Viên Tướng Của Đạo Quân Chết

Lượt đọc: 215 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
CHƯƠNG III

❊ ❊ ❊

HAI mươi ngày sau, họ trở về Tirana.

Trời đã sẩm tối. Chiếc xe màu xanh lá cây đỗ trước cửa khách sạn «Dajti», dưới chân dẫy những cây thông cao to sừng sững trước mặt tòa nhà. Viên tướng xuống xe đầu tiên. Nom ông có vẻ mệt mỏi, ủ rủ, nét mặt bơ phờ. Ít ra thì hình dáng ông cũng có vẻ như vậy dưới ánh đèn neon của chiếc biển mang tên khách sạn. Ông dừng lại một lát nhìn chiếc xe chằm chặp. «Ít ra thì cũng phải lau chỗ bùn kia đi chứ», ông cáu kỉnh nghĩ bụng. Nhưng họ vừa về tới đây, ông không thể trách người lái xe về chuyện xe bẩn. Viên tướng biết rõ thế lắm, nhưng vẫn cứ gạt những lý lẽ ấy đi.

Ông bước nhanh trên bậc tam cấp lớn trước cửa, vào phòng giấy của khách sạn lấy thư từ sách báo, xin nói chuyện điện thoại với gia đình, sau đó, thong thả trở về buồng. Ông linh mục thì lên thẳng buồng của mình.

Một giờ sau. Sau khi đã tắm rửa và thay quần áo, cả hai xuống ngồi trước một cái bàn trong phòng khách ở tầng dưới.

Viên tướng gọi lấy cognac, ông linh mục gọi sôcôla. Hôm ấy là ngày thứ bảy. Từ quán rượu ở tầng dưới hầm vẳng lên tiếng nhạc khiêu vũ. Chốc chốc, lại thấy ở cuối phòng khách thấp thoáng từng cặp thanh niên nam nữ đi xuống quán rượu hoặc đi lên. Cả trong phòng công cộng cũng có nhiều người đi lại. Với những tấm rèm sẫm màu và những chiếc ghế bành to, phòng khách ở đây có vẻ khắc khổ.

- Thế là cuối cùng, chuyến đi đầu tiên của chúng ta đã kết thúc, viên tướng nói.

- Vâng, thế là kết thúc.

- Ông nghĩ thế nào, liệu chúng ta có thể hoàn thành được công việc này trong vòng một năm như đã sự kiến không?

- Tôi cũng chẳng biết nữa, ông linh mục trả lời, vẻ dửng dưng. Cái đó cũng còn tùy ở những khó khăn mà sau này chúng ta gặp phải, tùy ở thời tiết nữa. Nhưng, dù sao, tôi cũng hy vọng là vào khoảng này sang năm, chúng ta sẽ xong công việc.

- Tôi cũng nghĩ như vậy, viên tướng nói. Buổi đầu, chúng ta còn tìm kiếm ở những vùng phụ cận thành phố, nhưng về sau, khi đi về các vùng thôn quê ở sâu trong đất nước của họ, khó khăn sẽ ngày càng nhiều, nhất là khi về những vùng miền núi hẻo lánh.

- Về phương diện này thì ông biết rõ hơn tôi, ông linh mục nói.

- Lên miền núi thì sẽ gay đấy.

- Chính tôi cũng lo như thế.

- Nhưng công việc của bọn họ đến đấy cũng không dễ dàng gì.

- Vâng, đúng thế.

- Ngày mai tôi sẽ nghiên cứu lại một lần nữa các bản đồ để ấn định chương trình cho chuyến đi thứ hai của chúng ta.

- Miễn là thời tiết đừng có xấu.

- Làm thế nào được. Mùa này bao giờ cũng thế.

Ông linh mục lặng lẽ uống sôcôla, cầm cái tách bằng ngón tay cái với ngón trỏ; ngón tay ông thon, dài.

«Một con người điển trai thực», viên tướng nghĩ thầm, vừa ngắm nhìn gương mặt trông nghiêng nghiêm trang và lạnh lùng của ông linh mục. Rồi đột nhiên, ông tự nhủ thầm: «Hắn có quan hệ gì với người vợ góa của viên đại tá? Nhất định phải có chuyện gì giữa hai người. Mụ ta đẹp, đẹp quyến rũ là đằng khác, nhất là lúc mặc áo tắm.» Ông nhớ lại cái lần ông nói bóng gió về ông linh mục, mụ ta đã không giữ được đỏ mặt lên và cúi nhìn xuống. «Quan hệ giữa hai người có thể là thế nào nhỉ?» Viên tướng lại tự hỏi thầm, mắt không rời gương mặt người bạn đồng hành. Rồi ông nói to, giọng ra vẻ thản nhiên.

- Chúng ta đã gắng hết sức mà vẫn chưa tìm thấy hài cốt ông đại tá Z.

- Nhưng chưa phải là chúng ta đã hết hi vọng, ông linh mục nghiêng đầu đáp lại. Tôi vẫn tin ta sẽ tìm được.

- Cái đó cũng khó đấy, vì chúng ta không biết rõ trường hợp ông ta chết ra sao.

- Quả thế, không phải dễ dàng gì, ông linh mục sẵng giọng trả lời, nhưng chúng ta chỉ mới bắt đầu công việc tìm kiếm, còn nhiều thời gian.

«Quan hệ giữa hắn với người vợ góa của viên đại tá đã đi xa đến đâu rồi nhỉ? Viên tướng lại tự hỏi thầm. Mình rất muốn biết tay cố đạo này dám đi xa đến đâu với một người đàn bà đẹp». Rồi ông nói to:

- Với bất kỳ giá nào chúng ta cũng phải tìm cho bằng được hài cốt của ông đại tá. Hài cốt của các sĩ quan cao cấp đều đã được đưa về nước từ lâu rồi. Duy chỉ còn mỗi ông này là chưa được đưa về. Mà gia đình ông ta thì đang lo lắng, ngóng đợi kết quả công việc tìm kiếm của chúng ta, nhất là bà vợ ông ta.

- Vâng, ông linh mục nói, bà ấy rất quan tâm đến việc này.

- Ông đã đến xem phần mộ của ông đại tá chưa, gia đình ông ta đã xây một phần mộ bằng đá cẩm thạch rất lộng lẫy.

- Có, tôi có đến xem trước khi đi.

- Một công trình thực nguy nga, viên tướng nói tiếp, với một pho tượng và những luống hoa hồng, hồng đỏ hồng trắng ở bốn xung quanh. Vâng, chỉ phải cái bên trong còn rỗng.

Ông linh mục nín thinh.

Cả hai người im lặng một hồi lâu. Viên tướng nhấp nháp cốc cognac, và thong thả đưa mắt nhìn xung quanh; càng nhìn ông càng thấy không khí xung quanh xa lạ với ông biết chừng nào. Ông bỗng cảm thấy mình cô độc quá. Cô độc giữa đám mồ mả những người đồng hương của ông đã chết. Trời ơi! Ông muốn xua đuổi khỏi đầu óc hình ảnh những ngôi mộ ấy, hài cốt của những người «anh em» của ông, kiên quyết không nghĩ đến những cái ấy nữa. Mười lăm ngày vừa qua cùng với ông linh mục, ông sống giữa đám mồ mả hài cốt ấy đã đủ lắm rồi. Giờ đây, ông muốn thoát ra ngoài những cái đó, thậm chí, không muốn nhớ đến nó nữa. Đây là chiều thứ bảy, ông muốn làm một cái gì để giải trí, để tiêu khiển một chút. Nhưng, một thân một mình với tay linh mục câm như hến và đen như quạ ngồi trước mặt kia, ông biết làm gì được! Ông những muốn đi khiêu vũ một cái, ừ, sao lại không được nhỉ? Nhưng, là một viên tướng nước ngoài, lại thêm đang lãnh nhiệm vụ công tác của chính phủ giao cho, thì như vậy liệu có phải là không đúng lúc không? Mà nhiệm vụ đó lại có tính chất tang tóc nữa. Ông thấy bực bội. Hoặc giả, có thể là do mệt mỏi chăng. Dẫu sao, ông cũng thấy mình không thể nào lại đi khiêu vũ được. Nhất là ông lại đang sống giữa những người trước đây đã đánh nhau kịch liệt với binh sĩ nước ông. Hai bên đã từng bắn giết nhau dữ dội. Phải, ông rất mệt. Nào là những con đường lầy lội, những ngôi mộ quánh bùn, chỗ thì chồng chất lên nhau, chỗ thì tản mát lung tung, cái thứ bùn muôn thuở hết sức ngán ấy, những lô cốt phá dở dang (cũng như những người lính chỉ còn lại bộ xương). Rồi lại những chuyện nhầm lẫn, vì có những ngôi mộ của quân nhân nước khác nằm chen vào mộ binh sĩ nước ông, nào là những biên bản phải lập, những hóa đơn phải thanh toán với đại diện các tòa thị chính, những thủ tục về trả ngoại tệ cho ngân hàng, biết bao nhiêu là chuyện phiền nhiễu dồn đến cùng một lúc! Cái phức tạp nhất là hài cốt của quân đội nhiều nước khác nhau. Nhiều khi giữa các nhân chứng cũng có những ý kiến mâu thuẫn. Các cụ già thường lẫn lộn các sự kiện, các trận đánh của cuộc chiến tranh này với cuộc chiến tranh khác. Không có gì là chắc cả. Nắm vững đúng sai, họa chăng chỉ có đám bùn nhão kia mà thôi.

Viên tướng lại uống một hớp rượu.

- Với tất cả các thứ quân đội thế này thì đến rối mù mất, ông nói khẽ như nói riêng một mình.

Ông đưa mắt nhìn quanh. Phòng khách vẫn yên tĩnh như mọi khi. Chỉ có một tốp thanh niên ngồi đằng xa, về một phía gian phòng, họ đang kể cho nhau nghe một câu chuyện gì đó, chốc chốc lại phá ra cười. Ông chỉ nhìn thấy lưng họ. Tít đằng cuối phòng, một cặp thanh niên, một nam một nữ, ý hẳn vợ chồng sắp cưới, đang ngồi sát bên nhau. Họ chỉ nhìn nhau, họa hoằn mới trao đổi với nhau vài lời. Anh chàng thanh niên có cái đầu hình dáng đều đặn, trán cao và bẹt, hàm dưới hơi bạnh! «Kiểu dân miền Alps», viên tướng nghĩ thầm.

Người bán rượu đứng sau quầy. Đầu hắn tròn xoe, vẻ mặt bình thản, in hình nổi bật giữa hai cái đĩa to chất đầy táo và cam.

Một người mảnh dẻ tay xách cặp bước vào, đến ngồi bên một cái bàn gần đài thu thanh.

- Cũng cho như mọi khi nhé, người ấy bảo người bán rượu.

Trong lúc người bán hàng pha cà phê, người khách rút trong cặp ra một cuốn vở lớn và bắt đầu viết. Quai hàm ông ta hẹp, đôi má phẳng. Lúc ông ta rít thuốc lá, hai má hóp lại, làm nổi rõ đường nét quai hàm.

- Ra người Albania là như thế đấy, viên tướng nói, như thể tiếp tục một cuộc bàn cãi vừa bị ngắt quãng. Những con người y hệt như những con người khác. Trông họ, không ai ngờ được trong chiến đấu họ lại hung tợn như thú dữ vậy.

- Ồ, trong chiến đấu họ thay đổi khác hẳn!

- Mà dân số của họ cũng chẳng nhiều nhặn gì.

- Chẳng phải ít ỏi lắm như ông tưởng đâu, ông linh mục nói.

- Một người nữa, trán cũng bẹt, bước vào phòng khách.

- Công việc chúng ta đang phải làm thực ma quái quá! Viên tướng nói. Bây giờ, ra đường phố hoặc vào tiệm cà phê, gặp ai tôi cũng không thể không tự hỏi ngay sọ người ấy hình thù ra sao. Ông hiểu rõ tôi chứ! Mấy ngày hôm nay, tôi không còn trông thấy những đầu người nữa, mà toàn là những cái sọ đặt trên vai người mà thôi. Ông tính thế có kỳ quặc không?

- Xin ông thứ lỗi, cho phép tôi nhận xét rằng có lẽ ông uống rượu hơi quá nhiều đấy, ông linh mục nhã nhặn nói, đôi mắt xám nhìn viên tướng chằm chặp. Lúc đó, viên tướng có cảm giác màu cặp mắt đó hòa lẫn với màu màn ảnh chiếc máy vô tuyến truyền hình đặt ở tít cuối phòng khách. «Của một chiếc máy vô tuyến truyền hình không hoạt động bao giờ hết!» Viên tướng nghĩ thầm. «Hoặc, của một màn ảnh, trên đó lúc nào cũng chỉ chiếu đi chiếu lại có mỗi một chương trình hoàn toàn không thể hiểu nổi».

Ông nhìn cái cốc trong suốt một lát, vừa quay quay nó trong tay.

- Thế theo ý ông thì tôi phải làm gì bây gì? Ông nói, giọng có phần cáu kỉnh. Ông định khuyên tôi làm gì nào? Hay là đi chụp ảnh để lúc về đưa cho vợ xem, hay viết nhật ký ghi lại những cái lạ ở xứ này? Hở ông? Ông bảo thế nào?

- Tôi không nói như vậy. Tôi chỉ xin lưu ý ông là có lẽ ông uống rượu hơi quá nhiều đấy thôi.

- Còn tôi, tôi lấy làm lạ là ông không uống, rất lạ!

- Tôi không hề uống rượu bao giờ, ông linh mục nói.

- Đấy không phải là một lý do để bây giờ không uống.

Ông hãy làm như tôi đây, chiều chiều, cứ uống rượu để quên đi những cái mình đã trông thấy ban ngày.

- Tại sao tôi lại phải quên đi những cái tôi trông thấy ban ngày?

- Vì chúng ta cùng một tổ quốc với những người xấu số kia, viên tướng nói, đập đập ngón tay xuống chiếc cặp. Ông không thương xót họ sao?

- Xin ông đừng sỉ nhục tôi, ông linh mục nói. Tôi thiết tha gắn bó với tổ quốc cũng không kém gì ông.

Viên tướng mỉm cười.

- Ông có biết không? Tôi thấy những lời lẽ chúng ta trao đổi với nhau ba ngày hôm nay giống y hệt những mẩu đối thoại trong những vở kịch hiện đại, tuy những vở đó thật ra rất tẻ.

Ông linh mục cũng mỉm cười.

- Sự đời nó vẫn thế đấy. Lời lẽ của bất kỳ ai, về một khía cạnh nào đó, bao giờ cũng giống đối thoại trong những vở bi hoặc hài kịch.

- Ông có thích sân khấu ngày nay không?

- Có, trong một chừng mực nào đó.

Viên tướng nhìn chằm chằm vào cặp mắt ông linh mục hồi lâu rồi mới nhìn đi chỗ khác.

- Tội nghiệp những người lính xấu số của tôi, thốt nhiên ông nói như vừa tỉnh một giấc mơ. Nghĩ đến họ mà lòng tôi đau xót. Tôi có cảm giác, lúc này tôi như một ông bố nuôi chăm sóc lũ con của những người khác đã vứt bỏ lại. Đôi khi, người ta thương những đứa con này hơn cả con đẻ. Nhưng tôi làm gì được cho họ bây giờ? Làm thế nào để trả thù được cho họ?

- Tôi cũng rất đau lòng, ông linh mục nói. Nhưng, nếu trái tim tôi có chảy máu, thì nó cũng sôi lên vì căm hờn.

- Vẻn vẹn mấy bản danh sách và mấy tờ biên bản này trong tay, chúng ta hoàn toàn bất lực. Chúng ta phải đi tìm kiếm từng người một. Đến nông nổi này thực buồn quá!

- Số mệnh là thế.

Viên tướng lắc đầu.

«Lại y như trên sân khấu», ông tự nhủ. «Tay linh mục này cứ như là gỗ đá ấy», ông nghĩ bụng. «Nhưng, dẫu sao mình vẫn muốn biết lão ta có gỗ đá như thế với người vợ góa đẹp của đại tá Z không?» Ông cố hình dung xem ông linh mục xử sự ra sao khi còn có một mình với một người đàn bà đẹp như vậy, y sẽ vén cái áo thầy tu như thế nào để quỳ xuống trước người đẹp. «Chỉ do mụ ấy thích hắn hay là mụ hám lợi? Có thực có chuyện gì giữa hai người không?… Mà nghĩ cho cùng, cái đó có quan hệ quái gì đến mình!…» ông nghĩ bụng.

Có tiếng nói ở chỗ đài thu thanh của phòng khách khiến ông chú ý. Ông lắng tai nghe. Ông thấy tiếng Albania cộc cằn thế nào ấy. Ông đã nhiều lần nghe thấy những người nông dân Albania đến giúp việc bốc mộ nói với nhau tại các nghĩa địa. «Và những người đã chết kia, chắc hẳn cũng đã từng nghe thấy cái thứ tiếng nói oan nghiệt ấy… Có lẽ đây là buổi phát thanh tin tức», ông thầm nghĩ. Thực vậy ông nghe được mấy tiếng quen quen như: «Tel Aviv, Bonn, Lào…»

«Biết bao nhiêu là thành phố rải rác trên khắp trái đất!» ông nghĩ bụng, và đầu óc ông lại nghĩ đến tất cả những người lính từ biết bao xứ sở khác nhau kéo đến đất Albania này, nghĩ đến những tấm bảng bằng tôn gỉ, những cây thánh giá, những dấu vết trên mặt đất, những tên người viết nguệch ngoạc. Nhưng, phần lớn các ngôi mộ không có một dấu vết gì để phân biệt. Tệ hơn nữa, đa số những người chết mà họ tìm kiếm lại không có phần mộ riêng. Người ta chôn họ trong những hố chung, chất đống ngay trong bùn. Thậm chí, có những người đến nằm trong bùn cũng không, mà chỉ có tên trên danh sách.

Họ đã tìm thấy hài cốt một người trong nhà bảo tàng của một thành phố nhỏ xíu ở miền Nam. Nhà bảo tàng này do mấy thị dân thiết tha với quá khứ của thành phố quê hương đã dựng lên. Trong một gian phòng nhỏ sâu thẳm của tòa thành cổ, họ đã tìm thấy một xác người trong số các di chỉ khác. Suốt mấy tuần, ở tiệm cà phê, các nhà khảo cổ nghiệp dư đã đưa ra đủ thứ giả định về nguồn gốc đám xương đó. Thậm chí, có hai người đang viết một bài báo đưa ra những thuyết táo bạo và uyên bác, định cho đăng trên một tờ tạp chí. Vừa khi đó thì nhóm mấy người đi tìm hài cốt này đến. Anh cán bộ chuyên môn tình cờ đến thăm nhà bảo tàng, và lập tức nhận ngay ra bộ xương có đeo hình trái tim. (Trong bài báo của họ, hai nhà khảo cổ nghiệp dư nọ đưa ra hai giả thuyết về nguồn gốc của hình trái tim đó: theo họ, thì đây là một vật trang sức hoặc là một thứ tiền thời La Mã). Nhưng chuyến đi thăm nhà bảo tàng của anh cán bộ chuyên môn đã chấm dứt mọi ức đoán. Chỉ còn lại một điểm cần xác định là làm thế nào mà tên lính đó lại lọt vào được trong khu thành cổ đường lối ngoắt ngoéo này, và tại sao y lại đã vào đó.

- Tôi cứ ngẫm nghĩ không biết tên lính này là ai, viên tướng nói.

- Tên lính nào? Ông linh mục nói lại.

- Thì chúng ta chẳng đã tìm ra tên đó rồi đấy sao?

- Đúng thế, viên tướng nói, nhưng tôi muốn biết xem nó có phải là một trong những người có cha mẹ đến tận nhà gặp chúng ta không.

- Có biết bao nhiêu người đến khẩn khoản chúng ta chú ý đến người thân của họ! Ông linh mục nói. Làm thế nào mà nhớ hết tất cả những tên ấy được?

- Quả có thế, nhớ sao cho xuể. Vả lại, có nhiều tên trùng nhau quá. Các bản danh sách thì dài dằng dặc, mà về phần tôi, tôi không sao nhớ nổi một lời căn dặn nhờ vả nào của họ nữa.

- Cũng là một tên lính như trăm nghìn tên lính khác, ông linh mục nói.

- Cần gì đến tất cả những tên họ và những thẻ nhận dạng hết sức chi tiết này, viên tướng nói. Mà xét cho cùng, một đống xương tàn thì còn có thể mang được một cái tên gì nữa?

Ông linh mục lắc đầu như muốn nói: «Chúng ta đành phải chịu vậy, biết làm thế nào khác được!»

- Đáng lẽ tất cả bọn này phải mang cùng một tên, cũng như chúng đeo những hình trái tim giống hệt nhau, viên tướng lại nói.

- Ông linh mục nín lặng không trả lời.

Từ quán rượu bên dưới, tiếng nhạc vẫn vọng lên đến tai họ. Viên tướng hút thuốc lá liên miên.

- Họ giết chết người của mình nhiều quá, thật kinh khủng, ông nói như trong giấc mơ.

- Vâng, có thể.

- Cả chúng ta nữa, chúng ta cũng đã giết chết rất nhiều người của họ, viên tướng nhắc lại. Mồ mả người của họ rải rác khắp đất nước. Ví thử ở đâu cũng chỉ thấy những bãi tha ma trơ trọi của binh sĩ ta thôi, thì kể cũng đáng buồn tủi thật!

Ông linh mục lắc đầu, nhưng không để lộ ra là mình tán thành hay không tán thành ý kiến của viên tướng.

- Cũng chẳng tự an ủi được bao nhiêu, viên tướng nói.

Ông linh mục lại lắc đầu như để nói: «Đành chịu vậy, làm gì được».

- Tôi không hiểu ông nghĩ sao, viên tướng nói, ông có thấy đấy là một niềm an ủi cho chúng ta hay không?

Ông linh mục dang hai tay mở xòe cả năm ngón, nói:

- Tôi là người tu hành, tôi không thể tán thành việc giết người được.

- À, viên tướng nói.

Cặp vợ chồng sắp cưới đứng dậy đi ra khỏi phòng khách.

- Hai bên đã tàn sát nhau dữ dội, viên tướng nói. Bọn quỷ ấy, lúc đánh nhau chúng thực hăng.

- Cái đó cũng dễ hiểu thôi, ông linh mục nói. Ở họ, không có lòng can đảm của ý thức. Cái đó chỉ là do bản chất tâm lý của họ mà thôi.

- Tôi không hiểu ý ông muốn nói gì, viên tướng nói.

- Có gì đâu, ông linh mục nói tiếp. Trong chiến tranh, có những người hành động theo lý trí, dù lý trí đó vững vàng hay bấp bênh; một số khác hành động theo bản năng.

- Đúng!

- Dân Albania là một dân tộc thô bạo và lạc hậu. Đứa trẻ vừa lọt lòng ra là người ta đã đặt một khẩu súng vào nôi của nó rồi, vũ khí đó trở nên một bộ phận cấu thành của đời họ.

- Có thể, viên tướng nói, ngay đến cái ô, họ cũng cầm như thể cầm súng vậy.

- Ngay từ khi họ còn thơ ấu, ông linh mục nói tiếp - khẩu súng đã trở thành một bộ phận hợp thành của con người họ, một yếu tố cấu tạo nên cuộc sống của họ, nên nó ảnh hưởng trực tiếp đến sự hình thành bản chất tâm lý của người dân Albania.

- Lạ nhỉ!

- Nhưng, khi người ta đã nuôi dưỡng một thứ sùng bái một vật gì đó thì tất nhiên người ta thường hay ngứa tay muốn sử dụng nó. Và, với một khẩu súng, thì cách sử dụng nào là tốt nhất?

- Để giết, hẳn thế, viên tướng nói.

- Đúng rồi. Người Albania luôn luôn có cái thích thú giết người, hoặc để người khác giết mình. Không tìm được kẻ thù nào thì họ giết lẫn nhau. Ông đã nghe nói về những chuyện phục thù của họ chưa?

- Đã.

- Chính là một thứ bản năng truyền kiếp đã đẩy họ đến chiến tranh. Bản chất con người họ yêu cầu như vậy, đòi hỏi như vậy. Thời bình, người dân Albania lờ đờ, ngủ gà ngủ gật như rắn mùa đông. Chỉ trong chiến đấu cái khí lực của họ mới bộc lộ ra hết được.

Viên tướng gật đầu.

- Chiến tranh là điều kiện bình thường của đất nước này. Chính vì vậy mà người dân ở đây mới hung dữ đến thế, đáng sợ đến thế, và khi họ đã đánh thì không còn có giới hạn nào nữa.

- Nói cách khác nghĩa là dân tộc đó, với lòng thèm khát tiêu diệt kẻ khác hoặc tự tiêu diệt mình hằng nung nấu họ, tương lai sẽ bị diệt vong, viên tướng nói.

- Tất nhiên.

Viên tướng tiếp tục nốc rượu. Lúc này, lưỡi ông ta đã tíu lại rồi.

- Ông căm ghét người Albania phải không? Ông bỗng hỏi.

Ông linh mục nhăn mặt mỉm cười.

- Không, tại sao?

Viên tướng cúi xuống nói thầm vào tai ông linh mục. Ông này có một cử chỉ nhỏ tỏ ra kinh tởm khi ngửi thấy hơi thở nồng nặc mùi rượu.

- Ông còn phải hỏi tại sao ư? Viên tướng hạ thấp giọng xuống. Tôi biết rất rõ là ông cũng như tôi, tôi thù ghét người Albania, nhưng lúc này chúng ta nói ra không lợi.

Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 26 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.