Thanh gươm công lý

Lượt đọc: 207 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
PHẦN MỘT - I

❊ ❊ ❊

Mỗi chiều thứ tư, khi mãn giờ làm việc, mẹ của Paul đều rời Tòa thị sảnh dùng xe lửa điện đến nhà thờ Merrion để dự buổi lễ hàng tuần. Đúng năm giờ, Paul đến rước bà sau buổi học triết. Nhưng hôm nay, Paul bận nói chuyện với giáo sư Slade, và khi thấy đã trễ giờ, anh bèn đi thẳng về nhà.

Trời tháng sáu. Chiều xuống rất đẹp trên thành phố Belfast, tô một vẻ hấp dẫn kỳ lạ lên những ngôi nhà u buồn, tường vách nám khói. Dưới khung trời màu hổ phách, đường nét thô kệch của những mái nhà và ống khói trong thành phố lớn Ireland biến mất, nhường chỗ cho một vẻ đẹp huyền bí, chỉ tìm thấy trong những giấc mộng huy hoàng.

Paul đi ngược lên đường Larne, một con đường nhỏ yên tĩnh, hai bên có những ngôi nhà gạch xây liền nhau từng đôi một. Nơi đây mẹ con Paul sống trong căn nhà số 29 gồm ba phòng. Paul cảm thấy tim mình rộn lên một niềm vui. Vẻ đẹp của hoàng hôn, niềm tin nơi cuộc sống đầy hứa hẹn làm tâm hồn Paul lâng lâng. Dừng lại trước thềm nhà, chàng tuổi trẻ với đầu trần và bộ y phục bằng nỉ cũ đã sờn, khoan khoái hít một hơi dài, rồi hăng hái mở cửa, nhanh nhẹn bước vào. Từ trong nhà bếp, con chim yến cất tiếng hót mừng. Paul huýt sáo đáp lại, cởi chiếc áo veston ra mắc lên giá, bắc ấm nước lên bếp và chuẩn bị bữa ăn tối. Vài phút sau chiếc đồng hồ treo tường gõ bảy giờ và Paul nghe tiếng chân mẹ bước qua cổng ngoài. Chàng vui vẻ mừng mẹ khi bà vào nhà, dáng người gầy gò trong bộ y phục màu đen u buồn, hơi nghiêng về một bên dưới sức nặng của cái xắc nhét đủ thứ mà lúc nào bà cũng mang theo…

“Xin mẹ tha lỗi. Con không đến đón mẹ được.” Paul nở một nụ cười mơn trớn nói với bà: “Giáo sư Slade hứa cho con một chỗ làm. Con có thể tin tưởng nơi ông ta.”

Bà Burgess nhướng đôi mắt cận thị nhìn con trai mình rất lâu. Dưới chiếc nón nhỏ đánh sáp bóng, mái tóc bạc lòa xòa làm hiện rõ nét mệt mỏi và nhẫn nại chịu đựng trên gương mặt đã hằn sâu nhiều vết nhăn. Nhưng, trước ánh mắt vui tươi của con, bao vẻ u sầu của bà bỗng tan biến hết. “Đó là một gương mặt trung hậu, có lẽ không được đẹp trai lắm, nhưng cởi mở và thẳng thắn”, bà thầm nghĩ, và cảm tạ Thượng Đế đã tránh cho con mình những tai họa thường đi chung với cái bên ngoài. Paul hơi gầy, hai xương gò má nhô lên quá cao, đôi mắt màu xám tinh anh dưới vầng trán rộng, tóc hớt ngắn. Thân hình liền lạc, vững chắc và có thể nói là khá cân đối nếu một tai nạn trong sân cỏ không làm cho đầu bàn chân phải của anh hơi nghiêng về phía trong một chút.

“Con yêu quý, mẹ rất sung sướng thấy con thành công, và mẹ hiểu ngay con có lý do không đến đón mẹ. Cô Ella và ông Fleming rất tiếc về sự vắng mặt của con.”

Cuộn tròn đôi găng tay lại, bà rút từ trong cái xắc ra hai khúc thịt nguội bao bằng giấy mỡ và một gói bánh mì nhỏ mà bà rất ưa thích. Cả hai ngồi vào bàn, và sau khi đọc kinh xong, họ bắt đầu bữa ăn chiều. Paul cảm thấy tin đó đã làm cho mẹ vô cùng sung sướng: “Đây là một dịp may, mẹ biết không? Ba đồng Guinea[1] mỗi tuần, và cứ thế suốt kỳ hè, nghĩa là trong chín tuần lễ.”

“Đây là một sự thay đổi thích thú cho con sau những tháng học cuối cùng, trước khi thi.”

“Dạ, dạy lớp hè thật là khỏe.”

“Paul, con hãy cảm ơn Chúa đi con.”

“Con phải gởi một chứng từ khai sinh ngay tối nay cho giáo sư Slade.” Paul nói, vừa cố nén một nụ cười.

Một sự im lặng đột ngột bao trùm căn nhà. Mẹ Paul cúi gầm đầu xuống, tay mân mê cái thìa, lơ đễnh với một mảnh lá trà trong tách. Bà nói nho nhỏ: “Một tờ khai sinh… Để làm gì?”

“Đó chỉ là thủ tục thôi mẹ à. Người ta không chịu mướn những sinh viên chưa đến tuổi thành niên. Con phải vất vả lắm mới thuyết phục được giáo sư Slade tin là con vừa đủ hai mươi mốt tuổi.”

“Đáng lẽ ông ấy chỉ cần tin con bằng lời thôi cũng đủ.”

“Nhưng thưa mẹ, đó là nguyên tắc.” Paul kêu lên, vẻ ngạc nhiên: “Con phải gởi một đơn xin việc kèm theo tờ khai sinh đến Hội đồng quản trị nhà trường.”

Bà Burgees không đáp lại, và sau đó hồi âm im lặng, Paul kể lại cho mẹ nghe với một vẻ khá hài hước cuộc hội kiến giữa chàng với ông Slade, vừa là giáo sư vừa là hiệu trưởng trường dạy hè ở Portray. Bỗng nhiên, mẹ chàng lộ vẻ dao động, bối rối: “Paul… mẹ không chắc lắm… nhưng dầu sao… mẹ không mấy thích con đi làm ở Portray.”

“Sao thế mẹ?” Chàng kêu lên, ngạc nhiên: “Từ nhiều tháng nay, hai mẹ con mình chỉ toàn nhắc đến chuyện này.”

“Mẹ đã suy nghĩ lại… như vậy con phải xa mẹ…” Bà ngập ngừng mắt nhìn xuống: “Hơn nữa, chúng ta sẽ không được nghỉ hè chung với gia đình Fleming, cô bé Ella sẽ buồn, và chính con, con cũng sẽ hối tiếc…”

“Không, mẹ đừng lo lắng chuyện vẩn vơ.”

Lòng đang hăng hái, Paul gạt bỏ hết mọi đắn đo, e dè của mẹ, và trước khi bà kịp mở miệng ngăn cản, chàng đã chạy vội vào phòng để viết đơn.

Đó là một phòng rất nhỏ, ở phần trước của căn nhà, gồm độc nhất có một bàn học, vách tường được phủ kín bằng một loại giấy bìa màu trắng trên đó dán đầy hình ảnh các danh thủ của những đội bóng đá nối tiếng. Bên trên lò sưởi trưng bày những cúp đoạt được trong các cuộc tranh tài với những đội banh sinh viên khác. Bên dưới cửa sổ là một tủ sách nhỏ, đầy những quyển tiểu thuyết chọn lọc và sách nghiên cứu, phần đông thuộc loại cổ điển. Đối diện với tủ sách là chiếc giường ngủ nhỏ được kê sát vào một góc phòng sau một tấm màn màu xanh lá cây. Tập vở xếp ngay ngắn trên tấm vải trải giường. Cách bày biện trong phòng cho thấy chàng có một cá tính cao đẹp, tinh thần minh mẫn và thể xác lành mạnh. Người khó tính nhất cũng chỉ có thể phê bình chàng tỏ ra quá thứ tự ngăn nắp. Điểm đó có lẽ là do ảnh hưởng của mẹ chàng.

Paul thảo lá đơn trong nháy mắt. Chàng đọc lại rất cẩn thận rồi mới ra tìm mẹ: “Mẹ có thể đưa cho con tờ khai sinh không mẹ? Con muốn gởi lá thơ này ngay tối nay.”

Từ lúc Paul vô phòng, bà Burgess vẫn ngồi bất động trên ghế, trước cái bàn con la liệt chén dĩa. Bà có vẻ hơi đỏ mặt, trả lời giọng pha một chút gay gắt: “Mẹ không biết nó ở đâu. Mẹ cần có thì giờ để tìm kiếm.”

“Ồ! Thưa mẹ, đâu có gì khó. Nó ở trong ngăn tủ phía trên chớ gì.”

Paul nói vừa đưa mắt nhìn về phía cái tủ to, nơi mẹ chàng cất tất cả mọi giấy tờ, vài vật kỷ niệm, quyển thánh kinh và cặp mắt kính của bà.

Đôi mắt bà nhìn chàng, miệng hơi hé mở, để lộ hàm răng đã hư gần hết. Gương mặt hết đỏ, nhưng đôi má héo hon lại bỗng tái xanh đi.

Bà đứng lên, thò tay vào túi, lấy chìa khóa và đến mở ngăn kéo. Quay lưng về phía con trai mình, bà tìm kiếm một lúc, rồi đóng ngăn kéo lại, quay mặt nhìn Paul, nói với giọng yếu ớt: “Không có. Mẹ không thấy gì cả. Nó không có ở đây.”

Paul cắn chặt môi. Chàng thường kính trọng mẹ, ngoan ngoãn phục tùng quyền uy của bà, nhưng trong trường hợp này, thái độ của mẹ làm chàng ngạc nhiên, bực bội. Chàng nói nhỏ: “Quan trọng lắm mẹ ạ, con cần phải có tờ khai sinh đó.”

“Làm sao mẹ có thể ngờ được một chuyện như thế này.” Bà thốt lên, giọng gay gắt: “Những giấy tờ đó dễ thất lạc lắm. Con biết sự khổ cực của mẹ phải nuôi nấng con, vai trò khó nhọc của một góa phụ không người giúp đỡ, không nơi nương tựa. Ôi! Nhiệm vụ của mẹ thật là nặng nề. Mẹ đã phải chịu đựng biết bao vất vả để lo cho con có một mái nhà, lo cho con được tiếp tục việc học, lo cho con được giáo dục chu đáo… bao nhiêu lo lắng như vậy chưa đủ sao? Mẹ còn thì giờ nào để lo nghĩ đến mọi giấy tờ nữa? Lắm khi mẹ không còn biết phải cất chúng ở đâu nữa…”

Cơn giận tràn đến quá bất ngờ và trái ngược với bản tính của mẹ, khiến Paul hết sức kinh ngạc. Nhưng giọng nói nghiêm nghị của bà - một dấu hiệu mà chàng biết rất rõ - ngăn cấm mọi lời bàn cãi. Chàng bình tĩnh nói: “Thật rất may, con có thể gởi thư đến Somerset House để xin một bản sao, con sẽ viết thư ngay đêm nay.”

Mẹ chàng phác một cử chỉ không đồng ý và dịu giọng nói: “Con không cần phải làm việc đó.” Và nhìn thấy ánh mắt ngờ vực của chàng, bà tiếp lời: “Con cần gì phải tốn công vì một chuyện nhỏ nhặt như vậy. Bây giờ mẹ đã đừ người sau một ngày làm việc… Mai mẹ lấy giấy ở Tòa thị sảnh viết thư giùm con.”

“Mẹ sẽ không quên việc này?”

“Kìa Paul!”

“Con xin mẹ tha lỗi.”

“Được rồi.” Bà nói với một nụ cười nhợt nhạt trên môi: “Con hãy đốt lò sưởi lên. Để mẹ dọn bàn.”

❀ ❀ ❀

[1] Guinea (ghi-nê): là loại tiền đồng được đúc bằng vàng ròng của Anh từ năm 1663 tới năm 1813. Tên gọi của loại tiền này xuất phát từ địa danh Guinea ở Tây Phi, nơi cung cấp nguồn vàng chủ yếu để đúc loại tiền này vào thời kỳ đầu. Ban đầu một đồng guinea có giá trị tương đương với một bảng Anh hoặc hai mươi shilling, nhưng do giá vàng tăng cao so với giá bạc, giá trị của đồng guinea cũng tăng theo, có lúc lên tới ba mươi shilling. Từ năm 1717 đến năm 1816, giá trị của nó được chính thức ấn định ở mức hai mươi mốt shilling. Đồng guinea bị thu hồi và đúc lại thành đồng sovereign (bằng 20 shilling) vào năm 1816, và không còn lưu hành kể từ đó

Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 26 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.