Thần Thoại Về Các Loài Tiên

Lượt đọc: 1255 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Hinzelmann

❊ ❊ ❊

Một vị thần gia tinh kỳ diệu đã ám ảnh suốt một thời gian dài tại lâu đài cổ Hudemühlen, tọa lạc ở vùng Lüneburg, không xa sông Aller, nơi nay chỉ còn lại những bức tường trơ trọi. Đó là vào năm 1584 khi hắn lần đầu tiên báo hiệu sự hiện diện của mình bằng những tiếng gõ và đủ loại âm thanh khác nhau. Chẳng bao lâu sau, hắn bắt đầu trò chuyện với các gia nhân vào ban ngày. Ban đầu, họ rất hoảng sợ khi nghe thấy tiếng nói mà chẳng thấy ai, nhưng dần dần họ cũng quen và không còn bận tâm đến điều đó nữa. Cuối cùng, hắn trở nên vô cùng mạnh dạn, bắt đầu nói chuyện với chính chủ nhân ngôi nhà, và thường dùng dằng trò chuyện đủ điều vào giữa ngày lẫn buổi tối; vào các bữa ăn, hắn đàm đạo với những ai có mặt, dù là khách khanh hay người trong gia đình. Khi mọi nỗi sợ hãi về hắn đã tiêu tan, hắn trở nên vô cùng thân thiện và gần gũi: hắn hát, cười đùa và tham gia mọi thứ trò tiêu khiển, miễn là không ai chọc giận hắn; và giọng nói của hắn trong những dịp ấy thật mềm mại và dịu dàng như giọng của một thiếu niên hay một thiếu nữ. Khi được hỏi hắn từ đâu tới và đến nơi này có dụng ý gì, hắn đáp rằng hắn đến từ những ngọn núi Bohemia, và các bạn đồng hành của hắn đang ở trong khu rừng Bohemia — rằng họ không dung tha cho hắn, và vì thế hắn buộc phải lui bước, tìm nơi ẩn náu chốn cửa nhà những người lương thiện cho đến khi vận hạn của hắn khá hơn. Hắn nói thêm rằng tên hắn là Hinzelmann, nhưng cũng có người gọi là Lüring; và hắn có một người vợ tên là Hille Bingels. Khi đến thời điểm thích hợp, hắn sẽ để lộ hình hài đích thực của mình, còn hiện tại thì chưa tiện làm điều đó. Về mọi mặt khác, hắn tự nhận mình là một kẻ tốt lành và trung thực chẳng thua kém bất kỳ ai.

Chủ nhân ngôi nhà, khi thấy vị tinh linh ngày càng gắn bó với mình hơn, bắt đầu cảm thấy hoảng sợ và không biết làm cách nào để tống khứ hắn đi. Theo lời khuyên của bạn bè, cuối cùng ông quyết định rời khỏi lâu đài trong một thời gian và lên đường đi Hanover. Trên đường đi, họ quan sát thấy một chiếc lông chim màu trắng bay lững lờ bên cạnh chiếc xe ngựa, nhưng chẳng ai hiểu điều đó có ý nghĩa gì. Khi đến Hanover, ông phát hiện mình bị mất một sợi dây chuyền vàng có giá trị vẫn mang trên cổ, và sự nghi ngờ của ông đổ dồn lên các gia nhân trong nhà. Thế nhưng chủ quán lại đứng ra bênh vực đám gia nhân và đòi đền bù cho lời buộc tội tai hại ấy. Vị quý nhân, chẳng thể đưa ra chứng cứ nào chống lại họ, ngồi thừ trong phòng với tâm trạng tồi tệ, tự hỏi làm sao để gỡ rối rắc rối khó chịu này, thì bỗng nhiên ông nghe thấy giọng nói của Hinzelmann vang lên bên cạnh: "Sao ông lại buồn rầu thế? Nếu có chuyện gì không ổn, hãy nói cho tôi nghe, biết đâu tôi lại có cách giúp đỡ ông. Nếu phải đoán, tôi xin cả quyết là ông đang bứt rứt vì đánh mất một sợi dây chuyền." "Ngươi đang làm gì ở đây?" vị quý nhân hoảng sợ đáp lại; "sao ngươi lại bám theo ta? Ngươi có biết gì về sợi dây chuyền không?" "Có chứ, quả thực là có," Hinzelmann đáp, "ta đã theo chân ông, đồng hành cùng ông trên đường và luôn túc trực bên cạnh: chẳng lẽ ông không thấy ta sao? Chà, ta chính là chiếc lông chim màu trắng bay sát bên xe ngựa đấy thôi. Và giờ ta sẽ chỉ cho ông chỗ giấu sợi dây chuyền: — Hãy tìm dưới chiếc gối trên giường của ông, ông sẽ tìm thấy nó ở đó." Sợi dây chuyền quả nhiên được tìm thấy đúng nơi hắn nói; thế nhưng tâm can vị quý nhân lại càng thêm bất an, và ông giận dữ hỏi tại sao hắn lại đẩy ông vào một trận cãi vã với chủ trọ chỉ vì chuyện sợi dây chuyền, trong khi chính hắn là nguyên nhân khiến ông phải bỏ nhà ra đi. Hinzelmann đáp: "Sao ông lại phải trốn tránh tôi? Tôi thừa sức theo chân ông đến bất cứ đâu và hiện diện ở bất cứ nơi nào có ông. Tốt hơn nhiều là ông nên quay về điền trang của mình và đừng vì tôi mà bỏ bê nó. Ông thấy rõ đấy, nếu muốn, tôi có thể tước đoạt tất cả những gì ông đang có, nhưng tôi không có ý định làm thế." Vị quý nhân suy ngẫm một hồi, và cuối cùng đi đến quyết định quay về nhà, phó mặc cho Chúa định đoạt và kiên quyết không lùi bước trước vị tinh linh dù chỉ nửa bước.

Khi đã trở về Hudemühlen, Hinzelmann tỏ ra vô cùng niềm nở, năng nổ và chăm chỉ trong mọi công việc. Hắn thường cặm cụi làm việc trong bếp suốt đêm; và nếu người đầu bếp, vào buổi tối sau bữa tối, để đống đĩa bát chồng chất chưa rửa, thì sáng hôm sau tất cả đều sạch sẽ tinh tươm, sáng bóng như gương và được xếp đặt ngăn nắp đâu vào đấy. Nhờ thế, cô hoàn toàn có thể tin tưởng vào hắn và cứ việc đi ngủ vào buổi tối sau bữa tối mà chẳng phải bận tâm lo lắng điều gì. Tương tự như vậy, chẳng có thứ gì trong bếp bị thất lạc; và nếu có món gì đi lạc chỗ, Hinzelmann lập tức biết ngay nó ở xó xỉnh nào và sẽ trao trả tận tay chủ nhân. Nếu nhà có khách quý, vị tinh linh sẽ lên tiếng báo trước một cách đặc biệt, và công việc của hắn cứ thế tiếp diễn suốt cả đêm: hắn cọ rửa nồi niêu xoong chảo, rửa bát đĩa, làm sạch thùng chậu. Người đầu bếp vô cùng biết ơn hắn vì những điều đó, và không chỉ làm theo mọi điều hắn muốn mà còn vui vẻ chuẩn bị sẵn sữa ngọt cho bữa sáng của hắn. Hắn cũng đảm nhận luôn việc giám sát những người hầu nam nữ. Hắn để ý xem họ hoàn thành công việc ra sao; và khi họ làm việc, hắn dùng những lời lẽ hay ho để khích lệ họ chăm chỉ. Nhưng nếu có ai lơ đễnh trước lời hắn dặn, hắn liền vộp lấy một cây gậy và dạy cho họ một bài học bằng những đòn roi nhừ tử. Hắn thường xuyên cảnh báo các cô hầu gái về cơn thịnh nộ của bà chủ, và nhắc nhở họ về những công việc cần phải làm. Hắn cũng bận rộn chẳng kém ở chuồng ngựa: hắn chăm sóc lũ ngựa, chải chuốt cẩn thận cho bộ lông của chúng mượt mà chẳng kém gì loài lươn; nhờ thế chúng lớn nhanh và khỏe mạnh lên trông thấy trong chốc lát đến mức ai nấy đều phải kinh ngạc.

Phòng của hắn nằm ở tầng trên cùng bên phía tay phải, và đồ đạc trong phòng chỉ vọn vẹn ba món. Thứ nhất là một chiếc ghế bành hoặc ghế dài, tự tay hắn đan rất khéo léo từ những cọng rơm đủ màu sắc, đầy những họa tiết và hình thánh giá xinh xắn khiến ai nhìn vào cũng phải trầm trồ thán phục. Thứ hai là một chiếc bàn tròn nhỏ, được làm và đặt ở đó theo những lời nài nỉ khẩn khoản của hắn. Thứ ba là một chiếc giường cùng khung giường, thứ mà hắn cũng từng bày tỏ mong muốn có được. Người ta chưa từng tìm thấy bất kỳ dấu vết nào cho thấy có con người từng nằm trên đó; người ta chỉ có thể nhận ra một vết lõm rất nhỏ, tựa như có một con mèo từng nằm ở đó. Các gia nhân, đặc biệt là người đầu bếp, ngày nào cũng phải chuẩn bị một đĩa đầy sữa ngọt trộn vụn bánh mì trắng rồi đặt lên chiếc bàn nhỏ của hắn; và chẳng mấy chốc đĩa thức ăn đã được ăn sạch trơn. Thỉnh thoảng hắn còn đến bàn ăn của chủ nhà, và họ buộc phải sắp cho hắn một chiếc ghế cùng một cái đĩa ở một vị trí nhất định. Bất cứ ai dọn món đều gắp thức ăn vào đĩa của hắn, và nếu quên mất điều đó, hắn sẽ nổi cơn giận dữ tột cùng. Những thứ được đặt vào đĩa của hắn rồi sẽ biến mất, còn một ly rượu đầy sẽ bị mang đi một lúc, rồi sau đó được đặt lại chỗ cũ trong tình trạng trống rỗng. Thế nhưng thức ăn sau đó lại được tìm thấy nằm dưới các băng ghế hoặc trong một góc phòng.

Trong giao tiếp với người trẻ tuổi, Hinzelmann tỏ ra cực kỳ vui vẻ. Hắn hát và làm thơ: một trong những câu thơ quen thuộc nhất của hắn là:

Nếu người cho phép ta ở đây,

Vận may lộc phúc mãi vun đầy;

Còn như xua đuổi ta đi mất,

May mắn muôn đời chẳng đến đây.

Hắn cũng thường nhại lại những bài hát và câu nói của người khác để giải trí hoặc gây sự chú ý. Mục sư Feldmann từng được mời đến Hudemühlen, và khi vừa bước đến cửa, ông nghe thấy tiếng ai đó ở phòng lớn trên lầu đang ca hát, hò hét và làm đủ thứ tiếng động, khiến ông tưởng có khách lạ đến từ tối hôm trước, đang ở trên lầu vui vẻ tiệc tùng. Vì vậy, ông liền bảo người quản gia đang đứng ngoài sân sau khi chẻ củi xong rằng: "John, trên lầu có những vị khách nào thế?" Quản gia đáp: "Chúng ta có khách lạ nào đâu; ấy chỉ là cậu Hinzelmann nhà ta đang tự chơi đùa thôi; ngoài cậu ta ra chẳng còn một bóng người nào khác trên sảnh đường." Khi vị mục sư bước lên sảnh, Hinzelmann liền cất giọng cất cao bài hát:

Ngón cái này, ngón cái này,

Cùng khuỷu tay ta hóa thành hai.

Vị mục sư vô cùng kinh ngạc trước kiểu hát xướng bất thường này và ông nói với Hinzelmann: "Thứ âm nhạc gì mà ngươi dùng để chào đón ta thế này?" "Chà," Hinzelmann đáp, "đính chính là tôi học bài hát này từ chính ngài đấy chứ, vì ngài vẫn thường hay hát, và mới cách đây vài ngày tôi còn nghe thấy ngài hát khi ngài có mặt tại một buổi lễ rửa tội ở một nơi nào đó."

Hinzelmann rất thích chơi khăm, nhưng hắn chưa bao giờ làm tổn thương ai qua những trò đùa ấy. Hắn hay xúi giục đám gia nhân và thợ thuyền húc đầu vào nhau khi họ ngồi uống rượu vào buổi tối, và tỏ ra vô cùng thích thú khi chứng kiến cuộc vui. Khi có người đã ngà ngà say, vô tình làm rơi thứ gì xuống gầm bàn rồi cúi xuống nhặt, Hinzelmann liền giáng cho kẻ đó một cú tát tai trời giáng từ phía sau, đồng thời cấu vào chân người ngồi bên cạnh. Thế là cả hai lao vào nhau, trước tiên bằng lời qua tiếng lại rồi đến những cú đấm; những người còn lại cũng hùa vào hỗn chiến, họ vung đấm vào nhau và nhận lại những đòn tương đương; và sáng hôm sau, những vết bầm tím quanh mắt cùng gương mặt sưng húp chính là minh chứng cho trận ẩu đả. Thế nhưng tận đáy lòng Hinzelmann lại cảm thấy vô cùng khoan khoái, và sau đó hắn thường kể lại chuyện chính hắn là kẻ đã khơi mào mọi thứ, cốt để bọn họ đánh nhau. Tuy nhiên, hắn luôn cẩn trọng sắp xếp mọi chuyện sao cho không ai gặp phải rủi ro đe dọa đến tính mạng.

Có lần xuất hiện tại Hudemühlen một vị quý tộc nhận gánh vác trọng trách trục xuất Hinzelmann. Thế là, khi nhận thấy hắn đang ở trong một căn phòng nhất định với mọi cửa ra vào và cửa sổ đều đóng kín mít, ông liền cho quân lính vũ trang vây kín căn phòng đó và cả ngôi nhà, rồi tự mình tuốt gươm bước vào phòng cùng một số người khác. Tuy nhiên, họ chẳng thấy gì sất, bèn bắt đầu chém và đâm tứ tung về mọi phía với suy nghĩ rằng nếu Hinzelmann có thể xác thì chắc chắn thế nào cũng có nhát kiếm chạm tới và hạ sát được hắn; vậy nhưng họ chẳng nhận thấy lưỡi lê của mình chạm phải bất cứ thứ gì ngoài hư không. Khi nghĩ rằng mình đã hoàn thành nhiệm vụ và đang mỏi mệt bước ra khỏi phòng sau một hồi đấu kiếm dài, vừa lúc vừa mở cửa ra, họ liền trông thấy một sinh vật có hình thù giống như con chồn marten lông đen, đồng thời nghe thấy những lời này: "Ha, ha! Các ngươi tóm ta giỏi thật đấy!" Thế nhưng sau đó Hinzelmann đã bày tỏ sự cay đắng khôn nguôi trước sự lăng mạ này và tuyên bố rằng, nếu không vì muốn tha cho hai vị phu nhân trong nhà khỏi phải bận tâm lo lắng, thì hắn đã có thừa cơ hội để trả thù rồi. Không lâu sau đó, khi chính vị quý tộc này bước vào một căn phòng trống trong nhà, ông nhìn thấy một con rắn lớn đang cuộn tròn nằm trên một chiếc giường không có người ở. Nó biến mất ngay lập tức, và ông nghe thấy lời của vị tinh linh: "Ngươi suýt nữa thì tóm được ta rồi đấy."

Một vị quý tộc khác từng nghe đồn rất nhiều về Hinzelmann và tỏ ra tò mò muốn được tận mắt diện kiến hắn. Quả nhiên ông đã đến Hudemühlen, và mong ước ấy chẳng mấy chốc đã được thỏa mãn, bởi vị tinh linh đã lên tiếng từ một góc phòng nơi có chiếc tủ lớn, bên trong đựng mấy cái bình đựng rượu cổ dài nhưng đã trống rỗng. Vì giọng nói vừa mềm mại, thanh tao lại vừa hơi khàn khàn, tựa như phát ra từ một chiếc bình rỗng, vị quý tộc cho rằng có lẽ hắn đang ngồi trong một trong những cái bình ấy, thế là ông vùng dậy chạy đến chộp lấy chúng rồi bịt kín miệng bình lại, đinh ninh rằng làm thế sẽ tóm gọn được vị tinh linh. Giữa lúc ông đang bận rộn như vậy, Hinzelmann liền cất tiếng cười lớn và kêu lên: "Nếu từ lâu tôi không nghe người ta bàn tán rằng ông là một kẻ ngốc, thì có lẽ giờ đây tôi đã tự mình nhận ra điều đó rồi, khi mà ông lại tưởng tôi đang ngồi trong một chiếc bình không, rồi lao đến lấy tay bịt kín lại cứ như thể đã bắt sống được tôi vậy. Tôi thấy ông chẳng đáng để tôi bận tâm, bằng không thì tôi đã cho ông một bài học nhớ đời từ lâu lắm rồi. Nhưng chẳng mấy chốc nữa đâu, ông sẽ được nếm cảm giác chìm nghỉm dưới nước cho mà xem." Nói rồi hắn im bặt và không thèm lên tiếng thêm lần nào nữa trong suốt thời gian vị quý tộc ở lại. Không biết ông ta có bị rơi xuống nước như lời đe dọa của Hinzelmann hay không, sách không ghi lại, nhưng khả năng cao là có.

Lại có cả một vị pháp sư trừ tà đến để trục xuất hắn. Khi vị này bắt đầu đọc những câu chú ngữ ma thuật của mình, Hinzelmann ban đầu tỏ ra vô cùng tĩnh lặng và hoàn toàn không lên tiếng, nhưng khi vị pháp sư chuẩn bị xướng lên những câu chú có uy lực mạnh mẽ nhất chống lại hắn, hắn liền giật phăng cuốn sách khỏi tay lão, xé nát tơi tả khiến các trang sách bay lả tả khắp phòng, rồi chộp lấy chính vị pháp sư, bóp cổ và cào cấu lão cho đến khi lão hoảng sợ chạy mất mật hồn vía. Lão ta than vãn khôn xiết về cách đối xử này và lớn tiếng phân bua: "Ta cũng là một Cơ Đốc nhân như bao người khác, và ta cũng hy vọng được cứu rỗi." Khi được hỏi liệu hắn có biết về loài Kobold và các linh hồn gõ cửa (Polter Geister) hay không, hắn đáp: "Chúng thì dính dáng gì đến ta? Bọn chúng chỉ là những bóng ma của quỷ dữ, còn ta không cùng hội cùng thuyền với chúng. Chẳng ai phải chịu điều ác từ ta cả, trái lại chỉ có thể mong đợi những điều tốt lành. Cứ để mặc ta đi rồi các ngươi sẽ gặp may mắn trong mọi việc; gia súc sẽ sinh sôi nảy nở, của cải sẽ dồi dào, và mọi sự sẽ hanh thông tốt đẹp."

Sự đồi trụy và thói hư tật xấu là những điều khiến hắn vô cùng chướng tai gai mắt; hắn thường xuyên la mắng không tiếc lời một thành viên trong gia đình vì tính keo kiệt, và bảo với những người khác rằng hắn không thể nào chịu đựng nổi kẻ đó vì thói hư này. Một kẻ khác thì bị hắn sỉ nhục vì tính kiêu ngạo, thứ mà hắn tuyên bố căm ghét từ tận đáy lòng. Khi có ai đó từng nói với hắn rằng nếu muốn trở thành một tín đạo Cơ Đốc tốt, hắn nên cầu nguyện Chúa và đọc các kinh nguyện Cơ Đốc, hắn liền cất tiếng đọc Kinh Lạy Cha, và đọc suốt cho đến câu thỉnh cầu cuối cùng, khi lầm bầm câu "Xin cứu chúng con khỏi kẻ ác" với chất giọng cực kỳ nhỏ. Hắn cũng đọc lại Kinh Tin Kính, nhưng theo một cách đứt quãng và lắp bắp, bởi khi đọc đến đoạn "Tôi tin có sự tha tội, sự sống lại của thân xác và sự sống đời đời," hắn phát âm với một giọng khàn đặc và không rõ ràng đến mức chẳng ai có thể nghe rõ và hiểu nổi. Vị mục sư xứ Eicheloke, ông Feldmann, kể lại rằng thân phụ ông từng được mời đến dự bữa tối tại Hudemühlen vào dịp Lễ Ngũ Tuần, và tại đó ông đã nghe Hinzelmann ngân nga trọn vẹn bài thánh ca tuyệt đẹp "Nun bitten wir den heiligen Geist," với một giọng rất cao nhưng không hề khó nghe, tựa như giọng của một thiếu nữ hay một thiếu niên. Thậm chí hắn không chỉ hát bài này mà còn hát cả những bài thánh ca khác theo yêu cầu, đặc biệt là từ những ai mà hắn coi là bạn bè và có mối quan hệ thân thiết.

Mặt khác, hắn vô cùng tức giận khi không được đối xử với sự tôn trọng và tư cách của một Cơ Đốc nhân. Một vị quý tộc thuộc dòng họ Mandelsloh từng đến Hudemühlen. Vị quý tộc này rất được kính trọng vì học thức uy bác; ông là một kinh sĩ của nhà thờ chính tòa Verden, từng giữ chức đại sứ triều đình cử đến chỗ Tuyển hầu tước xứ Brandenburg và Quốc vương Đan Mạch. Khi nghe kể về vị gia tinh và việc hắn đòi hỏi được đối xử như một Cơ Đốc nhân, ông tuyên bố không thể tin mọi chuyện về hắn đều là sự thực: ông nghiêng về ý định coi hắn là Kẻ Thù và Quỷ Dữ hơn, bởi Chúa chưa bao giờ tạo ra những sinh sinh loại hình dạng đó, rằng các thiên thần chỉ ca ngợi Chúa muôn loài, đồng thời che chở và bảo vệ con người, những điều hoàn toàn chẳng khớp với hành vi gõ cửa, đập phá và những trò quái đản của vị Gia tinh. Hinzelmann, kẻ vốn không hề lên tiếng kể từ khi ông đặt chân đến, bỗng cất tiếng kêu la inh ỏi: "Barthold nói gì thế hả? (đó là tên của vị quý tộc) ta là Kẻ Thù ư? Ta khuyên ông đừng có nói quá đà, bằng không ta sẽ cho ông nếm một vố nữa và dạy cho ông cách đánh giá ta đúng đắn hơn vào lần tới." Vị quý tộc hoảng hốt khi nghe thấy tiếng người mà chẳng thấy bóng dáng ai, bèn ngắt lời cuộc đối thoại, từ chối nghe thêm bất cứ điều gì và đành để mặc hắn giữ lấy phẩm giá của mình.

Lại có lần một vị quý tộc khác đến đó, khi nhìn thấy một chiếc ghế và một cái đĩa được dọn sẵn cho Hinzelmann vào bữa tối, đã từ chối uống rượu chung với hắn. Trước thái độ này, vị tinh linh cảm thấy bị xúc phạm và lên tiếng: "Ta cũng là một kẻ trung thực và tốt bụng ngang ngửa hắn; thế sao hắn lại không thèm cạn chén cùng ta?" Nghe vậy, vị quý tộc đáp lời: "Cút đi chỗ khác, và sang uống rượu với lũ đồng bọn dưới âm ti địa ngục của ngươi ấy; ngươi chẳng dính líu gì đến chốn này." Khi Hinzelmann nghe những lời đó, hắn nổi giận lôi đình đến mức chộp lấy dây đeo cằm của chiếc áo choàng mà vị này đang mặc theo mốt thời bấy giờ, kéo ngã nhúi xuống đất rồi bóp cổ và đè ép ông ta mạnh đến nỗi tất cả những người có mặt đều thót tim lo sợ hắn sẽ giết chết ông; và phải mấy tiếng đồng hồ sau khi vị tinh linh bỏ đi thì vị quý tộc ấy mới hoàn hồn trở lại.

Lại có lần một người bạn quý mến của gia chủ Hudemühlen ghé qua vùng này, nhưng ông ngập ngừng không dám bước vào vì e ngại vị gia tinh mà ông từng nghe đồn thổi rất nhiều về bản tính nghịch ngợm, bèn sai người hầu đến thông báo với gia chủ rằng ông không thể ghé thăm họ được. Chủ nhà liền sai người ra ngỏ lời nài nỉ ông nhiệt tình vào dùng bữa tối, nhưng vị khách khéo léo từ chối với lý do không thể nán lại; tuy nhiên, ông nói thêm rằng bản thân quá hoảng sợ trước ý nghĩ phải ngồi chung bàn ăn uống với một con quỷ. Có vẻ như Hinzelmann đã có mặt trong cuộc trò chuyện ngoài đường đó; bởi khi vị khách vừa từ chối xong, người ta liền nghe thấy những lời này: "Đợi đấy, anh bạn hiền, anh sẽ được đền bù xứng đáng cho những lời bàn tán này." Quả nhiên, khi vị lữ khách tiếp tục lên đường và đến cây cầu bắc qua sông Meisse, lũ ngựa bỗng hoảng sợ, vướng vào dây cương và thế là cả ngựa, cả xe cùng mọi thứ suýt chút nữa thì lăn nhào xuống nước. Khi mọi thứ đã được sắp xếp ổn thỏa và chiếc xe đi tiếp được chừng khoảng một tầm súng nổ, nó bất ngờ lật nhào xuống lớp cát trên mặt đất bằng phẳng, ơn trời là những người ngồi trên xe không gặp phải thương tích gì nặng nề hơn.

Hinzelmann rất thích giao du, nhưng đối tượng mà hắn sủng ái nhất lại là phụ nữ, và hắn đối xử với họ vô cùng thân thiện, niềm nở. Tại Hudemühlen có hai thiếu nữ tên là Anne và Catherine, những người mà hắn vô cùng quyến luyến; hắn thường hay phàn nàn với họ mỗi khi tức giận chuyện gì, đồng thời trò chuyện đủ mọi điều với họ. Bất cứ khi nào họ đi xa, hắn nhất quyết không chịu rời xa mà theo sát họ mọi nơi dưới hình hài một chiếc lông chim màu trắng. Khi đêm xuống đi ngủ, hắn nằm phục ở dưới chân họ, phía bên ngoài chăn, và đến sáng người ta nhìn thấy một cái lỗ nhỏ, tựa như có một chú chó con từng nằm ở đó.

Cả hai vị tiểu thư này đều không kết hôn; bởi vì Hinzelmann đã dọa chạy mất dép mọi đám hỏi của họ. Mọi chuyện nhiều lần tưởng chừng đã tiến đến bước đính hôn, nhưng vị tinh linh luôn tìm cách phá vỡ cho bằng được. Có kẻ cầu hôn bị hắn làm cho bấn loạn và bối rối ngây dại ngay lúc sắp ngỏ lời với tiểu thư, khiến hắn chẳng biết phải nói gì. Có kẻ khác thì bị hắn khơi gợi nỗi sợ hãi đến mức run rẩy bần bật. Nhưng cách thường lệ của hắn là hiện ra những dòng chữ ngay trước mắt họ trên bức tường trắng đối diện, với những dòng chữ bằng vàng ròng rực rỡ: "Hãy lấy tiểu thư Anne, và để lại cho ta tiểu thư Catherine." Nhưng nếu có ai đến cầu hôn tiểu thư Anne, những dòng chữ vàng ấy lập tức biến đổi thành: "Hãy lấy tiểu thư Catherine, và để lại cho ta tiểu thư Anne." Nếu kẻ nào không chịu từ bỏ ý định, vẫn khăng khăng bám trụ mục đích của mình và lỡ ngủ lại qua đêm trong ngôi nhà, hắn sẽ tra tấn và khủng bố kẻ đó trong bóng tối bằng những tiếng gõ cửa, ném phá và đập thình thịch cho đến khi hắn vứt xó mọi ý định cưới xin, và cảm thấy vô cùng may mắn khi thoát thân được với cái mạng nguyên vẹn. Một số kẻ trên đường quay về còn bị hắn làm cho lật nhào cả người lẫn ngựa lăn cù mèo, tưởng chừng gãy cổ gãy chân đến nơi mà chẳng hiểu vì sao lại ra nông nỗi ấy. Kết quả là hai vị tiểu thư cứ thế ở vậy chẳng lấy chồng; họ sống thọ đến già và qua đời chỉ cách nhau trong vòng một tuần.

Một trong hai vị tiểu thư từng sai một người hầu từ Hudemühlen đến Rethem để mua sắm nhiều vật dụng khác nhau; trong lúc cậu ta đi vắng, Hinzelmann bỗng dưng cất tiếng kêu lạch cạch trong phòng của các tiểu thư tựa như một con cò, rồi phán rằng: "Tiểu thư Anne, hôm nay cô phải ra dòng suối cối xay mà tìm đồ đạc của mình thôi." Cô chẳng hiểu điều này có nghĩa là gì; nhưng chẳng mấy chốc người hầu đã quay về và thuật lại rằng, trên đường về nhà, cậu ta nhìn thấy một con cò đậu cách đó không xa liền giáng súng bắn, có cảm giác như đã bắn trúng nó, thế nhưng con cò vẫn trơ ra đấy rồi cuối cùng vỗ cánh kêu lạch cạch inh ỏi trước khi bay vụt đi. Giờ thì rõ mười mươi là Hinzelmann đã biết chuyện này, và lời tiên tri của hắn cũng nhanh chóng ứng nghiệm. Bởi vì người hầu vốn đang ngà ngà say muốn tắm rửa cho con ngựa đang đẫm mồ hôi và bùn đất của mình, cậu ta liền cưỡi ngựa phi thẳng xuống dòng suối cối xay trước cửa lâu đài; nhưng vì say xỉn nên cậu ta chọn nhầm chỗ, lọt thỏm xuống một cái hố sâu, không giữ được thăng bằng trên lưng ngựa nên ngã nhào xuống nước và chết đuối. Cậu ta vẫn chưa giao nấp những món đồ mua về; thế là cả đống đồ đạc lẫn xác nạn nhân đều được vớt lên từ lòng suối.

Hinzelmann cũng thường báo tin và cảnh báo người khác về tương lai. Có lần một vị đại tá rất được Christian III, Quốc vương Đan Mạch, trọng dụng và từng lập nhiều chiến công trong các cuộc chiến với thị trấn Lübeck, đã ghé thăm Hudemühlen. Ông là một tay súng cừ khôi, có niềm đam mê mãnh liệt với việc săn bắn, và thường dành nhiều giờ liền trong các khu rừng lân cận để săn hươu và lợn rừng. Khi ông đang chuẩn bị lên đường đi săn như mọi khi vào một ngày nọ, Hinzelmann xuất hiện và nói: "Thomas (đó là tên ông), ta cảnh báo ng ông hãy cẩn trọng khi nạp đạn bắn súng, bằng không chẳng mấy chốc ông sẽ gặp tai họa đấy." Vị đại tá chẳng bận tâm đến lời này và cho rằng nó chẳng có ý nghĩa gì sất. Thế nhưng chỉ vài ngày sau, khi ông đang nhắm bắn một con hoẵng, khẩu súng của ông bỗng phát nổ và thổi bay ngón cái bàn tay trái của ông. Khi sự việc xảy ra, Hinzelmann lập tức xuất hiện bên cạnh và cất lời: "Thấy chưa, giờ thì ông đã nhận được món quà cảnh báo của ta rồi đấy! Nếu lần này ông chịu nhịn không đi săn, thì tai ương này đã chẳng giáng xuống đầu ông."

Lại có lần một vị lãnh chúa tên là Falkenberg, vốn là một binh sĩ, đến ghé thăm Hudemühlen. Ông là một người vui tính, hoạt bát, và bắt đầu giở trò trêu chọc, chế nhạo Hinzelmann. Hinzelmann không đời nào chịu nhịn lâu thứ này, bỗng bắt đầu lộ rõ vẻ bất mãn tột độ. Cuối cùng hắn nói: — "Falkenberg, bây giờ anh đang cười cợt vui vẻ trên lưng tôi đấy, nhưng cứ đợi đến lúc anh đặt chân tới Magdeburg đi, cái mũ của anh sẽ bị thổi tung theo cách khiến anh quên béng mất thói châm chọc và giễu cợt của mình cho mà xem." Vị quý tộc cảm thấy chột dạ: ông tin chắc rằng những lời này ẩn chứa một tầng ý nghĩa sâu xa; ông bèn ngắt lời cuộc trò chuyện với Hinzelmann và chẳng bao lâu sau thì cáo từ. Không lâu sau đó, cuộc vây hãm thành Magdeburg dưới thời Tuyển hầu tước Maurice chính thức bắt đầu, nơi vị lãnh chúa Falkenberg này có mặt dưới trướng một vị hoàng thân nước Đức có thế lực. Phe cố thủ kháng cự vô cùng anh dũng, ngày đêm liên tục nã đạn từ súng trường cỡ lớn cùng đủ loại pháo binh khác; và cơ sự xảy ra là vào một ngày nọ, chiếc cằm của Falkenberg đã bị một viên đạn pháo bắn bay mất, và ba ngày sau ông qua đời vì vết thương đó trong cơn đau đớn tột cùng.

Bất cứ kẻ nào mà vị tinh linh không thể ưa nổi đều bị hắn tra tấn hoặc trừng phạt vì những thói hư tật xấu. Hắn buộc tội viên thư ký ở Hudemühlen mắc chứng kiêu ngạo quá đà, đâm ra căm ghét gã vì lý do đó và ngày đêm giở đủ trò quấy rầy. Hắn từng hào hứng kể lại chuyện mình đã giáng cho viên thư ký ngạo mạn ấy một cú tát tai nảy lửa ra sao. Khi viên thư ký được đem ra chất vấn về chuyện đó, rằng liệu Vị tinh linh có từng tìm đến gã hay không, gã liền thú nhận: "Ối chao, quả thực hắn đã đến tìm tôi nhưng ngặt nỗi là quá nhiều lần; chính đêm qua hắn đã hành hạ tôi đến mức tôi chẳng tài nào đứng vững trước mặt hắn nổi." Gã có mối tình lén lút với cô hầu phòng; và có một đêm khi gã đang say sưa tâm sự mặn nồng với cô ta, tưởng rằng chẳng có ai ngoài bốn bức tường nhìn thấy họ, thì vị tinh linh gian xảo liền xuất hiện, hất tung hai kẻ ra hai ngả, thô bạo đá văng tên thư ký tội nghiệp ra tận cửa rồi vớ lấy chiếc chổi đuổi đánh gã nhừ tử, khiến gã cắm cổ chạy bán sống bán chết về phòng của mình và quên sạch sành sanh cả chuyện yêu đương. Người ta đồn rằng Hinzelmann thậm chí đã làm dăm ba câu thơ về mối tình dở khóc dở cười này rồi thường xuyên cất lên để giải trí, vừa ngâm nga vừa cười ha hả sảng khoái mỗi khi kể cho lữ khách nghe.

Có lần một người ở Hudemühlen bỗng dưng bị cơn đau thắt bụng quằn quại hành hạ vào buổi tối, và một cô hầu gái được phái xuống hầm rượu để lấy chút rượu làm vị cho người bệnh uống thuốc. Khi cô hầu đang ngồi trước chiếc thùng rượu và chuẩn bị múc rượu, Hinzelmann liền xuất hiện bên cạnh và phán rằng: "Xin cô vui lòng nhớ lại cho là cách đây vài ngày, cô từng mắng mỏ và lăng mạ tôi nhé; để trừng phạt cho hành động đó, đêm nay cô sẽ ngồi chỏng chơ trong hầm rượu này luôn. Còn về bệnh nhân kia, ông ta chẳng gặp nguy hiểm gì sất; cơn đau sẽ biến mất trong vòng nửa tiếng nữa, và rượu lúc này chỉ tổ làm hại ông ta thêm mà thôi. Thế nên cứ ngồi lỳ ở đây cho đến khi cửa hầm được mở ra nhé." Bệnh nhân đợi hoài đợi mãi chẳng thấy bóng dáng giọt rượu nào được mang lên; một cô hầu gái khác được phái xuống dưới và phát hiện cửa hầm rượu đã bị khóa chặt bên ngoài bằng một chiếc ổ khóa chắc chắn, còn cô hầu gái kia thì ngồi bệt bên trong, kể lại chuyện bị Hinzelmann nhốt kín bằng cách đó. Họ muốn mở hầm để thả cô hầu ra nhưng tìm đỏ cả mắt chẳng thấy chiếc chìa khóa đâu, dù đã lục lọi với tinh thần chăm chỉ nhất. Sáng hôm sau, hầm rượu tự mở tung, ổ khóa và chìa khóa nằm ngay trước cửa. Đúng như lời vị tinh linh, cơn đau của bệnh nhân đã biến mất hoàn toàn chỉ trong vòng nửa tiếng đồng hồ.

Hinzelmann chưa bao giờ xuất hiện trước mặt chủ nhân ngôi nhà ở Hudemühlen, và mỗi lần bị nài nỉ rằng nếu mang hình hài con người thì hãy cho ông được diện kiến, hắn toàn đáp rằng "thời điểm vẫn chưa tới; hãy cứ đợi cho đến khi nào hắn thấy thoải mái đã." Một đêm nọ, khi người chủ đang trằn trọc nằm thức giấc trên giường, ông nghe thấy tiếng động sột soạt ở một góc phòng và đoán chắc vị tinh linh đang ở đó. Ông liền cất tiếng: "Hinzelmann, nếu ngươi ở đó, hãy trả lời ta." "Là tôi đây," hắn đáp lại; "ông muốn gì nào?" Vì căn phòng ngập tràn ánh trăng sáng rực rỡ, vị gia chủ có cảm giác như thấp thoáng bóng dáng của một sinh linh tựa hình thù một đứa trẻ đang hiện hữu ở nơi phát ra âm thanh. Nhận thấy vị tinh linh đang trong tâm trạng vô cùng cởi mở thân thiện, ông liền bắt chuyện và đề nghị: "Hãy cho ta được nhìn và chạm vào ngươi lần này thôi." Nhưng Hinzelmann nhất quyết từ chối: "Ông có chịu đưa tay ra cho tôi ít nhất để tôi biết ông có da thịt giống con người không?" "Không," Hinzelmann đáp; "tôi không thèm tin ông đâu; ông là một tên gian xảo; ông sẽ chộp lấy tôi và không chịu buông ra nữa cho mà xem." Tuy nhiên, sau một hồi kỳ kèo ngã giá lâu lắc, và sau khi ông chủ thề thốt danh dự bằng đức tin của mình là sẽ không giữ hắn lại mà buông ra ngay lập tức, hắn mới bảo: "Thấy chưa, tay tôi đây." Và khi vị gia chủ chộp lấy, ông có cảm giác như đang chạm vào những ngón tay của một đứa trẻ nhỏ xíu; thế nhưng vị tinh linh đã rụt phắt tay lại ngay lập tức. Vị gia chủ lại nài nỉ xin được chạm vào mặt hắn, điều mà cuối cùng hắn cũng gật đầu đồng ý; và khi chạm vào, ông có cảm giác như vừa chạm vào răng hoặc một bộ xương khô khốc không chút thịt da, và khuôn mặt ấy cũng thụt lùi lại nhanh đến mức ông chẳng kịp nhận diện chính xác hình thù của nó; ông chỉ kịp nhận ra rằng nó cũng lạnh ngắt y như bàn tay, hoàn toàn trống rỗng không có lấy một chút hơi ấm sự sống.

Cô đầu bếp, người có mối thâm tình vô cùng gần gũi với hắn, nghĩ rằng mình có thể mạo hiểm đưa ra một thỉnh cầu với hắn, dù người khác có lẽ không dám làm thế, và vì quá khao khát được tận mắt diện kiến hình hài bằng xương bằng thịt của Hinzelmann, kẻ mà ngày nào cô cũng nghe tiếng nói chuyện và mang thức ăn nước uống cung phụng, cô liền khẩn khoản van nài hắn ban cho đặc ân đó; nhưng hắn kiên quyết từ chối và bảo rằng đây chưa phải thời điểm thích hợp, nhưng sau này có lúc hắn sẽ để cho bất kỳ ai cũng nhìn thấy. Sự từ chối này chỉ càng làm dâng trào ngọn lửa tò mò và cô càng ép uổng hắn không được từ chối thỉnh cầu của mình. Hắn bảo cô sẽ phải hối hận vì sự tò mò nếu không chịu từ bỏ ý định, và khi mọi lời can ngăn đều đổ sông đổ biển, cô nhất quyết không chịu lùi bước, cuối cùng hắn mới phán: "Sáng mai, hãy đến hầm rượu trước khi mặt trời mọc, mỗi tay xách một xô nước đầy, thỉnh cầu của cô sẽ được thỏa mãn." Cô hầu gặng hỏi mang nước theo để làm gì: "Rồi cô sẽ khắc rõ," hắn đáp; "nếu không có nó, việc nhìn thấy hình hài của tôi có lẽ sẽ mang lại tai họa cho cô đấy."

Sáng hôm sau, cô đầu bếp đã có mặt từ lúc rạng đông, mỗi tay xách một xô nước đi thẳng xuống hầm rượu. Cô đảo mắt nhìn xung quanh mà chẳng thấy bóng dáng ai; thế nhưng khi cúi gằm xuống mặt đất, cô bỗng phát hiện ra một chiếc khay, trên đó có đặt một đứa trẻ sơ sinh trần truồng chừng ba tuổi, với hai lưỡi dao đắm chìm cắm chéo nhau vào lồng ngực, và toàn thân đẫm máu tuôn xối xả. Cô hầu gái hoảng hốt đến mức mất sạch ý thức, ngã lăn quay ra sàn nhà bất tỉnh nhân sự. Vị tinh linh lập tức chộp lấy chậu nước mà cô mang theo, xối thẳng lên đầu cô, nhờ vậy mà cô hoàn toàn tỉnh lại. Cô hốt hoảng ngó quanh tìm chiếc khay, nhưng tất cả đã bốc hơi bay sạch, và cô chỉ còn nghe thấy giọng nói của Hinzelmann vang lên: "Giờ thì cô đã thấy sự cần thiết của nước lớn nhường nào rồi đấy; nếu nó không ở ngay đây thì cô đã chết quách tại hầm rượu này rồi. Tôi hy vọng ngọn lửa khao khát muốn nhìn thấy tôi của cô giờ đây đã hạ nhiệt kha khá rồi nhỉ." Sau này, hắn thường hay đem trò đùa này ra để trêu chọc cô đầu bếp và kể lại cho những người khách lạ nghe với vẻ khoái chí cười ngặt nghẽo.

Hắn cũng thường xuyên hiện hình trước mặt những đứa trẻ ngây thơ trong lúc chúng đang đùa giỡn. Vị mục sư Feldmann nhớ rất rõ rằng khi ông ở độ tuổi chừng mười bốn hay mười lăm, không hề mảy may nghĩ ngợi gì về hắn, ông từng tận mắt nhìn thấy Vị tinh linh dưới hình hài một chú bé nhỏ xíu đang bước phăng phăng lên cầu thang với tốc độ cực nhanh. Khi bọn trẻ tụ tập quanh ngôi nhà Hudemühlen chơi đùa cùng nhau, hắn thường sà vào giữa đám trẻ và chơi đùa cùng chúng dưới lốt một đứa bé xinh xắn, khiến tất cả những đứa trẻ khác đều nhìn thấy hắn mồn một, và khi về nhà chúng hồn nhiên kể cho bố mẹ nghe về việc trong lúc đang chơi đùa, có một đứa trẻ lạ mặt bỗng sà đến chơi chung và pha trò cùng chúng. Điều này được xác thực bởi một cô hầu gái, người từng bước vào một căn phòng nơi có bốn hoặc sáu đứa trẻ đang túm tụm chơi đùa, và giữa đám trẻ ấy, cô nhìn thấy một cậu bé lạ mặt có khuôn mặt vô cùng xinh xắn, với mái tóc xoăn màu vàng buông xõa ngang vai, mặc một chiếc áo khoác bằng lụa đỏ; và khi cô muốn tiến lại gần để quan sát kỹ hơn, cậu bé liền lẩn khuất khỏi nhóm và biến mất tăm. Hinzelmann cũng để cho một gã khờ tên là Claus, kẻ được nuôi dưỡng tại đây và thường hay tìm đủ mọi trò tiêu khiển cùng hắn, được diện kiến mình. Khi chẳng thể tìm thấy gã khờ ở bất cứ xó xỉnh nào, và sau đó người ta gặng hỏi gã đã lẩn đi đâu suốt từng ấy thời gian, gã thường đáp: "Tôi đi chơi với người tí hon, và tôi đang chơi đùa cùng cậu ta đấy." Nếu tiếp tục bị hỏi dồn người tí hon cao lớn nhường nào, gã liền giơ tay áng chừng độ cao ngang tầm với một đứa trẻ bốn tuổi.

Đến thời điểm vị gia tinh chuẩn bị từ giã chốn này, hắn tìm gặp gia chủ và ngỏ lời: "Này nhé, tôi sẽ tặng ông một món quà kỷ niệm; hãy nâng niu giữ gìn nó, và để nó gợi nhớ đến tôi." Đoạn hắn trao tận tay ông một chiếc thánh giá nhỏ — tác giả dùng từ bỏ ngỏ không rõ là làm bằng lụa (seide) hay dây tết (saiten) — được đan bện vô cùng khéo léo. Nó dài bằng một ngón tay, rỗng ở bên trong và phát ra tiếng lanh canh vui tai mỗi khi lắc. Thứ hai là một chiếc mũ rơm do chính tay hắn đan, trên đó người ta có thể nhìn thấy những hình khối được tạo tác vô cùng tinh xảo từ những cọng rơm đa sắc màu. Thứ ba là một chiếc găng tay da được nạm những hạt ngọc trai tạo nên vô số họa tiết kỳ diệu. Kế đó hắn đính kèm theo lời tiên tri này: "Chừng nào những món đồ này còn được giữ gìn nguyên vẹn không bị chia cắt trong gia tộc các ông, thì chừng đó toàn bộ dòng họ của các ông sẽ còn hưng thịnh và vận may sẽ không ngừng sinh sôi; nhưng nếu những món quà này bị phân chia, thất lạc hoặc hoang phí, dòng họ của các ông sẽ lụi tàn và suy sụp." Và khi nhận ra vị gia chủ có vẻ chẳng mặn mà gì đặc biệt với món quà, hắn tiếp tục: "Tôi e rằng ông chẳng mấy trân quý những thứ này và sẽ để chúng tuột mất khỏi tay; vì vậy tôi khuyên ông nên trao lại quyền bảo quản chúng cho hai người cô của ông là Anne và Catherine, họ sẽ chăm sóc chúng cẩn thận hơn."

Quả nhiên hắn trao lại những món quà cho các vị tiểu thư, những người đã đón nhận và cẩn trọng cất giữ chúng, chưa từng trưng bày cho ai xem ngoại trừ những người bạn thưa thớt thân thiết nhất. Sau khi họ qua đời, những món đồ ấy quay trở về tay người anh trai, người đã giữ lại chúng cho riêng mình và gắn bó cùng chúng suốt quãng đời còn lại. Ông đã cho vị mục sư Feldmann xem chúng theo lời nài nỉ tha thiết trong một cuộc trò chuyện riêng tư. Khi ông qua đời, chúng lại được truyền cho cô con gái duy nhất của ông là Adelaide, người đã kết hôn với L. von H., cùng với phần di sản còn lại, và chúng ở lại trong quyền sở hữu của cô một thời gian. Con trai của vị mục sư Feldmann đã tiến hành nhiều cuộc dò hỏi về số phận sau này của những món quà từ vị Gia tinh, và ông được hay chiếc mũ rơm đã được dâng lên hoàng đế Ferdinand II, người coi nó như một kỳ trân dị bảo. Chiếc găng tay da vào thời điểm ấy vẫn còn nằm trong tay một vị quý tộc. Nó ngắn, vừa khít vươn qua bàn tay một chút, và có hình một con ốc sên được thêu bằng ngọc trai ở phần vượt quá bàn tay. Chuyện gì đã xảy ra với chiếc thánh giá nhỏ thì chẳng ai hay biết.

Vị tinh linh tự nguyện cất bước ra đi sau khi đã gắn bó suốt bốn năm trời, từ năm 1584 đến năm 1588, tại Hudemühlen. Trước lúc lên đường, hắn tuyên bố rằng hắn sẽ quay trở lại thêm một lần nữa khi gia tộc này lâm vào cảnh suy vi, và khi ấy dòng họ sẽ lại hưng thịnh trở lại và vươn lên mạnh mẽ.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 30 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.