Viên Tướng Của Đạo Quân Chết

Lượt đọc: 157 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
CHƯƠNG XIX

❊ ❊ ❊

SAU cùng, đến ngày thứ mười, họ lại xuống núi. Con đường bây giờ mỗi lúc một xuống thấp, để lại những đỉnh núi ở bên trên.

Họ đã hoàn thành chuyến đi cuối cùng, chuyến đi vất vả nhất. Họ vừa mới tìm kiếm ở những vùng rất hẻo lánh và mười hôm nay, tuyết không ngừng rơi trên núi. Qua cửa kính, viên tướng nhìn nỗi chán chường lê thê của con đường kéo dài như vô tận. Đôi chỗ, giữa những sườn núi trơ trụi và hiểm hóc, những làng xóm nhỏ phủ tuyết xuất hiện trước mắt họ rồi lại biến ngay tức khắc.

Bốn bề núi cao sừng sững, chót vót và lạnh lẽo, trông như nền của một khung cảnh bi kịch. Đây đó, trong những hẻm núi và trên các sườn núi trơ trụi, có những đội thanh niên trai gái đang khai hoang đất mới và làm ruộng bậc thang. Các tầng ruộng trải ra thành hình tròn chung quanh sườn núi như những đường hào vô tận. Có chỗ đã hết tuyết, có chỗ tuyết lại hiện ra từng mảng rải rác, tuyết khô cứng, như thản nhiên, lãnh đạm. Đêm đến họ ngủ ở một làng nào đó và ban ngày họ lại bắt tay vào việc.

Bọn lính sơn chiến đã ngã xuống hàng loạt ở vùng này trong một trận tác chiến lớn vào mùa đông. Ở đây cũng có nhiều nghĩa trang của người địa phương.

Địa thế vùng này là một trong số những địa thế gay go nhất. Các nghĩa địa đều bị tuyết phủ kín và chỉ trông nhờ vào các bản đồ địa hình thôi thì họ thực khó mà lần ra được phương hướng. Tưởng chừng như tuyết không chịu để ai cướp mất những kẻ nó giấu trong lòng. Nó đã bọc họ vào một lớp tuyết mỏng, trắng tinh và thanh bình, nhưng khi xẻng cuốc bắt đầu làm việc thì mọi thứ đã xấu hẳn đi; thảm tuyết đẹp đẽ đã bị cắt nát tơi tả, đây đó mở ra những lỗ hổng toang hoác, và nó cứ rách bươm như thế mãi cho đến khi lại có tuyết rơi băng bó những vết thương lại.

Con đường ngoằn ngoèo, xoay quanh như thể cứ cuộn khúc ở mãi một chỗ, như một sợi dây thừng rối không sao gỡ ra được hai đầu. Chiếc xe con dẫn đường, chiếc xe tải theo sau, mui bạt tuyết phủ trắng xóa. Viên tướng tưởng như mình vẫn đi trên con đường hôm qua và không còn lối đi nào khác ngoài con đường núi chật hẹp ác nghiệt này cứ bắt họ quẩn quanh mãi không sao thoát ra được. Và bây giờ nhiệm vụ sắp hoàn thành, viên tướng bỗng có cảm giác như không bao giờ ra khỏi được những quả núi này.

Ở các khúc quanh ông lại nhìn thấy vẫn những lô cốt ấy có trổ lỗ châu mai, các khe hẹp ấy, cái nằm ngang, cái thẳng đứng, nom như những cái mồm há hốc khi thì tỏ vẻ ngạc nhiên, khi thì có ý mỉa mai giễu cợt. Viên tướng nhìn những bộ điệu câm lặng trân trân như đá đó và lại có cảm giác có lẽ không bao giờ thoát khỏi cái vẻ mỉa mai bất động ấy.

Chiếc xe tải, với những chiếc hòm lớn ở trong chồng chất hàng trăm túi nylon đựng đầy xương cốt, vẫn cứ ngoan ngoãn theo sau chiếc xe con. Các công nhân đào đất mặc áo khoác ngoài bằng da ngồi hút thuốc lá trên mặt hòm. Từ khi bác công nhân già mất, không còn nghe thấy họ hát nữa.

Viên tướng hồi tưởng lại hàng trăm, hàng ngàn xe tải nhà binh đã đi qua trước mắt ông suốt cuộc đời quân nhân của ông. Ông nhớ lại những tên lính ngồi thành hàng phía sau xe, cằm tì lên đầu súng, người lắc la lắc lư, lắc lư hoài. Và bây giờ chúng tập hợp hàng mấy trăm tên ở đằng sau ông kia, trong một chiếc xe tải độc nhất, và vẫn cứ lắc lư đều. Duy có điều là không còn nhìn thấy rõ cằm và tay chúng nữa.

Mọi ý nghĩ của viên tướng cứ xoay mãi quanh một điểm, y hệt con đường, như một cái vòng, cứ quẩn quanh các ngọn núi mãi không thôi.

Từ hôm họ nhìn thấy pho tượng nọ, ông linh mục lại lặng lẽ không nói và lại có vẻ u buồn. Viên tướng lại thấy bộ mặt ông ta thiểu não y như buổi sáng hôm nào bị một cơn ác mộng, ông ta đã khiếp sợ hét lên. Đó là lần thứ hai.

Pho tượng ấy, họ đã thoáng trông thấy nó ba hôm trước, ở một ngã tư. Nó bất thình lình hiện ra như một người đứng bên bờ đường đợi xe tới đón mình đi. Viên tướng đã quay sang phía ông linh mục để chỉ cho ông ta, và thấy ông ta trợn trừng mở to mắt nhìn. Ông chưa bao giờ thấy ông linh mục có vẻ hốt hoảng đến thế. Mắt ông ta nhìn vào pho tượng chằm chặp và mặt ông ta bỗng tái mét.

- Ông làm sao vậy? Viên tướng hỏi.

Ông linh mục không trả lời. Xe quặt nhanh và pho tượng trắng xóa tuyết hiện ra rất gần, ngay ngoài cửa kính, lướt mau bên xe rồi biến mất đằng sau họ, ở ngã tư.

Lát sau, viên tướng hỏi ông linh mục có phải pho tượng đã gợi cho ông ta một kỷ niệm gì chăng, nhưng ông linh mục chỉ nói là ông bị chóng mặt xoàng, mà không chịu giải thích gì thêm.

Hai người im lặng một hồi lâu.

Hôm qua, họ đã khai quật ngôi mộ cuối cùng. Những lưỡi cuốc khó nhọc bổ xuống mặt đất đã rắn chắc lại vì băng giá như muốn ít nhất cũng cố giữ lại người lính cuối cùng. Công nhân cứ xoa hai tay liên hồi và giậm chân lên tuyết lạnh cho đỡ cóng. Viên tướng chắp tay trên bụng nhìn thợ đào và ông tự nhủ rằng những người công nhân nọ đã moi toàn bộ đoàn quân của ông ra khỏi lòng đất. Rồi nhát cuốc cuối cùng được giáng xuống và anh cán bộ Albania, như một tiếng nổ sau chót, đã kêu to lên: «Một thước sáu chẵn!».

Thường trong khi nhìn thợ đào đất, viên tướng hay tưởng tượng xem lúc khởi thủy, cái công việc mà bây giờ họ làm ngược lại kia, đã được tiến hành như thế nào. Khi đôi mi nặng trĩu, mắt ông díu lại, nhất là thỉnh thoảng vào lúc nhá nhem, khi chỉ còn nhìn thấy hình bóng những người thợ đấu, ông đã tưởng đâu như không phải họ mà là quân lính nước ông đang đào, những người lính vô danh, hai mươi năm trước đây, đã làm ngược lại cái công việc này để chôn cất bạn đồng ngũ của họ. Những lúc ấy, ông nhắm mắt lại và cố hình dung xem việc đó thế tất phải tiến hành ra sao, phần nhiều là giữa lúc đêm khuya, mà tất cả dụng cụ chỉ độc có lưỡi lê hay dao găm mà thôi.

Nhưng hôm ấy là ngày thứ mười của chuyến đi lần này, họ lại xuống núi và ông phải xua đuổi những ý nghĩ ấy đi. Vòng vây của núi non sắp sửa chấm dứt. Tuyết khô đã nhường chỗ cho tuyết ẩm và xuống thấp hơn, dưới thung lũng, mưa đang chờ đợi họ, như một người quen biết cũ.

Không bao lâu nữa ông sẽ trở về nhà. Những người khác sẽ chăm lo chỗ di hài và hoàn thành nốt công việc. Nhiệm vụ của riêng ông sẽ kết thúc với chuyến đi này. Bây giờ đại biểu các sở thị chính và kế toán viên của hai nước sắp sửa ngồi vào bàn để lập bản tổng kết công việc đã làm. Rồi người ta còn bắt tay vào làm vô số con tính rắc rối, sẽ có cả một mớ hóa đơn và biên lai phải thanh toán, và sau rốt, để kết thúc, người ta sẽ thảo tờ biên bản cuối cùng. Sau đó sẽ có một bữa tiệc nhỏ, người ta sẽ đọc vài bài diễn văn chính thức ngắn gọn và sau bữa tiệc, sẽ cử hành lễ cầu hồn lớn siêu độ vong linh các tử sĩ. Các hãng thông tấn sẽ báo tin rằng nhiệm vụ đã hoàn thành tốt và ông sẽ còn lên tiếng trong những buổi họp báo, trước hàng trăm nhà báo hay làm ông khó chịu.

Trong khi đó một số thợ mộc vô danh sẽ bắt tay vào làm hàng nghìn cỗ săng nhỏ, theo kích thước đã quy định trong hợp đồng, và các nhân viên khác sẽ đặt vào mỗi cỗ săng một túi nylon hài cốt. Các sư đoàn, trung đoàn, tiểu đoàn, đại đội, đủ các loại đơn vị sẽ trộn lẫn vào với nhau trong cái đống lớn áo quan. Rồi người ta sẽ chuyển chúng xuống một chiếc tàu biển lớn, chiếc tàu sẽ nặng nề nhổ neo để hồi hương đoàn quân vĩ đại nọ, bây giờ rút cục chỉ còn là vài tấn calci và lân tinh.

Người ta sẽ chất lên tàu, thành hàng dài thật ngăn nắp, tất cả những người chết đó nhặt nhạnh được ở khắp các xó xỉnh trong nước Albania và một khi tàu về đến quê hương, người ta sẽ lại phân phát di hài họ về các nơi chôn rau cắt rốn của họ. Người ta sẽ đưa họ xuống tàu rồi lại chuyển hết lên bờ; cả hai tay phi công đã bị hạ bằng súng trường, cả bốn trăm người đã bị đại liên của quân du kích quét ngã gục trong khi uổng công cố vượt qua con đường hẻm nọ, cả mười tám tên đã bắn giết lẫn nhau trong một thung lũng, cả năm mươi tên đã bị hạ thủ bằng lưỡi lê ngay giữa doanh trại, cả toàn bộ cái tiểu đoàn nọ bị tiêu diệt với hết thảy lừa ngựa, xác chết ngổn ngang rải rác giữa đống vũ khí và yên cương, và cả những người lính vô danh bị những người Albania vô danh giết chết, và sau cùng, cả cô gái đĩ kia nữa đã uổng mạng ra đi, người phụ nữ duy nhất giữa đám đàn ông ấy và cũng đã được coi là «một người lính» trong số bao nhiêu binh lính khác, vì rút cuộc, chỉ có các nhà cơ thể học là có thể phân biệt được một bộ xương đàn bà với bộ xương đàn ông.

Còn những kẻ không tìm thấy thì thôi! Họ sẽ ở lại Albania. Có thể sau này một phái đoàn khác với một viên tướng khác, sẽ tới tìm họ và sẽ tiến hành những cuộc đào bới mới. Còn lại vào khoảng hai trăm người, đứng đầu là đại tá Z. Đến lượt phái đoàn mới sẽ lại đi theo vẫn những lộ trình chán ngán, bất tận này cho đến khi nhặt nhạnh được tất cả hài cốt của những kẻ khốn khổ đó, từng người một. Ai biết được vị sĩ quan cầm đầu phái đoàn sẽ suy nghĩ gì? (Hắn sẽ không phải là một viên tướng, vì dù sao cũng không thể chỉ vì hai trăm con người mà cử đi một ông tướng được).

Đường vẫn xuống dốc, cuốn khúc ngoằn ngoèo quanh núi y như khi đi lên. Nó vẽ ra những đường vòng, mỗi lúc một rộng và viên tướng có cảm giác là cuối cùng mọi sự sẽ được gỡ ra dần, và tâm hồn ông sẽ trở lại bình tĩnh.

Trong khi xe xuống dốc thỉnh thoảng viên tướng quay nhìn lại. Núi xa dần. Hình thể của chúng mờ dần, bớt vẻ hăm dọa. Viên tướng nhìn chúng như muốn bảo: «Thế là chúng mày hết đè nén nhé. Tao đã thoát được chúng mày rồi, thoát rồi». Rồi thiu thiu ngủ, ông bỗng lờ mờ thấy sợ, ông có ấn tượng núi sắp vươn những cánh tay giá lạnh ra để lôi ông trở về các khe hẻm, có gió hú lên như ở địa ngục.

Nhưng ông sẽ không trở lại trên ấy nữa.

Trời vừa tối thì họ cũng vừa đến một làng. Lần đầu liên từ mười hôm nay, viên tướng rạng rỡ một nụ cười. Thôi thế là xong. Tối này họ sẽ ngủ ở đây và sáng mai sẽ đi Tirana. Vài hôm nữa họ sẽ trở về nhà. Viên tướng trở lại vui vẻ. Một làn khoái cảm ấm áp tuy còn e dè, bắt đầu xâm chiếm con người ông.

Đèn trong làng chưa thắp. Chiếc ô tô có một bầy nhóc con hộ tống, chạy qua phố chính, lầy bùn. Đến trước câu lạc bộ của hợp tác xã, người lái xe cho xe đi chậm nữa, thò đầu ra ngoài cửa xe để hỏi thăm trụ sở ban quản trị hợp tác xã ở đâu. Bọn nhóc nhao nhao lên mách và không cần đợi, vài đứa đã chạy băng băng trước xe để dẫn đường; những đứa khác chạy theo sau và bây giờ chiếc xe đi giữa bọn chúng, giữa tiếng chúng hò hét ầm ĩ, giọng lanh lảnh, the thé. Cảm giác khoan khoái mỗi lúc một tăng thêm.

Viên tướng nhìn qua kính chắn gió thấy những cẳng chân nhỏ bé vung vẩy như choi choi phía trước xe, rồi quay lại ông thấy một tụi nhóc khác chạy theo, ông tủm tỉm cười. Xem chừng bọn trẻ thú ông nhất, còn ông linh mục thì chúng thờ ơ không để ý. Ông không khỏi cảm thấy vui thích, mặc dầu ông biết lũ trẻ thú ông chỉ vì bộ quân phục thôi.

Cái tính hiếu danh vẫn còn phảng phất đâu đó trong đáy lòng ông, đang rụt rè muốn ngóc đầu dậy.

Đám rước ồn ào đó cứ như thể đi qua làng rồi dừng lại trước ngôi nhà của ban quản trị hợp tác xã. Người lái xe và anh cán bộ chuyên môn lanh lẹn bước lên bậc tam cấp. Một phút sau chiếc xe tải đỗ lại đằng sau chiếc xe con, và đám công nhân theo nhau nhảy xuống đất. Nhưng xe tải không được bọn nhóc chú ý đến lắm. Chúng dán mắt lên các tấm kính, cố nhòm vào trong xe để xem hai người đang ngồi im trên những chiếc ghế sẫm màu. Một người đang hút thuốc lá. Từ bên ngoài nhìn vào, bọn trẻ không thấy được gì hơn. Nhưng chỉ có thế thì ít quá nên chúng cứ loay hoay quanh xe, thỉnh thoảng lại áp bẹt vào kính cửa khuôn mặt nhỏ bé, tò mò và ngạc nhiên của chúng.

- Có lẽ đại tá Z đã mất tích ở làng này, ông linh mục nói.

- Có thể là như thế, viên tướng thờ ơ đáp.

- Ta phải tìm hiểu đôi chút về ông ta chứ, ông linh mục nói. Ta phải thử hỏi xem.

Viên tướng rít liền hai ba hơi thuốc lá.

- Thật tình, tôi chẳng thiết tìm cho ra ông ta, ông thong thả nói. Tối nay tôi chẳng thiết tìm ra một người chết nào hết. Về phần tôi, lạy Chúa, tôi lấy làm mừng là cái công việc tội nợ này thế là xong, còn ông thì ông lại muốn đưa tôi vào một chuyện lôi thôi khác.

- Nhưng đây là bổn phận của chúng ta, ông linh mục nói.

- Tôi biết, tôi biết, nhưng lúc này tôi chẳng muốn nghĩ tới làm gì. Tối hôm nay là một buổi tối vĩ đại với chúng ta. Ông không cảm thấy thế, làm tôi ngạc nhiên. Đây là một buổi tối ngày hội. Tôi muốn được yên thân. Tắm một chậu nước nóng! Đấy là mối lo chính của tôi tối nay. Tôi bằng lòng đánh đổi một nửa vương quốc để tắm một cái! Ông vừa cười vừa nói thêm.

Viên tướng đương lúc vui vẻ, rất vui vẻ. Sau cùng thôi thế là kết thúc cái cuộc hành hương dài dặc và nặng nề ấy mà ông nhớ lại như một ảo ảnh khủng khiếp. Song đây không phải là một cuộc hành hương, mà là một cuộc hành quân trong cảnh tối tăm của chết chóc. Như câu hát cổ xưa của quân lính Thụy Sĩ đã nói: «Đời ta là một chuyến đi vào mùa đông, một chuyến đi vào đêm tối!»

Viên tướng xoa hai tay.

Bây giờ thế là ông thoát rồi. Bây giờ ông đã có thể thản nhiên từ đằng xa nhìn về những ngọn núi cheo leo gớm ghiếc kia.

«Như một con chim oai hùng và đơn độc…» Ông không nhớ rõ cái câu trước đây một bà quý tộc đã nói với ông trong khi chúc ông thượng lộ bình an.

Anh cán bộ từ trong nhà ban quản trị trở ra.

- Các ông sẽ ngủ ở nhà kia, và anh chỉ tay cho ông thấy một căn nhà nhỏ có bao lơn.

Mười phút sau, viên tướng ra đứng ngoài cái bao lơn nhỏ, và tì khuỷu tay lên lan can gỗ. Ông linh mục thì ở trong buồng, đương mở vali. Căn nhà này có hai tầng, xung quanh là một khu vườn nhỏ và từ bao lơn có thể nhìn thấy một phần làng. Viên tướng nghe thấy tiếng gầu loảng xoảng và tiếng đàn bà từ một cái giếng gần đó vọng tới, những tiếng rống đơn độc của bò, âm thanh của một cái đài radio vừa mở và vẫn những tiếng kêu của đám trẻ con đang chơi đùa và chạy lung tung ngoài quảng trường. Bây giờ đèn trong làng đã bật sáng và nhà máy điện phát ra tiếng kêu vo vo đơn điệu.

Đêm ấy có thể sẽ qua đi như mọi đêm khác mà không để lại một kỷ niệm gì đặc biệt nếu như cả buổi tối hôm đó nữa, viên tướng cũng hít thở mùi vị đặc biệt của các làng quê Albania, cái hương thơm tế nhị, thoang thoảng, nhưng giờ đây đã trở thành quen thuộc đối với ông và ông có thể phân biệt được giữa bao hương vị khác. Ông linh mục đã đi lượm tin tức về đại tá Z, còn viên tướng thì tựa vào lan can bao lơn, nhìn các phụ nữ đang lần lượt kéo nước ở giếng lên. Mọi sự có lẽ sẽ diễn ra bình thường mặc dầu nghe xa xa, từ phía giữa làng, có tiếng trống và tiếng vĩ cầm, đem lại cho đêm tối một bí ẩn mới mẻ, đầy thú vị.

Viên tướng nhận ra tiếng trống đặc biệt của những đám cưới ở nước này. Nếu không phải là cuối thu thì có thể viên tướng đã coi tiếng trống ấy là một sự tương phản khó chịu. Nhưng bây giờ là mùa thu và ông đã đọc thấy trong cuốn sách viết về Albania có nói rằng dân quê Albania thường làm lễ cưới vào mùa thu khi gặt hái xong. Đây là năm thứ hai ông và ông linh mục đi hết làng này sang làng khác đúng vào hồi này trong năm. Nhưng bây giờ đã bắt đầu sang đông, người ta chỉ còn tổ chức những đám cưới sau chót, những đám cưới phải hoãn lại vì lẽ này lẽ khác, chứ còn vào hồi đầu chuyến đi, hầu như ngày nào họ cũng gặp đám cưới.

Ban đêm viên tướng nhiều khi nghe thấy, qua tiếng mưa, tiếng trống dồn dập và tiếng vĩ cầm hết vui nhộn lại mơ mộng theo kiểu người ta quen chơi ở các vùng này. Nằm nghe những âm thanh ấy, đầu vùi trong chăn, ông nghĩ đến chiếc xe tải bao giờ cũng đỗ ở ngoài trời dưới mưa rơi tầm tã suốt đêm trên chiếc mui vải bạt đen. Ông vẩn vơ nghĩ con người ta xiết bao ngỡ ngàng xa lạ khi ở một nước không phải nước mình. «Xa lạ hơn cả cây cối bên bờ đường, ông tự nhủ, mà đó chỉ là cây cối; và chắc chắn là càng xa lạ hơn cả những con cừu, con chó của mục đồng hay những con bê rung nhạc leng keng khi chiều hôm sắp đổ xuống.»

Cả buổi tối hôm nay nữa, dù là một buổi tối đám cưới, có lẽ cũng sẽ qua đi như bao nhiêu buổi tối khác, nếu như viên tướng, sau khi nghiền ngẫm tất cả những ý nghĩ ấy trong đầu, đã chịu nghe ông linh mục nói về đại tá Z, kể cả chuyện ông ta đã đến câu lạc bộ và ngồi vào bàn mấy người dân làng như thế nào, họ đã kể cho ông ta nghe những gì về sự mất tích của ông đại tá và tất cả những điều ngờ vực mà câu chuyện của họ đã làm nảy ra trong óc ông ta. Song buổi tối cuối cùng là một buổi tối đặc biệt, viên tướng không chú ý lắm tới lời ông linh mục. Ông đang cao hứng.

- Thế đủ rồi, ông bảo ông linh mục lần thứ ba. Mọi chuyện như thế đủ rồi. Điều chúng ta cần bây giờ là nghỉ ngơi và giải trí một chút. Có phải không nào?

Ông linh mục không trả lời.

- Đây là một buổi tối đẹp trời. Một chút âm nhạc, một ly rượu cognac…

- Nhưng mà đi đâu chứ? Ông linh mục hỏi, ở đây không có quán cà phê, trừ câu lạc bộ của hợp tác xã. Và ông cũng thừa biết những nơi như thế rồi.

Nhưng không để ông linh mục nói hết, viên tướng đề nghị một điều làm ông ta sửng sốt. Vả chăng ông linh mục nhất định không chịu nghe theo. Đây là lần đầu tiên ông ta có ý phản đối một cách rõ rệt đến thế. Song viên tướng đã sống sượng nhắc cho ông ta biết rằng ông là trưởng đoàn và nếu bị bắt buộc, thì ông sẽ ra lệnh cho ông linh mục phải đi theo.

- Chúng ta hãnh diện vì sứ mệnh của chúng ta, có phải không? Ông đã bao lần nhắc lại với tôi như thế. Và cái sứ mệnh vẻ vang ấy chúng ta đã làm tròn. Tối nay, tôi muốn giải trí, nghe nhạc, xem kịch, gì cũng được. Ông đã từng bảo tôi các đám cưới ở nước này thực sự là cả một cuộc trình diễn, có phải không nào? Hay ông chỉ nói với tôi về các đám ma? Cái đó không sao. Điều đáng kể là tối nay tôi muốn được giải trí. Giả thử có một đám ma, chúng ta cũng sẽ đi. Có phải thế không? Vả lại, dù sao tôi cũng chẳng cần phải kiểu cách lôi thôi gì với bọn nhà quê ấy! Chính ông đã bảo với tôi rằng tính hiếu khách của người Albania gần như là một cái tật, thành thử dù thế nào đi nữa cũng không sợ bị tiếp đãi không tốt kia mà.

Không đợi trả lời, viên tướng mặc áo mưa rồi đi ra cửa. Ông linh mục đi theo.

Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 26 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.