Tại Na Uy, chẳng cách thành phố Drontheim là bao, từng sống một người quyền thế, được trời phú cho mọi ơn phước của cuộc đời. Một vùng đất bao quanh thuộc về sở hữu của ông; những đàn gia súc đông đúc thẩn thơ gặm cỏ trên các đồng cỏ nhà ông, và một đoàn tùy tùng lớn cùng lũ gia nhân tấp nập tô điểm cho dinh cơ của ông. Ông có một cô con gái độc nhất tên là Aslog, danh tiếng về nhan sắc của nàng lan truyền đi khắp chốn gần xa. Những người đàn ông vĩ đại nhất trong vùng đều đến cầu hôn nàng, nhưng tất cả đều chuốc lấy thất bại như nhau trong công cuộc chinh phục, để rồi kẻ từng đến với đầy rẫy sự tự tin và niềm vui nay lại lủi thủi cưỡi ngựa về nhà trong sự lặng thầm và u sầu. Người cha, vốn cho rằng con gái mình chần chừ trong việc lựa chọn chỉ để tìm cho ra người xuất sắc nhất, nên đã không xen vào và vô cùng đắc ý trước sự thận trọng của nàng. Nhưng rồi khi những kẻ giàu có và cao quý nhất đã lần lượt thử vận may mà cũng chẳng thành công hơn những người khác, ông đùng đùng nổi giận, gọi con gái lại và quở rằng: "Từ trước đến nay ta vẫn để mặc con tự do lựa chọn, nhưng nay ta thấy con cự tuyệt tất cả chẳng từ một ai, và ngay cả những kẻ cầu hôn ưu tú nhất cũng chẳng lọt nổi vào mắt xanh của con, thì ta sẽ không nhượng bộ con nữa. Sao cơ? Chẳng lẽ dòng tộc của ta rồi sẽ tuyệt tự, và cơ ngơi gia sản này rơi vào tay người dưng nước lã hay sao? Ta sẽ bẻ gãy cái tính khí bướng bỉnh của con. Ta cho con thời gian từ nay cho đến đại lễ Đêm Đông; hãy đưa ra sự lựa chọn trước thời điểm đó, hoặc chuẩn bị tinh thần để chấp nhận người mà ta sẽ chỉ định."
Aslog đem lòng yêu một chàng thanh trai tên là Orm, khôi ngô tuấn tú lại dũng cảm và cao thượng. Nàng yêu chàng bằng cả tâm hồn mình, và thà chết chứ nhất định không chịu trao tay cho người khác. Nhưng Orm lại nghèo, và chính sự nghèo khó ấy buộc chàng phải làm tôi tớ trong dinh cơ của cha nàng. Tình cảm mà Aslog dành cho chàng được giữ kín như bưng; bởi lòng kiêu hãnh về quyền lực và sự giàu có của người cha lớn đến mức ông sẽ chẳng bao giờ đời nào đồng ý cho nàng kết hôn với một kẻ hèn mọn nhường ấy.
Khi Aslog nhìn thấy sắc mặt tối sầm của cha và nghe những lời giận dữ của ông, nàng tái mặt đi như tàu lá, bởi nàng thừa biết tính khí của ông và chẳng mảy may nghi ngờ việc ông sẽ biến những lời đe dọa ấy thành hiện thực. Không thốt ra nổi một lời đáp trả, nàng lặng lẽ lui về căn phòng vắng lặng của mình, vắt óc suy nghĩ muôn vàn cách nhưng vô ích để ngăn chặn cơn bão tăm tối đang lơ lửng đè nặng trên đầu. Đại lễ cứ thế ngày một đến gần, và nỗi thống khổ trong lòng nàng mỗi ngày một tăng lên.
Cuối cùng, đôi uyên ương quyết định trốn chạy. "Anh biết," Orm nói, "một nơi ẩn náu an toàn mà chúng ta có thể tá túc mà không bị phát hiện cho đến khi tìm được cơ hội rời khỏi xứ sở này." Vào ban đêm, khi tất cả mọi người đã chìm vào giấc ngủ, Orm dẫn nàng Aslog đang run rẩy băng qua những cánh đồng tuyết và băng giá để tiến về phía núi non. Ánh trăng và các vì sao trong đêm đông lạnh giá nay lại càng lấp lánh hơn như soi đường chỉ lối cho họ. Dưới nách họ kẹp một vài bộ quần áo cùng vài tấm da thú, đó là tất cả những gì họ có thể mang theo. Họ leo núi suốt cả một đêm dài ròng rã cho đến khi tới được một chốn hoang vắng bị bao bọc bởi những vách đá sừng sững. Tại đây, Orm dẫn nàng Aslog mệt mỏi bước vào một cái hang, với lối vào thấp và hẹp đến mức khó lòng nhận ra, nhưng bên trong lại mở rộng thành một sảnh đường lớn đâm sâu vào lòng núi. Chàng nhóm lên một đống lửa, và giờ đây, tựa lưng vào những tấm da thú, họ ngồi bên nhau giữa chốn thâm sơn cùng cốc biệt lập hoàn toàn với thế giới bên ngoài.
Orm chính là người đầu tiên phát hiện ra hang động này, nơi mà người ta vẫn còn truyền tụng cho đến tận ngày nay, và vì chẳng một ai hay biết gì về nó nên họ hoàn toàn được an toàn trước sự lùng sục của cha Aslog. Họ trải qua toàn bộ mùa đông trong chốn ẩn dật ấy. Orm thường đi săn bắn, còn Aslog ở nhà trong hang, canh chừng ngọn lửa và chuẩn bị thức ăn cần thiết. Thường thì nàng cũng trèo lên những chỏm đá, nhưng đôi mắt nàng dẫu có phóng đi xa đến đâu thì cũng chỉ thu vào tầm mắt những cánh đồng tuyết lấp lánh mà thôi.
Mùa xuân giờ đây đã đến – rừng cây xanh lá – những thảm cỏ khoác lên mình muôn vàn sắc màu, và Aslog chỉ có thể họa hoằn lắm và hết sức dè dặt mới dám mạo hiểm bước ra khỏi hang. Một buổi tối nọ, Orm trở về mang theo tin báo rằng chàng đã nhận ra bóng dáng đám gia nhân của cha nàng ở đằng đằng xa, và rằng chàng khó lòng có thể qua mắt được họ, những kẻ có thị lực tốt chẳng kém gì chính chàng. "Chúng sẽ vây hãm chốn này," chàng tiếp lời, "và sẽ chẳng chịu buông tay cho đến khi tìm được chúng ta; vậy nên chúng ta phải rời khỏi nơi trú ẩn này mà không được chần chừ dù chỉ một phút giây."
Thế là họ bèn leo xuống sườn bên kia của ngọn núi, ra tới bờ biển và may mắn tìm được một chiếc thuyền. Orm đẩy thuyền ra, và chiếc thuyền trôi dạt thẳng ra biển lớn. Họ đã thoát khỏi kẻ bám đuổi, nhưng giờ đây lại phải đối mặt với những hiểm nguy mang một hình thù khác: họ biết tạt về đâu bây giờ? Họ không dám bước chân lên bờ, bởi cha của Aslog là chúa tể của cả dải bờ biển này, và nếu ghé vào thì chắc chắn họ sẽ lọtỏm vào tay ông ta. Chẳng còn cách nào khác ngoài việc phó mặc con thuyền nhỏ bé của mình cho gió và sóng biển. Họ cứ thế trôi dạt suốt cả một đêm dài. Khi trời vừa hửng sáng, bờ biển đã biến mất tăm, và họ chẳng còn thấy gì ngoài bầu trời bao la phía trên, mặt biển thăm thẳm bên dưới, cùng những con sóng nhấp nhô lúc dâng lúc hạ. Họ chẳng mang theo lấy một mẩu thức ăn nào bên mình, và cơn khát cùng nỗi đói bắt đầu hành hạ họ. Suốt ba ngày ròng rã họ cứ bập bềnh trôi trong trạng thái khốn khổ ấy, và Aslog kiệt quệ, lả đi, chẳng nhìn thấy trước mặt mình điều gì ngoài cái chết cận kề.
Cuối cùng, vào buổi chiều ngày thứ ba, họ phát hiện ra một hòn đảo có kích thước tương đối lớn, được bao bọc xung quanh bởi vô số hòn đảo nhỏ hơn. Orm lập tức bẻ lái hướng về phía đó, nhưng vừa lúc chàng tiến lại gần thì bất chợt một cơn gió dữ dội nổi lên, và những con sóng mỗi lúc một chồm lên cao hơn, cuồn cuộn chống lại chàng. Chàng quay đầu thuyền với ý định tiếp cận từ một hướng khác, nhưng cũng chẳng khá khẩm hơn; con thuyền của chàng, cứ mỗi lần tiến sát hòn đảo lại bị đẩy lùi lại phía sau như thể có một thứ sức mạnh vô hình nào đó cản trở. "Lạy Chúa!" chàng kêu lên, tự làm dấu thánh và nhìn sang nàng Aslog tội nghiệp đang lả đi vì suy nhược ngay trước mắt chàng. Nhưng tiếng kêu vừa dứt khỏi môi chàng thì giông bão liền ngớt, sóng biển lặng thầm trở lại, và con thuyền cập vào bờ mà chẳng gặp phải bất kỳ chướng ngại vật nào nữa. Orm nhảy phốc lên bãi cát; một vài con trai biển mà chàng tìm thấy trên bờ đã tiếp thêm sức mạnh và hồi sinh nàng Aslog đang kiệt quệ, khiến nàng chẳng mấy chốc đã có thể rời khỏi con thuyền.
Hòn đảo mọc đầy những bụi cây lùn thấp lè tè và có vẻ như không có người ở; nhưng khi họ đi ra đến khoảng giữa đảo, họ phát hiện ra một ngôi nhà nhô lên khỏi mặt đất chẳng đáng là bao và trông như thể nửa chìm nửa nổi dưới lòng đất. Với hy vọng tìm được con người và sự giúp đỡ, những kẻ lang thang tiến lại gần. Họ lắng tai nghe xem có tiếng động nào không, nhưng sự tĩnh mịch tuyệt đối bao trùm lấy nơi đây. Cuối cùng, Orm đẩy cửa bước vào cùng người bạn đời của mình; thế nhưng họ không khỏi ngạc nhiên xiết bao khi thấy mọi thứ bên trong đều được sắp đặt và bố trí gọn ghamb như thể có người sinh hoạt, vậy mà chẳng có nổi một sinh sống nào lộ diện. Ngọn lửa vẫn đang cháy bập bùng trên lò sưởi giữa phòng, và một cái vạc đựng cá treo trên đó dường như chỉ đang chờ đợi ai đó nhấc xuống để thưởng thức. Những chiếc giường đã được dải phẳng phiu sẵn sàng đón chào những vị chủ nhân mệt mỏi. Orm và Aslog đứng ngây người ngập ngừng một lúc lâu, nhìn ngắm xung quanh với một nỗi kính sợ nhất định, nhưng cuối cùng, vì cơn đói cồn cào chiến thắng, họ đã bốc thức ăn lên và ăn. Khi đã thỏa thuê cái bụng đói, và trong những tia nắng cuối cùng của buổi hoàng hôn lúc này đang trải dài rực rỡ khắp hòn đảo mà vẫn chẳng thấy bóng dáng con người nào, họ đành buông xuôi cho sự mệt mỏi và ngả mình lên những chiếc giường mà họ đã phải xa cách từ lâu.
Họ từng đinh ninh rằng sẽ bị đánh thức vào nửa đêm bởi những chủ nhà trở về, nhưng kỳ vọng đó đã không xảy ra; họ cứ thế ngủ một mạch không bị quấy rầy cho đến khi ánh nắng mặt trời buổi sáng chiếu rọi vào phòng. Chẳng có ai xuất hiện trong suốt những ngày tiếp theo, và có vẻ như một thế lực vô hình nào đó đã chuẩn bị sẵn nhà cửa để đón tiếp họ. Họ đã trải qua cả một mùa hè trong niềm hạnh phúc trọn vẹn – quả thực là họ sống cô độc, nhưng họ chẳng hề cảm thấy thiếu vắng bóng dáng con người. Trứng của loài chim hoang dã và những con cá họ bắt được đã cung cấp cho họ nguồn lương thực dồi dào phong phú.
Khi mùa thu tới, Aslog hạ sinh một cậu con trai. Giữa muôn vàn niềm vui mừng khi đứa trẻ cất tiếng khóc chào đời, họ lại bất ngờ trước một hiện tượng kỳ lạ. Cánh cửa bỗng nhiên bật mở, và một bà cụ bước vào. Bà khoác trên mình một chiếc váy xanh sang trọng: có cái gì đó kiêu kỳ, nhưng đồng thời lại có cái gì đó thật kỳ lạ và bất ngờ toát lên từ ngoại hình của bà.
"Đừng sợ," bà cất lời, "trước sự xuất hiện bất ngờ của ta—ta chính là chủ nhân của ngôi nhà này, và ta cảm ơn các ngươi vì đã giữ gìn nó sạch sẽ ngăn nắp, cũng như vì trật tự tươm tất mà ta thấy ở mọi thứ tại đây. Ta đã rất muốn đến sớm hơn, nhưng ta không có khả năng đó cho đến khi đứa trẻ ngoại đạo này (bà chỉ tay về phía đứa trẻ sơ sinh) cất tiếng chào đời. Giờ thì ta đã có thể tự do lui tới. Chỉ là đừng có rước ông linh mục nào từ đất liền ra để rửa tội cho nó, bằng không ta buộc phải rời đi đấy. Nếu các ngươi chịu chiều theo ý ta trong chuyện này, các ngươi không chỉ được tiếp tục sống ở đây, mà ta còn ban cho các ngươi tất cả những điều tốt đẹp nhất mà các ngươi có thể ao ước. Bất cứ việc gì các ngươi nhúng tay vào cũng sẽ đều hanh thông phát đạt; may mắn sẽ theo bước các ngươi đi đến bất cứ đâu. Thế nhưng nếu các ngươi dám phá vỡ giao ước này, thì hãy chuẩn bị tinh thần đón nhận tai họa hết lớp này đến lớp khác giáng xuống đầu, và ta sẽ trừng phạt cả đứa trẻ này nữa nếu cần. Nếu các ngươi cần gì, hay rơi vào cảnh hiểm nguy, các ngươi chỉ cần gọi tên ta ba lần là ta sẽ xuất hiện và ra tay cứu giúp. Ta thuộc dòng dõi Người khổng lồ thời cổ đại, và tên ta là Guru. Nhưng hãy cẩn thận chớ có thốt lên trước mặt ta cái tên của đấng mà không một Người khổng lồ nào được phép nghe thấy, và tuyệt đối đừng bao giờ mạo muội làm dấu thánh, hay khắc nó lên xà nhà hoặc ván gỗ trong ngôi nhà này. Các ngươi có thể ở trong căn nhà này suốt cả năm trời, chỉ xin hãy nhường lại nó cho ta vào đêm Giáng Sinh, khi mặt trời ở vị trí thấp nhất, vì đó là lúc chúng ta cử hành đại tiệc, và cũng là lúc duy nhất chúng ta được phép vui chơi. Ít nhất, nếu các ngươi không sẵn lòng rời khỏi nhà, hãy tự giam mình trên gác xép thật im lìm lặng lẽ trong suốt cả ngày hôm đó, và vì mạng sống của chính mình, tuyệt đối đừng nhìn xuống phòng khách cho đến khi qua nửa đêm. Sau thời điểm đó, các ngươi có thể lấy lại quyền sở hữu mọi thứ."
Khi bà cụ nói dứt lời thì bóng bà biến mất, còn Aslog và Orm, lúc này đã có thể an tâm về hoàn cảnh sống của mình, cứ thế sống một cuộc đời bình yên, viên mãn và hạnh phúc. Orm chưa bao giờ thả lưới mà không kéo lên được một mẻ lưới đầy ắp; chàng chưa bao giờ giương cung bắn đi mũi tên nào mà lại hụt mục đích; tóm lại, bất cứ việc gì họ làm, dù có tầm thường đến đâu đi chăng nữa, cũng đều thấy rõ sự hanh thông phát đạt.
Khi Giáng Sinh đến, họ dọn dẹp sạch sẽ ngôi nhà theo cách tốt nhất, sắp xếp mọi thứ ngăn nắp, nhóm một đống lửa trên lò sưởi, và khi hoàng hôn buông xuống, họ dắt nhau lên gác xép, ở yên trên đó thật tĩnh mịch và lặng lẽ. Cuối cùng thì trời cũng sập tối; họ ngỡ như nghe thấy tiếng rít và tiếng khịt mũi vù vù trong không gian, tựa như âm thanh loài thiên nga vẫn phát ra vào mùa đông. Trên mái nhà phía trên lò sưởi có một cái lỗ có thể đóng mở tùy ý để lấy ánh sáng từ trên rọi xuống, hoặc tạo lối thoát cho khói bay ra ngoài. Orm nhấc tấm nắp đậy được bọc bằng da thú lên và thò đầu ra ngoài. Thế nhưng ôi chao, một cảnh tượng kỳ diệu xiết bao bấy giờ hiện ra trước mắt chàng! Những hòn đảo nhỏ xung quanh đều bừng sáng rực rỡ bởi vô số những đốm lửa xanh lam, chúng di chuyển không ngừng nghỉ, nhảy nhót tưng bừng lên xuống, rồi lao vút xuống bờ biển, tụ họp lại với nhau và ngày một tiến lại gần hơn cái hòn đảo lớn nơi Orm và Aslog đang sinh sống. Cuối cùng chúng cũng cập bến và xếp thành một vòng tròn quanh một tảng đá lớn cách bờ không xa, một tảng đá mà Orm thừa rõ. Thế nhưng chàng không khỏi kinh ngạc xiết bao khi thấy tảng đá ấy lúc này đã hoàn toàn biến dạng thành hình thù của một con người, dẫu đó là một kẻ khổng lồ quái dị! Chàng có thể nhìn rõ mồn một rằng những đốm lửa xanh nhỏ bé kia là do loài Người lùn mang theo, những khuôn mặt tái mét màu đất sét của chúng với cái mũi to tướng và đôi mắt đỏ ngầu, lại còn bị biến dạng bởi cái mỏ chim và mắt cú mèo, được nâng đỡ bởi những thân hình dị dạng; và chúng lảo đảo lặc lè đi lại khắp nơi, trông vừa có vẻ vui mừng lại vừa có vẻ đau đớn. Bất thình lình, vòng tròn mở ra; đám người lùn lùi dạt cả sang hai bên, và Guru, lúc này đã phình to lên rất nhiều và có kích thước khổng lồ chẳng kém gì tảng đá, bước tới với những sải chân vĩ đại. Bà vòng cả hai tay ôm lấy pho tượng đá, và nó lập tức bắt đầu có sự sống cùng chuyển động. Ngay khi dấu hiệu chuyển động đầu tiên vừa xuất hiện, đám người lùn liền bắt đầu cất lên những bước nhảy vọt cùng điệu bộ nhăn nhó kỳ lạ, một khúc ca, hay nói đúng hơn là một tiếng hú dài, khiến toàn bộ hòn đảo vang dội và dường như run rẩy trước âm thanh đó. Orm, sợ hãi vô cùng, rụt đầu lại, và chàng cùng Aslog cứ thế nấp trong bóng tối, im lìm đến mức họ chẳng dám cả thở mạnh.
Đoàn người tiến về phía ngôi nhà, điều đó có thể nhận thấy rõ qua tiếng hò hét và la lối ngày một đến gần hơn. Giờ thì tất cả đã bước vào trong, và đám Người lùn nhanh nhẹn, hoạt bát nhảy nhót tung tăng trên những chiếc ghế băng; vang lên đan xen từng hồi là những bước chân nặng nề và vang động của những kẻ khổng lồ. Orm và vợ nghe tiếng họ bày biện bàn ăn, tiếng lách cách của bát đĩa, và những tiếng hô vang mừng vui khi họ cử hành bữa tiệc. Khi bữa tiệc tàn và thời khắc nửa đêm đã cận kề, họ bắt đầu khiêu vũ theo điệu nhạc tiên mê hồn khiến tâm trí đắm chìm trong sự mê đắm ngọt ngào, thứ giai điệu mà đôi khi người ta từng nghe văng vẳng trong những thung lũng đá và học được bằng cách lắng nghe các nhạc công dưới lòng đất. Ngay khi Aslog bắt kịp âm thanh của điệu nhạc ấy, nàng cảm thấy một khao khát không thể kìm nén được muốn tận mắt chứng kiến màn khiêu vũ. Và Orm cũng chẳng tài nào cản nàng lại được. "Hãy để em nhìn một chút," nàng nói, "bằng không trái tim em sẽ nứt ra mất." Nàng bồng đứa con trên tay và bước ra đứng ở tận cùng góc gác xép, từ vị trí đó, mà không bị ai phát hiện, nàng có thể thu vào tầm mắt mọi chuyện diễn ra bên ngoài. Nàng cứ đứng ngẩn ngơ ngắm nhìn suốt một hồi lâu mà không dời mắt lấy nửa giây, ngắm nhìn điệu nhảy, những cú tung người táo bạo và kỳ diệu của những sinh vật nhỏ bé trông như thể đang lơ lửng giữa không trung chứ chẳng hề chạm chân xuống đất, trong khi giai điệu mê hoặc của loài yêu tinh ngập tràn cả tâm can nàng. Trong khi đó, đứa bé đang nằm trong ngực nàng bỗng chìm vào giấc ngủ và thở hắt ra nặng nhọc, và chẳng mảy may nhớ màng gì đến lời hứa từng thưa với bà cụ, nàng liền theo thói quen đưa tay làm dấu thánh lên miệng đứa trẻ và lẩm bẩm: "Chúa phù hộ con, đứa con bé bỏng của ta!"
Khoảnh khắc nàng vừa thốt lên câu ấy thì một tiếng thét xé lòng kinh hoàng vang lên. Lũ yêu tinh ngã nhào chồng chất lên nhau lăn lộn túa ra ngoài cửa trong tiếng cọ xát và chen chúc hãi hùng, những ngọn lửa của chúng vụt tắt, và chỉ trong vài phút ngắn ngủi, toàn bộ ngôi nhà đã trống hoác chẳng còn bóng dáng ai và trở nên tiêu điều hoang vắng. Orm và Aslog sợ chết khiếp, bèn trốn biệt vào cái hốc khuất nhất trong nhà. Họ chẳng dám nhúc nhích cho đến tận khi trời rạng sáng, và phải đợi đến lúc ánh mặt trời lọt qua cái lỗ trên mái rọi thẳng xuống đống tro tàn thì họ mới can đảm bước xuống từ gác xép.
Chiếc bàn ăn vẫn y nguyên như lúc tộc người dưới lòng đất bỏ dở; toàn bộ đồ đạc bằng bạc của họ, được chế tác vô cùng tinh xảo, vẫn nằm trên đó. Ở giữa căn phòng, đặt trên sàn đất là một cái vạc đồng khổng lồ chứa đầy mật ong ngọt ngào, và bên cạnh nó là một chiếc tù và uống rượu làm bằng vàng nguyên chất. Ở một góc phòng, tựa vào vách tường là một nhạc cụ có dây trông giống hệt như một chiếc đàn tam thập lục, mà theo người ta tin thì đó là thứ mà các nữ thần khổng lồ vẫn thường dùng để tấu nhạc. Họ ngẩn ngơ ngắm nhìn những thứ bày ra trước mắt với đầy vẻ thán phục nhưng không dám mảy may đưa tay chạm vào bất cứ thứ gì: thế nhưng nỗi kinh hoàng lớn lao và sợ hãi bao trùm lấy họ khi quay người lại và nhìn thấy ngồi bên bàn là một hình nhân khổng lồ, kẻ mà Orm lập tức nhận ra chính là gã Người khổng lồ đã được Guru thổi hồn vào bằng cái ôm của bà. Giờ đây hắn chỉ là một khối đá lạnh ngắt và cứng ngắc. Trong lúc họ đang đứng sững sờ ngắm nhìn, chính Guru bước vào phòng trong hình hài khổng lồ của bà. Bà khóc nức nở đến mức những giọt nước mắt túa ra rơi lã chã xuống mặt đất. Phải mất một hồi lâu tiếng nức nở mới buông tha để bà thốt nên lời: cuối cùng bà mới cất tiếng:—
"Đau đớn xiết bao là những gì các ngươi đã giáng xuống đầu ta, và từ nay về sau ta sẽ phải khóc lóc suốt quãng đời còn lại; dẫu vậy, vì ta biết rằng các ngươi không làm điều này với tâm địa ác độc, ta tha thứ cho các ngươi, dẫu cho việc bóp nát ngôi nhà này vụn vỡ như vỏ trứng ngay trên đầu các ngươi đối với ta chỉ là chuyện nhỏ như con thỏ."
"Than ôi!" bà kêu lên, "chồng ta, người ta yêu thương hơn cả bản thân mình, hắn đang ngồi kìa, hóa đá đến muôn đời muôn thuở; chẳng bao giờ ông ấy mở mắt ra được nữa rồi! Ba trăm năm ta đã sống cùng cha mình trên hòn đảo Kunnan, hạnh phúc trong sự ngây thơ tuổi trẻ, tựa như thiếu nữ xinh đẹp nhất trong số các Nữ thần khổng lồ. Những anh hùng lừng lẫy đã cầu hôn ta; vùng biển xung quanh hòn đảo ấy cho đến nay vẫn đầy rẫy những mảnh đá vụn mà họ ném vào nhau trong những trận chiến ác liệt. Vàfind đã giành phần thắng, và ta đã trao thân gửi phận cho chàng. Thế nhưng trước khi ta kịp kết hôn thì gã Odin đáng nguyền rỗi đặt chân tới xứ sở này, đánh bại cha ta và xua đuổi tất cả chúng ta khỏi hòn đảo. Cha và các chị em ta trốn vào chốn núi non, và kể từ dạo đó mắt ta chẳng còn được nhìn thấy họ nữa. Andfind và ta đã tự cứu lấy mình trên hòn đảo này, nơi chúng ta từng có một thời gian dài sống trong yên bình tĩnh lặng và ngỡ rằng nó sẽ chẳng bao giờ bị gián đoạn. Thế nhưng định mệnh, thứ mà chẳng một ai có thể trốn tránh, lại an bài theo một ngã rẽ khác. Oluf đến từ xứ Britain. Người ta gọi ông ta là Bậc Hiển Thánh, và Andfind ngay lập tức nhận ra rằng chuyến hải trình ấy sẽ chẳng mang lại điềm lành cho loài khổng lồ. Khi nghe tiếng con tàu của Oluf rẽ sóng lao đi, hắn liền đi xuống bãi biển và dùng toàn lực thổi gió đẩy biển chống lại ông. Những con sóng dâng cao ngất trời như núi non. Thế nhưng Oluf còn dũng mãnh hơn hắn gấp bội; con tàu của hắn bay băng băng không chút cản trở xuyên qua những ngọn sóng cuồn cuộn tựa như mũi tên rời khỏi cung: Hắn bẻ lái lao thẳng về phía hòn đảo của chúng ta. Khi con tàu áp sát đến mức Andfind nghĩ rằng hắn có thể dùng tay với tới, hắn liền chộp lấy phần mũi tàu bằng bàn tay phải của mình, toan kéo giật nó chìm nghỉm xuống đáy biển như hắn đã từng làm với biết bao con tàu khác. Thế nhưng Oluf, gã Oluf khủng khiếp ấy, bước lên phía trước, đan chéo hai bàn tay vào nhau và cất cao giọng gầm lên: 'Hãy đứng đó làm tượng đá cho đến tận ngày tận thế,' và ngay trong khoảnh khắc ấy, người chồng bất hạnh của ta đã hóa thành một khối đá. Con tàu vẫn tiếp tục lướt đi không chút vướng bận, đâm sầm vào ngọn núi, cắt đứt nó ra và tách khỏi nó hòn đảo nhỏ nằm ngoài kia."
"Kể từ dạo ấy niềm hạnh phúc của ta đã tan thành mây khói, và ta đã trải qua quãng đời cô độc u sầu. Chỉ có vào đêm Giáng Sinh thì những Người khổng lồ hóa đá mới có thể lấy lại được sự sống trong khoảng thời gian bảy giờ đồng hồ, nếu như có một kẻ cùng dòng tộc ôm lấy họ, đồng thời sẵn sàng hy sinh một trăm năm tuổi thọ của chính bản thân mình. Thế nhưng hiếm có Người khổng lồ nào làm điều đó. Ta yêu chồng mình quá đỗi nên chẳng mỉnh mai tiếc nuối việc đưa chàng trở lại với sự sống vui tươi mỗi lần ta có thể làm được, dẫu có phải trả giá đắt đỏ đến nhường nào, và ta chưa từng tính toán xem mình đã làm điều đó bao nhiêu lần, để rồi không phải bận tâm khi nào thì thời khắc ta phải chia sẻ chung số phận với chàng sẽ tới, để rồi vào chính khoảnh khắc ta vòng tay ôm lấy chàng sẽ hòa làm một với chàng. Thế nhưng than ôi! Ngay cả niềm an ủi ấy nay cũng đã bị tước đoạt khỏi ta; ta chẳng thể nào dùng bất cứ cái ôm nào để đánh thức chàng dậy được nữa, một khi chàng đã nghe thấy cái tên mà ta không dám thốt ra; và chẳng bao giờ chàng được nhìn thấy ánh sáng cho đến khi rạng đông của ngày tận thế mang nó trở lại."
"Giờ thì ta đi đây! Các ngươi sẽ chẳng bao giờ được gặp lại ta nữa! Tất cả những gì ở trong ngôi nhà này ta trao lại cho các ngươi! Chỉ có chiếc đàn tam thập lục của ta là ta mang đi! Thế nhưng chớ có kẻ nào mạo muội đến định cư trên những hòn đảo nhỏ nằm xung quanh đây! Nơi đó là lãnh địa của lũ người lùn dưới lòng đất mà các ngươi đã thấy trong buổi lễ, và ta sẽ bảo vệ chúng chừng nào ta còn sống!"
Dứt lời, Guru biến mất. Mùa xuân năm sau, Orm mang tù và bằng vàng cùng đồ bạc tới Drontheim, nơi chẳng một ai quen biết chàng. Giá trị của những kim loại quý hiếm đó lớn đến mức chàng có thể mua sắm bất cứ thứ gì cần thiết cho một người giàu có. Chàng chất đầy những thứ vừa mua lên thuyền và quay trở lại hòn đảo, nơi chàng trải qua nhiều năm tháng trong hạnh phúc trọn vẹn, và cha của Aslog chẳng mấy chốc cũng đã làm hòa với cậu con rể giàu có của mình.
Pho tượng đá vẫn cứ ngồi đó trong ngôi nhà; không một sức mạnh con người nào có thể lay chuyển nó. Hòn đá cứng đến mức búa và rìu đều văng tung tóe thành từng mảnh mà chẳng để lại nổi một vết lõm dù là nhỏ nhất. Gã khổng lồ cứ ngồi đó cho đến khi một vị tu sĩ đến hòn đảo, chỉ bằng một lời duy nhất đã đưa hắn trở lại vị trí cũ, nơi hắn vẫn đứng cho đến tận ngày nay. Chiếc vạc đồng mà tộc người dưới lòng đất bỏ lại được lưu giữ như một vật kỷ niệm trên hòn đảo, nơi mang tên Hòn đảo Nhà cho đến tận ngày nay.