Viên Tướng Của Đạo Quân Chết

Lượt đọc: 157 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
CHƯƠNG VII

❊ ❊ ❊

«CÂU chuyện ấy xảy ra vào hồi đầu chiến tranh», bác chủ quán cà phê bắt đầu bằng một thứ tiếng Anh tồi. Trước kia, bác đã làm công mấy năm tại một tiệm cà phê ở New York và nói tiếng Anh với một giọng Mỹ rất nặng. Viên tướng thiết tha muốn được một người dân của cái thành phố cổ có những ngôi nhà bằng đá này kể lại cho nghe câu chuyện về cô gái điếm. Người ta đã mách ông là không ai rõ chi tiết chuyện này hơn bác chủ quán cà phê, nhưng phải cái bác ta hơi nói lắp và nói tiếng Anh không thạo.

«Hắn có nói lắp, có giết chết một ít tiếng Anh cũng chẳng sao, viên tướng nghĩ bụng, tất cả câu chuyện này đều chẳng biểu hiện sự giết chóc đó sao?»

Sáng nay, viên tướng và ông linh mục vừa đọc thấy tên cô gái điếm tại nghĩa địa quân nhân ở ngoại vi thành phố. Trong số tất cả những hài cốt tìm thấy cho đến giờ, đây là người đàn bà duy nhất, và khi nghe nói đến, viên tướng ngạc nhiên muốn biết rõ chuyện. Nếu sáng hôm đó mà không trông thấy trên tấm bia bằng đá hoa ở đầu ngôi mộ, có mang dòng chữ quen thuộc: «Đã hy sinh vì tổ quốc» thì, có lẽ ông cũng đã không để ý gì đến ngôi mộ người đàn bà ấy.

Từ xa, viên tướng nhìn thấy rõ phiến đá trắng, nổi bật lên trong đám những cây thập ác bằng gỗ cong queo, đen xỉn, mục nát và những chiếc mũ sắt gỉ treo ở đầu các ngôi mộ.

- Một tấm bia bằng đá hoa; viên tướng thốt lên. Một sĩ quan cao cấp chăng? Có thể là ông đại tá Z?

Hai người liền lại gần ngôi mộ để đọc dòng chữ khắc trên bia. Bia có ghi tên họ và nơi sinh của một người đàn bà. Người này quê cùng tỉnh với viên tướng, nhưng ông không nói ra điều đó với ai hết.

- Câu chuyện xảy ra ngay từ hồi mới đầu, bác chủ quán cà phê nói tiếp. Tôi là một trong số những người đầu tiên được biết tin này. Không phải vì tôi là người thích thú những chuyện như thế, mà chính do tôi làm ở tiệm cà phê, nên bất kỳ chuyện gì có liên quan đến thành phố này tôi cũng được biết đầu tiên. Và hôm đó, tôi cũng lại được biết trước nhất. Tin đó truyền đi vào giữa lúc tiệm đang đông nghịt khách, không rõ là ai đã tung ra. Có người nói tin này do một quân nhân nói ra; trước khi lên đường sang mặt trận Hy Lạp, anh ta đã ngủ lại một đêm ở khách sạn của thành phố, sau một bữa rượu say khướt. Một số người khác lại cho là tin này do một gã tên là Lame Spiri tung ra, gã vốn lúc nào cũng chỉ nghĩ đến những chuyện như vậy. Nhưng cái đó không quan trọng. Chúng tôi ngạc nhiên và sửng sốt quá nên cũng không cần biết thực sự tin đó là do ai tung ra, người lính kia hay cái thằng vô lại Lame Spiri.

Phải nói rằng hồi đó không dễ có gì làm được chúng tôi ngạc nhiên. Đang thời buổi chiến tranh, hàng ngày có khối chuyện không thể ngờ là có được, những chuyện thực phi thường. Và chúng tôi đã tưởng không còn có gì có thể làm chúng tôi ngạc nhiên được, kể từ cái ngày chúng tôi nhìn thấy những khẩu đại bác, những khẩu cao xạ nòng dài nghêu lần đầu tiên đi qua đường phố chúng tôi, tiếng rầm rầm thật kinh khủng, tưởng chừng cả thành phố sắp đổ ụp xuống. Và từ bữa xảy ra một trận không chiến ngay trên đầu, thì lại càng khó có gì làm chúng tôi ngạc nhiên được, ấy là chưa nói đến biết bao nhiêu sự việc xảy ra sau đó.

Một hồi, có tin đồn có một anh nông dân đã gặp ông già Ali tay cầm gậy, đang đi trong hẻm núi gần thành phố, và ông già đã phán bảo những lời tiên tri hết sức khủng khiếp. Lại thêm khi bói xương gà sống, người ta chỉ thấy toàn những điềm chiến tranh và máu. Thực thế, những miếng thịt gà cứ đỏ đòng đọc, mọi người lo lắng chờ đợi những tai họa ghê gớm xảy ra.

Rồi lại có một hồi, đâu cũng chỉ thấy bàn tán về thằng phi công Anh bị hạ ở ngay ngoài thành phố. Chính mắt tôi đã nhìn thấy cái bàn tay hắn; cả người hắn chỉ còn lại có thế. Bàn tay ấy, tôi đã được trông thấy khi người ta đem trưng bày cùng với một mảnh áo lót cháy dở của hắn, ở quảng trường tòa thị chính cho nhân dân xem. Bàn tay nom như một mảnh gỗ vàng khè, thấy rõ cả ngón tay thứ tư đeo chiếc nhẫn mà người ta vẫn để nguyên. Chiếc máy bay của hắn, như tôi đã nói với ông, bị súng cao xạ bắn rơi lúc hắn vừa ném bom thành phố xong, định bay đi. Một quả bom rơi trúng nhà «teqe», nên ai cũng nói đúng là hắn bị thần thánh trừng phạt.

Chúng tôi đã được nghe kể không biết bao nhiêu là chuyện đại loại như thế, nên những sự việc hết sức bất ngờ cũng không còn làm chúng tôi xao xuyến được. Ấy thế mà khi nghe tin sắp mở một nhà thổ, chúng tôi ai nấy đều sửng sốt. Gì thì cũng có thể xảy ra được, trừ mỗi cái chuyện đó. Tin ấy kỳ lạ quá khiến lúc đầu phần lớn không ai tin. Thành phố của chúng tôi là một thành phố rất cổ. Nó đã trải qua nhiều thời đại, đã từng biết đủ thứ tập quán, nhưng quả chưa bao giờ lại có thể ngờ có một chuyện như vậy. Thành phố này từ xưa đến nay vốn vẫn sống trong danh dự, nay về già nó chịu làm sao được một điều sỉ nhục như thế? Làm gì bây giờ? Câu hỏi đó làm mọi người hoang mang. Có một cái gì lạ lẫm, mới mẻ, khủng khiếp, lởn vởn trong cuộc sống của chúng tôi, tưởng chừng như tình trạng bị chiếm đóng, những trại lính đầy ắp quân đội nước ngoài, những trận oanh tạc và nạn đói đang đè xuống chúng tôi, còn chưa đủ nặng. Lúc đó, chúng tôi cũng chưa hiểu rằng đây cũng chỉ là một bộ phận của chiến tranh như mọi bộ phận khác, cũng như những trận oanh tạc, trại lính và nạn đói, không hơn không kém.

Ngày hôm sau, một đoàn đại biểu các phụ lão kéo nhau lên tòa thị chính, và ngay đêm hôm ấy, một đám khác họp nhau ở quán cà phê để làm một bản kiến nghị gửi lên viên trung tướng của ông vua phát xít đóng ở Tirana. Suốt mấy tiếng đồng hồ, họ ngồi viết hết trang này đến trang khác, chính ở ngay cái bàn đằng kia kìa, trong khi đó, một số người khác đứng quây xung quanh, uống cà phê, hút thuốc, hết vào lại đi ra làm công việc riêng của mình, rồi lại vào hỏi xem đơn đã viết đến đâu. Nhiều bà lo lắng sai con đến xem các ông chồng có quá chén không, và tôi còn nhớ rõ hình ảnh những đứa bé đó, chúng ngơ ngác đứng ngoài cửa kính nhìn vào, cặp mắt ngái ngủ cứ díp lại, rồi sau đó chúng ra về, run rẩy trong đêm tối ẩm ướt lạnh lẽo.

Chưa bao giờ tôi đóng cửa quán muộn như đêm hôm đó. Cuối cùng, đơn đã thảo xong, một người đọc to lên. Tôi không còn nhớ rõ lắm tất cả lời lẽ viết trong đơn. Tôi chỉ biết là những người công dân bình thường của thành phố (nêu lên vô số lý do) khẩn khoản xin viên trung tướng của nhà vua hủy bỏ quyết định mở nhà thổ, vì danh dự và sự thịnh vượng của cái thành phố cổ kính của chúng tôi, vốn có những truyền thống hết sức cao quý và một lịch sử lâu đời rất xa xưa.

Hôm sau lá đơn được gửi đi.

Sự thực thì cũng có những người không thích làm kiến nghị như vậy; nói chung, họ phản đối mọi thứ đơn từ gửi cho bọn chiếm đóng. Nhưng chúng tôi không nghe họ. Chúng tôi tin chắc người ta sẽ làm một cái gì đó cho chúng tôi. Lúc bấy giờ chiến tranh mới bắt đầu, còn lắm điều chúng tôi không hiểu rõ, hoặc hiểu sai đi, vả lại, hầu hết mọi việc thời ấy cũng đều như vậy cả.

Phải nói là người ta chẳng đếm xỉa gì đến đơn thỉnh nguyện của chúng tôi. Mấy hôm sau, có bức điện đánh về: «Nhà chứa sẽ mở vì những lý do chiến lược. Chấm.» Ông nhân viên già ở sở dây thép là người đầu tiên đọc bức điện và thoạt đầu, không hiểu ý nghĩa ra sao. Một số người nói, đây là một thứ mật mã thời đó thường được dùng đến luôn, và bao giờ cũng có vẻ kỳ quặc như vậy. Thậm chí, có người còn đoán già rằng, đây là nói về việc mở mặt trận thứ hai, các từ ngữ quân sự vốn thường dùng tiếng nói lóng. Nhưng tất cả những cách giải thích ấy chẳng cách nào đúng cả và những người tối nào cũng nghe đài đều hiểu rất rõ thành ngữ «lý do chiến lược» nghĩa là gì. Sau đó, mọi sự đều sáng tỏ: đúng là người ta sắp mở một cái nhà thổ thực sự, chứ không phải mặt trận thứ hai nào hết.

Vài hôm sau, người ta được biết chi tiết hơn. Quân đội chiếm đóng sắp mở một nhà thổ và cái bọn ấy được đem từ nước ngoài đến.

Hồi ấy, trong khắp thành phố chúng tôi, đó là đề tài duy nhất cho mọi câu chuyện. Có thể là ở nhà riêng, người ta còn nói những chuyện khác nữa, nhưng ở các quán cà phê, thì suốt ngày cho mãi tới khuya, chỉ thấy bàn có mỗi chuyện đó mà thôi. Ai cũng tò mò muốn biết cái sự lạ ấy là thế nào, và nhất là cái bọn ấy coi bộ sẽ ra sao. Một số rất ít người từng sống một thời gian ở nước ngoài, đã làm thỏa mãn trí tò mò của người khác bằng cách kể cho đám ngồi quanh bàn đang chăm chú nghe, vô số chuyện về vấn đề này. Người ta thấy rõ là bên cạnh những chi tiết có thật, họ thường thêm thắt những chi tiết bịa đặt và họ thi nhau tỏ ra mình nghe họ nói chuyện về những nhà mại dâm ở Nhật Bản, ở Bồ Đào Nha, thì tưởng đâu như họ thông thạo những xứ ấy như ở nhà họ và họ biết hết tên tất cả các gái điếm trên khắp thế giới.

Những người nghe họ kể, nhất là những người có con trai đã lớn, ai nấy đều lo lắng, lắc đầu tỏ vẻ sửng sốt. Và các bà ở nhà lại càng lo không biết các bà lo cho chồng hơn hay lo cho con trai hơn. Các ông già bà cả thì coi việc này là điềm xấu nhất về thời thế; buồn phiền, đau khổ vì những dự cảm đen tối nhất, các cụ chờ đợi một sự trừng phạt của Chúa còn ghê gớm hơn nữa. Dĩ nhiên là cũng có những người khấp khởi mừng rơn, vì ở trên đời này, hạng người nào mà chẳng có, nhưng không ai dám cả gan công khai tỏ ra mừng rỡ. Trong số ấy, có những anh chồng vốn đã bất hòa với vợ, nhưng cũng có những kẻ bản tính hay lăng nhăng, và nhất là đám thanh niên chưa vợ, suốt ngày chỉ đọc ngốn chuyện tình, tối đến không còn biết làm gì cho hết thời giờ. Một số định tự an ủi mình và làm cho người khác cũng yên tâm, họ nói: như thế càng hay, từ nay bọn lính nước ngoài không còn quấy rầy con gái chúng ta nữa vì chúng đã có người của chúng. Nhưng mọi người không phải dễ mà an tâm được.

Ngay trước khi chúng mở cái nhà thổ ấy, chúng tôi cũng đã gặp nhiều tai họa rồi. Có hai người bị bắt vì lẽ đã nói rằng biện pháp này nhằm đưa lối sống ngoại lai vào để làm bôi bẩn những thuần phong mỹ tục của Albania, nó nằm trong một chương trình rộng lớn nhằm làm mất dân tộc tính và phát xít hóa nước này. Từ đó, người ta chỉ thì thầm nói chuyện với nhau, và khi nhắc đến cái nhà thổ tương lai, thì chỉ có các cụ già là dám công nhiên nguyền rủa, không sợ sệt gì cả.

Cuối cùng cái bọn ấy đến. Một chiếc ô tô nhà binh màu xanh lá cây chở họ tới. Tôi còn nhớ rõ cảnh tượng hôm ấy như thể câu chuyện chỉ vừa mới xảy ra hôm nay. Trời vừa xẩm tối, quán cà phê của tôi đông nghịt khách. Thoạt đầu, tôi không hiểu tại sao khách hàng đang ngồi quây quanh các bàn lại đứng cả dậy, đến gần các cửa kính lớn, nhìn ra ngoài về phía quảng trường trước tòa thị chính. Sau đó, có vài người đổ xô ra phố, những người khác nhao nhao hỏi có chuyện gì thế. Nhiều bàn, khách đứng dậy đi hết. Đây là lần đầu tiên, số khách đứng dậy đi ra mà không trả tiền nhiều đến như vậy. Tôi không kìm nổi tò mò nữa, cũng chạy ra. Nhiều người khác cũng rời khỏi quán cà phê phía trước mặt và câu lạc bộ những người đi săn, ra đứng túm tụm trên quảng trường, trên vỉa hè để nhìn sự việc xảy ra. Chiếc xe tải đỗ đúng ngay trước đài liệt sĩ của thành phố, đối diện với tòa thị chính, và cái bọn ấy, vừa bước chân xuống khỏi xe, là đưa mắt nhìn quanh, tỏ vẻ ngạc nhiên. Bọn chúng có sáu đứa, đứa nào cũng có vẻ mệt mỏi, người còn ê ẩm sau chuyến đi xa. Những người tò mò đứng xem xung quanh trố mắt ra nhìn, như thể đây là những loài thú hiếm có, còn bọn ấy, chúng vừa trò chuyện với nhau vừa bình tĩnh nhìn lại với một nụ cười thản nhiên. Có lẽ bọn chúng ngạc nhiên khi thấy bất thình lình bị rơi vào cái thành phố kỳ dị này, toàn bằng đá, vì thành phố chúng tôi vào lúc hoàng hôn, nom có phần nào quái dị thực, với những bức tường thành, những ngọn tháp lặng lẽ của giáo đường Hồi giáo nóc nhọn, hoặc lợp tôn cao vút, lấp lánh dưới ánh chiều tà.

Trong lúc đó, khu quảng trường đã đông nghịt người, phần lớn là trẻ con; chúng ê gọi và nói với bọn gái điếm mấy câu học lỏm được của tụi lính. Người lớn xua lũ trẻ đi và lặng lẽ đứng nhìn bọn gái điếm, không nói một lời… Chúng tôi thật tình cũng không hiểu lúc đó trong lòng mình cảm xúc ra sao. Điều duy nhất chúng tôi hiểu rõ buổi tối hôm ấy, là tất cả những gì người ta kể cho chúng tôi nghe về các nhà thổ ở Tokyo hoặc ở Honolulu, đều khác xa với cái cảnh đang diễn ra trước mắt; đây là một cái gì khác hẳn những câu chuyện chúng tôi đã được nghe kể lại, một cái gì thấm thía hơn, đáng buồn và thảm hại hơn.

Bọn gái điếm ngoan ngoãn như đàn cừu đi theo mấy người nước ngoài và một nhân viên tòa thị chính về phía khách sạn, một lũ trẻ ùa theo sau. Đêm hôm đó, những «bà khách kỳ dị» của thành phố chúng tôi ngủ tạm tại đấy.

Hôm sau, người ta đưa họ đến ở một ngôi nhà ba tầng, xung quanh có một mảnh vườn nhỏ, ở ngay chính giữa thành phố. Ngoài cửa có treo một tấm bảng ghi ngày giờ ấn định việc tiếp khách dân thường và khách quân nhân. Cái bảng này cũng mãi về sau chúng tôi mới trông thấy, chứ thời gian đầu, không ai lai vãng đến phố này, như thể ở đây đang có bệnh dịch hạch hoành hành. Phố vắng tanh, không còn ai qua lại. Ngay mãi về sau, khi đã có người qua lại rồi, chúng tôi vẫn thấy cái phố ấy là phố xấu nhất, quái dị nhất, nhớp nhúa nhất thành phố. Chúng tôi coi nó như một cái gì xa lạ, ô uế, tàn tạ, như một đứa con gái hư đốn vậy! Rồi, người ta đặt một tên cảnh sát đứng gác để rình xem những ai tránh đường không muốn qua đó, và dần dần, ít ngày sau, bắt đầu lại có người đi qua; thoạt tiên, chỉ có mấy đứa trẻ con, sau đến người lớn, vì dù sao thì cũng phải lo làm ăn, làm gì có thì giờ đi vòng mấy phố nhỏ bên cạnh cho thêm dài đường. Duy chỉ có mấy cụ già là thề, muốn ra sao thì ra, nhất định không bao giờ các cụ đi qua cái phố ấy nữa.

Thực là những ngày đen tối đầy rẫy lo âu đối với tất cả mọi người. Thành phố chúng tôi xưa nay không hề biết đến đĩ điếm là gì, và cũng rất hiếm khi có những vụ tai tiếng ầm ĩ trong gia đình vì ghen tuông hay phụ bạc. Thế mà giờ đây, bất thình lình, có cái vết nhơ đó ở ngay chính giữa thành phố. Nỗi hoang mang lo lắng lúc đầu của mọi người khi biết tin này thực không thấm vào đâu so với nỗi hoảng hốt của họ khi thấy cái nhà thổ giờ đây thực sự mở cửa. Đàn ông, ai nấy đều về nhà thật sớm và tối đến, các quán cà phê cũng hết khách rất sớm. Hễ thấy chồng hoặc con trai về muộn là các bà mẹ và các bà vợ lo lắng đến phát cuồng. Bọn gái điếm nọ chẳng khác gì một cái u độc ở ngay giữa thành phố. Không ai còn giữ được bình tĩnh nữa. Nhưng nhiều ông và nhiều thanh niên, không phải lúc nào cũng che giấu được cái vẻ bối rối trong con mắt.

Thoạt đầu, tất nhiên là không có ai đi lại nơi đó. Bọn gái điếm hẳn ngạc nhiên, và cho người dân ở đây phải kỳ quặc lắm nên mới ít hám đàn bà đến thế. Cũng có thể chúng cũng hiểu rằng vì chúng là người nước ngoài nên người dân ở đây coi chúng cũng như đám quân chiếm đóng, kẻ thù của mọi người.

Kẻ đầu tiên đến cái nhà thổ ấy là thằng vô lại Lame Spiri: Ngay chiều hôm nó đến đấy lần đầu tiên, đã có tin loan truyền ngay đi, đến nỗi lúc nó ra, cửa sổ các nhà gần đấy đã đầy những người, trố mắt nhìn nó như thể nhìn thấy Chúa sống lại.

Thằng Lame Spiri vênh váo đi ngoài phố, chẳng hề tỏ ra ngượng nghịu chút nào. Thậm chí, nó còn giơ tay vẫy một con gái điếm đang đứng tì tay lên bậu cửa sổ nhìn theo nó. Vừa lúc đó, một bà cụ từ trên cửa sổ hắt cả một chậu nước xuống, nhưng không trúng người nó. Các bà già tự bấu má mình, nguyền rủa bọn gái điếm bằng cách dang thẳng cánh tay, bàn tay giơ lên, năm ngón tay xòa ra chĩa về phía kẻ bị nguyền rủa, đó là cái lối nguyền rủa đặc biệt của các bà phụ nữ nước chúng tôi. Nhưng bọn gái điếm chắc không hiểu cử chỉ ấy, nên phá ra cười.

Sự thể lúc đầu là như vậy. Về sau, người ta cũng quen dần với tình hình mới. Thậm chí, có những kẻ, nhân một buổi tối trời nào đó, đã lẻn đến cái nhà đã gây ra bao nhiêu nỗi khổ tâm cho chúng tôi ấy. Có thể nói là bọn gái điếm đã nhập dần vào cuộc sống của chúng tôi.

Nhiều khi, vào buổi tối, chúng ra đứng ở ban công. Chúng hút thuốc lá, lơ đãng nhìn những ngọn núi xung quanh, trong lòng hẳn nhớ tới quê hương xa vắng. Chúng đứng như vậy rất lâu, trong bóng tối, cho đến khi tít trên đỉnh tháp giáo đường, ông tu sĩ Hồi giáo cất tiếng đều đều tụng kinh và tất cả mọi người đã ai về nhà nấy.

Ít lâu sau, thái độ hằn học của chúng tôi đối với chúng không còn nữa. Thậm chí, có những người còn thương hại chúng. Họ bênh chúng, nói rằng thực ra chúng cũng chỉ là bị động viên, hoàn toàn không khác gì bọn lính và được quân đội của chúng đài thọ. Đôi khi vì chúng mà xảy ra một vài tai họa, chẳng hạn, một em học sinh bị bắt vì đã nói câu «quân sự hóa bọn đĩ». Nhưng những con người khốn khổ ấy, chúng làm thế nào được, đâu phải lỗi tại chúng?

Vậy là hình như người ta cũng quen dần với sự có mặt của lũ gái điếm. Người ta không còn cảm thấy sỉ nhục những khi bất chợt gặp chúng trong một cửa hàng, hay ở nhà thờ vào hôm chủ nhật; chỉ trừ có các bà cụ già là ngày đêm còn cầu nguyện cho một quả bom «của người Anglo», như các cụ vẫn gọi, giáng xuống cái nhà ma quỷ ấy.

Ai nấy đều bận công việc, trong cuộc sống có biết bao nhiêu điều phiền muộn, chuyện này cũng chỉ là một phiền muộn cộng vào con số bao nhiêu những phiền muộn khác mà thôi.

Mà bọn chúng nào có sung sướng gì cho cam!

Mặt trận Ý-Hy không xa lắm, đêm đêm ở đây nghe rõ tiếng đại bác rền. Thành phố chúng tôi là chỗ dừng chân cho những đội quân mới đi ra mặt trận thay thế những đơn vị đã mệt mỏi, và cho bọn ở ngoài mặt trận trở về.

Nhiều khi, trước cửa nhà thổ có treo tấm bảng đề chữ: «Ngày mai không tiếp khách dân thường»; mọi người đều hiểu rằng ngày hôm sau sẽ có chuyển quân, mặc dầu lời yết thị ấy hoàn toàn vô ích, vì không có một người thường dân nào lui tới nơi đó ban ngày, nhất là khi có mặt tụi lính thì lại càng không có một ai, tất nhiên, trừ tên vô lại Lame Spiri, vốn vẫn ra vào tự do nơi đấy, bất cứ lúc nào.

Hồi ấy, đôi khi chúng tôi cũng tạt qua đấy để xem bọn lính ở ngoài mặt trận về, đứa nào đứa nấy nom bẩn thỉu, đầu tóc xồm xoàm, chúng đứng nối đuôi nhau trước cửa nhà thổ. Ngay khi trời mưa, chúng cũng mặc, nhất định không bỏ hàng và quả thật, đánh bật chúng khỏi chiến hào còn dễ hơn là đuổi chúng rời khỏi hàng nối đuôi nhau ngoằn ngoèo, thiểu não, dài vô tận này. Để khỏi sốt ruột trong lúc chờ đợi dưới mưa, bọn chúng bông đùa tục tĩu, gãi ngứa, bắt rận, văng ra những lời thô lỗ, cãi cọ nhau về thời gian mấy phút của chúng trong kia. Hẳn lũ gái điếm nọ cũng chẳng vui gì, nhưng đành là phải chịu, vì nói cho cùng, chúng cũng là bị động viên cả.

Về xế chiều, hàng người nối đuôi nhau cũng ngắn dần. Cuối cùng, tên lính sau chót ra đi, phố xá trở lại yên tĩnh. Thường thường, cứ sau những ngày vất vả đó, bọn gái điếm, coi bộ đứa nào cũng mệt lử, nước da vàng ệch, vẻ mặt nom bơ phờ hơn bao giờ hết. Tưởng như bọn lính ở ngoài mặt trận về đã trút lên những đứa con gái đau khổ ấy, tất cả những nỗi phiền muộn, ủ rũ của chúng, cùng với mưa gió, bùn lầy, và những thất bại ngoài chiến hào, để rồi sau đó, ra đi nhẹ nhõm, thỏa mãn, như đã trút được một gánh nặng; còn bọn gái điếm thì cứ phải ở lại đây, trong thành phố chúng tôi, cách mặt trận không bao xa, để đợi những tên lính khác, để nuốt cho kỳ hết mọi nỗi đắng cay của đạo quân rút lui.

Có lẽ tình hình đó sẽ còn kéo dài một thời gian lâu, và sẽ chẳng có gì khác thường xảy ra vì dẫu sao thì cuộc sống vẫn cứ phải tiếp tục. Có thể suốt thời gian chiến tranh, bọn gái điếm đó cứ ở trong thành phố chúng tôi để nhìn những ngày tẻ ngắt của chúng trôi đi với tiếng cầu kinh kéo dài của mấy vị hodja, và để tiếp những đoàn lính dài dằng dặc mà sau đó số phận sẽ tung đi không biết đến những nơi đâu. Phải, mọi sự rất có thể sẽ qua đi như vậy, nếu không có chuyện đứa con trai ông Ramiz Kurti bỗng một hôm đòi bỏ lời hứa hôn với cô vợ chưa cưới.

Thành phố chúng tôi không to nên những sự việc như vậy gây dư luận rất lớn. Vì phải nói rằng trong khắp nước, hiếm có thành phố hoặc làng mạc nào có ít đám vợ chồng ly dị nhau hơn ở chúng tôi. Việc đứa con trai ông Ramiz từ hôn người vợ chưa cưới đã gây tai tiếng ầm ĩ. Mấy hôm liền, toàn thể họ hàng nhà ông Ramiz họp mặt đông đủ ở nhà ông ta để bàn bạc về việc này, và bằng đủ mọi thứ dọa nạt, họ bắt con trai ông Ramiz phải đính hôn lại với cô vợ chưa cưới. Nhưng anh con trai khăng khăng không chịu, mặc cho gia đình dọa nạt nài nỉ. Nhưng, có cái tệ nhất là nó không chịu nói tại sao nó muốn cắt đứt, gia đình đã gắng công dò hỏi mà vẫn không tìm ra nguyên nhân. Cả ngày nó cứ ngồi rũ ra đấy, lặng lẽ đăm chiêu, người cứ mỗi ngày một gầy rạc, nước da tái xám đi trông thấy, như phải bùa phải bả.

Trong lúc đó, gia đình người con gái đến thúc ép đòi biết lý do. Họ hàng bên cô gái cũng đông như bên nhà trai, họ cũng họp nhau lại để bàn về việc này. Hai lần họ cho người sang nhà ông Ramiz hỏi lý do về chuyện cắt đứt, nhưng đều không được trả lời; người bên nhà gái bực bội ra về, ngỏ ý họ sẽ không chịu để ai giày xéo lên danh dự của họ. Thế có nghĩa là vũ khí sẽ thay thế cho lời nói. Mà quả thực, đã có tiếng súng nổ, nhưng khác hẳn với tiếng súng mà người ta vẫn e ngại.

Đúng vào hồi đó, khi đại diện hai gia đình đang bàn cãi lần cuối cùng, và khi cả hai bên đều cảm thấy tình thân thiết cũ được cuộc đính hôn giữa hai trẻ ngay từ lúc chúng còn ở trong nôi thắt chặt thêm, giờ sắp biến thành mối hằn thù, thì người ta được rõ nguyên nhân thực sự của sự tan vỡ này. Kể thì cũng đơn giản thôi, nhưng thực xấu hổ. Thằng con trai ông Ramiz phải lòng một con gái điếm.

Về sau, chúng tôi vắt óc suy nghĩ để đoán ra thực chất mối quan hệ giữa thằng ấy với con gái điếm nước ngoài kia. Có thực nó yêu con ấy không? Hay con ấy mê nó? Có trời biết được mối quan hệ giữa hai đứa là thế nào. Không bao giờ người ta biết được sự thực ra sao.

Ngay hôm cái tin đó lan ra thì vào lúc xẩm tối, ông Ramiz Kurti, mặt tái nhợt, đầu trần, tay chống gậy từ phố trên đi xuống chỗ nhà thổ. Ông ta bước đi, con mắt trân trân như cục băng, lúc đó ông cụ chắc không còn tỉnh táo lắm. Các ông thử tưởng tượng xem, bọn gái điếm ngạc nhiên biết mấy khi chúng thấy một ông cụ già gương mặt tái nhợt, cầm gậy đẩy cánh cửa chấn song sắt của mảnh vườn nhỏ để vào nhà. Chúng đang ngồi cả trên hiên, và khi ông cụ trèo lên bậc tam cấp, thì một đứa bật lên cười, nhưng không hiểu sao, những ý nghĩ đùa giỡn của những đứa khác đã ngừng lại trên môi chúng và chúng nín lặng, im phăng phắc. Ông cụ lấy gậy chỉ vào con bé đã dan díu với con trai mình (chắc hẳn nhìn mái tóc nó, ông đã nhận ra), con bé ngoan ngoãn đi vào trong phòng, chắc nó tưởng ông cụ cũng là một khách làng chơi bình thường nào đó. Ông cụ vào theo. Rồi lúc con bé bắt đầu cởi quần áo, nó ngẩng đầu lên nhìn thấy gương mặt khác thường của ông cụ nom như mặt nạ hình nhân thì nó kinh hoàng hét lên. Giá con bé không hét lên như vậy thì có thể ông cụ cũng không rút súng ra bắn. Tiếng nó hét đã làm ông Ramiz như tỉnh lại. Ông cụ bắn ba phát rồi quẳng súng xuống đất, quay ra, lảo đảo như người say rượu, giữa tiếng la hét của lũ gái điếm.

Ba ngày sau, ông già Ramiz bị treo cổ, đứa con trai biến mất.

Hồi ấy đang độ tháng mười, giá lạnh từ các hẻm núi xung quanh thành phố thổi về suốt ngày đêm. Tuy nhiên, đám ma của đứa gái điếm vẫn có đủ cả hoa, vòng hoa, âm nhạc và súng bắn chào. Bọn phát xít đã lùng ngoài phố và trong các tiệm cà phê, lùa được một số người, ép phải tham gia vào đám đưa ma cho thêm đông. Chúng tôi bước đi lặng lẽ, gió quất vào mặt buốt như cắt. Xác con bé được đặt trên một chiếc xe nhà binh, trong một chiếc quan tài đẹp màu đỏ. Quân nhạc cử một bản nhạc tang hành, và đám gái điếm, bạn của nạn nhân, khóc rưng rức. Chưa bao giờ nhân dân thành phố chúng tôi đi theo linh cữu một người đàn bà nước ngoài, mà lại là cái hạng đàn bà ấy. Chúng tôi cảm thấy như choáng váng và trong lòng trống rỗng. Tôi nhìn những đám mây bay cao trên trời và vừa đi vừa nghĩ đến số phận của con bé. Ai biết được số phận ác nghiệt nào đã xô đẩy con bé khốn khổ ấy từ một nơi xa xôi theo bọn lính mũ sắt kia và, sau khi lang bạt hết thị trấn này đến thị trấn khác ở hậu phương, nó đã tới thành phố chúng tôi, nơi số phận đã định cho nó sẽ phải kết thúc cuộc đời của nó và kéo theo thêm mấy mạng khác. Có lẽ cũng như nhiều đứa khác, nó lầm tưởng có thể tô điểm thêm một chút cho cuộc sống của nó, vì con người ta, dẫu sao thì cũng vẫn hy vọng cải thiện được số phận của mình, dù cho cái số phận ấy có buồn thảm đến đâu đi nữa.

Người ta chôn nó ở nghĩa trang quân nhân, «nghĩa trang những người anh em», như người ta vẫn thường gọi, và đặt trên mộ nó tấm bia bằng đá hoa mà ông nhìn thấy sáng nay. Trên bia, người ta có ghi cái câu đã trở thành công thức: «Đã hy sinh cho tổ quốc», như người ta vẫn thường đọc thấy ở đầu mộ mọi người lính.

Mấy hôm sau, có lệnh từ thủ đô xuống và cái nhà thổ bị đóng cửa. Tôi còn nhớ rõ như mới hôm nay cái buổi sáng lạnh giá đó, bọn gái điếm, tay xách vali, đến quảng trường tòa thị chính đợi chiếc xe nhà binh đến chở đi. Khách qua đường ai cũng đứng lại nhìn. Chúng đứng sát vào nhau, cổ áo khoác ngoài bẻ cao vì trời lạnh, nom chúng tiều tụy, ngơ ngác hơn bao giờ hết.

Chúng trèo lên chiếc xe tải và khi xe chuyển bánh, có mấy người rụt rè khẽ vẫy tay chào tiễn. Chúng vẫy tay chào lại, nhưng cử chỉ của chúng không phải là cử chỉ thường thấy ở hạng đàn bà làm nghề đó, đây là một cái gì rất khác, khiến người ta cảm thấy nó ngậm ngùi một vẻ cay đắng, mệt mỏi. Chúng tôi đứng đấy nhìn theo lòng vẫn không thấy vì thế mà nhẹ nhõm đi chút nào. Trước kia, quả tình chúng tôi đã có lúc nghĩ rằng chúng nó mà đi, chúng tôi sẽ mở tiệc ăn mừng. Nhưng giờ đây, sự tình lại diễn ra khác hẳn. Chúng nó ra đi nhưng chúng tôi sẽ được lợi gì. Chiến tranh vẫn hoành hành khắp nơi, bọn phát xít vẫn đứng gác ngay trước cửa nhà chúng tôi, và chúng tôi chẳng hy vọng sẽ được gì hơn dưới ách bọn chiếm đóng.

Có trời biết được những người con gái xấu số ấy bị đưa đi đâu, chắc hẳn là đến một thành phố nào khác, ở gần mặt trận, nơi nghỉ tạm một đêm của bọn lính đi ra mặt trận, hoặc từ ngoài mặt trận rút về. Và cuộc sống của chúng sẽ lại đầy rẫy những hàng lính tráng dài dằng dặc; những tên lính mệt lử, bẩn thỉu ấy sẽ lại trút xuống đầu chúng, tất cả những nỗi đắng cay và sự ẩm ướt mang từ ngoài mặt trận về.

Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 26 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.