Viên Tướng Của Đạo Quân Chết

Lượt đọc: 157 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
CHƯƠNG XXIV

❊ ❊ ❊

TIẾP khách xong thì là năm giờ mười lăm. Viên tướng chờ cho khách khứa ra về hết, và khi chỉ còn lại một mình với ông linh mục, ông uống liền hai cốc rượu cognac, rồi ra khỏi phòng mà không chào ông ta.

«Thế là xong một thủ tục nữa, ông tự nhủ và thấy nhẹ nhõm, khi ra tới phố. Bầu không khí có phần không nồng nhiệt lắm, nhưng dù sao thì cũng đã xong!»

Nhân danh nước ông và hàng nghìn các bà mẹ, ông đã cảm ơn các nhà chức trách Albania về mọi sự thuận tiện đã dành cho đoàn ông trong công việc tìm kiếm. Vị nghị sĩ Albania, người đã đón tiếp phái đoàn khi họ ở máy bay xuống, đã trả lời ông rằng các nhà đương cục Albania chỉ làm một bổn phận nhân đạo đối với một dân tộc khác mà họ mong muốn cùng chung sống hòa bình. Rồi người ta chạm cốc nhau, và qua tiếng lanh canh nhẹ nhàng trong suốt của pha lê, dường như nghe thấy tiếng gầm xa xa của đại bác «Cái tiếng động âm vang ấy, chẳng ai trừ bỏ nó đi được, viên tướng tự nhủ, và tất cả những người có mặt ở đây đều nghe thấy cả, nhưng không một ai muốn thừa nhận».

Lúc này ông đi thủng thỉnh qua đám đông chen chúc nhau trên đường phố và tứ phía vang lên bên tai ông cái tiếng nói nước ngoài kia, lẫn với tiếng ồn ào của thành phố.

Trên quảng trường Skanderburg đang có một cuộc hòa nhạc ngoài trời. Một cái bục cao đã được dựng lên trước Cung văn hóa. Phía trên sân khấu những ngọn đèn nhiều màu, mắc trên các cột cẩm thạch nhân dịp này, không ngừng nhấp nháy.

Ông len qua làn sóng người và đứng kiễng chân lên để nhìn cho rõ hơn. Đằng sau ông, từ bao lơn tòa nhà của ủy ban chấp hành, hai ngọn đèn chiếu rọi ánh sáng vào lưng đám đông và từ xa hơn một chút vẳng lại tiếng động cơ vo vo. Hình như người ta quay phim thì phải.

Viên tướng đầu óc để đâu đâu, nhìn những người nhảy múa đang biểu diễn trên sân khấu.

«Tiếng gầm từ đó mà ra, ông tự nhắc lại, từ dưới các cốc pha lê trong suốt, và không phải chỉ có tiếng đại bác gầm mà còn có cả tiếng súng liên thanh nổ ran, tiếng lưỡi lê xoang xoảng và tiếng gamelle lách cách ở nơi phát «súp», khi gần tối. Trong tiếng chạm cốc kia, có tất cả những cái đó, ai ai cũng biết vậy, ai ai cũng nghe thấy, chắc chắn là như thế, không thể nào khác được».

Ông bị chói mắt một lát dưới ánh sáng lòa trắng của đèn chiếu. Hàng ngàn đầu người lúc này in bóng lên quảng trường thành hàng ngàn vết đen, trông thực kỳ lạ. Ông thấy ớn người và chen ra khỏi đám đông. Đèn chiếu không ngừng xê dịch, quét một dải ánh sáng lóa mắt, khi cao khi thấp, khi đúng vào giữa đầu mọi người, khiến họ quay cả lại làm bóng họ lay động.

Viên tướng thoát ra khỏi đám đông và đi dọc công viên theo đại lộ dẫn về khách sạn.

Ông như lại nhìn thấy các đại diện của hai dân tộc và hai quốc gia ngồi đối diện nhau, giữa hai bên chỉ có vài chai rượu các loại và vài đĩa quả:

«Chỉ có thể chia cách chúng ta thôi ư? Viên tướng đã tự hỏi khi họ chạm cốc lần đầu. Chỉ có mấy cái chai sặc sỡ và những trái quả đẹp tươi kia vừa hái ở những vườn quả, vườn nho ven biển thôi ư? Khi ấy ông đã nhớ lại những vườn nho, vườn quả đỏ chìm trong bóng chiều mờ tối ở hai bên đường, rồi nổi bật lên, trắng nhợt dưới ánh trăng, từ đó vọng ra tiếng sủa xa xa và lẻ loi của một con chó, và xa hơn nữa nhấp nháy một ánh lửa mục đồng.

- Ông có một bức điện, người gác cửa khách sạn vừa nói, vừa đưa cho ông chìa khóa buồng.

- Cảm ơn.

Trên tờ giấy màu vàng có ghi hàng chữ nhỏ «Khẩn». Ông mở ra không suy nghĩ và đọc: «Được tin sứ mệnh cao cả của ông kết thúc. Xin cho biết về đại tá. Gia đình Z.».

Ông cảm thấy máu dồn lên đầu. Mạch máu hai bên thái dương đập như muốn vỡ. Tuy nhiên ông cố gắng tự chủ, thong thả đi vào thang máy.

«Ai bảo mày đi ôm lấy cái chuyện này?» Ông vừa tự bảo vừa soi vào gương. Ông thấy mặt mình xanh xao phờ phạc, với mấy nét nhăn không sao tẩy xóa được trên trán, ba nét nhăn hằn sâu, nét giữa dài hơn hai nét kia một chút, làm anh ta nghĩ đến những nét gạch đánh máy ở cuối một tờ trình nào đó.

Ông tự bảo thầm: «Mày mệt lắm rồi, nhừ người rồi…»

Ông trở về buồng, bật đèn lên; vật đầu tiên khiến ông lưu ý nhìn là bức tượng nhỏ người miền núi bằng sứ đang đánh trống trên chồng thư và điện tín chất đống trên bàn đêm.

Ông đi nằm và cố ngủ.

Bên ngoài, pháo hoa nổ lẹt đẹt. Ánh sáng muôn màu lọt qua cửa chớp chiếu từng vệt dài lên trần và tường của căn buồng. Ông như lại nhìn thấy mình ngồi trong căn phòng lớn nọ, tại sở chỉ huy, hai mươi năm trước đây, bên những sĩ quan khác, trước cái bàn dài của Ban kiểm tra trưng binh. Họ thường phải mở những cuộn phim chụp X quang của tân binh. Họ soi phim về phía ánh sáng và lướt trên đầu mình những bộ xương sườn mờ tối, sau đó người ta chỉ nghe thấy độc một tiếng, giọng mệt mỏi và chán chường: «Tốt!». Thường thì họ nói «tốt», ngay cả khi có một vài vết mờ giữa các xương sườn. Chỉ khi nào vết mờ quá rõ không thể nào nhận thấy được, họ mới lẩm bẩm: «Miễn quân dịch». Và cứ như thế suốt cả ngày, và lính mới, đầu cạo trọc, cứ mỗi ngày lại được đưa thẳng tới các trại lính, rồi từ đây ra mặt trận, nơi chiến tranh vừa mới bắt đầu.

Ánh sáng lọt qua cửa chớp cắt thành những băng dài không ngừng quay tròn trong đầu ông. Ông nhắm mắt lại để khỏi nhìn thấy gì nữa. Nhưng hễ cứ khép mi mắt là ông lại thấy xuất hiện, càng rõ rệt hơn nữa, căn buồng lớn trống trải ở sở chỉ huy và trước cái bàn dài, những tân binh ngơ ngác, trần truồng, như những cây sáp trắng, trắng hếu.

Viên tướng đứng dậy. Đã đến giờ ăn tối. Ông ra hành lang để tìm ông linh mục. Một chị hầu buồng đi qua bảo ông rằng ông ta đã ra phố. Ông quay vào buồng và gọi điện thoại hỏi người gác cửa xem ông trung tướng có mặt ở khách sạn không.

Ra đến hành lang thì ông gặp ông ta đi về một mình.

- Tôi đang định tới tìm ông, viên trung tướng hỏi. Người gác cửa bảo tôi là ông đang ở trong phòng.

- Xin mời ông vào, viên tướng vừa nói vừa quay trở lại.

- Ông định ra phố à?

- Vâng, nhưng không sao cả.

- Hay là ta xuống dưới phòng khách chăng?

- Tùy ý ông.

Họ thong thả xuống cầu thang đá hoa, không nói gì. Ở dưới, phòng lớn vẫn nhộn nhịp như ban sáng, và hai cái máy điện thoại không ngừng réo chuông.

- Có nhiều đoàn đại biểu mới tới, viên trung tướng nói.

Ở phòng khách, họ tìm mãi mới được một chỗ ngồi trong một góc. Qua cửa sổ ở gần họ, trông ra đại lộ, họ có thể nhìn thấy những người đi dạo và, trên trời, những chùm ánh sáng chói lòa của pháo thăng thiên nở tung ra rồi, như một làn tuyết dày, sặc sỡ muôn màu, rơi xuống đám đông và cây cối đen ngòm của công viên, và một lát sau tắt ngóm, dìm tất cả vào bóng tối bấy giờ hình như lại càng thăm thẳm.

Một trong hai ông tướng gọi rượu raki, ông kia gọi cognac.

Từ quán rượu ở tầng dưới vọng lên những âm thanh của dàn nhạc, và cầu thang gỗ đi xuống đó luôn luôn cót két dưới chân khách khứa lên xuống.

Họ chạm cốc và bắt đầu uống. Rồi họ ngồi đó hồi lâu không nói. Viên tướng lại rót đầy vào các cốc. Ông thấy việc đó dễ hơn là mở đầu câu chuyện.

Bên ngoài, pháo hoa nổ lục bục và ánh pháo thỉnh thoảng lóe tới cửa sổ.

- Họ mừng chiến thắng! Viên tướng nói.

- Vâng, đúng thế.

Họ nhìn bầu trời sáng lóe tựa hồ như có một cái mũ sắt khổng lồ và đỏ rực đang rơi xuống, lấp lánh muôn nghìn ánh lửa, rồi đột ngột mờ đi, nguội dần và tắt ngấm trong lòng đêm tối.

- Sứ mệnh của chúng ta mới đẹp làm sao chứ!

- Thật còn khủng khiếp hơn cả chiến tranh, viên trung tướng nói. Tôi đã tham gia chiến tranh, nhưng cái này còn ghê sợ hơn!

Viên tướng nhìn cái ống tay áo rộng nhét vào túi áo dài.

«Ai nhìn chẳng biết mày đã tham gia chiến tranh!» Ông nghĩ thầm.

Cái đó đích thị là chiến tranh, viên tướng cụt tay nói. Những di hài kia chính là cái cốt tử của chiến tranh, là cái gì cuối cùng còn tồn tại lại, như chất kết tủa của một phản ứng hóa học vậy.

Viên tướng mỉm cười chua chát. Ông rót đầy các cốc, vẫn nghe thấy tiếng nhạc từ quán rượu vọng lên.

- Chắc ông biết những người mò hạt trai đôi khi vỡ phổi khi lặn xuống sâu quá. Đấy, ta cũng cảm thấy tim ta vỡ ra như thế dưới gánh nặng của công việc chúng ta làm.

- Đúng thế, thật thê thảm đến tan nát ruột gan.

- Chúng ta kiệt sức rồi, viên tướng nói.

Ông kia thở dài.

- Chúng ta đã bị bóng ma vũ khí của họ đánh bại. Nếu chúng ta thực sự phải chiến đấu thì không biết cơ sự sẽ ra sao?

- Nếu chúng ta đã chiến đấu thật? Có lẽ như vậy còn hơn!

- Tôi cũng nghĩ vậy.

- Mặc dù chiến tranh ở vùng núi rất gay go, viên tướng lại nói. Nhất là núi non như thế này. Tôi đã làm một công trình nghiên cứu về vấn đề đó, nhưng tôi đã nửa chừng bỏ dở. Vấp phải những khó khăn lớn. Tôi cho rằng chiến tranh ở đây còn gay go hơn cả chiến tranh của người Mỹ tiến hành ở rừng rậm Việt Nam.

Viên trung tướng gật đầu.

- Nếu chúng ta đã thực sự chiến đấu ư? Viên tướng nói tiếp. Thế thì, hai mươi năm nữa, các bạn đồng sự trẻ của ta sẽ tới tìm di hài ta.

«Còn mày, mày sẽ chẳng thể thoát nổi mà chỉ mất có một cánh tay đâu!» Ông thầm nói một mình.

- Ông nghĩ thế à?

- Vâng, và có lẽ chính họ đang vừa uống rượu ở cái bàn kia vừa nói về chúng ta chăng?

- Có lẽ thế, ông kia đồng ý. Phải chờ đón chuyện gì cũng có thể xảy ra được. Song cũng rất có thể xảy ra điều trái ngược lại.

- Ông biết không? Viên tướng nói. Một hôm tôi có bảo ông linh mục cùng đi với tôi rằng những câu chuyện giữa tôi và ông ta khiến tôi nhớ tới đối thoại của vài vở kịch ngày nay. Nhưng bây giờ tôi nhận thấy lời lẽ của chúng ta cũng giống thế. Tại sao những câu chúng ta nói lại kém tự nhiên đến thế. Có ý chua cay và lòe người như vậy?

- Vì chúng ta là người, và chúng ta có cân não, viên trung tướng xẵng giọng.

Viên tướng nhìn ông ta.

- Có lẽ ông nói đúng.

- Có những người chỉ ưa những món ăn thật cay chua, có phải đại khái cũng như thế không?

Viên tướng bật cười.

Vẫn nghe thấy tiếng nhạc ở tầng dưới vọng lên, và thỉnh thoảng cái lọc cà phê lại khẽ phì hơi, nghe như tiếng xả hơi của một đầu máy xe lửa nhỏ.

- Ông có còn nhớ cái sân vận động tôi đã nói chuyện với ông buổi tối hôm chúng ta mới quen nhau không? Viên trung tướng nói, cái hồi chúng tôi đang đào bới ấy.

- Sân vận động mà người ta không cho phép các ông bắt đầu công việc trước khi kết thúc giải vô địch ấy à?

- Vâng, chính thế.

- Tôi có nhớ, vâng, nhớ lờ mờ thôi. Các ông đã đào ở bên lề thì phải, và ông đã tả cho tôi nghe nước chảy xối trên các bậc bê tông khán đài như thế nào.

- Vâng, đúng thế đấy. Các hố đào rải rác vòng quanh rìa bãi đá bóng và bãi bóng rổ như những vết đen sì, và các bậc khán đài dài dằng dặc lênh láng những nước. Rồi chúng tôi đào vào ngay chính bãi, mới đầu ở chỗ anh thủ thành đứng, rồi trong khu hậu vệ, rồi tiến sâu vào phía trung tâm, tóm lại trên khắp bãi, chẳng bao lâu lỗ chỗ toàn hố là hố. Song đó không phải là chuyện tôi nghĩ tới.

- Vậy ông nghĩ tới chuyện gì?

- Hình như tôi đã có nói chuyện với ông về cô gái chiều nào cũng đến đợi người yêu trong những giờ tập luyện?

- Quả ông có kể chuyện về cô ta thật, nhưng tôi không nhớ rõ lắm.

- Thế này nhé! Chiều nào cô ta cũng đến đây, và khi trời mưa cô ta kéo cái mũ của áo mưa lên đầu và cứ đứng đó, ở một góc bãi, dưới các cột của khán đài, nhìn theo người yêu đang chơi trên sân bóng.

- À phải, bây giờ tôi nhớ ra rồi, viên tướng nói. Cô ta mặc một cái áo mưa xanh da trời, có phải không?

- Vâng, đúng đấy, viên tướng nói. Cô ta mặc một cái áo mưa đẹp, màu xanh da trời, và mắt cô còn xanh trong hơn nữa, tuy hơi lạnh lùng đôi chút, nhưng có lẽ tôi chưa bao giờ thấy đôi mắt nào đẹp hơn. Vậy là ngày nào cô ta cũng đến đây, còn chúng tôi thì cứ đào liên tục, thành thử cuối cùng các hố đã vây kín sân bóng.

- Thế rồi về sau ra sao? Viên tướng hỏi, giọng hờ hững.

- Chẳng có chuyện gì cả, chẳng có gì đặc biệt. Lúc gần tối, bọn họ thôi tập luyện, và bây giờ một cậu trong bọn quàng tay lên vai cô ta và hai người cứ ôm vai nhau như thế mà đi. Lúc ấy, ông ạ, tôi cảm thấy quanh tôi sao mà trống trải, lòng tôi sao mà buồn bã đến nỗi thế giới như có vẻ hoang vắng và vô nghĩa, cũng như sân vận động tối mò và trống rỗng kia. Mà ấy là tôi đã đến cái tuổi như thế này rồi đấy, ông có tin được không?

«A! Anh chàng si tình!», viên tướng thầm nghĩ.

- Đời thường có những chuyện như thế, ông kia nói tiếp. Đúng vào lúc không ngờ nhất, một ước mơ điên dại, vô lý, nảy mầm trong đầu óc ta như một đóa hoa mọc trên bờ vực thẳm! Tôi thì còn có liên quan gì, vâng, tôi, một anh tướng nước ngoài, và thêm nữa lại tàn phế, tuổi đã về chiều, kẻ đến nước này chỉ để nhặt nhạnh di hài của đồng bào mình, vâng, tôi còn có liên quan gì với cái cô gái nước ngoài kia chứ?

- Chẳng có liên quan gì thật, tất nhiên là chẳng có liên quan gì cả. Nhưng còn nghĩ đến cô ta, thì cái đó ông được phép lắm chứ. Ai mà chẳng có lúc theo đuổi một mơ ước hão huyền, nhất là khi nói về đàn bà. Đây này, mùa hè năm ngoái, ở bãi biển…

- Có lúc, ông cụt tay ngắt lời, tôi cho cái trạng thái ủ rũ ấy của tôi là tại cô ta choán hết cả tâm tư tôi, nhưng có lúc tôi lại không giải thích được nỗi buồn của mình. Không hẳn bản thân cô gái nọ làm tôi bối rối mà là một cái gì khác, không rõ rệt, trừu tượng, lọt vào lòng tôi một cách gián tiếp. Ông hiểu tôi chứ?

- Có lẽ tôi hiểu. Cô ta có cái gì làm ông bối rối: theo tôi, có lẽ đó chính là sự trẻ trung, là biểu hiện tự thân của sự sống. Đã bao lâu chúng ta trèo non lội suối để đánh hơi, như giống hổ lang, cái chết ở nơi nó ẩn nấp, dùng đủ mọi cách để lôi nó ra khỏi sào huyệt của nó. Và lâu dần ta đi đến chỗ hầu như quên mất tất cả những gì là đẹp đẽ trên trái đất này.

- Có lẽ ông nói đúng. Người ta bao giờ cũng cần bấu víu vào một cái gì như kẻ chết đuối bám vào một tấm ván! Còn tôi, tôi đã níu lấy hình ảnh cô gái kia. Ông cụt tay thoáng một nụ cười tắt ngay trên môi ông.

- Một buổi tối, tôi đã đến dự một đám cưới của họ, và tôi đã đứng dậy để nhảy với họ, - viên tướng nói, nhưng ông kia không để cho ông nói tiếp.

- Thế mà tôi, ông ta lại nói, mặc dầu tóc đã hoa râm, lại cụt một cánh tay, ông có biết một tháng sau, khi chúng tôi trở về thành phố ấy, tôi đã làm gì không? Tôi đã đi một mình đến bãi đá bóng vào buổi chiều, đúng giờ tập luyện thường lệ của các cầu thủ. Nhưng sân vận động đóng cửa, ngày hôm đó người ta không tập. Nhưng tôi cũng cứ xin vào, và người gác đã mở cổng sắt lớn ra cho tôi. Sân vận động ảm đạm và vắng vẻ hơn bao giờ hết. Các hố đã được lấp, song vẫn còn nhìn rõ dấu vết, như những vết thương đã thành sẹo trên mặt đất. Tôi đã đi một vòng, và đến gần những cột khán đài, chỗ cô gái ấy thường đứng đợi. Lúc ấy tôi cảm thấy lòng mình tràn ngập một nỗi buồn sâu sắc đến nỗi tôi đã nghĩ rằng tất cả cuộc đời tôi rồi sẽ bị đè bẹp dưới các bậc khán đài dài dằng dặc, ẩm ướt, cong cong kia, các bậc ngồi màu xám, trống không, cứ quay tròn, quay tròn mãi mãi, vô tận. Ông vẫn nghe tôi đấy chứ?

- Có chứ, viên tướng nói. Tôi đang nghe ông đây.

Họ chạm cốc và uống.

Ở bên ngoài, đã từ lâu pháo hoa không còn làm sáng rực bầu trời nữa, và cái công viên lớn trước mặt bây giờ chỉ trông thấy lờ mờ, sừng sững như một bức tường âm u trong đêm tối.

Hai người ngồi đối diện nhau, không nói, khi người gác cửa đem đến bức điện thứ hai.

- Cái gì thế? Viên trung tướng hỏi.

- Một bức điện, như các bức khác.

Viên tướng rót đầy các cốc.

- Họ chỉ có việc gửi hết bức điện này đến bức điện khác, họ tưởng đâu cứ đánh điện là có thể thu xếp xong chuyện được ấy.

Viên trung tướng chăm chú nhìn ông bằng đôi mắt mệt mỏi và đã toan hỏi, song ông ta lại cho là nên châm một điếu thuốc lá thì hơn.

- Ông có biết một bà già nước này đã bảo gì tôi một buổi tối ở một đám cưới không? Viên tướng hỏi. Rằng tôi đã đến đây để xem các bà cưới vợ cho con như thế nào, rồi một ngày kia trở lại đây giết con các bà ấy.

- Đó là những lời tàn nhẫn.

- Những lời tàn nhẫn? À! Ông cho đó là những lời tàn nhẫn ư? Nhưng ông sẽ nói sao nếu ông biết sau đó đã xảy ra chuyện gì?

- Tôi không được biết, ông kia nói.

- Như thế là hơn.

- Mời ông uống đi, ông bạn đồng nghiệp, viên trung tướng nói. Chúc sức khỏe ông! Xin chúc ông hồi hương được bình an. Tôi thèm được như ông biết bao!

- Xin cảm ơn ông bạn.

Viên tướng cảm thấy bắt đầu say.

Phòng khách lúc này vắng dần và cầu thang của quán rượu bên dưới chỉ họa hoằn mới lại cót két, nhưng người ta vẫn nghe thấy tiếng nhạc.

- Thế đức cha của ông bây giờ ra sao? Viên trung tướng chợt hỏi.

- Tôi nào có biết. Hẳn ông ta đang quanh quẩn đâu đây, để trả lời các bức điện nọ.

Ông kia ngạc nhiên nhìn ông và định hỏi tại sao, nhưng lại thay đổi ý kiến và nói:

- Ông có biết một lần tôi đã gặp chuyện gì ở một làng kia không? Đất thì rắn, pha cát và mặn. Đào rất khó nhọc. Khi mở các ngôi mộ, chúng tôi thấy các xác chết vẫn nguyên vẹn. Thật là một cảnh tượng xúc động. Chúng tôi đã phải đặt làm những quan tài lớn như cho người chết thực vậy.

- Lạ đấy nhỉ, viên tướng nói. Tôi thì chưa thấy thế bao giờ.

- Song đã hết chuyện đâu, ông kia nói. Tiếng đồn đi khắp vùng, và vài hôm sau một người dân làng làm một bài hát về chuyện ấy.

- Một bài hát à?

- Vâng, một bài hát. Tôi đã chép cả lời bài hát đó. Tôi để ở trên kia, trong phòng tôi. Đại ý như thế này: đất không nhận xác quân xâm lược, hay nó không chịu nhận, đại khái như thế. Xem chừng người Albania thực sự tin như vậy, vì họ chẳng biết gì mấy về hóa học.

- Nhưng chiến tranh thì họ biết lắm!

- À, cái đó thì đã hẳn. Bồi!

- Có lần chúng tôi còn nghe thấy một bài hát mà mới đầu chúng tôi cứ tưởng là một sự khiêu khích kia, viên tướng nói. Song đó là một bài hát cổ, mà lại là một bài tình ca.

- Thế à? Ông kia nói, giọng hờ hững.

- Lời đại khái như thế này: «Hỡi em Hanko xinh đẹp, đẹp như tranh, em đừng đi chơi giữa những nấm mồ, vì em sẽ làm cho người chết sống lại.»

- Lạ nhỉ, lạ nhỉ, viên trung tướng nói.

Họ nói hồi lâu hết chuyện này sang chuyện khác, song chiến tranh và các nghĩa địa luôn luôn trở lại trong câu chuyện. «Mỗi ý nghĩ của ta đều mang một tấm bảng con bằng tôn, giống những tấm bảng kia, viên tướng thầm nghĩ. Một cái biển nhỏ, chữ đã mờ và hoen gỉ, khó khăn mới đọc được. Tấm bảng kêu lạch cạch mỗi khi có gió và hầu như lúc nào cũng có gió. Như trong thung lũng nọ mà biển và thập ác đều nghiêng cả về phía tây. Và khi chúng ta hỏi tại sao đứng ngả tất cả về một phía, thì dân làng cắt nghĩa rằng đó là tại gió bao giờ cũng thổi về một hướng.»

Phòng khách hầu như đã vắng tanh khi bức điện tiếp theo đến nơi. Viên tướng cầm lấy bức điện trong tay người gác cửa và mở ra, không nhìn nơi gửi.

Ông vo viên nó lại như bức điện trước mà không đọc hết, rồi ném nó vào cái gạt tàn thuốc.

- Tối nay ông nhận được những bức điện rất bí mật, ông bạn đồng nghiệp ạ.

Viên tướng không đáp.

Ông kia thở dài.

- Tôi rất sợ những bức điện ban đêm.

Vẫn còn nghe thấy tiếng nhạc từ dưới nhà vọng lên, song người đi qua cầu thang gỗ mỗi lúc một thưa dần.

- Mấy giờ rồi? Viên tướng hỏi.

- Sắp nửa đêm.

«Ta không nên uống say đấy, ông tự nhủ. Khuya rồi. Nhưng dù sao ta cũng còn có thể uống thêm một hai cốc nữa.»

Họ lại chạm cốc nhau lần nữa, lí do gì thúc đẩy họ uống, viên tướng không sao phân giải rõ được. Ông thầm nghĩ: «Mà cũng chẳng cần biết tại sao chúng ta lại uống, hắn nghĩ đến thì mặc hắn.»

- Tôi đã toan hỏi ông, ông vừa nói vừa ghé vào tai bạn, ông đã bao giờ uống rượu với một ông linh mục nào chưa?

- Một ông linh mục à? Không, tôi không nhớ đã có dịp nào uống rượu với một ông linh mục. Tuy vậy tôi cũng không dám đưa tay vào lửa mà đoán chắc được.

Viên tướng không giữ được, lại nhìn ống tay áo rỗng, nhét vào túi áo dài.

«Mày chỉ có mỗi một bàn tay mà mày dùng nó hơi bừa quá đấy.»

- Không, tôi chẳng nhớ có lần nào cả, viên trung tướng nhắc lại.

Viên tướng gật gật đầu một hồi lâu.

- Thế đấy, đời là thế, ông mơ màng nói, một hôm người ta đi dưới mưa, hôm sau người ta uống rượu với một ông linh mục. Có phải thế không?

- Ừ, nhất định rồi.

- Ông có thật cùng ý kiến với tôi không?

- Sao ông lại có thể ngờ được điều đó?

- Xin lỗi ông. Tôi xin lỗi đã hỏi lại.

- Không dám.

- Hừ!

Viên tướng, mắt đăm đăm nhìn cái gạt tàn, chợt có một cử chỉ tỏ ý ngạc nhiên.

Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 26 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.