“Chào ông ạ.”
Trưởng lão Brown nhoài người qua vách gỗ thông nhỏ ngăn giữa khu kế toán của một nhà kho tại Macon với căn phòng chung, rồi quan sát tấm lưng mặc âu phục chỉnh tề của một quý ông đang bận rộn tính toán bên bàn làm việc. Căn phòng không trải thảm, bụi bặm của cả thập kỷ phủ dày trên những cuốn sổ cũ, kệ sách, cùng những tờ quảng cáo phân bón quen thuộc treo trang trí. Một cái lò sưởi cũ kỹ, rỉ sét vì lớp nicotine từ những người nông dân đã ngồi chờ bên lò suốt mùa trước trong khi đợi bán bông, đứng sừng sững trên một nền cát, còn những dải mạng nhện thì giăng mắc trên khung cửa sổ tối tăm. Khung cửa sổ phía dưới đã được đẩy lên, và ở sân ngoài, rộng gần một mẫu Anh, là vài kiện bông với những lỗ thủng nham nhở ở hai đầu, y hệt như lúc người lấy mẫu để lại. Trưởng lão Brown có đủ thời gian để nhận thấy tất cả những chi tiết quen thuộc ấy, vì bóng người bên bàn làm việc vẫn miệt mài với công việc một cách thản nhiên và chẳng buồn đoái hoài đến ông.
“Chào ông ạ,” Trưởng lão Brown lặp lại bằng tông giọng trang trọng nhất của mình. “Ông Thomas có ở đây không?”
“Chào ông,” bóng người đó đáp. “Tôi sẽ tiếp ông trong một phút.” Một phút trôi qua, rồi thêm bốn phút nữa. Sau đó người đàn ông bên bàn làm việc mới quay lại.
“Vâng, thưa ông, tôi có thể giúp gì cho ông đây?”
Trưởng lão vốn đã chẳng mấy vui vẻ khi đến đây, và tâm trạng ông cũng chẳng khá hơn chút nào. Ông đợi thêm trọn một phút khi quan sát người kinh doanh nọ.
“Tôi tưởng mình có thể thu xếp với ông để vay ít tiền, nhưng có lẽ tôi nhầm rồi.” Người quản lý nhà kho tiến lại gần hơn.
“Chẳng phải ông Brown đó sao. Tôi không nhận ra ông ngay. Ông hiếm khi ghé thăm chúng tôi lắm.”
“Phải; vợ tôi thường lo việc phố xá, còn tôi thì lo việc nhà thờ và đồng áng. Sáng nay tôi bị ngã từ trên lưng con lừa xuống,” ông nói, khi nhận thấy vẻ mặt nghi vấn, dò hỏi của người đối diện, “và rơi thẳng xuống cái mũ này.” Ông làm bộ vuốt ve cái mũ. Người kinh doanh nọ đã mất hứng thú từ lâu.
“Ông cần vay bao nhiêu tiền, ông Brown?”
“Chà, khoảng bảy trăm đô-la,” trưởng lão nói, đội lại mũ và liếc nhìn người quản lý nhà kho vẻ lén lút. Người kia đang gõ cây bút chì lên mặt kệ nhỏ vắt ngang qua lan can.
“Tôi chỉ có thể cho ông vay năm trăm.”
“Nhưng tôi cần bảy trăm mới đủ.”
“Không thu xếp được số đó đâu. Đợi đến cuối mùa rồi hãy quay lại. Tiền nong giờ khan hiếm lắm. Ông dự định thu hoạch bao nhiêu bông?”
“À, tôi tính khoảng một trăm kiện. Thế ông không thể đưa tôi bảy trăm đô-la sao?”
“Muốn giúp ông lắm, nhưng giờ thì không được; lát nữa tôi sẽ thu xếp cho ông.”
“Được thôi,” trưởng lão chậm rãi nói, “cứ làm giấy tờ cho khoản năm trăm vậy, tôi sẽ cố xoay xở với số tiền đó.”
Giấy tờ được lập. Một tờ kỳ phiếu 552,50 đô-la được viết ra, vì lãi suất là một rưỡi phần trăm trong bảy tháng, cùng một văn bản thế chấp mười con la của trưởng lão được ký kết. Trưởng lão sau đó hứa sẽ gửi bông đến nhà kho để bán vào mùa thu, và với một câu cộc lốc “Còn gì nữa không?” cùng lời đáp “Cảm ơn, chỉ vậy thôi,” cả hai chia tay.
Trưởng lão Brown lúc này cố gắng nhớ lại những ủy thác bổ sung mà người ta đã hét vào tai ông khi ông rời đi, định bụng sẽ thực hiện chúng trước rồi sau đó mới lần lượt làm theo danh sách đã viết. Ý định trong đầu ông vừa mới định hình thì một ý nghĩ mới ập đến. Những người qua đường đều ngạc nhiên khi thấy ông lão đột nhiên giật phắt cái mũ trên đầu xuống và nhìn chằm chằm vào những ngóc ngách méo mó của nó với vẻ sửng sốt. Một số người đã bị sốc khi ông thốt lên đầy giận dữ và mạnh mẽ:
“Hannah-Maria-Jemimy! Chết tiệt thật, quỷ tha ma bắt!”
Ông chợt nhớ ra mình đã để mảnh giấy ghi chú trong cái mũ đó, và khi nhìn vào lòng mũ trống rỗng, tâm trí ông hiện lên cảnh mảnh giấy quan trọng ấy bay phấp phới dọc theo con đường cát nơi ông bị ngã hồi sáng sớm. Chính điều đó đã khiến ông suýt buông lời chửi thề, một việc mà suốt hai mươi năm qua ông chưa từng làm. Bà vợ già sẽ nói sao đây?
Than ôi! Trưởng lão Brown biết quá rõ. Điều khiến ông đau đầu chính là những gì bà sẽ *không* nói. Nhưng khi đứng đó với cái đầu trần dưới nắng, một cảm giác cô quạnh cùng cực ập đến và ngự trị trong ông. Ánh mắt ông dừng lại trên con Balaam đang ngủ gật, bị buộc vào một cái cột trên phố, và khi nhớ lại sự phản bội nằm ở nguồn cơn mọi nỗi khổ của mình, nỗi buồn càng thêm chồng chất.
Quay lại tìm mảnh giấy đã mất thì còn tệ hơn cả vô ích. Chỉ còn một con đường duy nhất, và vị mục tử của giáo dân bắt đầu tiến hành. Ông ghé cửa hàng tạp hóa; ông xông vào các gian hàng vải vóc; ông lục tung các cửa hàng phần cứng; và đi đến đâu, ông cũng biến cuộc sống của đám nhân viên thành cực hình, lật tung các tủ kính và kéo đổ cả những kệ hàng. Thỉnh thoảng, một món hàng trong danh sách lại xuất hiện, và ông lại thò tay vào túi áo rộng thùng thình, nơi chứa số tiền vừa nhận được, để trả tiền ngay tại chỗ, đồng thời khăng khăng đòi nhân viên gói lại cho bằng được. Trước lời gợi ý của gã nô lệ đang đi theo mình rằng cứ để đó rồi cuối buổi hãy lấy một thể, ông nhất quyết không nghe.
“Này cậu kia,” ông nói trong cửa hàng vải, “tôi đang chủ trì buổi phục hưng này, và tôi không cần ai giúp trong phần việc của mình đâu. Cứ gói đống tất đó lại rồi đưa cho tôi. Thế thì tôi mới biết chắc là mình có chúng.” Vì mỗi món đồ mua đều được thanh toán ngay và phải thối lại tiền lẻ, nên người nhân viên ấy ít nhất cũng đã làm việc đáng đồng tiền bát gạo trong ngày hôm đó.
Vì vậy, khi cái nắng bắt đầu gay gắt, vị mục tử đáng kính tìm đến tiệm thuốc, cửa hàng cuối cùng trong danh sách, ông xuất hiện với năm mươi gói đồ, chất đống trên tay và nhét đầy cả những chỗ có túi trên quần áo. Khi đặt đống hành lý to sụ lên quầy, những giọt mồ hôi lớn lăn dài trên mặt ông, chảy qua cổ áo ướt sũng rồi rơi xuống sàn.
Có thứ gì đó cực kỳ sảng khoái trong những ly soda sủi bọt mà một chàng thanh niên bảnh bao đang rót ra từ đài phun nước bằng cẩm thạch, phía trên có vẽ nửa tá gấu Bắc Cực đang đùa nghịch một cách đầy tham vọng. Lượng khách vơi đi một chút, và chàng thanh niên bảnh bao, sau khi quét sạch lớp bọt trên mặt cẩm thạch, điêu luyện nhấc một chiếc ly từ giá xoay vừa được tráng bằng tia nước nhỏ nhưng mạnh, rồi hỏi một cách máy móc khi bắt gặp ánh nhìn đăm đắm của vị trưởng lão đang đẫm mồ hôi, “Ông dùng si-rô gì ạ?”
Vốn dĩ trưởng lão chẳng hề nghĩ đến việc uống soda, nhưng lời gợi ý ấy, vào đúng lúc ông đang kiệt sức, quả thực không thể cưỡng lại. Ông tiến lại gần một cách vụng về, đeo kính lên và chăm chú xem danh sách các loại si-rô. Chàng thanh niên, lúc này đang rảnh rỗi, đánh giá một cách khắt khe dáng vẻ gầy gò, chiếc khăn quàng cổ phai màu, chiếc áo khoác đuôi tôm cổ lỗ sĩ và chiếc mũ cao bồi móp méo của ông, với vẻ mặt dần giãn ra. Thậm chí, anh ta còn hắng giọng và hất hàm để gọi nhân viên kê đơn chú ý. Người nhân viên kê đơn mỉm cười khoái chí, rồi tiếp tục đấm tay vào miếng thuốc viên màu xanh.
“Ta nghĩ,” trưởng lão nói, chống hai tay lên đầu gối rồi cúi xuống nhìn vào danh sách, “cậu cho ta loại xá-xị và chút dâu tây vậy. Xá-xị tốt cho máu vào tầm này trong năm, còn dâu tây thì lúc nào cũng tốt cả.”
Chàng thanh niên bảnh bao để dòng si-rô chảy vào ly rồi mỉm cười đầy hòa nhã. Có lẽ vì muốn trêu chọc nhân vật kỳ lạ này, anh ta cũng thử làm một trò đùa, lặp lại một cách chơi chữ của người sáng chế ra đài phun soda đầu tiên. Với một cái phẩy tay, anh ta xua đi đám côn trùng rồi nhận xét, “Những ai thích có một con ruồi trong ly thì dễ đáp ứng thôi ạ.”
Chỉ đơn giản vì bản tính tốt bụng, Trưởng lão Brown đáp lại với nụ cười rộng mở, đầy thân thiện thường thấy, “Chà, lâu lâu có con ruồi thì cũng chẳng hại ai.”
Trên đời này, nếu có kẻ nào luôn tự hào mình hiểu biết mọi sự, thì đó chính là chàng thanh niên bảnh bao đứng sau quầy soda. Chàng trai trẻ này thậm chí còn chẳng buồn đáp lại. Anh ta biến mất trong giây lát, và khi quay lại, một người quan sát tinh ý có thể thấy hỗn hợp trong ly anh ta cầm trên tay đã đổi màu đôi chút và đầy hơn trước. Nhưng trưởng lão chỉ nhìn thấy tia nước bắn vèo vào giữa ly, và lớp bọt hồng sủi lên run rẩy trên miệng ly. Ngay giây sau, ông nín thở và nhấp ngụm nước mát lạnh.
Khi Trưởng lão Brown thanh toán món tiền nhỏ, ông cảm thấy hòa bình với cả thế giới. Tôi tin chắc rằng, khi ông mua sắm xong xuôi và những gói đồ buộc dây xanh đã được cất gọn, nếu con lừa tội nghiệp xuất hiện ngay cửa và nhìn vào mắt chủ nhân bằng đôi mắt dịu dàng như nai tơ, thì chắc chắn nó đã được tha thứ hoàn toàn.
Trưởng lão Brown dừng lại ở cửa trước khi rời đi. Một nữ sinh má hồng vừa nâng một ly hỗn hợp kem lên môi trước đài phun nước. Đó là một bức tranh đẹp, và ông quay lại, quyết định thưởng thức thêm một ly thức uống tuyệt hảo nữa trước khi bắt đầu hành trình dài trở về nhà.
“Làm cho ta thêm một ly nữa nhé, cậu trai,” ông nói, nở nụ cười rộng rãi, tin cậy khi chàng thanh niên bảnh bao cầm ly lên chờ đợi. Cỗ máy sống ấy lại thực hiện những động tác y hệt như trước, và một lần nữa Trưởng lão Brown uống cạn thứ hỗn hợp định mệnh.
Thói quen mới là một sức mạnh kỳ lạ làm sao! Cho đến lúc này, Trưởng lão Brown vẫn hoàn toàn vô tội, nhưng khi ngọn lửa cồn cũ kỹ chảy trong huyết quản, hai mươi năm như rũ bỏ khỏi vai ông, và một cảm giác ùa đến, quen thuộc với bất cứ ai từng “say sưa chén chú chén anh”. Thực ra, trưởng lão đã có thể là một kẻ nghiện rượu thâm niên từ hai mươi năm trước nếu vợ ông không phải người cứng rắn. Bà đã nắm lấy cương vị điều hành khi nhận ra công việc và rượu chè của ông không hòa hợp với nhau, đưa ông vào nhà thờ, củng cố quyết tâm của ông bằng cách khiến cho việc tìm mua chút rượu trở nên khó khăn và nguy hiểm. Bà trở thành bộ não kinh doanh của gia đình, còn ông là bộ não tâm linh. Chỉ trong vài dịp hiếm hoi, ông mới “sa ngã” trong suốt hai mươi năm của kỷ nguyên mới, và chính bà Brown thường nói rằng “chút đường trong rượu của ông ta cũng hóa thành mật đắng trước khi cơn say kết thúc”. Những người quen bà chưa bao giờ nghi ngờ điều đó.
Nhưng tội lỗi của Trưởng lão Brown trong phần còn lại của ngày hôm đó lại chứa đựng một yếu tố trách nhiệm. Khi ông hiên ngang bước xuống nơi con Balaam đang ngủ dưới nắng, ông không cảm thấy mệt mỏi chút nào. Trên gò má ông có một vệt hồng, và trên chiếc mũi nổi bật cũng có chút ửng đỏ. Ông gật đầu chào hỏi mọi người một cách thân thuộc khi gặp họ, và không hề nhìn thấy vẻ thích thú xen lẫn ngạc nhiên trên những gương mặt ấy. Khi đến gần chỗ con Balaam, ông chợt nhớ ra có lẽ mình đã quên một trong vô số những ủy thác, và dừng lại để suy nghĩ. Rồi một ý tưởng lóe sáng trong đầu. Ông sẽ ngăn chặn sự quở trách và hóa giải cơn giận bằng lòng tốt—ông sẽ mua cho Hannah một chiếc mũ phụ nữ.
Trái tim người phụ nữ nào mà chẳng mềm yếu trước một chiếc mũ mới?
Như tôi đã nói, trưởng lão là người đàn ông của hành động. Ông bước vào một cửa hàng gần đó.
“Chào ông,” một quý ông hòa nhã với khuôn mặt Do Thái tiến lại gần chào hỏi.
“Chào ông, chào ông,” trưởng lão nói, chất đống các gói đồ lên quầy. “Tôi hy vọng ông vẫn khỏe?” Trưởng lão Brown nhiệt tình chìa tay ra.
“Tôi vẫn khỏe, cảm ơn ông. Có việc gì—”
“Còn bà xã thì sao?” Trưởng lão Brown nói, âu yếm giữ lấy tay người thương nhân Do Thái.
“Cô ấy vẫn khỏe, thưa ông.”
“Còn mấy đứa nhỏ nữa—chắc cũng khỏe cả chứ?”
“Vâng, thưa ông; tất cả đều khỏe, cảm ơn ông. Tôi có thể giúp gì cho ông đây?”
Người thương nhân hòa nhã đang cố nhớ tên khách hàng của mình.
“Không phải bây giờ, không phải bây giờ, cảm ơn cậu. Phiền cậu cho tôi gửi đống đồ này ở đây đến khi tôi quay lại—”
“Tôi có thể cho ông xem món này không? Mũ, áo khoác—”
“Không phải bây giờ. Lát nữa tôi quay lại.”
Liệu là ngẫu nhiên hay định mệnh đã đưa Trưởng lão Brown đến trước một quán rượu? Những chiếc ly lấp lánh trên kệ khi cánh cửa xoay khép lại, để một gã nhân viên không mặc áo khoác vội vã lướt qua ông, miệng vẫn còn nhai dở miếng bánh mì nâu và xúc xích bologna. Trưởng lão Brown nhìn thấy thoáng qua khung cảnh quen thuộc bên trong. Những ốc vít của sự kiên định đã được nới lỏng. Khi nhìn thấy quầy rượu lấp lánh, toàn bộ cấu trúc đạo đức của hai mươi năm qua đổ sụp. Một cách máy móc, ông bước vào quán, đặt một đồng xu bạc lên quầy và nói:
“Cho một chút rượu và đường.” Đôi tay gã pha chế hoạt động như một tay diễn xiếc ở hội chợ, gã đặt ly rượu cùng chút “đường ngọt” và một bình pha lê lên bàn, rồi đẩy nửa ly nước trượt đi từ phía đầu kia của quầy kèm theo tiền lẻ.
“Rượu đắt hơn xưa rồi,” Trưởng lão Brown nói; nhưng gã pha chế đang nhận đơn hàng khác nên không nghe thấy. Trưởng lão Brown khuấy đường và để dòng chất lỏng đỏ chảy đều vào ly. Ông uống cạn ly rượu một cách thản nhiên như thể buổi sáng hôm nay ông chưa từng bỏ món rượu đó, rồi bỏ tiền lẻ vào túi. “Nhưng nó cũng chẳng ngon hơn trước là bao,” ông kết luận khi bước ra ngoài. Ông thậm chí còn chẳng nhận ra mình vừa làm điều gì khác thường.
Phía cuối phố có một cửa hàng bán đồ phụ nữ, và ông hướng về đó với những bước chân không vững, cảm thấy phấn chấn hơn đôi chút và cực kỳ cởi mở. Một cô gái trẻ mắt đen xinh xắn, đang cố nén cười, tiến lên đối diện với ông sau quầy. Trưởng lão Brown nâng chiếc mũ phai màu với sự lịch thiệp, dù không hoàn toàn duyên dáng như một quý tộc Castilian, và cúi chào thật thấp. Một lần nữa, ông lại trở về đúng bản chất của mình. Nhưng ông không nói gì. Một loạt những thứ lặt vặt, các gói nhỏ, chỉ, kim và cúc áo, thoát khỏi sự giam cầm, rơi lả tả xung quanh ông.
Cô gái bật cười. Cô không thể nhịn được. Và trưởng lão, chống tay lên quầy, cũng cười theo cho đến khi vài cô gái khác tiến lại gần. Sau đó, họ trốn sau quầy và những chiếc áo khoác treo, cười khúc khích cho đến khi làm cho người đối diện của trưởng lão, vốn đang cố gắng tuyệt vọng để lấy lại vẻ nghiêm nghị, cũng phải cười ngặt nghẽo theo.
“Để cháu giúp ông ạ,” cô nói, bước ra từ sau quầy khi thấy Trưởng lão Brown bắt đầu điều chỉnh kính để tìm kiếm. Ông xua tay một cách đầy uy nghiêm. “Không, cháu yêu, không được; không thể để thế được. Cháu sẽ làm bẩn những ngón tay xinh đẹp đó mất. Không đâu, cô bé. Không một quý ông nào lại để một quý cô làm việc như vậy.” Trưởng lão nhẹ nhàng đẩy cô gái trở lại vị trí cũ. “Cứ để ta. Ta đã nhặt được những thứ to hơn thế này nhiều. Chính ta đã tự nhặt mình lên hồi sáng nay đấy. Balaam—cháu không biết Balaam đâu; nó là con lừa của ta—nó đã hất ta qua đầu nó xuống cát sáng nay đấy.” Và Trưởng lão Brown phải đứng thẳng người dậy cho đến khi cơn cười ngất qua đi. “Cháu thấy cái mũ cũ này không?” ông giơ nó ra, lưng lửng những gói đồ; “Ta đã ngã lọt thỏm vào nó đấy; lọt thỏm y như đống đồ này rơi ra khỏi nó vậy.” Ông lại cười, và đám con gái cũng cười theo. “Nhưng mà, cháu yêu, ta đã quất cho nó một trận nên thân vì chuyện đó đấy.”
“Ôi, thưa ông! Sao ông làm thế được? Thật đấy ạ. Cháu nghĩ ông làm vậy là sai rồi. Cháu dám chắc con vật tội nghiệp đó không biết nó đang làm gì đâu, và có lẽ nó là một người bạn trung thành đấy.” Cô gái liếc nhìn đồng nghiệp đầy tinh quái, khiến họ lại khúc khích cười. Ông lão không nhận ra sự mỉa mai. Ông chỉ thấy lời trách móc. Mặt ông nghiêm lại, và ông nhìn cô gái một cách tỉnh táo.
“Có lẽ cháu đúng, cháu yêu ạ; có lẽ ta không nên làm thế.”
“Cháu chắc chắn mà,” cô gái nói. “Nhưng bây giờ ông không muốn mua một chiếc mũ hay áo khoác để mang về cho vợ ông sao?”
“Chà, cháu nói đúng ý ta rồi đấy, cô bé; đó chính là ý định của ta; cứ bày hết ra đi.” Một lần nữa khuôn mặt vị trưởng lão lại bừng sáng vẻ thích thú. “Và ta không cần cái loại mũ tồi tàn đâu nhé.”
“Tất nhiên rồi ạ. Đây là chiếc này; lụa hồng, điểm xuyết những chiếc lông vũ màu xanh nhạt tinh tế. Đúng là dành cho mùa này ạ. Chúng cháu không còn mẫu nào thanh lịch hơn đâu.” Trưởng lão Brown cầm nó lên, lộn ngược, giơ ra xa bằng cả cánh tay.
“Chà, thế này mới đáng chứ. Nó có hợp với một bà vợ tóc đỏ không nhỉ?”
Một người hoàn toàn tỉnh táo hẳn sẽ nói rằng chiếc áo nịt ngực của cô gái hẳn đã phải chịu một áp lực khủng khiếp, nhưng trưởng lão không nhận ra sự co giật câm lặng của cô. Cô dũng cảm đáp:
“Quá hợp ạ, thưa ông. Nó là một sự kết hợp hoàn hảo.”
“Ta nghĩ cháu lại nói đúng rồi. Đầu Nancy đỏ, đỏ như đầu chim gõ kiến ấy. Màu vàng hoe chỉ bằng nửa màu tóc của bà ấy, và có vẻ như màu đỏ thì nên đi với màu đỏ. Nancy đỏ và mũ cũng đỏ; cái gì giống nhau thì đi với nhau, như người ta vẫn bảo ngưu tầm ngưu, mã tầm mã đấy.” Ông lão cười đến mức ướt đẫm cả má.
Cô gái, bắt đầu cảm thấy hơi bất an và thấy có khách hàng bước vào, nhanh chóng gói chiếc mũ lại, lấy mười lăm đô-la từ tờ tiền hai mươi đô-la, rồi bình tĩnh hỏi trưởng lão xem ông còn cần gì nữa không. Ông nhét tiền thừa vào đâu đó trong quần áo rồi rút lui. Ông chợt nhận ra mình gần như đã say mèm.
Bước chân của Trưởng lão Brown bắt đầu mất đi sự linh hoạt. Ông thấy mình hoàn toàn không thể đi thẳng. Dáng đi loạng choạng không định hướng đưa ông từ bên này sang bên kia vỉa hè, khiến những người gặp ông đều vui vẻ tránh đường rộng rãi.
Balaam nhìn thấy ông đang tiến lại. Balaam tội nghiệp. Nó đã bắt đầu chuyến đi từ sớm và đứng ngoài nắng hàng giờ chờ được giải thoát. Khi nó mở đôi mắt buồn ngủ và dựng đôi tai biểu cảm lên để chú ý, chiếc áo khoác cũ quen thuộc và cái mũ móp méo của trưởng lão đã ở trước mắt. Nó cất cao giọng trung thực của mình và kêu to vì sung sướng.
Hiệu ứng thật tức thì. Trưởng lão Brown nhìn con vật với vẻ kinh hoàng, nhưng một lần nữa, trong nhận thức của ông, những từ ngữ vang dội lại vang lên như tiếng kèn.
“Say, say, say, sa-ay, -ay, -ay, -ay.”
Ông theo bản năng cúi xuống nhặt một vật gì đó để ném kẻ cáo buộc mình, nhưng rồi khựng lại đột ngột với một nắm cát trên tay. Đứng thẳng dậy với vẻ uy nghiêm oai vệ, ông giơ tay phải lên đầy ấn tượng.
“Mày là đồ dối trá khốn kiếp, Balaam, và khốn kiếp cái thân mày, mày tự đi bộ về nhà đi, vì tao thề là mày đừng hòng đòi tao cưỡi dù chỉ một bước.”
Chắc chắn Coriolanus khi quay lưng rời khỏi Rome cũng chẳng có vẻ uy nghiêm nào hơn vị trưởng lão khi ông quay người lại, bỏ mặc con vật đứng nhìn với đôi mắt lo âu theo hướng đi mới của chủ nhân.
Nó nhìn trưởng lão đi zíc-zắc dọc con phố và thấy ông sắp rẽ qua một góc quen thuộc. Một lần nữa, nó cất cao giọng dũng mãnh:
“Say, say, say, sa-ay, sa-ay, -ay, -ay, -ay.”
Một lần nữa, trưởng lão quay lại, giơ tay và hét vọng lại:
“Mày là đồ dối trá, Balaam, đồ khốn kiếp! Mày là đồ nói dối khốn nạn.” Rồi ông khuất khỏi tầm mắt.