Khi Paul thức dậy, trời đã sáng. Chàng nằm im, để tâm trí tỉnh lại. Khi nghe những tiếng động ở phòng bên, chàng đứng dậy, thay quần áo và bước qua nhà bếp. Lena đang dọn bữa ăn sáng. Trông thấy Paul, nàng bỗng đỏ mặt. Suốt đêm qua, nàng gần như không ngủ được, nghĩ đến Paul đang ở gần bên nàng, và đồng thời tự trách mình đã hành động tùy tiện trong lúc bà chủ nhà vắng mặt. Tuy phải rơi vào hoàn cảnh khó xử, một bản năng đã thúc đẩy nàng giữ Paul lại, cố sức kéo chàng ra khỏi cuộc sống lang thang ngoài đường phố, ít ra là cho đến lúc bà Hanley trở về.
Lena pha cà phê, dọn lên một cái trứng với những miếng bánh mì bơ và nhìn chàng ăn. Paul không bắt chuyện và nàng thấy tốt hơn là đừng lưu ý gì cả. Khi buổi ăn sáng chấm dứt, Lena không nói một lời nào; để cho việc Paul ở đây xem như một điều tự nhiên, nàng đi thẳng đến cửa hàng Bonanza làm việc.
Còn lại một mình, Paul trở về phòng, ở đấy suốt buổi sáng, lòng mệt mỏi vô biên. Sau tất cả những khổ nhục mà chàng đã chịu đựng, giờ đây được ăn uống đầy đủ và được nghỉ ngơi thoải mái, tâm trí chàng đã lấy lại khả năng suy luận. Được giải thoát khỏi cảnh khốn khổ dưới gầm cầu, Paul thấy can đảm trở lại, đầu óc minh mẫn hơn, và chàng quyết định sẽ gặp Oswald ngay tại nhà ông.
Paul ra khỏi nhà vào lúc bốn giờ. Khu Porlock Hill khá xa, chàng phải ngồi nghỉ nhiều lần, trên một chiếc băng, lúc đi ngang qua công viên. Phải mất hơn một giờ đồng hồ, chàng mới đến được khu vực mà lâu nay chàng vẫn né tránh.
Thình lình, lúc sắp băng qua đại lộ Porlock, Paul gặp ở góc đường một người đàn ông đang tò mò nhìn theo chàng trong ánh chiều sắp tắt.
Bỗng người ấy quay lại, tiến đến Paul. Đó là Jack, hầu bàn của quán Cây Sồi Vàng. Jack kêu to, ngạc nhiên: “Kìa, anh! Tôi có cái này cho anh.”
Anh ta rút cái bóp trong túi ra, lục lọi trong đó. Paul thụ động đứng chờ. Mắt nhìn cái bao thư lem luốc mà người bồi vừa đưa ra, Paul run run cầm lấy, tim đập rộn ràng. Jack nhìn Paul, không giấu vẻ tò mò.
“Không thấy anh đến quán chúng tôi nữa.”
“Không.”
“Anh gặp chuyện rắc rối?”
“Tôi không sao cả.”
Paul trả lời một cách máy móc, mắt vẫn chăm chú nhìn vào cái phong bì. Người bồi nói: “Tôi phải đi, chúc anh may mắn.”
Sau khi nhìn Paul một lần nữa, anh ta nhún vai bước đi. Paul vẫn đứng im lặng giữa đám người qua lại trong ánh sáng nhạt nhòa của chiều tàn. Chàng đưa lưỡi liếm đôi môi khô héo và đột ngột vụt chạy đến bên trụ đèn. Chàng xé phong bì ra, đọc:
Sau tất cả những gì mà anh đã gây ra cho tôi và cách anh đối xử với tôi, thưa ông bạn nhỏ của tôi, và cũng theo những điều mà người ta cho tôi biết về anh, tôi muốn báo cho anh biết rằng tôi sắp kết hôn, và được làm phép ở nhà thờ, và tôi không cần đến anh và tất cả những lời hứa hẹn đẹp đẽ của anh nữa.
Bởi vì ông Oswald đã lo liệu hết tất cả cho tôi và cho cả chồng tôi, chúng tôi sẽ đi NewZeland vào tháng tới, cũng như ông ấy đã làm đối với anh bạn cũ của tôi Ed Collins mà tôi hy vọng sẽ gặp lại ở đấy để nối lại sự quen biết cũ xưa. Anh thấy không, tôi sắp sửa được sống trong sự giàu sang, và tôi muốn điều này sẽ làm anh tức tối đến nghẹn thở.
Louisa Burt của anh.
P/s - Anh chưa bao giờ lừa gạt tôi. Còn đối với anh, tôi chỉ có lòng thương hại mà thôi.
Paul ngước mắt lên, thất vọng. Tuy lá thư không đem đến một chi tiết nào hữu ích, nhưng tâm trí chàng vẫn còn lơ lửng giữa thực tại và ảo tưởng. Đầu óc quay cuồng. Rồi đột nhiên, bức màn bí mật bị xé toang. Đưa cánh tay lên cao cho gần ánh đèn hơn, Paul đọc lại lá thư một lần nữa, toàn những lời lẽ thô lỗ và ngu xuẩn, biểu lộ một tính hợm hĩnh bị tổn thương, một tâm hồn thấp hèn đáng buồn.
Nhưng, trong các hàng chữ đó có một câu sáng rực như được viết bằng lửa: anh bạn cũ của tôi Ed Collins mà tôi hy vọng sẽ gặp lại ở đấy… nét mặt Paul rắn lại, nhưng đôi mắt lại bừng sáng và mạch máu ở thái dương đập nhanh hơn.
Paul phải vịn vào trụ đèn mới khỏi ngã. Chàng có cảm giác bị đè bẹp dưới một sức nặng ghê gớm. Vì sao ý tưởng này không đến sớm hơn? Paul cố gắng chống chọi cơn choáng váng để lấy lại bình tĩnh.
Louisa Burt đã phục vụ cho gia đình Oswald được mười bốn năm, việc này tự nó cũng đã đáng chú ý và càng mang một ý nghĩa sâu xa, khi người ta nhớ rằng Collins cũng là một trong những gia nhân của Oswald.
Vì sao cả hai người này, vốn là hai nhân chứng chính trong vụ án Mathry, đều được gia đình Oswald thâu nhận vào giúp việc? Vì lòng nhân ái chăng? Điều này có thể giải thích phần nào sự kiện trên. Nhưng phải nghĩ thế nào về tấm lòng tốt và sự sốt sắng kỳ lạ của ông chủ nhà: tận tình gầy dựng gia đình cho cả hai gia nhân và đưa họ ra nước ngoài.
Những ý nghĩ này làm tâm trí Paul chuyển động mạnh mẽ và chàng hình dung lại Enoch Oswald: thân hình lực lưỡng, vạm vỡ, cái đầu to lớn trên đôi vai vuông, đôi mắt u tối dưới hai hàng lông mày bạc. Có thể nào nghĩ rằng một con người đầy lòng tốt như Oswald mà lại có dính líu nhiều ít tới tấn thảm kịch kia?
Paul tích cực suy luận, tìm cách chọc thủng bức màn đen. Và đột nhiên, chẳng hiểu tại sao, chàng nhớ lại một sự kiện kỳ lạ. Chàng nghe vang dội bên tai giọng nói của người lạ mặt đã trả lời với Albert Prusty nơi cầu thang vào một đêm đầy tuyết; giọng nói của chủ nhân khu nhà ở Ushaw Terrace.
Như một tia chớp trong đêm đen, một nỗi nghi ngờ mới mạnh mẽ đập vào tâm trí Paul khiến chàng rùng mình. Hôm nay là ngày thứ năm, ngày mà Prusty đóng cửa tiệm sớm. Chắc chắn ông ta đã về nhà rồi. Trời còn sớm, chưa đến năm giờ.