ông Bill thân mến,
Tôi biết ông cho rằng thủ phạm giết cô Debbie Carter chính là Ricky Joe Simmons. Anh ta có thể thú tội về chuyện ấy. Nhưng bây giờ, ông Bill ạ, sau khi đã trải qua địa ngục trần gian, tôi cho rằng Ricky Joe Simmons làm thế là để chuộc lại phần nào tội lỗi của anh ta, đồng thời tạo điều kiện cho tôi được thoát khỏi tù tội. Họ không muốn đưa ông bản thú tội của Ricky Joe Sinimons vì họ biết ông sẽ đưa chuyện ấy vào lời khai của tôi, và lập tức giúp tôi đạt được một phiên tòa xét xử mới. Do đấy, hãy vì Chúa, xin ông hãy nói với những tên khốn kiếp ấy là ông cần đọc cái bản thú tội kia và yêu cầu chúng đưa bản ấy cho ông.
Thân ái, Ron"
Do có thừa thời gian, Ron chăm chỉ viết thư, chủ yếu cho các chị anh. Hai chị anh biết rằng những lá thư ấy quan trọng đến mức nào, và họ tranh thủ thời gian viết trả lời em. Tiền thường là vấn đề thiết yếu. Ron không nuốt nổi thức ăn nhà tù và muốn mua bất cứ thứ gì anh cần ở căng tin. Anh viết cho chị Renee, trong có đoạn:
“Chị Renee,
Em biết chị Annette sắp gửi cho em tí tiền. Nhưng lúc này em đang rất túng, và không thể chờ được. Em đã gặp cậu Karl Fontenot ở đây và cậu ta không có ai để gửi tiền cho cậu ta. Chị có thể vui lòng gửi cho em một tí, thậm chí 10 đô la cũng được.
Yêu chị, Ron"
Trước ngày lễ Giáng sinh đầu tiên của Ron tại khám tử tù, anh viết thư cho Renee, trong đó có đoạn:
“Chị Renee,
Cảm ơn chị đã gửi tiền cho em. Em sẽ dùng để mua những thứ cần thiết nhất. Chủ yếu là dây đàn ghi-ta và cà phê.
Năm nay em nhận được 5 thiếp chúc mừng nhân ngày Thiên Chúa Giáng sinh, trong số đó đã tính cả thiếp của chị. Vậy là lễ Giáng sinh năm nay sẽ làm em vui thêm đôi chút.
Chị Renee ạ, số tiền 20 đô la của chị đến hết sức đúng lúc. Em vừa mới vay một người bạn tí tiền để mua dây đàn và em sẽ phải trả cậu ta ngay. Em sẽ trích ra một phần trong khoản tiền hàng tháng chị Annette gửi cho em là 50 đô la. Do đấy túi em lại gần cạn. Em biết số tiền 50 đô la không phải là nhỏ, nhưng em phải chia sẻ với một cậu bạn mà mẹ quá nghèo không thể gửi gì cho con. Mẹ cậu ta có gửi cho cậu ta 10 đô la nhưng đây là số tiền đầu tiên cậu ta nhận được kể từ tháng Chín, khi em chuyển đến gần chỗ cậu ta. Tội nghiệp cậu ta quá.
Hôm nay là Thứ sáu, có nghĩa mai anh chị và các cháu sẽ mở số quà Nô-en. Em hy vọng người nào cũng nhận được thứ người ấy cần. Các cháu hẳn đang lớn nhanh. Em sẽ còn phải khóc nhiều nếu em vẫn chưa được gặp cả nhà.
Hãy nói với anh và các cháu là em yêu tất cả, Ron"
Khó có thể nghĩ rằng trong kỳ lễ Nô-en Ron có được chút niềm vui nào đấy. Sự tẻ nhạt của khám tử tù thật khủng khiếp, nhưng điều làm Ron đau đớn hơn cả là anh bị cắt đứt khỏi gia đình và những người thân.
Đầu mùa xuân năm 1989, Ron suy sụp nhanh chóng. Sức ép từ mọi phía, chất ma túy và nỗi đau đớn bị giam một cách oan uổng trong nhà tù khủng khiếp này đã làm anh suy kiệt. Anh đã cắt mạch máu ở cổ tay để tự tử. Anh bi quan và tuyệt vọng đến cùng cực và chỉ muốn chết. May mà vết cắt không đủ sâu, anh được cứu thoát, chỗ cắt liền da và để lại sẹo. Các quản giáo bây giờ theo dõi anh chặt chẽ hơn.
Khi thấy cứa cổ tay không kết quả, Ron tiến hành đốt tấm nệm và định để lửa đốt cháy thân thể anh. Nhưng người ta kịp thời dập tắt ngọn lửa và chữa cho anh khỏi chỗ bỏng. Lại một lần nữa, Ron bị xếp vào số tù nhân có ý định tự sát.
Ngày 12 tháng Bảy năm 1989, Ron viết cho chị Renee:
“Chị Renee thân yêu,
Em đang trải qua nỗi khổ khủng khiếp. Em đã đốt cháy một số chăn nệm, áo quần và bị bỏng cấp hai và ba. Sức ép ở đây là vô tận. Không thể đi đâu để nỗi đau khổ giảm đi chút ít. Chị Renee ạ, đầu em nhức như búa bổ. Em đã đập đầu vào tường bê tông. Em đã đâm đầu xuống sàn xi măng. Em đã đấm rất mạnh vào mặt và hôm sau em vô cùng đau đớn. Mọi người ở đây bị nhét như cá bị nhét trong hộp sắt. Em biết đây là chỗ con người ta phải chịu nhiều nỗi khổ hơn bất cứ nơi nào khác. Chỉ có một thứ phép thần làm cho em đỡ đau khổ là tiền. Em đã nói với chị là ở đây không thứ gì em nuốt nổi. Thức ăn cho tù nhân giống như thức ăn cho kẻ tội đồ bị Chúa trừng phạt và giam trên hoang đảo. Mọi người ở đây đều hết sức túng, nhưng em đói đến mức em muốn ai vả vào mặt em cho em mê đi không biết gì nữa. Em sút cân rất nhiều. Không thể kể hết những nỗi khổ ở đây.
Chị hãy cứu em, Ron"
Trong một lúc chán chường mọi thứ và tuyệt vọng, Ron ngừng mọi tiếp xúc với người xung quanh và nằm lì trong xà lim, đến nỗi quản giáo phải vào tìm, thấy anh nằm co quắp trên giường, hỏi gi cũng không trả lời.
Thế rồi, ngày 29 tháng Chín, Ron lại cắt mạch máu ở cổ tay lần nữa. Trước đấy anh uống thuốc an thần một cách không đều đặn và luôn miệng nói đến tự tử. Anh được chuyển ra khỏi Khám F, để đến bệnh viện nhà nước khu vực phía đông, đặt tại thành phố Vinita. Khi nhập viện, lời kêu ca chủ yếu của anh là: “Tôi bị bệnh là do bị vu khống”.
Tại bệnh viện phía Đông, người đầu tiên khám cho Ron là một bác sĩ hưởng lương của nhà nước, bác sĩ Lizarraga. Bác sĩ thấy ngay bệnh nhân ba mươi sáu tuổi này có cả một tiền sử dài nghiện rượu và nghiện chất ma túy. Bệnh nhân có mái tóc trắng để dài, không cạo ria mép, quần áo lôi thôi, bẩn thỉu, vết bỏng ở chân và sẹo ở tay. Ron thừa nhận những thói hư tật xấu của mình, nhưng kiên quyết không nhận là đã giết cô Debbie Carter. Chính do bị xử oan mà anh đâm thành thế này, không muốn sống nữa mà chỉ muốn chết.
Trong ba tháng tiếp theo, Ron là bệnh nhân của bệnh viện nhà nước khu vực phía Đông. Anh được nhiều bác sĩ thuộc những chuyên khoa khác nhau thăm khám: một bác sĩ thần kinh, một bác sĩ tâm lý, nhiều nhà tâm thần học. Trong những nhận xét của các bác sĩ chuyên khoa, nhiều lần được nhắc đến trạng thái xúc cảm không ổn định, bị trầm cảm nặng, nghĩ nhiều quá về mình nhưng lại thiếu tự trọng, luôn trong trạng thái đãng trí, và luôn có khuynh hướng dễ nổi nóng. Sự thay đổi tâm trạng rất liên tục và dễ nhận thấy.
Ron có thói đòi hỏi nhiều ở người khác và sau khi ở đây một thời gian, anh trở nên hung hãn với cán bộ và nhân viên bệnh viện, cũng như với các bệnh nhân khác. Thái độ hung hãn, hay gây sự này không thể tha thứ, nên cuối cùng Ron lại bị đưa ra khỏi bệnh viện và quay về khám tử tù. Bác sĩ Lizarraga kê đơn cho anh những thứ thuốc như Lithium Carbonate, Navane, và Cogentin, một thứ thuốc chủ yếu điều trị những triệu chứng của bệnh Parkinson, nhưng đôi khi cũng được dùng để giảm bớt tác dụng gây hung hãn sau khi dùng thuốc an thần.
***
Trở lại “Big Mac”, một quản giáo tên là Savage bị Mikell Smith tấn công rất tàn bạo. Mikell Smith là một tù nhân trong khám tử tù, vẫn được coi là tên sát nhân nguy hiểm nhất trong khám. Gã cắm sẵn lưỡi dao vào đầu cây chổi, và khi người quản giáo kia đưa thức ăn vào thì gã phóng luôn cái chổi ra. Lưỡi dao xuyên qua ngực, vào tim, nhưng thật may mắn là quản giáo Savage được cứu thoát.
Hai năm trước đấy, Mikell Smith đã đâm một bạn tù.
Cuộc tấn công không xảy ra trong khám tử tù mà ở khám D, khi gã bị đưa ra đấy để thực hiện thời gian kỷ luật. Tuy nhiên, ban giám đốc nhà tù quyết định từ nay phải thận trọng hơn. Cuộc tấn công được đăng trên báo chí và đến tai mọi người ở khám mới này.
Một chương trình được vạch ra cho Khám H, xưa nay vẫn được tiếng là khám tử tù an toàn nhất, cả tù nhân và nhân viên đều được sống và làm việc trong những điều kiện thuận lợi nhất. Khám có hai tầng với hai trăm tù nhân, chia ra làm bốn khu vực.
Ngay từ đầu, danh hiệu Khám H đã thu hút một đội ngũ nhân viên và quản giáo mẫu mực. Nhưng sau vụ tấn công nói trên, Khám H được sửa sang lại cho an toàn hơn. Người ta thuê những kiến trúc sư ở thị trấn Tulsa đến để đề ra kế hoạch cải tiến tòa nhà.
Tuy khám tử tù McAlester không có tù nhân nào bỏ trốn, nhưng các nhà thiết kế của Khám H vẫn chấp nhận phương án là đưa toàn bộ công trình xuống hầm.
Sau hai năm ngồi trong khám tử tù, tình trạng bệnh tâm thần của Ron Williamson trầm trọng thêm rất nhiều. Những lúc anh làm náo động, gào thét ngày càng xảy ra thường xuyên hơn và cũng dữ dội hơn. Thái độ của Ron mang tính tuyệt vọng, bất cần bất cứ thứ gì. Những cơn nổi khùng của anh bùng ra thường chỉ do những nguyên cớ rất nhỏ. Thế là anh văng ra đủ thứ tục tĩu và ném mọi thứ ra xung quanh. Có lần anh nhổ nước bọt vào một quản giáo. Nhưng khi Ron bắt đầu ném phân qua các song sắt thì quản giáo lập tức vào trói anh lại, đem đi.
“Thằng cha lại ném bẩn ra khắp xung quanh kìa!” Chỉ cần một tiếng hét lên như thế là mọi người quanh đấy vội vã bỏ chạy hoặc trùm thứ gi đấy lên người. Và khi tình trạng đã đến mức quá quắt, người ta lại giải Ron đến bệnh viện tại thành phố Vinita để khám lại.
Ron nằm tại bệnh viện nhà nước khu vực phía đông trong một tháng, từ giữa tháng Bảy đến giữa tháng Tám năm 1990. Anh lại được bác sĩ Lizarraga khám. Bác sĩ thấy tình trạng bệnh vẫn như trước.
Ba tuần sau, Ron đòi trở về khám tử tù. Anh đang lo đến việc phúc thẩm, và thấy nếu anh nằm ở khám McAlester thì vẫn thuận tiện cho việc xin phúc thẩm hơn. Vả lại ít nhất ở đây cũng có một tủ sách luật để anh nghiên cứu. Thuốc men cho anh được điều chỉnh khiến bệnh tình của anh có khá lên và thế là bệnh viện đồng ý cho anh trở lại khám tử tù.