Một, Khổng Minh Lượng
Khổng Minh Lượng hạ quyết tâm phải dẫn dắt mấy ngôi làng lân cận cùng làm giàu. Hương trưởng, huyện trưởng đã hứa với anh ta, chỉ cần dẫn dắt hai ngôi làng gần Chiết Liệt nhất trở nên giàu có, thu nhập bình quân đầu người hàng năm đạt đến con số nhất định, mọi nhà đều được ở nhà ngói như Chiết Liệt, thì sẽ lập tức đề bạt anh ta làm phó hương trưởng, sau này sẽ làm hương trưởng chính thức. Ngôi làng Lưu Gia Câu bên trái và ngôi làng Trương Gia Lĩnh cách đó vài dặm bên phải cũng được sáp nhập về mặt hành chính vào Chiết Liệt. Thôn Chiết Liệt vốn chỉ có một làng tự nhiên, hơn sáu trăm nhân khẩu. Bây giờ là ba làng tự nhiên, mười bốn tổ dân cư, một nghìn chín trăm năm mươi sáu nhân khẩu. Ủy ban thôn được đặt tại một bãi đất trống bên bờ sông trước thôn, xây nhà hai tầng, xây tường bao đỏ, trên cổng sắt lớn treo tấm biển hiệu trang trọng, viết chữ “Ủy ban thôn Chiết Liệt” — chữ to như quả dưa hấu.
Họ đã phân phát không hoàn lại hơn một nghìn tệ cho mỗi hộ gia đình ở hai ngôi làng kia, để họ có tiền nuôi lợn thì nuôi lợn, trồng rau thì trồng rau. Hơn nữa còn dẫn thanh niên của hai ngôi làng đó đến bên đường sắt ở sườn núi cách đó hai mươi dặm để bốc hàng, dạy họ cách khi tàu hỏa leo dốc, làm thế nào để dùng móc sắt cào than cốc trên toa xe xuống; nếu toa xe không có nắp đậy, hàng hóa lộ thiên, thì làm thế nào để móc một thùng, một giỏ hoặc một bao hàng treo lên cây. Lại còn để thanh niên Chiết Liệt làm thầy dẫn trò, dạy họ cách đuổi theo tàu hỏa và sau khi bốc xong hàng thì nương theo gió ngược nhẹ nhàng nhảy xuống.
Quan trọng nhất là khiến mỗi hộ gia đình ở hai ngôi làng đó đều ký vào bản hợp đồng bảo mật việc cào hàng trên tàu hỏa và bản hợp đồng chết thì được liệt vào gia đình liệt sĩ, tuyệt đối không truy cứu trách nhiệm, giống hệt như dân thôn Chiết Liệt. Mọi chuyện cứ thế, con người ầm ầm mà giàu lên. Cuộc sống vốn như chiếc túi da rách nát của hai ngôi làng kia, chớp mắt đã phồng lên căng đầy như gió thổi. Có những hộ rất nhanh đã trở thành hộ vạn tệ, chuẩn bị xây nhà ngói mới.
Năm tháng và ngày tháng của dân thôn Chiết Liệt, như mùa đông giá rét đã qua, mùa xuân ập đến, một đêm tỉnh dậy, trên cây trong sân mỗi nhà, trên đường phố trong thôn, ngoài đồng hoang ngoài thôn, chỗ này chỗ kia, trong núi này núi nọ, vạn vật đâm chồi, bốn phương mầm xanh, cả thế giới đều là hoa đào đỏ, hoa mận trắng. Hương trưởng vì có Chiết Liệt làm tấm gương, nghe nói lập tức sắp được điều lên huyện làm phó huyện trưởng. Huyện trưởng vì trong toàn tỉnh đã nắm bắt được thôn vạn tệ, hơn nữa mỗi nhà trong thôn đều ở trong nhà ngói mới chỉ trong vòng hai năm, bức ảnh những ngôi nhà ngói giữa vùng đất vàng nghèo nàn ấy được in kèm văn bản, các vị lãnh đạo cứ lật đi lật lại ngắm nghía, có vị lãnh đạo lớn còn mang bức ảnh đó về nhà vào buổi tối, để phu nhân, con cái cùng xem rồi cảm thán. Nghe nói vị lãnh đạo nào đó đêm hôm ấy vì bức ảnh đó mà ăn thêm ba cái bánh bao vàng bạc, uống thêm nửa bát cháo gạo đen, thế là huyện trưởng được gọi lên thủ đô để báo cáo viễn cảnh phát triển.
Tóm lại, chuyện một phát mà động cả toàn thân đã xảy ra, như sự sáng rõ của một ô cửa sổ, khiến cả thế giới trở nên quang minh và huy hoàng. Thế nhưng chuyện lại xảy ra đúng vào lúc này — mùa thu năm đó, tàu hỏa của quốc gia này tăng tốc. Người Chiết Liệt không biết chuyện thay đổi thế nào, những chuyến tàu hỏa đi qua sườn núi phía sau, dù là tàu khách hay tàu hàng, đột nhiên khi leo dốc không còn thở hổn hển, chậm chạp như trước nữa. Chúng đột nhiên có sức lực và tốc độ, tựa như một ông già cải lão hoàn đồng, thoắt cái đã nhanh nhẹn như bay. Leo núi leo dốc cũng như đi trên đất bằng. Chuyện chỉ được phát hiện khi dân Chiết Liệt có năm người bị ngã chết trong vòng mười phút khi đang đu tàu bốc hàng. Lúc đó mới biết tất cả tàu hỏa đi qua đó đều đã được tăng tốc, khiến người ta không thể đu tàu bốc hàng được nữa.
Và tệ hại hơn là trước mùa thu, con gái của Chu Khánh Phương là Chu Dĩnh trở về thôn. Hơn hai năm trước khi rời thôn, cô ta mặc bộ quần áo tự may trông rất ngốc nghếch mà người Ba Lâu ai cũng thích mặc. Hai năm sau, cô ta về thôn lại mặc một bộ quần áo Tây mà nghe nói mỗi món đều giá hàng nghìn tệ — trên áo vải, quần, khăn quàng và giày tất của cô ta đều in những chữ tiếng Anh mà người Chiết Liệt không ai nhận ra, đặc biệt là chiếc áo khoác dạ màu xám không cài khuy mà đi đâu cô ta cũng khoác trên người, có một nhãn hiệu nước ngoài màu đỏ tươi đính ở cổ tay áo bên trái. Cô ta diễu võ dương oai trong thôn, thuốc lá và sô-cô-la mang về, gặp bất cứ ai, người lớn hay trẻ con, đều đưa nguyên cả bao, cả hộp.
Cô ta đang thách thức và tuyên thệ với Chiết Liệt.
Đang khiêu khích và chứng minh với Khổng Minh Lượng.
Điều khiến Khổng Minh Lượng khó hiểu là cô ta hoàn toàn không thông qua ủy ban thôn, không cần chứng nhận và con dấu của ủy ban thôn mà lấy được giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nền nhà từ huyện, từ trước mùa thu đến sau mùa thu, ngay bên cạnh khu đất ủy ban thôn, cô ta đã xây lên một tòa nhà ba tầng, cao hơn tòa nhà hai tầng của ủy ban thôn một tầng. Tòa nhà ủy ban thôn đều xây bằng gạch trần, cô ta còn dán một lớp gạch men trắng lên bức tường gạch nhà mình. Cửa kính tòa nhà ủy ban thôn đều là kính trắng, cửa kính nhà cô ta đều là kính đỏ màu trà. Ngày tòa nhà mới nhà cô ta hoàn thành, thôn Chiết Liệt có năm người ngã chết từ trên tàu hỏa trong vòng mười phút, sau khi chôn cất năm liệt sĩ đó trong thôn, Khổng Minh Lượng ngồi thẫn thờ trong văn phòng ủy ban thôn một mình, Chu Dĩnh xuất hiện ở cửa văn phòng anh ta, trên mặt treo nụ cười ửng đỏ, dựa vào khung cửa, chiếc áo khoác dạ màu xám bị đôi vai cô ta nâng lên, bên cao bên thấp, giống như những người mẫu trong tủ kính trung tâm bách hóa thành phố không mặc áo cho ngay ngắn. Lúc này, hoàng hôn buông xuống, trong thôn tĩnh mịch, trong văn phòng to bằng phòng họp của Khổng Minh Lượng, chiếc bàn làm việc khổng lồ và chiếc ghế da có thể xoay, cùng điện thoại trên bàn và chiếc cặp tài liệu cố tình đặt ở đó để tỏ vẻ uy nghiêm, bộ sô-fa dưới bức tường đối diện và cây vạn tuế, cây kim tiền mua từ chợ hoa huyện lỵ đặt trên đầu sô-fa, gạch hoa trên sàn và vết nước do cây lau nhà để lại, tất cả dưới sự đối chiếu của Chu Dĩnh đều lộ vẻ quê mùa và yếu đuối, không còn uy lực và sức thuyết phục. Cô ta cứ đứng ở cửa như vậy, quay lưng về phía hoàng hôn, mái tóc xõa rơi ngoài chiếc áo khoác, trên mặt là làn da như sương sớm và ánh sáng màu hoàng hôn, chằm chằm nhìn Khổng Minh Lượng đang ngây người ở đó, cô ta nhạt nhẽo cười hỏi:
“Lo lắng à? Không biết làm giàu thế nào nữa à?”
Minh Lượng ngẩng đầu lên. Đây là lần đầu tiên cô ta về thôn tìm anh ta. Lần đầu tiên nói chuyện gần gũi thế này. Lần đầu tiên anh ta nghe thấy trong lời nói của cô ta ít nhiều hàm ý nghĩ cho anh ta. Anh ta cứ ngẩng đầu nhìn cô ta như thế. Cô ta đi từ cửa vào, đứng trước bàn anh ta, nói những lời mềm mỏng đầy chua chát.
— “Tàu hỏa tăng tốc rồi, sau này lại đi trộm không biết sẽ ngã chết bao nhiêu người, sẽ khiến bốn phía đường ngã tư trong thôn trở thành bãi tha ma cũng không chôn hết.”
— “Trong vòng một năm, anh không có cách nào khiến Lưu Gia Câu và Trương Gia Lĩnh giàu lên như Chiết Liệt trước đây, thì đừng hòng làm hương trưởng. Hương trưởng cũng đừng hòng làm huyện trưởng. Huyện trưởng cũng đừng hòng được điều lên thành phố làm thị trưởng.”
— “Tôi có cách khiến họ giàu lên. Có cách khiến hai ngôi làng đó sang năm nhà nào cũng ở nhà ngói, nhà lầu.”
Hoàng hôn xuyên qua cửa sổ, trong hai căn phòng đó, rơi đầy sắc đỏ và tiếng nói giọng Ba Lâu pha chút giọng thành phố của cô ta, như một đám lửa nhảy múa trước mắt anh ta. Anh ta nhìn mặt cô ta, chợt phát hiện cô ta đẹp hơn lúc rời khỏi thôn. Lúc đó, vẻ đẹp của cô ta là hoa đồng cỏ nội, lúc này, trong vẻ đẹp của cô ta tràn ngập cây cảnh và hoa ban công đã qua chỉnh sửa của người thành phố, giữa đôi lông mày không biết đã trở nên mảnh và dài ra từ lúc nào của cô ta, có phong yêu và nghiệt khí đầy quyến rũ.
“Làm giàu thế nào?” Anh ta hỏi cô ta.
“Anh phải cưới tôi.” Cô ta cười, “Tôi hai mươi ba, anh hai mươi bảy, đều đến tuổi kết hôn rồi. Ở bên ngoài tôi có thể tùy tiện lấy một người tốt hơn anh, nhưng đêm đầu tiên rời khỏi Ba Lâu, người đầu tiên tôi gặp chính là anh, cả đời này tôi không thể không lấy anh.”
Chằm chằm nhìn vào mặt cô ta một lúc lâu, Minh Lượng chợt cười khẩy:
“Cô tưởng tôi không biết cô làm nghề gì bên ngoài à? — Gà — cô là kỹ nữ, là đĩ điếm, cô tưởng tôi không biết à?”
Như có động đất, thân hình Chu Dĩnh chao đảo, sau đó nói với anh ta: “Lần này anh không đồng ý với tôi, lần sau anh sẽ phải quỳ xuống cầu xin tôi. Lúc đó, anh có quỳ xuống cầu xin tôi, e là tôi Chu Dĩnh cũng không đồng ý lấy anh nữa.” Nói xong cô ta xoay người đi ra ngoài, bước chân vẫn nhẹ nhàng và đầy chất thơ như lúc đến, đôi giày cao gót màu nâu đỏ gõ cộp cộp lên những viên gạch hoa vàng dưới sàn. Cho đến khi cô ta đi rồi, suốt một năm trời, tiếng cộp cộp đó vẫn vang vọng trong não bộ sâu thẳm của Khổng Minh Lượng và trong những khoảnh khắc anh ta đang thẫn thờ suy nghĩ điều gì đó.
Hai, Trình Tinh
Trình Tinh vừa tròn mười bảy tuổi đang làm thư ký trong ủy ban thôn, công việc là lau bàn quét nhà, thông báo người đến họp và rót nước nóng cho thôn trưởng.
Khi Chu Dĩnh đi khỏi sân ủy ban thôn, cô nhìn chằm chằm vào đôi giày da đỏ dưới chân Chu Dĩnh, hạ quyết tâm có một ngày cũng phải mua một đôi giày da đỏ, vào ra ủy ban thôn cũng có tiếng gõ cộp cộp như Chu Dĩnh. Thế nhưng ngay khoảnh khắc Chu Dĩnh đi khỏi, cô thấy khuôn mặt vuông vức mà thôn trưởng khảm vào cửa sổ trở nên vàng vọt như hoa cúc, tựa hồ như kiệt sức vì đổ mồ hôi quá nhiều. Cô vội vàng xách một bình nước nóng đi vào, muốn rót cho thôn trưởng một chén nước, nhưng vào phòng lại thấy sắc mặt thôn trưởng không phải màu vàng hoa cúc, mà là màu xanh lá cải mùa xuân, hơn nữa trong ánh mắt đó còn có một tấm màn thất vọng sâu thẳm che trên màng mắt. Thôn trưởng đã quay mặt từ cửa sổ lại, nhìn khuôn mặt Trình Tinh trước mặt, như nhìn một cô gái mà ông ta chưa từng gặp bao giờ.
Trình Tinh đi rót nước vào chén trước mặt thôn trưởng.
Thôn trưởng đột nhiên nắm lấy tay Trình Tinh, nói với giọng run rẩy:
“Cháu qua mười bảy rồi nhỉ?”
“Chưa ạ.”
Trình Tinh lùi lại một bước, rút tay ra khỏi tay thôn trưởng, rồi bỏ chạy khỏi văn phòng thôn trưởng. Ra đến sân, cô nghe thấy tiếng gọi của thôn trưởng ở phía sau: “Cháu tưởng cháu có bản lĩnh như Chu Dĩnh à? — Về xem mộ anh trai cháu đi, tao có thể khiến trên mộ anh trai cháu đến một cọng cỏ dại cũng không sống nổi!”
Đứng ngẩn ngơ trong sân ủy ban thôn một lúc, đợi tiếng của thôn trưởng tan đi, Trình Tinh rời khỏi ủy ban thôn. Phía nam ủy ban thôn là một rừng cây nhỏ, cô đi vòng từ khu rừng đó ra con đường nhỏ phía sau ủy ban thôn, lúc đi xuyên qua thôn về nhà, nhìn thấy một ngôi nhà mới xây của gia đình họ Dương, cao lớn xinh đẹp, giống hệt miếu đường. Nhìn thấy một gia đình họ Chu, muốn con trai đi làm thợ điện trong thôn, người mẹ hàng ngày mang rau chân vịt, cần tây, gà mái và trứng gà đi hối lộ nhà thôn trưởng, hận không thể mang tất cả những gì hữu dụng hay vô dụng trong nhà đến nhà thôn trưởng. Trình Tinh nhìn thấy bà ta, bà ta cũng nhìn thấy Trình Tinh, còn cười rất lấy lòng với Trình Tinh. Trình Tinh cũng cười lại với bà ta. Nhưng khi Trình Tinh đi đến bãi tha ma ở ngã tư đường, nụ cười trên mặt cô biến mất, nhớ đến lời nói vừa rồi của thôn trưởng. Anh trai chôn ở góc tây nam ngoài cùng của ngã tư, là người chết đợt thứ hai khi đi bốc hàng trên tàu hỏa. Cô được chăm sóc vào làm thư ký trong ủy ban thôn là vì anh trai đã chết. Em gái liệt sĩ, chăm sóc cô, người dân trong thôn và thôn trưởng đều cảm thấy là chuyện đương nhiên. Hàng ngày đi làm cô đều đi qua ngã tư này, từ ngôi mộ chỉ có một của cha Chu Dĩnh — lão thôn trưởng, đến đây đã là một bãi mấy chục ngôi mộ, cô đều đã quen. Đi qua bãi tha ma như đi qua một dãy nhà, đều lười quay đầu nhìn thêm một cái. Nhưng hôm nay, khi đi qua một lần nữa, cô quay đầu lại nhìn, lạnh người phát hiện nơi đó ngoại trừ vài ngôi mộ mới vẫn còn vòng hoa và đất vàng trơ trọi, còn những ngôi mộ cũ ở bốn góc ngã tư — cũng không hẳn là cũ, nhiều nhất cũng chỉ chôn ở đó ba bốn năm. Nhưng những ngôi mộ này trải qua mưa, trải qua các mùa và năm tháng, đều cỏ mọc um tùm, như một đống sơn màu đậm. Hoa trắng hoa đỏ và hoa cúc dại vàng đậm đua nhau nở tưng bừng trên mộ, nhảy múa ca hát, đến cả ong mùa thu và bướm mùa thu cũng nhảy nhót trên ngôi mộ đó, vừa nói vừa cười. Trình Tinh phát hiện trên mộ anh trai mình, không có bướm và ong, cô tịch như một tảng đá đất hoang trong đồng không mông quạnh. Cô đứng lại ở ngã tư đó, ngẩn người một lúc, đi từ giữa những ngôi mộ khác về phía trước mộ anh trai, đến gần rồi, nhìn thấy cỏ trên mộ anh trai — những khóm cúc dại và cỏ rồng bò đất, còn có hoa nghênh xuân mà người dân trong thôn đều cố ý trồng lên mộ đó — những ngôi mộ khác đều cỏ xanh hoa nở, mùi hương nồng nặc như hoa quế bao trùm khắp nơi, ngay cả khi mùa hè đến, mùa xuân đi, hoa nghênh xuân đều đã hết mùa tàn úa, nhưng hoa nghênh xuân ở bãi tha ma kia vẫn vàng rực rỡ, nở mãi không tàn.
Cảnh tượng là như vậy. Trình Tinh nhìn thấy tất cả các ngôi mộ đều cỏ xanh tốt tươi, chỉ có mộ anh trai mình là không có cỏ xanh và khóm hoa, chết chóc trơ trọi, đến ong bướm cũng không đậu xuống ngôi mộ đó.
Một lúc sau, Trình Tinh rời khỏi mộ anh trai. Đi theo con đường cũ rất nhanh lại quay về văn phòng thôn trưởng Khổng Minh Lượng, thấy thôn trưởng đang cầm một chiếc áo vải chuẩn bị rời đi, cô chặn trước mặt thôn trưởng thốt ra một câu:
“Cháu qua mười bảy rồi. Cháu là người lớn rồi!”
Thôn trưởng nhìn cô nói, mồ hôi trên trán rịn ra như những giọt nước. Ông ta đưa tay lau mồ hôi trên trán cô, cảm thấy toàn thân cô run rẩy như dùi trống gõ vào tay ông ta, và không đợi ông ta nói gì, cô đã quay người đóng cửa, bắt đầu cởi cúc áo của mình trước mặt ông ta, đến mức cô hoảng loạn vội vàng, còn làm rơi một chiếc cúc đen dưới cổ xuống sàn gạch, nảy lên như quả bóng bàn lăn dưới sô-fa. Ánh sáng vẫn thong dong đi vào từ cửa sổ lúc này có tiếng bước chân chạy, trong phòng loảng xoảng, chao đảo hỗn loạn, chỗ này sáng một mảng, chỗ kia tối một mảng, nhưng cuối cùng có một tia sáng chiếu từ khuôn mặt Trình Tinh xuống ngực cô. Khổng Minh Lượng mượn tia sáng đó nhìn thấy bộ ngực non trắng nhạt xanh của Trình Tinh, những vật chưa phát triển thành hình, như cái bánh bao chưa lên men chưa hấp chín. Ông ta đưa tay sờ vào núm bánh bao đó, kéo áo cô che lại chỗ cứng mềm đó.
“Cháu còn chưa đến mười bảy đâu — để sau đi, hương trưởng gọi tôi phải gấp rút đến hương một chuyến.” Minh Lượng nói xong liền vội vã đi về phía cửa. Khi ông ta mở cửa phòng, ánh sáng tràn vào dựa vào người ông ta, ông ta lại quay đầu nhìn Trình Tinh nói: “Đi xem mộ anh trai cháu đi, mộ anh trai cháu nở rất nhiều hoa đấy.”
Thôn trưởng đi rồi.
Trình Tinh cứ đứng ngẩn ngơ trước bàn làm việc của thôn trưởng, cho đến khi tiếng bước chân vang lên từ trong sân, cho đến khi hoàng hôn của ngày hôm đó đến đúng hẹn, cô mặc lại quần áo, lại đi về phía thôn, phía nhà mình, lại đi đến ngã tư đường, nhìn thấy cỏ vốn khô héo trên mộ anh trai, quả nhiên tất cả đều nở hoa, xoay vần bay lượn rất nhiều ong, bướm và chim hoàng oanh kêu líu lo.
Ba, Hồ Đại Quân
1
Hương trưởng Hồ Đại Quân, ngồi chiếc xe hơi con mà Chu Dĩnh dùng thân xác kiếm tiền để quyên tặng cho hương, lái thẳng về phía Chiết Liệt.
Mùa đông, mặt trời vàng rực rỡ, treo trên đỉnh đầu, như vàng đốt lửa cháy trên dãy núi. Hồ hương trưởng dẫn theo phó hương trưởng, mấy người ngồi xe hơi mới, lao vun vút trên núi Ba Lâu. Nhìn ánh sáng ngoài cửa sổ xe, mặt ai cũng đỏ rực ánh vàng, chạm vào sờ vào là có màu sắc rơi xuống. Mặt Hồ hương trưởng đắc ý, rạng rỡ, dọc đường cứ như đang cười khúc khích không tiếng động. Lão huyện trưởng sắp lên thành phố làm thị trưởng, hứa sẽ tiến cử ông ta lên huyện làm huyện trưởng, vì ông ta đã tạo ra được thôn điển phạm làm giàu như Chiết Liệt — mà thôn điển phạm này, Chu Dĩnh cũng từng góp công lớn. Hôm nay ông ta chính là muốn đến Chiết Liệt mở thêm một hội nghị làm giàu tại hiện trường, muốn dựng một tấm bia kỷ niệm biểu dương cho Chu Dĩnh.
2
Một năm trước, tàu hỏa tăng tốc, người Chiết Liệt không thể đi bốc hàng bên đường sắt được nữa, bước chân giàu có dừng lại như gãy xương. Hồ hương trưởng và Khổng Minh Lượng lo đến mức miệng không ăn nổi, đêm không ngủ yên, cuối cùng hương trưởng nghiến răng, giậm chân, liền để hương điều mấy chiếc xe tải lớn, đợi ở bên đường ngoài thôn Chiết Liệt, lại cùng Khổng Minh Lượng mở một cuộc họp động viên trong thôn, nói rằng thành phố về hương tuyển công nhân, chỉ tiêu đều dành cho thôn Chiết Liệt, phàm là đàn ông và đàn bà trong thôn từ mười tám tuổi đến bốn mươi tuổi, còn đi lại leo trèo được, muốn đến thành phố kiếm tiền, muốn một tháng kiếm ba nghìn năm nghìn, đều có thể vác chăn màn, hành lý xuống dưới núi đó mà lên xe.
Thanh niên nam nữ cả thôn liền ùa một cái đi hết.
Người đi rồi, thôn xóm trống trải như sân phơi lúa sau vụ mùa bận rộn. Thế nhưng những chiếc xe tải chở đầy nam nữ Chiết Liệt chen chúc nhau đó, được hương trưởng và thôn trưởng đích thân đưa đến một góc cạnh nhà ga tàu hỏa thành phố cách đó mấy trăm dặm, đỗ xe tải ở một nơi vắng vẻ, hương trưởng và thôn trưởng xuống xe, phát cho mỗi người Chiết Liệt — đặc biệt là người Lưu Gia Câu và Trương Gia Lĩnh, một tờ giấy giới thiệu khống có đóng hai dấu của hương và thôn, nói các người muốn điền thế nào thì điền, muốn tìm việc gì ở thành phố này thì tìm. Đàn ông đi bốc gạch, xách vữa xây nhà, đàn bà đi nhà hàng bưng đĩa rửa bát; cho dù đi tìm Chu Dĩnh làm gà, làm vịt, dùng chính lưỡi của mình giúp người ta lau giày, liếm mông, cũng không được phép quay lại thôn. Nói phát hiện ai ở thành phố chưa đủ nửa năm đã quay về thôn, hương sẽ phạt gia đình họ ba nghìn tệ; chưa đủ ba tháng quay về thôn, phạt bốn nghìn tệ; chưa đủ một tháng quay về thôn, phạt năm nghìn tệ. Nếu ai dám chớp mắt cái đã mua vé quay lại Chiết Liệt, thì đó không chỉ là phạt tiền nữa, là phải đối xử như kế hoạch hóa gia đình sinh quá mức.
Nói xong những lời này, hương trưởng và Minh Lượng liền ngồi xe tải rời khỏi thành phố quay về. Sau đó, sau đó người Chiết Liệt liền như hạt nước rơi xuống biển, hòa tan vào biển người. Thỉnh thoảng cũng có chuyện xảy ra, nhiều nhất là tập thể làm trộm ở thành phố, bị người ta bắt được, trại thu dung chứa không hết, bị cảnh sát thành phố dùng xe cảnh sát áp giải đưa về quê, Hồ hương trưởng liền phải đứng ra mời cảnh sát đó ăn một bữa cơm, kính một ly rượu, lúc đi lại tặng cảnh sát ít đặc sản địa phương.
Cảnh sát nói: “Mẹ kiếp, cái hương của các người chuyên sản xuất trộm à.”
Hồ hương trưởng liền tát mỗi tên trộm một cái vào mặt.
Cảnh sát nói: “Bắt lại bọn chúng là phải đi tù đấy.”
Hồ hương trưởng liền nhét đặc sản vào trên xe cảnh sát có cửa sổ rào sắt.
Xe đi rồi, chỉ còn lại hương trưởng và mấy chục tên trộm, hương trưởng liền trợn mắt hỏi bọn chúng:
“Ăn trộm cái gì?”
“Nắp cống và ống thép trên phố.”
“Còn gì nữa?”
“Ti vi nhà người thành phố.”
Hương trưởng liền đá một cước vào bụng tên trộm lớn tuổi nhất, bảo mẹ kiếp, học theo người thôn Chiết Liệt, đừng làm chuyện nhỏ — nắp cống, ống thép đáng giá bao nhiêu tiền? Ti vi một ngày giảm một giá, rẻ như củ cải rau xanh, đây cũng đáng cho các người đi trộm à? Bảo cút hết đi, cút hết về thành phố, tỉnh lỵ, Nam Đô, Bắc Đô những nơi đó đi. Làm trộm tao không phạt các người, nhưng trong hai năm các người phải mở được vài xưởng nhỏ trong thôn — nếu không mở được vài xưởng, lại bị áp giải về, tao sẽ cho cả nhà các người đội mũ chóp cao diễu phố. Những tên trộm đó, những thanh niên Lưu Gia Câu và Trương Gia Lĩnh đó, ăn chửi của hương trưởng, lại nhận từ tay hương trưởng tờ giấy giới thiệu khống, đến cửa nhà không về thăm người thân, liền lại ngồi xe khách quay lại thành phố. Từ thành phố chuyển tàu hỏa đến tỉnh lỵ hoặc các đô thị khác.
Còn gặp phải một số việc, cảnh sát không áp giải người về hương, về thôn. Cảnh sát thành phố dùng điện thoại thông báo hương trưởng đến thành phố lĩnh người về. Anh không đích thân đến, thành phố không chỉ không thả người, còn bày ra những tình huống sống động như mời khách dọn cỗ, phơi lên báo chí, phát trên ti vi. Lúc đó, sự việc đột ngột bị động, hương trưởng đành phải đích thân ra mặt đến đồn công an nào đó ở tỉnh lỵ hoặc Cửu Đô, vừa vào cửa, đã nhìn thấy hơn chục cô gái Lưu Gia Câu và Trương Gia Lĩnh, xếp hàng ngồi xổm dưới một bức tường sân, mỗi người đều trần như nhộng, chỉ mặc áo lót, mặc một chiếc quần lót tam giác xanh xanh đỏ đỏ, dưới ánh mặt trời phô bày thân thể nước non của mình.
Hương trưởng đặt ánh mắt lên người chúng một lúc, có cảnh sát đi tới, nhổ một bãi đờm ác ý trước mặt ông ta.
Hỏi: “Ông là Hồ hương trưởng?”
Hương trưởng nói: “Xin lỗi, đã thêm phiền phức cho các anh.”
Người ta chửi: “Đệch, hương của các người chuyên sản xuất đĩ có phải không?”
Hương trưởng nói: “Tôi về sẽ cho mỗi đứa trong số chúng nó đeo giày rách diễu phố, xem sau này chúng còn mặt mũi nào làm người trên đời này nữa. Xem mẹ nó sau này lấy chồng còn lấy được ai.”
Thế là lĩnh người về. Bảo chúng mặc quần áo vào, đi theo phía sau, từ cục đó đi ra, như thầy giáo dẫn học sinh từ trường đi ra vậy. Đi qua một con phố, lại qua một con phố. Một lần ngoái đầu lại, thấy chúng đứa nào đứa nấy vẫn đội ngũ ở phía sau, hương trưởng liền nhìn chằm chằm chúng nói: “Vẫn đi theo tao làm gì nữa, theo tao có cơm ăn hay có tiền tiêu? Đi theo Chu Dĩnh hết đi. Chu Dĩnh bây giờ từ Nam Đô về rồi, nó đang mở tiệm ở tỉnh lỵ đấy.”
Các cô gái ngẩn ngơ nhìn Hồ hương trưởng, lại nhìn nhau, liền lại tản ra thành phố, xanh xanh đỏ đỏ, như một vạt hoa nở trên phố thị. Chỉ là khi chúng chia tay hương trưởng, Hồ hương trưởng mới trách mắng chúng vài câu như một người cha.
— “Có bản lĩnh thì tự mình làm bà chủ như Chu Dĩnh, để con gái hương khác, huyện khác đi theo làm gà cho các người; có bản lĩnh thì đi chỉnh đốn tên cảnh sát nhổ đờm trước mặt tao kia, cho nó vợ ly tán, nhà tan cửa nát, các người đi làm vợ tên cảnh sát đó. Cho nó cả đời không có ngày nào tốt đẹp.”
— “Đi hết đi. Cút hết đi. Trong vòng nửa năm, các người ai không thể biến căn nhà tranh của nhà mình thành nhà ngói lớn, không thể biến nhà ngói đất thành nhà lầu nhỏ, thì các người mới thực sự là đĩ. Mới thực sự là gà rừng. Mới thực sự làm mất mặt cha mẹ, ông bà thôn Chiết Liệt và Ba Lâu, mới thực sự không có mặt mũi về nhà gặp cha mẹ, ông bà mình.”
Các cô gái đứng xa nghe lời hương trưởng, nhìn khuôn mặt chất phác như đất của hương trưởng, xoay người bỏ đi. Họ đi con đường vào thành phố của mình, nở rộ những bông hoa xanh non của mình, đi kết những quả ngọt cuộc đời của mình.
3
Trước mắt, Lưu Gia Câu, Trương Gia Lĩnh và Chiết Liệt đều đã giàu có trái ngọt đầy cành như nhau. Trong thôn không chỉ có điện, có đường, có nước máy, còn có nhà máy bột mì, nhà máy dây thép, nhà máy đinh sắt, nhà máy gạch máy và lò vôi đang xây dựng theo dây chuyền. Cuộc sống của mọi người giàu lên nhanh như sấm chớp. Người trước đây ở Cửu Đô làm thợ phụ xây chuồng gà, xây bếp cho người ta, chớp mắt đã thành cai thầu. Người trước đây ở tiệm cắt tóc làm phụ tá cho người ta, đêm đến phải đi hầu hạ đàn ông, các cô gái đều đi theo Chu Dĩnh học nghệ, đầu tiên là đồ đệ, sau là thầy, cuối cùng dưới sự giúp đỡ của Chu Dĩnh, đến thành phố khác lập nghiệp riêng, kém nhất cũng là bà chủ quyến rũ của tiệm cắt tóc. Việc hầu hạ đàn ông thì đến lượt các cô gái khác. Chuyện là như thế, đuổi người Chiết Liệt như đuổi gà đuổi vịt đến thành phố, một năm sau, trong thôn đã có dáng vẻ thành phố. Nhìn từ đường thôn Lưu Gia Câu và Trương Gia Lĩnh, nhà ngói, nhà lầu trên phố giống hệt thôn Chiết Liệt, nhà nào cũng có cổng cao, sư tử đá, trước cửa có bậc thềm đá ba tầng năm tầng.
Sao lại không dựng một tấm bia lớn cho Chu Dĩnh ở đầu thôn Chiết Liệt cơ chứ? Không có cô ta thì những cô gái thôn quê kia có thể làm thôn giàu lên không? Huống hồ Chu Dĩnh không chỉ làm cho các gia đình cô gái ở Lưu Gia Câu và Trương Gia Lĩnh giàu lên, còn quyên tặng cho hương một chiếc xe hơi mới.
Thế là thông báo thôn trưởng các thôn đều đến Chiết Liệt họp hiện trường. Khổng Minh Lượng đi nịnh nọt ở huyện rồi, Hồ hương trưởng liền đến Chiết Liệt đích thân động viên người dân các hộ, lau nhà, quét sân, dọn dẹp đường chính và ngõ nhỏ, đón hàng trăm người từ thôn khác làng khác đến, theo đuôi sau hương trưởng, đầu tiên đi tham quan nhà máy, lò nung của Lưu Gia Câu, sau đó tham quan gia cầm và gia súc của Trương Gia Lĩnh. Vừa đi vừa hỏi, tùy theo ý thích và sự quan tâm của mỗi cán bộ thôn, muốn đến nhà nào xem thì đến nhà đó, muốn hỏi nhà nào cái gì thì hỏi nhà đó.
Cuối cùng hương trưởng dẫn quân lính đến nhà Chu Dĩnh bên cạnh ủy ban thôn Chiết Liệt. Nhìn thấy nhà họ Chu xuất hiện ở đó như một ngôi miếu kiểu mới, một mẫu đất, tòa nhà ba tầng tọa tây hướng đông. Tòa nhà đó là nhà Chu Dĩnh chỉ ở nửa năm chê quê mùa rồi lại cải tạo xây dựng lại một lần. Gạch xây nhà đều là màu giả cổ nửa xanh nửa xám, cửa sổ đều là hoa thép như chạm khắc gỗ. Trong hoa thép thỉnh thoảng còn khảm một ít đồng đỏ và đồng vàng. Tường bao thì, vì có sắt nghệ thuật, nên đã thành tường bao công viên thành phố, dưới tường lại trồng cây, trồng cỏ, mặc dù là mùa đông, nhưng những cây bách đất không cao và tùng bò, cùng những cây đông thanh xanh tươi bốn mùa, cỏ xanh mùa đông, dưới ánh nắng mùa đông vàng vọt tô điểm thêm nhiều màu xanh lam xanh lục. Thế là đều dựng đứng dưới tòa nhà đó, trong miệng mỗi người vang lên một tiếng “Ôi”, “Á”, “Trời ơi” đầy kinh ngạc, sau khi tham quan xong trước khi hoàng hôn xuống, liền đều luyến tiếc rời khỏi nhà Chu Dĩnh, đi về phía đầu thôn dựng bia cho Chu Dĩnh.
Đầu thôn có một bãi đất lớn, bằng phẳng, đang ở ngay lối vào thôn từ đường cái. Ngay tại đầu thôn này, hương trưởng dựng bia cho Chu Dĩnh. Bia là bia đá xanh bằng đá cẩm thạch, dày một thước, rộng tám thước, cao một trượng hai thước, trên khắc những chữ to bằng cái bát ăn cơm.
Đế bia đã đặt vào hố đất rồi.
Xung quanh hố bia không chỉ lấp đất, còn đổ một vòng xi măng. Trong không khí có một mùi bụi đất tươi mới. Mặt trời treo trên đỉnh đầu, cán bộ các thôn trong toàn hương đều đứng trong ánh nắng, hoặc ngồi bệt xuống một chiếc giày bông của mình, chăm chú nhìn khuôn mặt hương trưởng, nhìn cái miệng đóng mở của hương trưởng, nghe tiếng nói của hương trưởng:
“Các người nói xem, thôn các người có ai được như cô Chu Dĩnh không? Các người có biết không? Chu Dĩnh vừa đến thành phố mới chỉ là một nhân viên phục vụ ở tiệm cắt tóc, nhưng bây giờ, Chu Dĩnh mở một trung tâm giải trí ở tỉnh lỵ, một lần tắm có thể chứa chín trăm người đàn ông và đàn bà, mỗi ngày kiếm được tiền đều có thể mua mấy chiếc xe hơi con, hoặc xây một tòa nhà kiểu tây nhỏ!”
“Sao có thể không dựng bia cho Chu Dĩnh?” Hương trưởng nói, “Cô ta không chỉ làm cho gia đình mình xây được nhà lầu, còn giúp nhà của hơn một trăm cô gái đi ra từ hương chúng ta đều xây được nhà ngói và nhà lầu.” Nói, “Không chỉ làm cho nhà của hơn một trăm cô gái này xây được nhà ngói và nhà lầu, còn làm cho hai ngôi làng Lưu Gia Câu và Trương Gia Lĩnh có điện, có nước, thông đường. Tiền này đều từ đâu mà ra? — đều là Chu Dĩnh quyên góp đấy, đều là Chu Dĩnh động viên hơn một trăm cô gái góp vốn ra đấy.”
“Còn một việc nữa,” hương trưởng dừng lại một chút, liếc nhìn cán bộ phía dưới, kéo cổ họng to hơn, “Chu Dĩnh nói năm tới mùa xuân cô ta muốn trải nhựa con đường đất cát từ hương đến thôn. Làm con đường đất thành đường quốc lộ cấp quốc gia đấy, các người có biết làm con đường này phải tốn bao nhiêu tiền không?”
Hương trưởng gọi:
— “Phải mất triệu triệu đấy!”
Hương trưởng nói:
— “Tôi với tư cách là một hương trưởng, không có gì khác để báo đáp cô gái Chu Dĩnh này. Tôi chỉ có thể dựng cho cô gái Chu Dĩnh tấm bia này thôi.”
Tấm bia đá khổng lồ như một bức tường liền được dựng lên, tất cả những người đến, liền đều nhìn thấy mười chữ to bằng cái giỏ trên tấm bia lớn đó:
Làm giàu học Chiết Liệt
Gương sáng nhìn Chu Dĩnh
Thế là đều vỗ tay về phía tấm bia khổng lồ. Vỗ đến mức bàn tay ai cũng chảy một mảng máu.
Bốn, Khổng Đông Đức và các con trai
1
Khao khát mùa xuân lại đến, cây ngô đồng vẫn nở những bông hoa màu phấn hồng, cây mơ vẫn nở những bông hoa trắng như ngọc. Nhưng mùa xuân thực sự đến rồi, Khổng Đông Đức nhìn thấy hoa nghênh xuân trồng ở tất cả các ngôi mộ tại ngã tư trong thôn đáng lẽ phải xanh tươi nở hoa trước tiên, nghênh xuân lại không còn xanh tươi, không còn nở hoa nữa. Cây liễu bên sông, bên giếng, cũng không nhú chồi xanh nữa. Không có đợt rét nàng Bân, thời tiết ngày một ấm, người ta đều đã cởi bỏ hết áo bông rồi — theo thời trước, tiết này đã qua Thanh Minh, đến Cốc Vũ, thế nào cũng phải xuân tràn nhân gian, một thế giới sắc xanh cảnh đỏ, nhưng năm nay tháng ba âm lịch, sắc xuân xanh lại cứ chần chừ không chịu bước ra.
Một buổi sáng mùa xuân này, Khổng Đông Đức nghĩ đến chuyện mùa xuân, treo đôi chim sáo nuôi ở cây liễu trên mộ Chu Khánh Phương ở trung tâm thôn, bắt đầu học dáng vẻ người thành phố sáng sớm múa quyền điệu vũ trong công viên, bắt đầu vận động tay chân ở bãi đất trống ở ngã tư trước mộ. Ông ta cũng không hẳn là thực sự muốn rèn luyện thân thể, kéo dài tuổi thọ, luyến tiếc vẻ đẹp và sự tuyệt diệu của thế giới, chỉ là mấy năm nay đều đi qua như vậy, chứng minh cuộc đời ông ta tươi đẹp, năm tháng an nhã, mặc dù nửa đời trước Chu Khánh Phương khiến ông ta lận đận đi tù, nhưng bây giờ ông ta đã cười đến tận cùng, còn ông Chu Khánh Phương, lại đã nằm trong mộ từ sớm rồi.
Liền mang đôi chim sáo đó mỗi ngày thức dậy đều treo lên mộ Chu Khánh Phương, vận động tập luyện trên ngã tư này, đón nhận lời hỏi thăm và chúc an của tất cả người trong thôn khi ngủ dậy đi ngang qua. Trời dần ấm lên, vận động một lúc trên người sẽ có mồ hôi thấm ra. Cởi một chiếc áo khoác, không treo trên thân cây gần đó, mà cố ý đi qua mấy ngôi mộ, treo lên cành cây mà Chu Khánh Phương đã treo chim sáo, còn cố ý bước lên thân mộ, giậm chân mấy cái trên bụng mộ, eo mộ Chu Khánh Phương, mới từ đó đi về, lại tiếp tục tập luyện.
Không khí làm người tỉnh táo, có hơi ẩm mát mẻ ùa tới. Mộ Chu Khánh Phương, mỗi sáng sớm đều bị Khổng Đông Đức giẫm đi giẫm lại, trước mộ đã có một con đường nhỏ, trên đống mộ khô cứng, đất mới đắp lên vào tiết Thanh Minh đều đã bị ông ta giẫm cho chảy xuống mặt đất, khiến đống mộ thấp bé, như một đống đất tùy tiện đắp. Có một ngày, ông ta nhìn dòng chữ “Người Đảng viên trung thành nhất” trên bia mộ Chu Khánh Phương không thuận mắt, liền dùng bùn đất bôi lên chữ đó. Lại một ngày, ông ta nhìn tấm bia đá dựng đứng cũng không thuận, liền bảo người trong thôn đi đẩy đổ bia đó, nhưng đẩy đến một nửa, ông ta lại bảo người trong thôn dừng tay.
“Cứ như thế này thôi — dù sao nó cũng được coi là đã từng đi qua đời này một chuyến, để bia lại đi.” Tấm bia đá đó liền từ đó nghiêng trước mộ, dáng vẻ muốn đổ mà chưa đổ. Khổng Đông Đức cảm thấy nhìn ngôi mộ đó, tấm bia đó như vậy càng thoải mái, như Chu Khánh Phương vĩnh viễn cúi đầu quỳ trước mặt ông ta vậy. Như mộ Chu Khánh Phương là mộ hoang quỷ cô vậy. Ông ta liền mỗi ngày ngủ dậy đến ngã tư đường làm những việc này, nghĩ đến cuộc sống tốt đẹp của nhà mình, con trai cả là giáo viên, bây giờ còn làm phó hiệu trưởng tiểu học; con trai thứ hai là thôn trưởng và như hoàng đế trong thôn này; con thứ ba trong quân đội, không phải là sĩ quan, nhưng lại là cảnh vệ của đoàn trưởng, đề bạt làm quan chắc chắn là chuyện sớm muộn một ngày; con thứ tư ở thành phố học cấp ba, thành tích rất tốt, năm sau là đến kỳ thi đại học rồi.
Thời vận phù trợ, cũng khẳng định là có thể thi đỗ.
Ông ta không có chỗ nào không vừa ý. Nếu như không phải con gái Chu Dĩnh nhà Chu Khánh Phương kiếm được tiền ở thành phố, xây nhà lầu, còn có hương trưởng dựng một tấm bia vách khổng lồ ở đầu thôn trên sống núi, Khổng Đông Đức trên đời này có thể nói là không có một chút phiền não nào.
Nhưng hương trưởng Hồ Đại Quân, mấy tháng trước cứ như vậy dựng một tấm bia vách khổng lồ cho Chu Dĩnh, mặc dù câu đầu tiên trên bia là “Làm giàu học Chiết Liệt”, câu thứ hai mới là “Gương sáng nhìn Chu Dĩnh”. Hơn nữa Chu Dĩnh ngày đẹp trời cũng là người Chiết Liệt, cũng phải dưới sự dẫn dắt của thôn trưởng — con trai ông ta Khổng Minh Lượng, nhưng điều này vẫn khiến Khổng Đông Đức cảm thấy trong cổ họng như bị hóc một cái xương. Ông ta đương nhiên không thể đi đẩy đổ tấm bia hương trưởng dựng lên — hơn nữa hương trưởng có khả năng sắp làm huyện trưởng — vậy thì bôi lên chữ trên bia mộ cha của con đĩ Chu Dĩnh đó đi. Đương nhiên không thể bôi bùn lên chữ lớn trên tấm bia khổng lồ hương trưởng dựng lên, vậy thì đẩy tấm bia mộ cha của con đĩ đó đến muốn đổ mà chưa đổ, nghiêng thành dáng vẻ quỳ xuống.
Cuối cùng, Khổng Đông Đức cảm thấy vạn sự đều thuận, như đã nhổ được cái xương trong cổ họng.
Ông ta cứ thế tập luyện thân thể trước mộ, ngâm nga tiểu khúc, tay chân múa may vung vẩy. Ngày nào cũng như thế, sáng sớm ngày nào cũng đến đây, tuyên bố chiến thắng và sự sảng khoái của mình với người trong mộ. Cho đến sáng ngày hôm nay, khi ông ta lại đang tập luyện ở bãi đất trống ngã tư, đột nhiên phát hiện nghênh xuân trên mộ vào cuối tháng ba vẫn chưa xanh tươi nở hoa vàng, thỉnh thoảng có vài cây liễu vốn đã xanh tươi, đều đã nhú chồi nhỏ, lúc này chồi nhỏ đó trong cái ấm áp không có rét nàng Bân lại khô héo co quắp, sắc xanh lại rút về trong cành.
Trong lòng Khổng Đông Đức có chút bất an.
Ông ta nghĩ đến việc Minh Lượng hôm qua từ hương họp trở về, nói với ông ta chuyện huyện, hương hai cấp muốn cải cách, muốn làm thí điểm ở Chiết Liệt, thực hiện dân bầu thôn trưởng. Nghĩ đến dân bầu thôn trưởng cũng có khả năng chọn Chu Dĩnh làm thôn trưởng, trong lòng ông ta chấn động một cái, cánh tay đang vung vẩy cứng đờ giữa không trung. Ngoái đầu nhìn mộ Chu Khánh Phương, nghe mấy câu chim sáo trên mộ gọi “Tao giỏi hơn mày! Tao giỏi hơn mày!”, lại gật đầu nói chuyện với người trong thôn đi qua đây, đón nhận lời hỏi thăm và chúc an của người ta, Khổng Đông Đức thu lại tư thế tập luyện, đi về phía mộ Chu Khánh Phương.
Nhân lúc trên đường không có ai, ông ta tiểu một bãi trên ngôi mộ đó, sau khi tiểu hết vào phần mặt của mộ Chu Khánh Phương, ông ta mặc quần áo, xách “Tao giỏi hơn mày!” đi về nhà.
2
Quả nhiên là dân bầu.
Quả nhiên danh sách ứng cử viên thôn trưởng hương đưa ra là hai người: Minh Lượng và Chu Dĩnh — con đĩ này!
Quầng mắt Khổng Minh Lượng có vết thâm. Anh ta chạy đến hương, đi lên huyện, mua rất nhiều thuốc lá ngon rượu quý biếu lên trên, cuối cùng sự việc vẫn như không thể thay đổi. Oan gia ngõ hẹp, anh ta liền va phải Chu Dĩnh trên con đường tranh cử thôn trưởng, phải so cao thấp. Từ sáng sớm trời chưa sáng, đến giữa trưa mặt trời đứng bóng, Khổng Minh Lượng đều đang tính toán ba ngôi làng nhà ai sẽ bầu phiếu cho anh ta, nhà ai sẽ bầu phiếu cho Chu Dĩnh. Anh ta hiểu, mỗi hộ gia đình người Chiết Liệt như một thùng nước không nứt không rò rỉ, chắc chắn là nói bầu cho ai thì cả nhà đều đi bầu cho người đó. Anh ta liền xé hai tờ giấy trắng từ vở bài tập của người em thứ tư, một tờ viết hai chữ “Thôn trưởng” và tên anh ta, một tờ viết hai chữ “Con đĩ” và tên Chu Dĩnh, từ thôn Chiết Liệt tính đến Lưu Gia Câu, lại từ Lưu Gia Câu tính đến Trương Gia Lĩnh, cuối cùng kết luận rút ra là, đại đa số người thôn Chiết Liệt, bầu nhiều phiếu cho anh ta, còn người Lưu Gia Câu và Trương Gia Lĩnh, bầu nhiều phiếu cho Chu Dĩnh. Vì là anh ta khiến Chiết Liệt giàu lên, còn Chu Dĩnh khiến hai ngôi làng đó giàu lên. Cụ thể đến đầu hộ người, có một trăm lẻ năm hộ, năm trăm hai mươi lăm người sẽ bầu phiếu cho anh ta, có một trăm sáu mươi lăm hộ, tám trăm hai mươi lăm người sẽ bầu phiếu cho Chu Dĩnh.
Vậy mà anh ta thua cuộc.
Khổng Minh Lượng vứt hai tờ giấy đó, đi ra khỏi phòng, đứng trong sân, quay đầu lại nhìn thấy hai tờ giấy trắng đó như hai tờ giấy mộ trắng sau khi chết bay múa trong không trung, sau đó giấy mộ đó thành mây mưa, bay một lúc tan biến không thấy đâu. Thu hồi ánh mắt, lại đi nhìn ánh nắng trên đất bằng phía nam, lông mày nhíu chặt, dùng lưỡi liếm đôi môi khô nứt, lúc đang suy nghĩ tâm sự, cha từ nhà trên bước ra, đến cửa xem chiếc lồng chim treo ở đó, qua đứng trước mặt con trai hỏi:
“Mày biết mày không được chọn làm thôn trưởng à?”
Khổng Minh Lượng nhìn cha không nói.
Khổng Đông Đức liền đưa cho con trai hai tờ giấy viết đầy chữ từ trong tay mình. Minh Lượng nhận lấy hai tờ giấy đó, kinh ngạc nhìn thấy, hai tờ giấy đó cũng viết “Thôn trưởng Khổng Minh Lượng”, trên tờ kia viết bốn chữ “Con đĩ Chu Dĩnh”. Hơn nữa trên tờ giấy trắng “Thôn trưởng Khổng Minh Lượng” đó, viết một đống tên chủ hộ các thôn, dưới đống tên đó dùng bút đỏ viết: “Tổng cộng 105 hộ, 525 người”; trên tờ giấy trắng “Con đĩ Chu Dĩnh” đó, có một đống lớn hơn tên chủ hộ, dưới đống tên đó, dùng bút đỏ viết một dòng chữ: “Tổng cộng 165 hộ, 825 người”.
Không sai một hộ một người so với sự tính toán của Khổng Minh Lượng.
Khổng Minh Lượng nhìn chằm chằm hai tờ giấy đó, mặt đờ đẫn, cho đến khi cha hỏi liên tiếp hai câu “Mày không được chọn làm thôn trưởng có biết nên làm thế nào để được chọn không?” anh ta mới tỉnh ra, gật đầu một cái, lại lắc đầu một cái. Trong hoang mang, hình như lại nghe thấy một câu “Theo tao”, liền nhìn thấy cha xoay người, hướng về phía nhà trên đi vào, bờ vai thấp tròn trịa, như hai quả cầu lăn về phía trước. Anh ta liền giẫm lên vết chân của cha, đi theo đến căn phòng cha ở.
3
Theo sự sắp xếp của cha, nhà họ Khổng đại động can qua. Dùng máy kéo đến huyện thành mua một xe sữa mạch nha, bánh quy, thuốc lá và rượu rất ngon, về phân loại cho vào túi, nhà chủ hộ nào hút thuốc, thì tặng thuốc và rượu; có người già tuổi đã cao, thì tặng thực phẩm bổ dưỡng. Hơn nữa do Minh Lượng đích thân xuất trận, dẫn anh cả Khổng Minh Quang, em thứ tư Khổng Minh Huy, ba anh em đầu tiên đến những gia đình có người chết khi bốc hàng trên tàu hỏa ở Chiết Liệt, đặt lễ vật lên bàn, hỏi thăm vài câu, nói vài câu ấm áp, cuối cùng liền rất trực tiếp.
— “Sắp chọn thôn trưởng rồi, vẫn mong nhà bác bầu phiếu cho cháu.”
— “Dù sao chúng ta đều họ Khổng, nhà họ Khổng chúng ta làm thôn trưởng, vẫn hơn họ khác.”
— “Đất nền nhà nhà bác so với người khác nhỏ hơn một chút, đợi lần này cháu được chọn, việc đầu tiên, chính là quy hoạch cho nhà bác một mảnh đất nền nhà lớn.”
Lại đến một gia đình khác, vẫn là đặt lễ vật hậu hĩnh nói những câu đó, lại dựa vào tình hình thực tế sửa đổi vài câu: “Người già vẫn còn trên giường bệnh? Sao có thể không đi bệnh viện chứ!” Không cần biết tình hình thực tế gia đình bệnh nhân thế nào, liền thân thiết nhiệt tình khiêng bệnh nhân xuống, sai người đưa đi bệnh viện kiểm tra ngay, còn nhét tiền chữa bệnh vào tay người ta.
Xong chuyện từng hộ Chiết Liệt, liền lại chia đầu đi Lưu Gia Câu và Trương Gia Lĩnh. Vì để mọi nhà mọi người đều bầu phiếu cho nhà họ Khổng, Khổng Đông Đức và ba con trai cũng đều xuất quân, chở lễ vật trên máy kéo đỗ trên sống núi, để anh cả đi biếu lễ và bái lạy những gia đình có học sinh đang đi học, Minh Lượng đi đến những gia đình có con gái bên ngoài đang phong lưu theo Chu Dĩnh, Khổng Đông Đức đi đến những nhà người già yếu bệnh tật, con thứ tư ở lại trên sống núi, canh giữ lễ vật còn lại đợi họ quay về lấy, cho đến khi tặng hết số lễ vật đó.
Khổng Minh Lượng liền đi đến những gia đình có con gái ở đô thị đang theo Chu Dĩnh phong lưu kiếm tiền. Vừa vào sân, trước tiên nhìn mấy ngôi nhà lầu mới dựng và sân vườn, nói liên tiếp mấy câu “Nhà tốt! Nhà tốt!”, lại vào trong nhà lên tầng xuống tầng xem một chút, nói với người ta bác có thể lắp cái vòi nước ở đây, bày một cái sô-fa lớn ở kia, cuối cùng từ trên lầu đi xuống, ngồi trong phòng khách, uống bát trà lớn chủ nhà đưa tới, nét mặt mang nụ cười, ân cần hỏi han, đến khi chủ hộ tâm nóng được cảm hóa rồi, lại đâm thẳng vào máu thịt nói:
“Bác có biết con gái bác đang làm gì ở tỉnh lỵ không?”
Cha mẹ cô con gái phong lưu đó đều không nói gì.
Khổng Minh Lượng liền nghiêm mặt lại: “Làm đĩ! Làm đĩ kiếm tiền còn không bằng chúng ta lên đường sắt núi sau bốc hàng. Lúc chọn thôn trưởng xin nhà bác đều bầu phiếu cho cháu, đợi cháu làm tiếp thôn trưởng, việc đầu tiên, chính là gọi con gái bác từ thành phố về, giúp nó tìm một công việc tốt, vừa nhàn, vừa thể diện, tiền cũng kiếm nhiều, sau đó tìm cho nó một nhà chồng tốt, sống cho tử tế!”
Cha mẹ đó liền đều xấu hổ cảm động, nỗi đau bị người ta vạch trần vết sẹo trên mặt và sự cứng nhắc đó, đều trở nên mềm mại dịu dàng. Hứa hẹn nhất định bầu phiếu cho Khổng Minh Lượng, nói gia đình tuy là giàu rồi, ở nhà lầu mới, nhưng nỗi oán hận với cô gái nhà họ Chu, lại chưa bao giờ loại bỏ trong lòng. Thế là từ hộ này đi ra, ở cửa lại nói mấy lời dặn dò đảm bảo, lại đi lên sống núi lấy lễ vật đi đến hộ tiếp theo. Hộ tiếp theo vì được tính là cửa nhà thư hương, cần mặt mũi tôn nghiêm, Minh Lượng liền không đâm thẳng vào máu thịt như thế, vẫn xem sân và nhà lầu, nói rất nhiều lời nhà lầu, sân vườn tốt, cuối cùng ngồi xuống, chậm rãi, hỏi han ân cần, nói với người ta bác đừng nghe người khác nói gia đình bác có con gái theo Chu Dĩnh bên ngoài làm chuyện phong lưu đó, cháu mới gặp nó ở tỉnh lỵ không lâu, nó làm việc trong một nhà máy, dựa vào tay nghề sức lực mới xây được nhà cho nhà bác đấy. Cha mẹ chủ hộ đó liền trên mặt mang vẻ tôn nghiêm, nói chúng tôi cũng không tin nó sẽ ở bên ngoài làm chuyện như thế, dù sao nó cũng là đứa có giáo dục.
“Nhưng Chu Dĩnh làm chuyện phong lưu là thật đấy,” Minh Lượng nói, “Rõ ràng Chu Dĩnh là đĩ, nhưng không biết sao, bên trên còn để nó làm ứng cử viên thôn trưởng.” “Không ai sẽ bầu cho nó đâu.” Người ta khẳng định chắc chắn, “Dù sao chúng tôi ngoại trừ anh Minh Lượng, đánh chết chúng tôi cũng không bầu nó làm thôn trưởng.”
Chuyện nhà này thế là đã thành định. Chọn Minh Lượng làm thôn trưởng chắc chắn không nghi ngờ gì. Thế là đi ra, đến cổng lớn sân lầu mới, nắm lấy tay thím, tay bác, nói bao nhiêu lời dặn dò, lại đi lên sống núi. Trên xe số lượng lễ vật của nhà được tính toán xong, mỗi hộ một túi vẫn còn một phần, ba ngày hai hôm nữa là bầu cử, nhân lúc Chu Dĩnh chưa về, trước khi trời tối nhất định phải tặng hết, đến từng nhà bái thác, mang tất cả những phiếu bầu cho Chu Dĩnh đều bái thác về, như vậy Chiết Liệt chính là Chiết Liệt của nhà họ Khổng. Khổng Minh Lượng liền có thể thực hiện giấc mộng lớn của mình trên đời.
4
Trên một con đường sống núi giữa Lưu Gia Câu và Trương Gia Lĩnh, cậu tư Khổng Minh Huy đợi cha và anh cả, anh hai đi từng chuyến đến xe lấy lễ đi bái phiếu, giống như đợi mặt trời mọc mặt trời lặn của năm tháng. Cậu cảm thấy lễ vật xanh xanh đỏ đỏ trên thùng xe, tất cả đều bỏ vào trong từng cái túi lưới, chất ở đó như một đám chim nhỏ bị nhốt trong một cái lồng. Cậu muốn những con chim nhỏ đó đều nhanh chóng bay ra ngoài, mỗi con về nhà nấy, cậu cũng có thể nhẹ nhõm, về nhà làm bài tập của mình. Cậu không hề hy vọng thực sự đỗ đại học đâu, nhưng cậu cảm thấy làm bài tập tốt, thầy giáo mỗi lần cầm bài tập của cậu trên bục giảng, không tiếc lời khen ngợi, cũng như hối lộ lễ vậy, mặc dù thường khiến cậu hơi xấu hổ cúi đầu, nhưng mỗi lần sau đó các bạn cùng lớp đều nhìn cậu. Ánh mắt ngưỡng mộ đó, vẫn khiến cậu an ủi và vui vẻ. Cậu tuổi còn nhỏ, trong chuyện người khác muốn xông pha cuộc đời, dựng nghiệp, cậu còn chưa nghĩ đến những chuyện đó. Trên môi ngay cả bóng dáng ria mép cũng không có. Những bạn học có ria mép đó, đều nói cậu mọc một khuôn mặt con gái, trắng trắng sạch sạch, chất phác như ngực con gái chưa bao giờ vướng bụi gió cỏ bám.
Cậu chính là một thằng bé như thế, học sinh trung học.
Cuối tuần về nhà xem, lấy chút tiền lương thực, liền bắt kịp cha và các anh đang dốc sức nỗ lực chuẩn bị chọn thôn trưởng. Anh cả là giáo viên, hơn cậu mười hai tuổi, cậu cho rằng anh ấy là người có thể nói chuyện cùng cậu nhất, dù sao cũng đều ở trong trường học. Nhưng cậu hỏi anh cả: “Anh hai nhất định phải làm thôn trưởng này sao?” Anh cả nhìn cậu rất kinh ngạc: “Không có anh hai làm thôn trưởng, Chiết Liệt tương lai sẽ là họ Khổng sao?”
Cậu không hiểu anh hai làm thôn trưởng và cậu đi học có mối liên quan và dây dưa gì, và anh cả dạy học có mối liên quan gì. Nhưng cậu hiểu đó là việc cha khao khát nhất, cũng là việc anh hai cam tâm hứng thú nhất. Liền đi theo cha, các anh chở một xe lễ phiếu đến con đường sống núi phân thủy giữa Lưu Gia Câu và Trương Gia Lĩnh này. Nhìn hai ngôi làng cách một sống núi, hầu như nhà nào cũng là nhà lầu và nhà ngói mới xây. Trong dãy núi mùa xuân đã đến, sắc xanh chưa về, những thôn xóm, nhà cửa đó như một đống đống màu sắc nổi bật lên giữa một vùng trơ trụi. Cậu không hiểu lắm, thôn xóm sao có thể giàu lên ầm ầm trong khoảnh khắc, cuộc sống dường như phồng lên như thổi khí, người ta đều có tiền, mặc thời thượng, đến đi đứng đều thẳng tắp nhanh nhẹn.
Quả thực, tất cả người làng Tạc Liệt, vì tiền bạc, dường như chưa bao giờ chịu dừng chân bước chậm lấy một lần, ngày ngày đều lao vào chạy đua. Tất cả đều là sự vội vã đầy bất an. Chỉ có những dãy núi và bầu trời vẫn lặng yên như thế, chẳng hề thay đổi. Khổng Minh Huy cứ lặng lẽ ngồi giữa những rặng núi, chốc thì ngắm nhìn mấy con côn trùng và chim bay trên ngọn cỏ bên đường, chốc lại trèo lên buồng lái máy kéo, ngắm nghía bảng đồng hồ, côn và phanh tay, lay lay động động mấy món phức tạp kia, cho đến khi thấy cha và các anh từ Lưu Gia Câu và Trương Gia Lĩnh thong thả trở về, gương mặt rạng rỡ như nắng chiều, mới phát hiện đống quà cáp trong thùng xe chẳng biết từ bao giờ đã sạch trơn, Minh Huy mới lại nhảy từ buồng lái máy kéo xuống.
Cậu ta cứ như thể vừa mới chợp mắt một lát trong buồng lái đó.
Nhìn vẻ mặt cả nhà đều hân hoan rạng rỡ, sáng bừng như ánh tử quang, Minh Huy cũng vui vẻ nói: "Xong xuôi cả rồi chứ? Xong xuôi rồi thì chúng ta ra đầu phố làm một bữa ra trò đi." Một nhà hiếm khi có tâm trạng tốt đến vậy, đều tin chắc rằng Tạc Liệt chắc chắn vẫn là thiên hạ của nhà họ Khổng, ngay cả cỏ lay hay gió thổi cũng đều do Minh Lượng định đoạt. Minh Lượng không lên tiếng thì gió cũng chẳng thổi, cỏ cũng khó mà lay. Thế là cả nhà kéo nhau đến quán rượu tên là "Hương Thúy Các" ở phía trước ủy ban thôn. Trong quán còn có những người dân trong thôn khác, khách nhàn rỗi, thanh niên, nơi đó tràn ngập mùi rượu trắng và hương thịt mềm thơm nức mũi. Họ vừa thấy trưởng thôn liền hằm hằm nói, đến lúc bầu cử trưởng thôn, đứa nào dám bỏ phiếu cho Chu Dĩnh thì đêm về sẽ đốt cháy nhà đứa đó. Minh Lượng trừng mắt nhìn họ một cái: "Các người làm phản đấy à, dân chủ bầu cử các người có biết hay không?" Những kẻ đó không dám nói nữa, chỉ ngồi đó vừa kính rượu trưởng thôn vừa liếc trộm. Khổng Đông Đức liền gọi họ qua ngồi ăn cùng. Họ cũng đều cảm kích ngồi vào. Tất cả đều nhường cho tứ đệ Minh Huy gọi món. Học giỏi ở trường thì cứ gọi thoải mái. Gọi rất nhiều món, bảo ăn không hết thì gói mang về. Cuối cùng Khổng Minh Lượng cầm thực đơn nhìn một lát, rồi đứng dậy đến trước quầy rượu của quán, ngắm nghía các loại rượu và đồ uống trong tủ. Chủ quán là người có chồng chết vì bốc dỡ hàng bên đường sắt, được ưu tiên cho mở quán rượu nhỏ ở đầu phố phía trước ủy ban thôn. Làm ăn phát đạt, tốt đến mức ngày nào cũng như tiệc cưới, cát tường hỷ khí, tài lộc cuồn cuộn đổ về, người đàn bà kia lại nghĩ thầm, cũng nhờ chồng chết vì bốc dỡ hàng. Cũng nhờ trưởng thôn Khổng Minh Lượng cho bà ta mở quán rượu. Cả nhà trưởng thôn đến đây ăn cơm, bà ta cứ như gặp vua đi ngang qua hạ cố, phấn hồng hỷ sắc tuôn trào cuồn cuộn khắp người. Thấy trưởng thôn đứng trước quầy nhìn vào tủ rượu, bà ta liền chạy tới nói với trưởng thôn một câu:
"Trưởng thôn muốn uống gì cứ tự lấy, ở đây không có thì tôi đi nơi khác mua."
Trưởng thôn nói: "Cô chưa từng nghĩ sẽ mở rộng quán này hơn nữa sao?"
Người đàn bà cười đáp: "Thế này đã đủ cho gia đình tôi ăn uống không lo nghĩ gì rồi."
Trên mặt trưởng thôn lập tức lộ vẻ không hài lòng: "Chưa từng nghĩ thì cô đừng mở nữa. Cô phải nghĩ tới chuyện một ngày nào đó biến quán rượu nhỏ này thành lầu lớn. Biến lầu lớn thành đại khách sạn trong thành phố, trong khách sạn đó phải có chỗ ngủ nghỉ, nhà hàng, bể bơi và thang máy, bảo vệ, trung tâm thương mại các thứ, còn có cả sân khấu kịch và rạp chiếu phim — y hệt như khách sạn trên tivi vậy."
Người đàn bà ngẩn người nhìn gương mặt trưởng thôn, nửa ngày trời không thốt nổi một câu.
Trưởng thôn lại không vui: "Nhìn cái gì mà nhìn? Cô không nhận ra tôi à?"
Người đàn bà vội vàng cười gật đầu: "Anh em, sao tôi lại không nhận ra anh, bọn trẻ nhà tôi vẫn còn gọi anh bằng chú đấy thôi."
Trưởng thôn lại hỏi: "Vừa rồi tôi nói cô đều nhớ kỹ cả chưa?"
Người đàn bà vội vàng đáp: "Nhớ kỹ rồi, nhớ kỹ rồi — một ngày nào đó phải mở quán rượu thành đại khách sạn."
Trưởng thôn hài lòng im lặng một lát, tự mình lấy mười chai rượu mạnh xuống, đi tới lại nhìn chằm chằm người đàn bà hỏi: "Vừa rồi tứ đệ của tôi tổng cộng gọi bao nhiêu món?"
"Mười hai món," người đàn bà nói, "bốn món nguội tám món nóng."
"Lên hai mươi bốn món." Trưởng thôn dõng dạc nói, "Bảo đầu bếp đem hết tay nghề ra đây."
Người đàn bà quán rượu lại hơi giật mình, sực tỉnh, vội vàng chạy vào bếp dặn dò. Trời đã về chiều, nắng chiều khoác lên mình màu hồng nhạt. Khi trưởng thôn nói xong xoay người lại, một vệt nắng đỏ ùa vào từ cửa, khiến gương mặt trưởng thôn ánh lên ráng mây lành. Gương mặt trưởng thôn bỗng chốc trở thành ráng mây, tựa như tượng thần trong miếu được mạ lớp phấn vàng. Mọi người lúc này nhìn trưởng thôn, đều kinh ngạc đứng cả dậy khỏi ghế, không sao tin nổi vị trưởng thôn này chính là Khổng Minh Lượng đó. Khổng Minh Lượng chính là vị trưởng thôn đó. Ngay cả đại ca Khổng Minh Quang, tứ đệ Khổng Minh Huy của ông ta, cũng kinh ngạc đến mức không nhận ra nữa, cứng đờ ở đó, không nói nên lời.
Chỉ có người cha Khổng Đông Đức là vẫn giữ nguyên vẻ cũ, ngồi đó nhìn chằm chằm vào con trai, niềm vui trên mặt như tờ giấy câu đối đỏ dán lên vậy.
Khổng Minh Lượng ôm một bó hai mươi chai rượu mạnh độ cao, đi tới đập mạnh xuống bàn, dùng giọng trầm đục nặng nề nói: "Năm nay Tạc Liệt vẫn là một cái thôn, trước thôn chỉ có con phố thương mại này, năm sau, hai năm nữa, tôi muốn biến Tạc Liệt thành một cái trấn, để hương ủy hội biến mất khỏi Bách Thụ hương đó, từ nay về sau Bách Thụ hương sẽ do trấn Tạc Liệt chúng ta quản lý — trấn ủy hội sẽ đóng ngay tại nơi chúng ta đang ăn cơm đây. Ba năm, năm năm nữa, trấn Tạc Liệt sẽ không còn là trấn nữa, mà là thành Tạc Liệt. Huyện thành sẽ chuyển đến chỗ Tạc Liệt của chúng ta đây, sự phồn hoa ở nơi này của chúng ta sẽ chẳng kém gì trong thị thành, xe buýt và xe con chạy qua lại, nhiều đến mức không cần đèn đỏ đèn xanh, xe nhỏ xe lớn sẽ đâm sầm vào nhau ầm ầm, công an huyện xử lý tai nạn giao thông không kịp đâu."
Mọi người đều nhìn vào gương mặt Khổng Minh Lượng, hy vọng tìm thấy sơ hở trên mặt ông ta. Nhưng Khổng Minh Lượng với vóc dáng trung bình, đôn hậu tròn đầy, sự trang nghiêm và thành kính trên mặt ông ta kín kẽ không một kẽ hở, chặt chẽ như cách dãy núi phong tỏa dòng sông ngầm vậy. Người khác đều không theo kịp suy nghĩ phía sau những lời đó, chỉ nhìn ông ta, giống như một người từ trong mơ bước ra, lững thững đứng trước giường họ. Đại ca Khổng Minh Quang dường như muốn làm rõ, hiểu rõ một vài chuyện, bước tới nắm lấy tay nhị đệ Khổng Minh Lượng, nhưng người đệ Khổng Minh Lượng, như thể bị nghi ngờ và giễu cợt, gạt phắt tay đại ca ra một bên. Tứ đệ Khổng Minh Huy nhìn nhị ca sợ đến mức đứng bật dậy, lùi về sau nửa bước, ngược lại còn dùng tay che miệng mình lại trước, như thể sợ chính mình nói ra câu gì đó va chạm, xung đột với nhị ca.
Người cha Khổng Đông Đức bỗng nhiên òa khóc, vừa khóc hu hu vừa nói, có đứa con như Minh Lượng, dù ông có phải ngồi tù thêm mười năm nữa cũng đáng. Vì những lời đó của con trai mà khóc đến mức gục xuống bàn ăn, đôi vai rung lên như người giũ sàng. Sự chuyển biến đột ngột của cảnh tượng khiến đại ca Khổng Minh Quang và tiểu đệ Khổng Minh Huy hoàn toàn không biết thế giới này đã xảy ra chuyện gì trong khoảnh khắc đó, đều đứng ngây như phỗng trước cửa sổ nhà hàng, để ánh hoàng hôn đỏ rực chiếu vào không dứt, khiến mặt họ đỏ bừng như thẹn thùng, như tượng bùn cắm trong góc cửa sổ đó. Còn những thanh niên nhàn rỗi trong thôn cũng đều cứng đờ ra, như mấy bức tượng bùn sau khi bị sét đánh, không còn vẻ biểu cảm ban đầu nữa. Bất động.
Thế nhưng, Khổng Minh Lượng vẫn linh hoạt sống động, hiểu rõ thế thái nhân tình. Ông ta khinh khỉnh nhìn anh và đệ, liếc mắt đầy giễu cợt đám người trong thôn, bước tới đỡ lấy đôi vai đang co giật của cha, nói một lời an ủi trời đất:
"Cha, cha cứ sống cho tốt — cha sẽ nhìn thấy tất cả."
Đợi cha không còn co giật đau khóc nữa, trưởng thôn Minh Lượng lại quay đầu nhìn mấy thanh niên trong thôn, dặn dò rằng sau này sống trên đời phải học thêm nhiều điều, đợi khi thôn biến thành trấn, biến thành huyện thành, biến thành đô thành, các cậu đều là những nguyên lão khai quốc, đều phải làm trưởng phòng, cục trưởng và tòa trưởng, đừng có đến lúc đó cái gì cũng không biết làm. Không biết nói chuyện, không biết xử thế, thậm chí ký một công văn, tổ chức một cuộc họp cũng không biết. Đến lúc đó, các cậu đừng trách tôi không nể tình, không giao việc lớn, chức vụ quan trọng cho các cậu! Vừa dặn dò, vừa kỳ vọng oán trách, trong lúc nói chuyện, bà chủ quán đã bưng mấy món xào lên. Hơi nóng của món xào bốc lên, che khuất mặt bà ta. Minh Lượng quay đầu lại, qua làn hơi đó hét lớn với gương mặt vàng vọt kia:
"Hai mươi bốn món không đủ, cô làm cho tôi ít nhất ba mươi sáu món, bảy mươi hai món đi. Ít nhất phải bày mười bàn tiệc — tôi muốn mời chủ hộ của mỗi gia đình trong thôn Tạc Liệt đến ăn cơm, muốn mời cả thôn đến ăn tiệc uống rượu — muốn họ đều biết, đừng bao lâu nữa, Tạc Liệt sẽ biến thành trấn, thành huyện thành, phồn hoa giàu có như trong thị thành vậy!"
5 Khi cha con nhà họ Khổng tiệc tàn trở về nhà, mặt trăng đã lên đến giữa không trung. Đèn đường và ánh trăng trên phố tranh nhau tỏa sáng, chiếu rọi con phố trong thôn trông như ban ngày. Khắp phố là mùi lưu huỳnh của nhà gạch ngói mới, còn có sự tĩnh lặng và gió nhẹ giữa đêm. Bốn cha con xách theo cơm canh ăn thừa đi về nhà, trên đường Minh Lượng hỏi Minh Quang:
"Hóa đơn đã xuất chưa?"
Đại ca Minh Quang nói: "Xuất rồi, xuất khống thêm mấy ngàn tệ."
"Còn có thể nhiều hơn nữa, sau này tôi ký tên là thanh toán được." Vừa nói chuyện, Minh Lượng vừa đi theo sau cha, về đến cửa nhà, liền cùng cha và anh em nhìn thấy sự bất ngờ — hóa ra đống lễ vật dùng để đi vận động phiếu bầu gửi đi hết từ buổi chiều, vậy mà có một nửa bị dân làng mượn sự tĩnh lặng của đêm khuya mang trả lại cửa chính. Không hề trả vào trong nhà, mà cứ giấu tên lặng lẽ chất đống ở cửa, dưới ánh trăng, trông như một đống bí đỏ rau củ vậy. Người cha đứng sững lại bên đống quà trả lại, không động đậy. Minh Lượng và anh em cũng đều đứng bên đống quà đó. Dưới ánh trăng dịu dàng, có thể nghe thấy tiếng bước chân trên cửa. Đột nhiên, cả nhà đều đồng thanh thốt lên một chữ: "Trời..." Tứ đệ cúi người nhấc một túi lên xem rồi lại đặt xuống: "Trả lại rồi thì chúng ta tự ăn." Minh Lượng lườm tứ đệ một cái, đá một cước vào đống lễ vật, ngửi mùi bánh kẹo thơm lừng, suy nghĩ đầu tiên lóe lên trong đầu là: "Chúng mày chán sống rồi sao, dám trả lại cơ à!" Tiếp đó, ông ta liền nghĩ đến tam đệ Minh Diệu đang trong quân đội có súng thật, giá mà mượn được một ngày thì tốt biết mấy. Nhưng khi chuyển ánh mắt sang người cha, cha ông ta lại bỗng nhiên nói một câu hoàn toàn trùng khớp với suy nghĩ của ông ta:
"Gửi điện báo cho thằng ba Minh Diệu, xem nó có thể về được một hai ngày không."
Lão đại Khổng Minh Quang và tiểu đệ Khổng Minh Huy đều khó hiểu nhìn gương mặt cha. Nhưng khi Khổng Minh Lượng nhìn cha lần nữa, trên mặt đã tràn đầy sự ngạc nhiên phấn khích mà ánh trăng không thể che giấu nổi.
Năm Khổng Minh Diệu
Minh Diệu từ quân đội trở về.
Cậu ta cao hơn nhiều, khỏe hơn nhiều, uy vũ như con ngựa có thể phi nước đại. Khi vào thôn, xách túi du lịch màu vàng, đi trên phố, mặt mày phấn khởi hồng hào, gặp ai cũng gật đầu, đưa thuốc lá và phát kẹo. Đàn ông thuốc lá, đàn bà trẻ con là kẹo nhỏ — đây là phong tục và quy tắc vinh quy bái tổ của tất cả người Bảng Lâu. Thuốc lá đắt rẻ, kẹo ngon dở, là vật chứng cho thành bại vinh nhục của anh khi ở bên ngoài. Minh Diệu về phát cho dân làng loại thuốc lá đắt nhất thời bấy giờ, trong truyền thuyết chỉ có lãnh đạo quốc gia mới mua được và hút được. Minh Diệu phát cho dân làng đúng loại thuốc đó. Kẹo của đàn bà trẻ con, dân làng không cảm thấy đó là loại ngon nhất ngọt nhất, vị hơi đắng, nhưng trên những lớp giấy gói kẹo màu vàng hình tròn, hình dài, hình tam giác kia, tất cả đều không phải chữ Trung Quốc, đều là chữ Tây, thế là người ta biết sô-cô-la là loại vật phẩm gì. Đối với sự trở về của Khổng Minh Diệu càng cảm thấy tràn đầy truyền kỳ. Cậu ta đi qua phố, mùa xuân vì cậu ta mà nở hoa, vì cậu ta mà khoác lên mình màu xanh non và đỏ tươi. Cây hòe phương Bắc trên phố cũng vì cậu ta mà đội trên đầu một cây hoa rậm rạp, nở thành hoa hồng đỏ thẫm và hoa thược dược trắng, tỏa mùi hương hoa trắng tanh đỏ gắt, dưới ánh mặt trời tỏa ra thứ ánh sáng dịu nhẹ rực rỡ vì cậu ta.
Đã mấy năm không về, mặc bộ quân phục màu xanh, giày da đen, bước đi đanh thép từ phố đi qua, đông nhìn tây ngắm, nói chuyện với tất cả người quen, gọi bác gọi thím, nói dài nói ngắn, sau khi cậu ta đi qua, tất cả dân làng đều nghĩ, con gái nhà mình mà gả cho cậu ta thì tốt biết bao! Tốt biết bao!
Khổng Minh Diệu trở về dòng tộc họ Khổng ở phía nam ngã tư phố.
Điều còn lại chính là những lời bàn tán, suy đoán và tiếng bước chân chạy tới chạy lui quanh nhà họ Khổng khắp phố, cho đến khi qua giờ, đến sau bữa trưa, những suy nghĩ hoa tạp kỳ diệu đó của mọi người liền không còn nữa. Chỉ thấy Khổng Minh Diệu lần nữa đi ra từ trong nhà, theo sau là vô số người họ Khổng, nam nữ, già trẻ, trên mặt ai nấy đều không còn vẻ hòa nhã trước kia. Tất cả đều căng mặt, trong ánh mắt nửa chứa sát khí và phẫn nộ. Đàn ông theo sau lưng cậu ta, đàn bà, trẻ con theo sau lưng đàn ông, từng nhóm từng nhóm, vây quanh Khổng Minh Diệu từ quân đội về thăm nhà. Và trong đám đông đó, Nhị Cẩu còn dùng áo bọc một khẩu súng săn tự chế, bước đi đầy vẻ uy vũ, giẫm theo nhịp chân của Minh Diệu, như thể đang giẫm lên tiếng nhạc của một vở võ kịch vậy.
Lần này Khổng Minh Diệu đi ra từ nhà họ Khổng, không mặc bộ quân phục màu xanh lúc mới về thôn. Cậu ta thay bộ quân mới mặc trong quân đội, còn thắt đai lưng da bò màu nâu đỏ. Dân làng không biết cậu ta đã bàn luận gì với cha và các anh ở nhà, tóm lại lần này cậu ta vừa bước ra, không khí trong thôn liền cứng đờ bất động. Thời tiết cũng giống như sắc mặt cậu ta, có chút âm u. Trên cổ áo, hai mảnh quân hàm mới kia, là một loại đỏ như máu, treo ở đó khiến người ta luôn liên tưởng đến chuyện đầu rơi máu chảy. Cha và các anh, không ai theo sau cậu ta. Tứ đệ Minh Huy đang đi học trong thành phố, căn bản không biết cậu ta về. Cậu ta cứ thế đi ra từ trong nhà, đi thẳng đến ngã tư, nhìn đám người phía sau, phía trước, treo nụ cười lạnh nói: "Nghe nói trong thôn sắp bầu trưởng thôn rồi? Dân chủ bầu cử tốt đấy chứ, các người muốn bầu cho ai, đó là quyền của các người, không ai có thể cướp đi từ tay các người." Sau đó cậu ta đòi khẩu súng săn trong tay Nhị Cẩu xem qua, dùng khăn tay vỗ vỗ, cầm súng chĩa lên bầu trời ngắm nghía tùy ý, rồi lại cười tự nhủ nói: "Nghe nói thôn Lưu Gia Câu và Trương Gia Lĩnh đều giàu lên xây nhà lầu mới rồi, chúng ta sang thôn họ xem sao nhỉ?"
Người Tạc Liệt liền hò reo: "Đến Lưu Gia Câu trước! Đến Lưu Gia Câu trước!" Đám đông liền ngày càng lớn, cuộn thành một khối đen kịt, vây lấy đẩy đưa người quân nhân trẻ tuổi Khổng Minh Diệu, còn chủ động rẽ lối cho cậu ta, ra khỏi thôn hướng về Lưu Gia Câu cách hai ba dặm mà tới.
Mặt trời qua phía nam, trên dãy núi lười biếng và ấm áp. Khi hàng chục, hàng trăm người Tạc Liệt ào ạt ùa tới trước thôn Lưu Gia Câu, tin tức đã sớm truyền đến Lưu Gia Câu. Thế là người Lưu Gia Câu liền đóng cửa cài then, như sắp gặp phải một trận máu súng vậy. Nhưng lại phát hiện tình hình không phải như vậy, chỉ nói là Khổng Minh Diệu từ quân đội về thăm người thân, muốn đến thôn xem người thân nhà cậu ta thôi, còn thấy gặp ai cũng đưa thuốc lá phát kẹo, lại đều mở cửa ra, liền thấy Khổng Minh Diệu mặc quân phục, thắt đai lưng, xách súng săn, đã từ nhà người thân đi ra, bị đông đảo người vây quanh đoàn đoàn, nhìn cậu ta trước cổng một ngôi nhà ba tầng mới xây, cầm súng chĩa lên trời ngắm nghía, "Đoàng!" một tiếng, bắn một phát súng, đợi bầu trời, chim bay trên ngọn cây biến mất sạch, cậu ta thu súng thổi khói ở nòng súng, dùng khăn tay lau báng súng và nòng súng, đập mạnh báng súng xuống đất dõng dạc nói: "Dân chủ bầu cử tốt lắm, các người muốn bầu ai thì bỏ phiếu cho người đó!" Sau đó lại lững thững đi sang thôn Trương Gia Lĩnh.
Sau khi cậu ta đi, trong dư âm tiếng súng đó, toàn bộ lá xanh ở Lưu Gia Câu đều héo úa. Tất cả hoa xuân đang nở đều tàn lụi. Tất cả dân làng đều trở thành người câm không nói được nữa.
Trương Gia Lĩnh thực ra là liền kề sát với Lưu Gia Câu, ở giữa có một con đường đất nối liền, lại có một dòng sông ngăn cách. Ở thôn Trương Gia Lĩnh nhà họ Khổng không có người thân, Khổng Minh Diệu không cần đến nhà người thân tặng quà ngồi một lát, cậu ta chỉ nói, có chút việc nhỏ muốn đến xem Trương Gia Lĩnh, xem những thay đổi của Trương Gia Lĩnh và những dãy nhà lầu mới xây như nấm mọc sau mưa. Liền dẫn đám đông từ một trăm biến thành hai trăm, từ hai trăm lăn thành ba trăm, tập hợp từ Lưu Gia Câu kéo đến Trương Gia Lĩnh. Đến trung tâm của phố, trong sự vây quanh người nọ chen người kia, đẩy người nọ thúc người kia, đứng lên trên một chiếc cối xay đá còn sót lại trong thôn, nhìn những ngôi nhà lầu và nhà ngói của từng nhà, hỏi xem căn này là của ai, người nhà làm gì mà xây được nhà lầu. Hỏi xem căn nhà trên nóc có ngói lưu ly chóp nhọn kia, nói không tồi nha, y hệt biệt thự cậu ta thấy ở bên ngoài, rồi lại giơ khẩu súng săn đã nạp đạn lên, ngắm vào con chim bồ câu bằng đất nung gắn trên nóc nhà chóp nhọn đó, nhắm mắt trái lại, ngón trỏ móc vào cò súng, lại là một tiếng "Đoàng!", con chim bồ câu bằng ngói trên mái nhà liền vỡ vụn xuống, lá cây cũng rụng, hoa cỏ đều héo úa, liền nghe thấy Minh Diệu nói dõng dạc trên phố: "Dân chủ bầu cử tốt lắm, các người muốn bầu ai thì bỏ phiếu cho người đó!" Tiếp đó bầu trời Trương Gia Lĩnh liền đổ mưa lẫn tuyết, chẳng mấy chốc mặt đất đã đóng băng trắng xóa.
Mùa xuân năm đó, sau khi Khổng Minh Diệu đi, Lưu Gia Câu và Trương Gia Lĩnh đều vì trời gặp rét đậm, cây khô mầm chết, ruộng đồng gần như không thu hoạch được gì. Ngược lại thôn Tạc Liệt chỉ cách họ một con dốc, lại mưa thuận gió hòa, lương thực nhiều ăn không hết.