VIÊN tướng ở cửa lều vải, ngắm nhìn chân trời xám xịt. Sương mù lớp lớp bốc lên, sà xuống trên những sườn núi dốc thẳng đứng, khi thì phủ kín một vùng này, khi thì để lộ ra cả một vùng khác. Chốc chốc, những đám mây đen lại sà xuống sát đỉnh lều. Viên tướng, cổ áo ca pốt bẻ cao, lắng nghe tiếng vải lều sau lưng mình xào xạc như rùng mình trong gió.
Cách đấy mấy bước là chiếc xe con, và xa hơn chút nữa, sau túp lều của mấy người công nhân, là chiếc xe tải. Khu nghĩa trang này không có địa giới rõ rệt. Những con suối ngoằn ngoèo uốn khúc xung quanh đã thi nhau xói mòn hai bờ, cuốn đất xuống thung lũng bên dưới.
Nghe rõ tiếng cuốc chim bổ đều nhịp xuống đất rắn. Thỉnh thoảng thấy có một nhóm túm tụm vào một chỗ nào đó, viên tướng kết luận là họ đã lại đào thấy một bộ hài cốt. Lúc này, ông đoán là người ta đang tẩy uế chỗ xương vừa tìm được và anh cán bộ chuyên môn đang cúi xuống đo chiều dài bộ xương, còn ông linh mục thì đánh dấu chữ thập vào cạnh tên một người và nếu chiều dài bộ xương không đúng với con số ghi trên danh sách thì ông lại đánh thêm một dấu hỏi.
Viên tướng có thể hình dung được sự việc đang xảy ra đằng kia, giữa cái nhóm mấy người ấy, đến từng chi tiết nhỏ nhặt nhất: từ gương mặt lạnh lùng của ông linh mục đến những cử chỉ của anh cán bộ chuyên môn hai tay cuộn vào tháo ra chiếc thước dây. Khi nhóm người lâu không thấy tản ra, viên tướng biết ngay «Họ đo lại lần thứ hai, hẳn lại có một dấu hỏi mới trên bản danh sách.»
Rồi một công nhân vội vã đi lại phía lều của viên tướng lấy cái túi nylon mang đi, cái túi rất đẹp màu xanh lam viền đen, hai sọc trắng, mang nhãn hiệu «Olympia», loại túi thửa. Anh cán bộ chuyên môn, ngón tay thon dài, cầm kìm cặp lấy hình trái tim, ném vào một cái hộp sắt.
Một hôm, người tập hợp chúng tôi lại để kiểm tra chi tiết xem tất cả chúng tôi có đeo hình trái tim không. Có đứa nào đã báo với cấp trên là bạn tôi ném hình trái tim của anh ta đi, - Hình trái tim của mày đâu? Viên trung úy vừa bắt bạn tôi cởi áo vừa hỏi - Tôi không rõ, có lẽ tôi đánh mất rồi - Đánh mất? Tao thừa biết là mày đã vứt đi rồi. Đồ khốn nạn: Mày sẽ chết như một con chó và sau này không ai còn nhận ra được xác mày nữa. Rồi người ta lại cứ nhè chúng tao mà khiển trách. Đi! Vào nhà giam! Tên trung úy hét lên. Hai hôm sau, người ta lại giao cho anh bạn tôi một hình trái tim khác.
Trái lại, khi đám người tản ra thì có nghĩa là hài cốt đã được bỏ vào túi nylon, và người ta đã dán lên túi một cái nhãn ghi số lính của người chết và số ghi trong bản danh sách. Rồi cũng người công nhân lúc nãy lại xách cái túi nylon trở về lều, và tiếng cuốc chim cuốc vào đất ẩm lại thình thịch, nhịp nhàng. «Cái xác vừa đào được không biết là của ai vậy?» viên tướng tự hỏi, mắt nhìn đám người đã lại túm tụm ở giữa nghĩa địa. Và cứ mỗi lần đào được một cái xác, trong óc ông lại hình dung thấy những gương mặt lặng lẽ, lầm lì trong phòng khách nhà ông, ở rất xa đây, vào những buổi xấu trời, hồi ông vừa mới ở bãi biển về. Tất cả những người đến gặp ông, người nào cũng nói về người thân của họ, có người kể lể dài dòng, có người vắn tắt ít lời hơn, lại có những người mang theo một mớ ảnh, hàng bó thư; sau hết, cũng có những người chẳng có gì cả, trừ một bức điện vắn tắt của Bộ chiến tranh.
Viên tướng lo xo khép kín chiếc áo ca pốt và đưa mắt nhìn về hướng đông bắc. Ông nghĩ thầm:
- Phía đằng kia có cái đài kỷ niệm, chỗ ngã tư, nơi cái ngói của một chiếc cối xay cũ, bỏ hoang, vẫn ì oạp vỗ nước vào bờ. Vào lúc quang trời, đứng đây hẳn cũng nhìn thấy, còn bây giờ thì nó lấp trong sương mù mất rồi.
Khi những lớp sương mù đã trôi qua, ông chờ đợi chỉ trong chốc lát là sẽ nhìn thấy cái đài nọ hiện ra, rất cao, cao ngất, mảnh dẻ, lát bằng đá trắng, rồi đằng sau là những cổng vòm đã đổ nát của một ngôi nhà cổ, những đống gạch vôi vỡ, những đống đá cháy đen thui và xa hơn nữa, ở ngoài cổng làng là cái cối xay bị cháy, bỏ hoang, với nước ngói vỗ ì ọp, vật duy nhất không thể đốt cháy hoặc phá hủy được. Trên mặt bia, có khắc mấy câu theo lối chữ hoa, nguệch ngoạc: «Nơi đây, Tiểu đoàn Xanh khốn kiếp đã đi qua, đã đốt cháy, tàn sát làng này, đã giết phụ nữ, trẻ con chúng ta, đã treo cổ đàn ông lên những cột này. Để tưởng nhớ những người đã chết nhân dân dựng đài kỷ niệm này». Làng đã đi xuống phía dưới kia, trong thung lũng, chỉ có những cột dây điện thoại, chân cột quét hắc ín, đây đó có thêm cột chống nghiêng cho vững - chính những cột này, theo người ta kể lại, tên đại tá Z đã dùng để tự tay treo cổ những người dân ở đây - chỉ có những cột ấy là còn nguyên tại chỗ, cái thấp cái cao, tùy theo hình thể mặt đất, trên vẫn còn căng dây thép.
Nhưng ngay những cột ấy lúc này cũng lấp trong sương mù, đứng đây viên tướng không nhìn thấy gì hết. Tưởng chừng như đằng kia, trùm lên trên cái đài kỷ niệm, trên các cột dây điện thoại, trên cái cối xay và trên những cổng hình vòm đã đổ nát gần hết, là một tấm khăn trắng rộng mông mênh, như trước một buổi lễ khánh thành trọng thể nào đó.
- Khéo không ông bị cảm lạnh đấy, ông linh mục bước vào lều, bảo viên tướng. Trời rất ẩm thấp mà lại gió to.
Viên tướng theo vào. Đã đến giờ ăn bữa trưa.
- Thế nào, công việc ra sao?
- Tốt lắm, ông linh mục nói. Nếu ngày mai xã viên trong làng ra giúp ở bờ ngòi bên kia thì bốn ngày nữa chúng ta có thể nhổ lều được.
- Tôi cho là chỉ có xã viên đàn ông đến làm thôi, còn đàn bà và các cụ già thì có lẽ không, vì những người này, họ cho đào mồ cuốc mả là làm việc thất đức.
- Có thể sẽ có cả đàn bà và cụ già. Công việc này không chắc là không đem lại cho họ một sự thích thú ngầm.
- Nếu thế thì đáng lấy làm lạ đấy, viên tướng nói. Sao người ta lại có thể thích thú với cái việc quật mả này được?
- Đối với họ, đây cũng là một thứ trả thù muộn về sau.
Viên tướng nhún vai.
- Vả lại, làm việc này kiếm được nhiều tiền, ông linh mục nói tiếp. Chúng ta trả hậu nên dân ở đây họ cũng thích làm cho chúng ta. Với tiền công vài ngày họ có thể sắm được một cái đài thu thanh nhỏ. Họ thích cái món này lắm.
Tôi cũng thấy thế, viên tướng nói. Lúc nào họ cũng mở đài to hết nấc. Giá ta mang theo một cái đài bán dẫn thì cũng hay.
- Chúng ta đã không nghĩ ra.
Tôi bắt đầu ngấy cái lều này rồi, viên tướng nói.
Mà thời tiết thì cứ mỗi ngày một giá lạnh thêm. Tôi hy vọng đây là lần cuối cùng ta cắm lều ở vùng này.
- Tôi nghĩ là còn phải tìm ở một chỗ nữa, đâu trên núi cao, gần con đường chiến lược nay đã bỏ không dùng đến.
- Ồ?
- Phải, đấy là những người chịu trách nhiệm kiểm soát một quãng đường hoặc một cái cầu gì đó, tôi cũng không rõ.
- Vậy thì họ phải đông.
- Vâng, đông lắm, tôi nghĩ hãy cứ để đấy, đợi sang năm, chứ thời tiết này mà leo lên cao trên đó thì hẳn chẳng vui thú gì.
Viên tướng lấy mấy cái phích ra. Hai người lặng lẽ ăn qua loa một ít thức ăn khô. Sau đó, viên tướng ngả lưng trên tấm giường vải. Ông linh mục thì cầm sách đọc.
«Tay này đã làm gì với mụ vợ góa viên đại tá?» viên tướng nghĩ thầm và ngắm nhìn nét mặt trông nghiêng của ông linh mục, mái tóc đen láy, mượt như tơ chưa điểm một sợi bạc nào.
«Mụ ta đẹp thật!» ông nhớ lại, hai tay chắp sau gáy, mắt đăm đăm nhìn tấm vải đang khẽ rung rinh ở trên đầu. Trời lại bắt đầu mưa.
«Trời xanh, xanh ngắt, ông nghĩ thầm, mắt nhìn tấm vải màu tím căng nghiêng bên trên đầu. Và người đàn bà dưới bầu trời ấy, thực xinh đẹp quá, tưởng trên đời không còn gì duyên dáng hơn.»
Ông có cảm giác là hình ảnh ấy ở vào một quá khứ xa xôi hơn nhiều, chứ không phải chỉ mới hồi tháng tám vừa qua, vào một buổi chiều rực rỡ, mặt trời đỏ như một con mắt to lớn, mệt mỏi và những vệt đen đầu tiên còn mơ hồ của chiều tối khẽ lung linh đây đó phía chân trời. Bãi dạo chơi ngoài bờ biển khi ấy đông nghịt những người. Gia đình ông cùng cả bạn bè quen biết ngồi trên sân thượng khách sạn để ngắm cảnh mặt trời lặn, thuyền và chim hải âu ngoài biển. Ngày nào họ cũng đến đây để ngắm cảnh chiều tà, và chỉ khi mặt trời ngụp sâu xuống biển, những tấm bảng lớn của khách sạn và những tấm bảng nhỏ hơn, treo theo chiều thẳng đứng, của những tiệm cơm rượu, đã thắp sáng dọc bờ biển, thì họ mới đứng dậy, cùng mấy đứa trẻ đi dạo trên bãi cát.
Buổi chiều hôm ấy, sân thượng đông nghịt người, tia nắng chiếu lên kính những ánh đỏ rực. Người ta nói những chuyện gì? Thật khó mà nhớ lại được. Chỉ là những câu chuyện nhạt nhẽo cùng chấm dứt với ánh mặt trời, chẳng để lại vết tích gì khác ngoài những chiếc vỏ chai rỗng để lỏng chỏng trên bàn, những vỏ chai nước trái cây, dán nhãn hiệu sặc sỡ.
Bỗng, ông có cảm giác từ một cái bàn gần đó có người nhìn mình chằm chặp. Ông thong thả quay đầu lại, và mắt ông lần đầu tiên gặp cặp mắt của người đàn bà ấy, rồi cặp mắt một bà có tuổi, sau đến, mắt một người đàn ông, rồi mắt một người đàn ông nữa. Rõ ràng mấy người đó đang nói chuyện về ông. Sau khi trao đổi với nhau mấy cái gật đầu, họ lại nhìn ông chằm chặp, người thiếu phụ trẻ khẽ mỉm cười. Một lát sau, một trong hai người đàn ông bỗng đứng dậy, đi lại chỗ ông, có vẻ hơi ngượng nghịu:
- Thưa ngài!
Ông đã làm quen với gia đình viên đại tá Z đầu đuôi là như vậy. Tất cả những người ấy: người thiếu phụ xinh đẹp, vợ góa còn trẻ của viên đại tá, bà cụ già, mẹ y, và hai người anh em con chú con bác của y, họ đến bãi biển đây với mục đích duy nhất được gặp ông.
- Chúng tôi được biết trên giao cho ngài cái sứ mệnh thiêng liêng cao cả này, bà cụ nói, và chúng tôi rất lấy làm sung sướng được biết ngài.
- Mà cũng chính vì thế mà chúng tôi đến đây.
- Chúng tôi đã không ngừng thuê người tìm kiếm anh nó cho đến tận lúc chiến tranh kết thúc, bà cụ lại nói. Đã ba lần tôi nhờ người đi tìm anh nó, cả ba lần họ đều trở về không. Người thứ tư đã lừa chúng tôi, lấy tiền rồi đi mất. Khi nghe tin ngài sắp đi đến xứ đó, chúng tôi lại hy vọng. Vâng, đúng thế, thưa ngài; giờ đây chúng tôi đặt tất cả hy vọng, những hy vọng lớn lao của chúng tôi vào ngài đấy.
- Thưa cụ, chúng tôi sẽ làm hết sức mình, không quản một khó khăn nào hết.
- Anh nó còn trẻ lắm, được trời phú cho đủ thứ đức tính tốt! Bà cụ tiếp tục nói, nước mắt rưng rưng. Ai cũng cho là anh có năng khiếu của một thiên tài quân sự. Chính ông bộ trưởng chiến tranh lúc đến chia buồn với chúng tôi cũng nói như vậy. Đây là một tổn thất lớn, một tổn thất rất đau xót cho tất cả mọi người. Nhưng anh nó là con trai tôi nên tất nhiên, tôi đau xót nhất. À quên, cả con nữa, Betty, tất nhiên cả con nữa, mẹ xin lỗi. Con có còn nhớ lần cuối cùng anh nó từ Albania về nghỉ phép mười lăm ngày không? Chỉ có mười lăm ngày thôi, và bà mẹ đã phải lo làm lễ cưới vội cưới vàng cho các con, vì thì giờ gấp quá. Anh nó lại đảm đương nhiều chức vụ hết sức quan trọng, nên không thể vắng mặt lâu ở cái xứ khốn kiếp ấy. Betty, con còn nhớ chứ?
- Vâng, thưa mẹ, con quên làm sao được ạ?
- Con có còn nhớ con đã khóc sướt mướt ở trên đầu cầu thang, trong khi chồng con đang mặc bộ quân phục, mẹ đã cố dỗ cho con yên tâm và cũng là để tự an ủi mẹ nữa, thì bỗng có điện thoại gọi. Trên bộ chiến tranh cho biết nửa giờ nữa máy bay sẽ cất cánh, chồng con bước vội xuống cầu thang, nhảy bốn bậc một, ôm hôn cả mẹ lẫn con rồi ra đi. Ồ, xin ngài thứ lỗi cho, bà cụ nói, xin lỗi ngài, tôi đã quá dài dòng thổ lộ nỗi lòng như vậy, tôi vốn dễ bị xúc động, xưa nay tôi vẫn thế.
Những ngày sau đó, họ càng thân nhau hơn, gia đình viên đại tá nhập bọn với gia đình ông. Họ cùng chơi quần vợt, cùng tắm, cùng thuê thuyền dạo chơi và tối tối, cùng nhau đến khiêu vũ tại các tiệm nhảy ở bờ biển. Vợ viên tướng không ưa gì cái tình thân mật của những người bạn mới này, nhưng tính bà ta vốn vẫn thế, không hề để lộ ra. Bà rất bứt rứt khi thấy chồng đi dạo chơi luôn luôn với Betty bên bờ biển. Bóng dáng tuyệt vời, mái tóc màu vàng hoe thơm ngây ngất và tất cả mọi vẻ hấp dẫn của người thiếu phụ ấy không thể không khiến bà ta nổi ghen.
- Tôi lấy làm lạ, không hiểu các người nói với nhau những chuyện gì mà lâu thế, một hôm bà hỏi chồng.
- Nói chuyện về ông đại tá chứ còn nói gì nữa, chỉ có nói chuyện ông đại tá thôi, ông trả lời vợ.
- Ừ, thì mẹ ông ta nói suốt ngày suốt buổi về ông ta, cái ấy còn đi một nhẽ, chứ cô ta mà chỉ nói chuyện ấy thôi, thì…
- Bà nói thế thật là dở, ông ngắt lời vợ. Gia đình nhà ấy đang gặp khó khăn, họ nhờ tôi, chí ít thì cũng phải giúp họ chứ.
- Ồ, tôi thì tôi thừa biết mối quan tâm duy nhất của bà vợ góa ông đại tá là gì rồi. Bà ta rêu rao với tất cả mọi người ở bãi biển này là bà ta âu sầu chờ đợi hài cốt đức ông chồng được hồi hương; bất kỳ ở đâu và bất kỳ lúc nào, người ta cũng chỉ nghe thấy bà ta nói đến ông chồng. Tại sao bà ta lại thiết tha một cách quá đáng đến một người chồng đã chết cách đây hai mươi năm, con người mà bà ta chỉ chung sống có mười lăm ngày, điều đó chỉ có mỗi một lý do để giải thích mà thôi.
- Bà định nói gì?
- Này ông ạ, rất đơn giản, bà ta muốn bịp bà mẹ chồng đã già hóa lẫn cẫn đấy thôi. Bà cụ tội nghiệp cứ tưởng cô con dâu thật sự ngày đêm chỉ có nghĩ đến người chồng đã khuất và tất nhiên, bà cụ lấy thế làm một nguồn an ủi lớn.
- Thế thì sao? Ông hỏi lại, vờ như không hiểu.
- Còn thì sao gì nữa! Bà bá tước già chẳng giàu nứt đố đổ vách ra đấy ư, mà lại không có người thừa tự. Một ngày kia bà cụ sẽ chết, ngày đó cũng không còn xa xôi gì, và bà ta sẽ để di chúc lại.
- Tôi không muốn nghe những chuyện như vậy. Tôi phải mang hài cốt của ông đại tá về. Nhiệm vụ của tôi là như vậy, có thế thôi.
- Nhiệm vụ chó chết! Vợ ông nói.
Rồi đột nhiên, Betty biến mất trong hai ngày. Lúc bà ta trở về, viên tướng để ý thấy trong cặp mắt người thiếu phụ có một vẻ lạnh lùng pha lẫn mệt mỏi.
- Mấy ngày vừa qua bà đi đâu? Ông hỏi, khi hai người gặp nhau ở trước cửa khách sạn. Bà ta mặc áo tắm, đeo kính râm hình mặt nạ. Nhưng ông vẫn trông thấy rõ nước da rám nắng của bà ta đỏ ửng lên khi nói đến tên ông linh mục.
Người thiếu phụ kể lại rằng bà mẹ chồng đã thúc giục bà đi tìm ông linh mục để nói là bà cụ nhờ ông ta quan tâm gắng tìm cho được con trai bà cụ; cuối cùng, bà đã gặp được ông ta và bà đã yên tâm.
Nhưng ông đâu có nghe bà ta nói. Ông còn ngây ngất ngắm nhìn thân hình hở hang của bà ta, và chính khi ấy, lần đầu tiên, ông tự hỏi không biết tính chất mối quan hệ giữa bà ta và ông linh mục là thế nào?
Rồi, ngày này tiếp ngày khác trôi qua, tràn đầy ánh nắng. Bà mẹ già viên đại tá vẫn không ngừng khoe khoang các thứ đức tính tốt đẹp của người con trai, con cưng của bộ chiến tranh, theo lời bà cụ, và khoe gia đình bà thuộc dòng dõi lâu đời. Còn Betty thì thỉnh thoảng lại thấy vắng mặt ở bãi biển và mỗi lần bà ta trở lại, nhìn nét mặt có cái vẻ mệt mỏi, xa cách ấy, viên tướng lại tự đặt ra câu hỏi cũ.
Nhóm của họ cứ chiều chiều lại ngồi trên sân thượng lớn của khách sạn. Một nữ diễn viên điện ảnh nổi tiếng, người bạn mới quen gần đây nhất của họ, một hôm bảo viên tướng:
- Ông ạ, trên bãi biển này không có ai kỳ lạ hơn ông. Quanh ông là cả một tấm màn huyền bí bao phủ, và cứ mỗi khi tôi nghĩ sau những ngày tuyệt diệu như thế này, ông sẽ ra đi để đem những xác người chết ở tận bên Albania về, thì tôi lại rùng mình ghê sợ. Ông làm tôi nhớ đến nhân vật chính trong khúc hát của một nhà thơ Đức mà tôi quên mất tên. Vâng đúng thế, nhân vật đó từ dưới mộ bước ra, cưỡi ngựa phóng đi dưới ánh trăng. Đôi khi, tôi cứ thấy hình như một đêm nào đó, ông sẽ đến đập cửa sổ phòng tôi. Ôi chao! Ghê sợ quá!
Ông bật cười, đầu óc lơ đãng, trong khi các bạn ông say sưa ngắm cảnh mặt trời lặn. Bà mẹ viên đại tá thì luôn mồm nói về con trai mình, bà cụ cứ nhắc đi nhắc lại mãi: «Anh nó rất nhạy cảm với tất cả những cái gì đẹp ở trên đời này», rồi bà cụ lấy khăn tay lau mắt.
Còn Betty thì vẫn đẹp một cách quyến rũ, vẫn khó hiểu như vậy, bầu trời vẫn một màu xanh ngắt, chỉ thỉnh thoảng phía chân trời mới điểm đây đó mấy đám mây đen, nặng trĩu hơi mưa, lừ lừ trôi về phương Đông, về phía Albania…
Viên tướng đứng dậy. Không có một ai trong lều. Không còn nghe thấy tiếng mưa rơi lộp độp trên vải lều nữa. Hẳn mọi người đã lại bắt tay vào việc. Ông ra đứng nước cửa lều. Bên ngoài, sương mù vẫn đặc sệt, xóa nhòa mọi hình thế mặt đất, viên tướng đưa mắt nhìn về hướng Đông nam, phía có cái đài kỷ niệm và những cột điện thoại, với những sợi dây thép căng trên không.