Truyện Ngắn Thời Victoria: Những Câu Chuyện Tình Duyên

Lượt đọc: 101 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chuyện Tình Lộn Ngược

❊ ❊ ❊

Tôi là một gã khốn khổ bị liệt, suốt nhiều năm nay chỉ quanh quẩn trên giường hoặc ghế sofa. Sáu năm qua, tôi sống trong một căn phòng nhỏ nhìn ra một kênh đào phụ của Venice. Xung quanh chẳng có ai ngoài một bà lão lãng tai, người chuyên dọn giường và lo cơm nước cho tôi. Tại đây, tôi kiếm chút thu nhập ít ỏi chừng ba mươi bảng một năm bằng cách vẽ tranh màu nước hoa quả (đó là những mẫu vật rẻ nhất ở Venice), rồi gửi cho một người bạn ở London, người này sẽ bán chúng cho các thương lái với giá rẻ mạt. Nhưng nhìn chung, tôi thấy mình hạnh phúc và mãn nguyện.

Tôi cần mô tả căn phòng của mình một cách khá tỉ mỉ. Ô cửa sổ duy nhất của nó nằm cách mặt nước kênh khoảng năm bộ, còn ngôi nhà thì nhô ra phía trên khoảng sáu bộ, treo lơ lửng trên mặt nước, được chống đỡ bằng những cột gỗ cắm sâu xuống lòng kênh. Sắp đặt này có nhược điểm (cùng nhiều bất tiện khác) là hạn chế tầm nhìn lên phía trên, khiến tôi không thể thấy quá mười bộ chiều cao của ngôi nhà ngay đối diện, mặc dù nếu rướn người ra cửa sổ hết mức có thể, tôi có thể nhìn khá xa dọc theo kênh đào, vốn rộng không quá mười lăm bộ. Tuy nhiên, dù chẳng nhìn thấy nhiều thực thể của ngôi nhà đối diện, tôi lại thấy hình ảnh phản chiếu ngược của nó dưới kênh, và tôi nảy sinh sự quan tâm đầy nghịch lý đối với những người cư ngụ thỉnh thoảng xuất hiện (luôn luôn là ở tư thế lộn ngược) trên các ban công và cửa sổ của ngôi nhà đó.

Khi mới chuyển đến căn phòng này, khoảng sáu năm trước, tôi chú ý đến hình ảnh phản chiếu của một cô bé chừng mười ba tuổi (theo tôi đoán), ngày nào cũng đi qua ban công ngay phía trên tầm nhìn hạn hẹp của tôi. Con bé có một bình hoa và một cây thánh giá đặt trên chiếc bàn nhỏ cạnh bên. Vì cô bé ngồi đó, vào những ngày trời đẹp, từ sáng sớm cho đến tận tối mịt, miệt mài làm việc suốt thời gian, tôi đoán rằng con bé kiếm sống bằng nghề khâu vá. Đó chắc hẳn là một cô bé chăm chỉ, và theo như hình ảnh lộn ngược mà tôi quan sát được, con bé ăn vận gọn gàng và rất xinh xắn. Nó có một người mẹ già đau yếu, vào những ngày ấm áp, thường ngồi cùng con trên ban công. Tôi thấy thích thú khi nhìn cô bé nhỏ nhắn ấy quấn khăn cho bà lão, lấy gối tựa cho ghế và kê ghế đôn để chân cho mẹ. Thỉnh thoảng, con bé lại đặt công việc xuống, âu yếm hôn bà lão một lát, rồi mới tiếp tục làm việc.

Thời gian trôi đi, cô bé lớn dần lên, hình ảnh phản chiếu cũng thay đổi theo, đến cuối cùng thì đã là một thiếu nữ khoảng mười sáu, mười bảy tuổi. Tôi chỉ có thể làm việc chừng vài giờ vào lúc sáng sủa nhất trong ngày, nên tôi có thừa thời gian để dõi theo từng cử động của cô, và đủ trí tưởng tượng để dệt nên một mối tình lãng mạn nhỏ bé quanh cô, cũng như gán cho cô một vẻ đẹp mà phần lớn là do tôi tự mặc định. Tôi thấy — hoặc cứ ngỡ là mình thấy — cô bắt đầu để ý đến hình ảnh phản chiếu của tôi (điều mà tất nhiên cô cũng có thể thấy như tôi thấy cô vậy). Một ngày nọ, khi tôi thấy cô nhìn thẳng về phía đó — nghĩa là khi hình ảnh phản chiếu của cô dường như đang nhìn thẳng vào tôi — tôi đã thử một hành động liều lĩnh là gật đầu chào. Thật mừng biết bao, hình ảnh phản chiếu của cô cũng gật đầu đáp lại. Và thế là hai hình ảnh phản chiếu của chúng tôi đã làm quen với nhau.

Tôi chẳng mất bao lâu để đem lòng yêu cô, nhưng phải rất lâu sau đó tôi mới đủ quyết tâm làm điều gì đó ngoài việc gật đầu chào cô mỗi sáng, khi bà lão đỡ tôi từ giường sang ghế sofa bên cửa sổ, và vào mỗi tối khi cô bé rời ban công. Tuy nhiên, có một ngày, khi thấy hình ảnh phản chiếu của cô nhìn về phía mình, tôi gật đầu chào và ném một bông hoa xuống kênh. Cô gật đầu đáp lại vài lần, rồi tôi thấy cô chỉ cho mẹ mình xem sự việc. Từ đó, mỗi sáng tôi lại ném một bông hoa xuống nước như lời chào "chào buổi sáng", và một bông nữa vào buổi tối như lời "chúc ngủ ngon". Tôi sớm nhận ra rằng việc mình làm không hề vô ích, vì một hôm nọ, cô ném một bông hoa xuống nhập cùng hoa của tôi. Cô cười rạng rỡ và vỗ tay khi thấy hai bông hoa chụm lại rồi cùng trôi đi. Sau đó, sáng nào và tối nào cô cũng ném hoa khi tôi ném hoa của mình, và khi hai bông hoa gặp nhau, cô vỗ tay và tôi cũng làm vậy. Nhưng khi chúng bị tách rời, đôi khi do một bông vướng phải chướng ngại vật mà bông kia không vướng, cô lại giơ tay lên tỏ vẻ thất vọng một cách đáng yêu; tôi cũng bắt chước theo nhưng theo kiểu Anh quốc và không thành công cho lắm. Khi chúng bị những chiếc thuyền gondola đi ngang qua đâm phải (điều xảy ra không hiếm), cô giả vờ khóc và tôi cũng làm y như vậy. Sau đó, bằng những cử chỉ câm đầy duyên dáng, cô chỉ tay xuống nước rồi lên trời để nói cho tôi biết rằng Định Mệnh đã gây ra vụ đắm tàu của những bông hoa, còn tôi, bằng thứ ngôn ngữ cử chỉ kém duyên dáng hơn nhiều, cố gắng truyền đạt rằng Định Mệnh lần sau sẽ tử tế hơn, và biết đâu ngày mai hoa của chúng tôi sẽ may mắn hơn — và thế là mối tình thơ ngây cứ thế tiếp diễn. Một ngày nọ, cô cho tôi xem cây thánh giá của cô và hôn lên nó; tôi cũng cầm cây thánh giá bạc nhỏ vẫn luôn đặt cạnh mình, hôn lên nó, và nhờ đó cô biết rằng chúng tôi cùng chung một đức tin.

Một ngày kia, cô bé không xuất hiện trên ban công, và suốt nhiều ngày sau đó tôi chẳng thấy bóng dáng cô đâu. Mặc dù tôi vẫn ném hoa như mọi khi, chẳng có bông hoa nào đến bầu bạn cùng chúng cả. Tuy nhiên, sau một thời gian, cô xuất hiện trở lại trong bộ đồ đen, thường xuyên khóc lóc. Lúc đó tôi biết mẹ của đứa trẻ tội nghiệp đã qua đời, và theo tôi biết, cô đã đơn độc trên đời này. Những bông hoa không còn xuất hiện trong nhiều ngày nữa, cô cũng chẳng có dấu hiệu nhận biết nào, chỉ dán mắt vào công việc, ngoại trừ những lúc đưa khăn tay lên lau mắt. Đối diện với cô là chiếc ghế của bà lão, tôi thấy thỉnh thoảng cô lại bỏ công việc xuống, nhìn trân trân vào đó, rồi những dòng nước mắt lại tuôn rơi như một sự giải tỏa. Nhưng cuối cùng, vào một ngày nọ, cô đã gượng dậy để gật đầu chào tôi, và rồi bông hoa của cô lại xuất hiện, ngày này qua ngày khác, và bông hoa của tôi lại trôi đi nhập cùng, và với những phận số khác nhau, hai bông hoa lại tiếp tục trôi đi như thuở nào.

Nhưng ngày đen tối nhất đối với tôi là khi một chàng trai chèo thuyền gondola bảnh bao, đứng thẳng ở tư thế bình thường trên con thuyền của mình (vì tôi có thể thấy anh ta bằng xương bằng thịt), lái thuyền cập sát vào ngôi nhà, rồi đứng nói chuyện với cô khi cô đang ngồi trên ban công. Họ dường như trò chuyện như những người bạn cũ — thật vậy, theo như tôi quan sát, anh ta đã nắm tay cô trong suốt cuộc trò chuyện kéo dài gần nửa giờ đồng hồ. Cuối cùng anh ta đẩy thuyền rời đi, để lại trong tim tôi một nỗi nặng nề. Nhưng tôi sớm lấy lại tinh thần, vì ngay khi anh ta vừa khuất tầm nhìn, cô bé đã ném xuống hai bông hoa cùng chung một cành — một ẩn ý mà tôi không tài nào hiểu nổi, cho đến khi vỡ lẽ ra rằng cô muốn truyền đạt với tôi rằng anh ta và cô là anh em ruột, và rằng tôi chẳng có lý do gì để buồn bã cả. Và thế là tôi gật đầu chào cô một cách vui vẻ, cô gật đầu đáp lại tôi, rồi cười lớn, và tôi cũng cười theo, mọi việc lại tiếp diễn như trước.

Rồi một khoảng thời gian tăm tối, ảm đạm ập đến, vì tôi cần phải trải qua đợt điều trị buộc tôi phải nằm liệt giường trong nhiều ngày. Tôi lo lắng và bứt rứt khi nghĩ rằng cô bé và tôi sẽ không còn được nhìn thấy nhau nữa, và tệ hơn nữa, rằng cô sẽ nghĩ tôi đã bỏ đi mà không mảy may báo cho cô một lời. Tôi nằm trằn trọc cả đêm, tự hỏi làm sao để cho cô biết sự thật. Năm mươi phương kế vụt qua trong tâm trí tôi, tất cả đều có vẻ khả thi vào ban đêm, nhưng lại hoàn toàn điên rồ và không thực tế vào ban ngày. Một ngày nọ — quả là một ngày tươi sáng đối với tôi — bà lão chăm sóc tôi nói rằng có một người chèo thuyền gondola đã hỏi thăm xem liệu vị khách người Anh đã bỏ đi hay đã qua đời. Vậy là tôi biết cô bé đã lo lắng cho tôi, và cô đã cử anh trai mình đến hỏi thăm, chắc hẳn người anh đã kể cho cô nghe lý do vì sao tôi vắng mặt bấy lâu bên cửa sổ.

Kể từ ngày đó, và suốt ba tuần lễ nằm giường của tôi sau này, mỗi sáng đều có một bông hoa đặt trên bậu cửa sổ, nơi mà bất cứ ai đi thuyền cũng dễ dàng chạm tới. Và khi ngày tôi có thể cử động được cuối cùng cũng đến, tôi trở lại vị trí quen thuộc trên ghế sofa bên cửa sổ. Cô bé nhìn thấy tôi, đứng bằng đầu (nếu có thể nói như vậy) và vỗ tay ngược với niềm vui sướng cũng hùng hồn không kém niềm vui thuận chiều của tôi. Vậy nên, lần đầu tiên người chèo thuyền gondola đi ngang qua cửa sổ, tôi vẫy gọi anh ta. Anh ta chèo thuyền cập sát lại, mỉm cười rạng rỡ nói rằng anh thực sự vui mừng khi thấy tôi khỏe lại. Sau đó, tôi cảm ơn anh và em gái vì đã nhiều lần quan tâm đến tôi trong thời gian tôi dưỡng bệnh. Rồi tôi biết được từ anh rằng tên cô là Angela, rằng cô là người con gái tốt đẹp và trong trắng nhất Venice, và rằng bất cứ ai cũng có thể coi mình là người may mắn khi được gọi cô là em gái. Nhưng anh ta còn may mắn hơn cả người anh trai, vì anh sắp cưới cô làm vợ, và thực tế là họ sẽ kết hôn vào ngày mai.

Nghe đến đó, trái tim tôi như muốn vỡ tung, máu dồn lên các huyết quản khiến tôi chỉ có thể nghe thấy tiếng tim mình đập và chẳng còn nghe thấy gì khác trong một lúc. Cuối cùng tôi cũng cố thốt ra được vài lời chúc mừng ngượng nghịu. Anh ta rời đi, hát vang vui vẻ, sau khi xin phép được đưa cô dâu đến thăm tôi vào ngày mai khi họ từ nhà thờ trở về.

"Vì", anh ta nói, "Angela của tôi đã biết ông từ rất lâu rồi — từ khi còn là một đứa trẻ. Cô ấy thường kể cho tôi nghe về người Anh tội nghiệp theo đạo Thiên Chúa, người đã nằm dài cả ngày suốt bao năm trời trên ghế sofa bên cửa sổ. Cô ấy đã lặp đi lặp lại rằng cô ước gì mình có thể trò chuyện và an ủi ông. Và một ngày nọ, khi ông ném một bông hoa xuống kênh, cô ấy đã hỏi tôi liệu cô có thể ném một bông khác không, tôi bảo cô ấy có, vì ông sẽ hiểu rằng điều đó có nghĩa là sự đồng cảm dành cho một người đang chịu khổ đau."

Và thế là tôi hiểu ra đó chỉ là lòng thương hại, không phải tình yêu, ngoại trừ thứ tình yêu vốn gần gũi với lòng thương hại, đã thôi thúc cô quan tâm đến sự an nguy của tôi, và mọi chuyện đã kết thúc như thế.

Bởi hai bông hoa mà tôi cứ tưởng là trên cùng một cành, thực ra là hai bông hoa được buộc lại với nhau (nhưng tôi nào có biết), và chúng được dùng để ám chỉ rằng cô và chàng trai chèo thuyền là những người đính ước, và niềm vui sướng mà tôi biểu lộ trước biểu tượng ấy đã làm cô thích thú, vì cô cứ tưởng tôi vui mừng cho hạnh phúc của cô.

Ngày hôm sau, người chèo thuyền gondola đến cùng đoàn tùy tùng là những người chèo thuyền khác, tất cả đều khoác lên mình bộ trang phục ngày lễ. Trên thuyền của anh ta là Angela, hạnh phúc và đỏ mặt vì hạnh phúc. Sau đó, hai người bước vào ngôi nhà nơi tôi ở và vào phòng tôi (thật kỳ lạ biết bao, sau bao nhiêu năm nhìn mọi thứ lộn ngược, được thấy cô với cái đầu ở trên đôi chân!). Rồi cô chúc tôi hạnh phúc và sớm bình phục (điều không bao giờ có thể xảy ra). Tôi, với những lời lẽ đứt quãng và đôi mắt đẫm lệ, đã trao cho cô cây thánh giá bạc nhỏ vẫn luôn đặt bên giường hay bàn của tôi suốt bao năm qua. Angela cung kính đón lấy, làm dấu thánh giá, hôn lên nó, rồi ra đi cùng người chồng hạnh phúc của mình.

Và khi tôi nghe tiếng hát của những người chèo thuyền khi họ đi khuất — tiếng hát dần tan biến vào khoảng không xa xăm khi những bóng chiều tà dần khép lại quanh tôi — tôi cảm thấy họ đang hát bài lễ cầu hồn cho mối tình duy nhất từng bước vào trái tim tôi.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 25 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Elizabeth Cleghorn Gaskell

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.