Căn nhà của mục sư Fleming ở ngay trung tâm thành phố Belfast, gần ga xe lửa miền Bắc. Đó là một căn nhà nhỏ hẹp, xấu xí, màu xám, dựa lưng vào cái nhà thờ cũng màu xám. Mặc dầu cảm thấy thể xác kiệt quệ, và chỉ muốn tìm một xó kẹt tối tăm nào đó để ẩn trốn như một con thú bị thương, nhưng một sức mạnh nào đó lại thúc đẩy Paul ra khỏi nhà, băng mình qua các đường phố còn đọng những vũng nước mưa lấp lánh và đầy tiếng động, ánh sáng của một tối thứ bảy. Mẹ chàng, tỉnh lại, đã lên giường nằm nghỉ. Chàng không thể chờ đợi được: chàng cần biết ngay mọi sự thật.
Khi Paul gõ cửa, đèn phòng ngoài bật sáng và Ella ra mở cửa: “Anh Paul ấy à? Mời anh vào.”
Cô dẫn Paul vào phòng khách, một căn phòng trần thấp với những tấm màn đỏ sẫm và những chiếc ghế con lông chim. Trong lò sưởi, một ngọn lửa than nhỏ cháy bập bùng.
“Cha đang tiếp một tín đồ trong họ đạo. Chỉ vài phút nữa thôi.” Cô vừa nói vừa mỉm cười: “Thời tiết rất ẩm thấp, để tôi pha cho anh một ly ca cao.”
Đối với Ella, ca cao là một thức uống kỳ diệu mà nàng thường mời khách trong họ đạo. Paul không thích uống nhưng cũng không còn đủ sức để từ chối. Paul nhận thấy nàng có một vẻ sốt sắng hơi gượng gạo và đôi môi nàng mím lại… có lẽ nàng đã biết lý do cuộc viếng thăm của Paul. Buông mình xuống chiếc ghế bành, Paul nhìn Ella mang một cái khay từ nhà bếp lên, trộn đường vào ly ca cao và pha nước sôi.
Ella lớn hơn Paul hai tuổi, nhưng trông rất trẻ với thân hình mảnh mai, đôi mắt to, màu xám pha một chút xanh lá cây. Thường thường đôi mắt ấy sáng rỡ, linh động, nhưng cũng có lúc nó lại đầy nước mắt hoặc phóng ra các tia giận dữ… Tối hôm ấy nàng mặc chiếc váy xếp màu sẫm, đôi vớ dài đen và chiếc áo rộng màu trắng, cổ cao.
Paul đưa tay nhận ly ca cao và im lặng uống từng ngụm nhỏ, Ella ngồi đan, thỉnh thoảng ngước mắt lên nhìn chàng như dò hỏi. Nàng thích nói đùa và nói chuyện phiếm. Nhưng không được Paul đáp lại, nàng hơi cau mày, im lặng như cũ.
Có tiếng người nói chuyện ngoài hành lang, tiếp theo là tiếng cánh cửa lớn đóng lại. Ella vội đứng lên: “Tôi cho cha biết anh đang ở đây.”
Nàng đi ra, và gần như liền sau đó mục sư Emmanuel Fleming bước vào. Đó là một người đàn ông chừng năm mươi tuổi có đôi vai nặng nề và hai bàn tay to tướng, vụng về, chân mang đôi giày làm việc to lớn. Ông mặc một cái áo veston đã trổ màu trắng ở những đường may, và chiếc quần tây dài đen. Hàm râu xám bạc được tỉa thành một chùm nhọn. Đôi mắt to màu xanh, hiền lành và ngây thơ như mắt trẻ con, làm cho gương mặt ông sáng rực rỡ. Ông nhanh nhẹn bước tới, nồng nhiệt siết chặt tay Paul và thân mật nắm lấy cánh tay chàng: “Cậu bé của tôi. Sung sướng được gặp cháu. Nào, chúng ta hãy vào trong văn phòng.”
Đó là một căn phòng nhỏ mặt day ra sân, được bày biện một cách sơ sài, khắc khổ với một bàn giấy bằng gỗ sồi, vài chiếc ghế và một tủ sách nhỏ. Khi Paul ngồi xong, mục sư mới từ từ bước đến chiếc ghế đặt sau bàn giấy. Ông có vẻ hơi do dự. Sau cùng ông mở lời bằng một giọng đầy thương cảm: “Cháu thân mến, cháu vừa trải qua một cơn xúc động đau đớn. Nhưng cháu đừng quên chính Chúa đã đem đến sự thử thách này và Chúa sẽ giúp cháu vượt qua.”
“Điều cháu cần nhất là biết sự thật.” Paul đáp, giọng khô khan.
“Câu chuyện buồn lắm cháu à. Tốt hơn có nên quên nó đi không? Gợi trở lại có ích gì đâu?”
“Không, cháu muốn biết. Cháu cần phải biết rõ. Nếu không, óc tưởng tượng sẽ không ngừng làm khổ cháu.”
Paul nghẹn ngào không nói tiếp.
Chống một khuỷu tay lên bàn, mục sư đưa bàn tay to lớn che đôi mắt như để cầu nguyện. Ông là một người đầy thiện chí, đã tích cực phụng sự Chúa từ bao năm qua, nhưng ông chỉ có những khả năng rất giới hạn và ông thường buồn rầu nhận thấy các cố gắng và các ý định tốt của mình không đạt được kết quả mong muốn. Tâm hồn cô độc, ông thường tự trách mình. Ngay cả trong tình thương đối với con gái, ông cũng cảm thấy mình có những sai lầm: ông biết rõ các khuyết điểm, tính nhỏ nhen, hợm hĩnh của Ella nhưng vì quá thương con, ông không nỡ la rầy để nàng sửa đổi. Tất cả bi kịch là ở chỗ đó: ông muốn trở thành một kẻ thánh thiện, một môn đồ thật sự của Chúa, một người mà lời nói có thể dẫn dắt con chiên đến gần Chúa. Nhưng con người làm sao có thể đưa mình lên đỉnh toàn thiện trong khi còn bị những mê muội của trần gian lôi kéo một cách mãnh liệt?
Bằng một giọng thiếu tự tin, ông bắt đầu kể lại chuyện, trong tiếng tích tắc đều đặn của chiếc đồng hồ treo tường: “Cách đây hai mươi hai năm tại Tynecastle, tôi làm lễ hôn phối cho Rees Mathry với Hannah Burgess. Lúc ấy tôi quen Hannah đã được vài năm, cô là con chiên mà tôi mến nhất. Tôi không biết Rees, nhưng thấy anh ấy là một chàng thanh niên có giáo dục, có tư cách, và ngay từ phút đầu tôi đã có cảm tình sâu sắc. Lúc ấy, anh là đại diện thương mại của hãng lớn chuyên sản xuất đồ hộp và bánh kẹo ở miền Bắc. Tôi nhận thấy hạnh phúc của họ được bảo đảm khi người vợ hạ sanh một cậu bé kháu khỉnh. Cháu thân mến, chính tôi đã rửa tội cho cháu.”
Ông dừng lại một lúc, như để cân nhắc lời nói: “Phải công nhận gia đình này thỉnh thoảng bị một vài xáo trộn nhỏ. Mẹ cháu rất sùng đạo trong khi cha cháu có một quan niệm về đời sống… có thể nói là… tự do và phóng túng hơn. Do đó, hai người có một vài va chạm. Chẳng hạn, mẹ cháu không bằng lòng cho cha cháu hút thuốc và uống rượu - một quan niệm mà cha cháu không thể nào chấp nhận được - thêm vào đó, nghề nghiệp buộc cha cháu phải vắng nhà thường xuyên: ít nhất phải tám ngày trong một tháng. Điều này có ảnh hưởng không tốt đối với cha cháu. Với bản tính dễ mến và thích giao thiệp, Rees có rất nhiều bạn mà anh ấy thường gặp ở các tiệm cà phê, khách sạn, quán rượu hay những nơi khác không mấy đứng đắn. Tuy nhiên, tôi chưa thấy anh phạm một lỗi lầm nào nghiêm trọng cho đến khi xảy ra những biến cố ghê gớm vào năm 1921.”
Ông thở dài, mắt nhìn xa xôi như đang sống lại một quá khứ buồn thảm: “Tháng giêng năm đó, hãng bánh kẹo sắp xếp lại nhân sự và cha mẹ cháu được đổi về vùng Midlands. Trước đó vài tháng, chính tôi cũng dời về Belfast để trong coi họ đạo, nhưng tôi vẫn thường trao đổi thư từ với mẹ cháu. Tôi phải thú nhận rằng, ngay từ lúc mới đến Wortley, gia đình cháu không được may mắn lắm. Cha cháu không bằng lòng với nơi làm việc mới của mình. Wortley là một thành phố buồn, và mẹ cháu cũng vậy. Không kiếm được một căn nhà đàng hoàng, cha mẹ cháu phải mướn phòng để ở. Đến tháng 9, cha cháu nói rằng ông không thể chịu đựng được nữa và có ý định xin thôi việc để di cư sang Argentina. Cha cháu mua ba vé trên chiếc tàu Ngôi sao Phương Đông sẽ khởi hành vào ngày 15 tháng 9. Ngày 13 anh ấy cho mẹ cháu và cháu đi xe lửa đến Liverpool trước, để chờ anh ấy ở khách sạn Great Central Hotel. Khuya đêm 13 rạng ngày 14, cha cháu rời Wortley bằng xe lửa. Nhưng lúc hai giờ sáng ngày 14, cha cháu bị cảnh sát chận bắt trên sân ga Liverpool. Sau cuộc kháng cự mãnh liệt, cha cháu bị tống giam vào đồn cảnh sát ở đường Canon. Chúa ơi, tôi sẽ không bao giờ quên nỗi ngạc nhiên và kinh hoàng của tôi: anh ấy bị tố cáo là kẻ sát nhân.”
Một sự im lặng dài, rất nặng nề. Paul ngồi bẹp dí trong chiếc ghế bành, nghẹn thở. Ông mục sư nói tiếp: “Trong đêm 8 tháng 9, một tội ác xấu xa và ghê gớm đã xảy ra. Cô Mona Spurling, một thiếu nữ hai mươi sáu tuổi, trẻ đẹp làm công cho một cửa hàng hoa ở gần khu quảng trường Leonard, bị giết một cách tàn nhẫn trong căn phòng của cô, số 52 cư xá Ushaw Terrace, ở Eldon, một khu ngoại ô của Wortley. Người ta biết rõ án mạng xảy ra trong khoảng từ 8 giờ đến 8 giờ 10 phút. Về nhà lúc 7 giờ 30 phút, cô Spurling hình như đã dùng một bữa ăn nhẹ, sau đó khoác vào người một chiếc áo ngủ mà cô hãy còn mặc lúc bị giết. Lúc 8 giờ, vợ chồng ông Prusty, ngụ ở phòng bên dưới, có nghe tiếng vật lộn rất dữ dội. Bà vợ của Prusty bảo chồng lên lầu xem có chuyện gì. Ông gõ cửa. Không có tiếng trả lời. Ông đang lưỡng lự thì có người trẻ tuổi tên Edward Collins, giúp việc cho tiệm giặt ủi, có nhiệm vụ đi giao quần áo cho khách hàng cũng đến trước cửa phòng cô Spurling với gói quần áo trên tay. Bỗng cánh cửa phòng mở toang và một người đàn ông từ trong phòng chạy vội ra cầu thang. Cả hai người liền bước vào và thấy cô Spurling đang nằm trong phòng khách, trên vũng máu, cổ họng bị cắt đứt, đầu gần như tách rời khỏi thân mình.”
“Lập tức ông Prusty chạy đi tìm một bác sĩ gần nhất. Nhưng vô ích: cô gái đã chết. Thanh tra cảnh sát Swann được phái đến nơi, đã tìm ra ba dấu vết. Một tấm bưu thiếp gởi từ tám ngày trước ở Sheffield, trên đó có một hình vẽ bằng bút chì và các hàng chữ như sau: Sự xa cách làm những con tim gần nhau. Cô có vui lòng nhận lời đi ăn tối với tôi ở nhà hàng Drury, khi tôi trở về không? Ký tên Bonbon.”
“Swann cũng còn tìm thấy một mẩu thư đã bị đốt cháy một phần và không có ký tên. Thư mang con dấu bưu điện ngày 8 tháng 9. Trong thư có câu sau: Tôi cần gặp cô tối nay. Sau cùng, trên sàn nhà, trước lò sưởi và gần bên tử thi, là một cái túi bằng da rất tốt, rất mềm mại có khóa kim khí đựng khoảng mười đồng bảng bằng bạc và bằng giấy ngân hàng.”
“Theo lời khai của Edward Collins và của Albert Prusty, cảnh sát liền phác họa và phổ biến ngay hình dạng của kẻ tình nghi, đồng thời hứa thưởng một số tiền lớn cho ai giúp bắt được thủ phạm.”
“Ngày hôm sau, một thiếu nữ mười bảy tuổi tên Louisa Burt, thợ giặt ủi, đi cùng với bà chủ cô đến trình diện tại trụ sở cảnh sát. Louisa là em bà con của Edward Collins, thường đi theo anh này để giao quần áo cho khách hàng. Vào đêm xảy ra án mạng, cô ta đứng chờ Edward trước cổng cư xá. Một người đàn ông, từ căn số 52 chạy ra, đã đâm đầu vào cô, làm cô lảo đảo suýt té. Cô mô tả hình dạng kẻ ấy cho cảnh sát. Như vậy cảnh sát có tất cả ba nhân chứng trông thấy kẻ sát nhân.”
Ông mục sư dừng lại và quay đôi mắt thật thà về phía chàng tuổi trẻ: “Cháu Paul à, có những vấn đề làm ta rất đau khổ khi phải nhắc lại. Nhưng than ôi, trong trường hợp này, đây là một điều không thể tránh được. Nói một cách vắn tắt, Mona Spurling là một cô gái không được đứng đắn lắm. Cô tiếp rất nhiều đàn ông ngay tại nhà cô, trong đó có người là tình nhân chính thức của cô. Không ai biết người này, nhưng các nữ đồng nghiệp của cô trong cửa hàng hoa xác nhận trong thời gian gần đây cô có vẻ lo âu. Họ đã nghe cô cãi vã gay gắt với một người nào đó trong điện thoại, sử dụng những câu như ‘Anh phải chịu trách nhiệm’ và ‘Nếu anh bỏ rơi tôi, tôi sẽ làm rùm beng lên cho anh mang xấu’. Sau rốt, cuộc giải phẫu tử thi chứng tỏ cô gái đã mang thai. Vậy thì lý do của vụ án đã rõ: kẻ sát nhân chính là tác giả của cái bào thai. Có lẽ anh ta đã chán nàng. Bị đe dọa gây lớn chuyện, anh ta hẹn đến gặp nàng và hạ sát nàng.”
“Cảnh sát lập tức sử dụng mọi phương tiện để lùng bắt thủ phạm. Các nhật báo in lại hình tấm bưu thiếp và yêu cầu bất cứ ai có thể cho những tin tức về người chủ của tấm bưu thiếp đến tiếp xúc ngay tại trụ sở cảnh sát Wortley. Tất cả nhà ga xe lửa và bến cảng đều được canh chừng nghiêm nhặt và cuộc săn người diễn ra một cách sôi nổi… Tối ngày 13 tháng 9, một công nhân đóng sách tên Harry Rocca đến trình diện viên chỉ huy cảnh sát, trong một trạng thái rất dao động. Anh ta bảo có vài điều cần khai với cảnh sát. Liền đó anh ta thú nhận mình là bạn thân của cô gái bị giết và nhìn nhận có đến gặp cô ta vào đem trước khi xảy ra án mạng. Anh nói thêm là anh biết kẻ gởi tấm bưu thiếp cho Mona Spurling: một người bạn thường chơi bida với anh và có tài vẽ rất khéo. Vài tháng trước, chính anh đã giới thiệu hắn ta với cô Mona Spurling. Sau ngày báo chí đăng hình tấm bưu thiếp, chính người bạn ấy đi đến tìm anh và với một vẻ bối rối, hắn yêu cầu anh giúp đỡ. ‘Nếu người ta hỏi anh, tôi đã ở đâu trong đêm 8 tháng 9, xin anh hãy nói rằng đêm ấy tôi chơi bida ở khách sạn Sherwood’.”
“Những chi tiết này quá đủ. Viên chỉ huy cảnh sát cùng với thanh tra Swann liền đến ngay địa chỉ mà Rocca vừa khai. Đến nơi, họ được biết, trước đó một giờ, kẻ bị tình nghi đã đi Liverpool bằng chuyến xe lửa tốc hành. Anh ta bị bắt ngay khi vừa xuống sân ga. Paul à, người bị bắt đó chính là cha của cháu.”
Một lần nữa cả hai lại im lăng. Vị mục sư hớp một ngụm nước để thấm đôi môi khô của mình, rồi cau mày nói tiếp: “Ông Prusty, nhân chứng chính, bất ngờ phải vào bệnh viện vì một cơn suyễn dữ dội - Anh ta chuyên bán thuốc lá, và chất nicotin đã làm hại sức khỏe của anh - Và hai nhân chứng kia được viên chỉ huy cảnh sát Wortley đưa ngay đến Liverpool. Tại đây, không một chút do dự, họ khẳng định cha cháu chính là người mà họ đã trông thấy trong đêm xảy ra án mạng. Họ tỏ ra rất quả quyết - một sự quả quyết khủng khiếp - vào lúc nhận diện. ‘Đúng là hắn’, Edward Collins kêu lên, trong khi Louisa Burt, bị xúc động sâu xa bởi ý thức trách nhiệm, vừa òa lên khóc vừa nói: ‘Tôi biết anh ta sẽ bị treo cổ, nhưng tôi xác nhận đúng là anh ta’.”
“Ngày 15 tháng 12, vụ án được đem ra xử trong một phiên tòa ở Wortley, do Lord Oman làm chánh án. Những nỗi lo âu của chúng tôi thật vô cùng lớn lao. Các chứng cớ buộc tội được tung ra tới tấp. Cảnh sát tìm thấy trong hành lý cha cháu một con dao cạo mà các chuyên viên cho rằng đó là dụng cụ đã giết nạn nhân. Một chuyên viên về khoa chiết tự quả quyết trước tòa rằng lá thư bị đốt cháy phân nửa trong phòng nạn nhân do chính cha cháu viết bằng tay trái. Người ta cũng thường thấy cha cháu trong cửa hàng hoa, đùa cợt với cô Spurling. Ý định tẩu thoát sang Argentina, hành động chống lại nhân viên cảnh sát, tất cả những sự kiện trên đều có vẻ ăn khớp với nhau. Thái độ của cha cháu trước tòa lại càng tai hại hơn nữa: ông ấy tự mâu thuẫn với chính mình, mất hẳn bình tĩnh và cãi tay đôi với anh chánh án. Ông bảo trong đêm xảy ra án mạng ông đang đi xem chiếu bóng, một lối bào chữa vụng về mà ông biện lý bác bỏ một cách dễ dàng. Chỉ có một sự kiện có lợi tí ti cho cha cháu là nhân chứng Prusty, tuy vẫn nhìn nhận có một sự giống nhau nào đó giữa cha cháu và người đàn ông chạy ra khỏi phòng cô Spurling, nhưng ông ta không chịu thề quyết rằng người đó là cha cháu. Ngoài ra, Prusty còn tỏ ra bực tức vì không được cảnh sát mời đến Liverpool để nhận diện kẻ bị tình nghi. Phe công tố cho rằng đôi mắt của nhân chứng Prusty không tốt lắm và làm ngơ luôn chi tiết ấy.”
“Các kết luận của quan tòa, trong khi ngỏ lời với bồi thẩm đoàn, hoàn toàn bất lợi đối với bị cáo. Các bồi thẩm họp thảo luận lúc ba giờ rạng ngày 23 tháng 12. Sau một cuộc bàn cãi khoảng bốn mươi phút, bồi thẩm đoàn tuyên bố cha cháu có tội. Lúc ấy tôi có mặt trong phòng xử - mẹ cháu bị bệnh không đến được - và suốt cả đời tôi, tôi sẽ không bao giờ quên giây phút ghê gớm khi Lord Oman đội cái nón đen lên đầu, đọc bản án treo cổ tội nhân và cầu xin Chúa tha thứ cho kẻ có tội. Khi bị cảnh sát lôi đi, cha cháu vùng vẫy dữ dội và thét lớn: ‘Không có Chúa nào cả. Tôi cóc cần sự tha thứ của các ông và của Chúa. Tôi không có tội’. Ôi, cháu Paul, người ta không thể ngang nhiên thóa mạ Chúa như vậy.”
“Và có lẽ để chứng tỏ quyền lực của mình. Chúa đã khoan hồng đối với kẻ có tội: đến phút chót, khi không còn ai dám hy vọng gì nữa, ông Bộ trưởng Bộ nội vụ - chắc chắn là một con người đầy nhân đạo - sửa đổi án tử hình thành án khổ sai chung thân.”
Một sự im lặng nặng nề bao trùm khắp căn phòng. Cả hai người đều tránh nhìn nhau. Paul ngồi sững sờ trong chiếc ghế bành, lau trán bằng chiếc khăn tay bị vo tròn từ lâu trong bàn tay rịn ướt mồ hôi.
“Cha cháu còn sống chứ?”
“Còn.”
“Không ai đến thăm ông… từ lúc đó?”
Vị mục sư thở dài: “Tôi muốn tiếp xúc với anh ấy qua trung gian của vị mục sư tuyên úy nhà tù, nhưng tôi bị tiếp đón rất phũ phàng… cha cháu dữ tợn đến đỗi tôi phải từ bỏ mọi ý định gặp lại ông ấy. Về phần mẹ cháu, Paul thân mến, bà cho là mình bị chồng phản bội. Bà cũng còn phải nghĩ đến quyền lợi của cháu nữa. Cách hay nhất là xóa bỏ hẳn những kỷ niệm ghê gớm này ra khỏi cuộc sống tươi trẻ của cháu. Bà thành công hay không, điều ấy không quan trọng lắm. Bây giờ cháu đã lớn, đã có nhiều nghị lực để chịu đựng. Vì lẽ đó, thay vì lừa dối cháu, tôi đã cho cháu biết, không giấu giếm một chi tiết nào. Giờ tôi chỉ mong cháu cương quyết đuổi mọi kỷ niệm của tấn bi kịch này ra khỏi ký ức. Cháu còn trẻ và đang tự do, cuộc đời đang quỳ dưới chân cháu. Cháu hãy mạnh dạn tiến tới, cứ xem như tôi không hề nói gì cho cháu biết hết.”