VIÊN tướng ngồi thụt sâu vào trong xe và chẳng còn biết làm gì khác, mở cuốn vở ra đọc.
12 tháng Hai năm 1943
Tôi không bao giờ muốn ghi nhật ký kể từ ngày còn ở trường trung học, lần đầu tiên tôi say mê một thiếu nữ, các bạn tôi tìm thấy cuốn nhật ký của tôi viết thời đó, tôi trở thành trò cười của họ. Tôi nhớ lại buổi ra chơi ấy, giữa giờ sử và giờ toán bỗng có kẻ từ trên cửa sổ ngoài hành lang tầng ba tung xuống những trang giấy trong cuốn sổ của tôi, chúng bay lượn như lá rụng, rải rác khắp sân, mọi người xúm vào nhặt lên đọc. Tôi phát khùng chạy từ đầu sân đến cuối sân để giằng lại trong tay họ nhưng tôi chẳng sao đuổi kịp được tất cả mọi người, tôi chỉ làm cho họ giễu cợt tôi thêm, còn cô gái nọ thì vừa khóc vừa chạy đi mách ban giám hiệu.
Thế là tôi thề từ đó nhất quyết không bao giờ ghi nhật ký nữa.
Nhưng giờ đây, những ngày ấy đối với tôi hình như đã bị vùi sâu trong quá khứ. Những kỷ niệm đó không khác gì những cuốn sách cũ vàng khè và bụi bặm mà ông tôi thường đọc vào buổi xế trưa. Phải chăng chính tôi là cậu bé vẫn hay đạp xe chạy khắp phố phường xung quanh và bao giờ cũng là người đầu tiên lấy vé đi xem bộ phim mới ở rạp trong khu phố? Tôi chẳng thể nào tin được.
Lúc này đây là một buổi tối mùa đông, tôi đang ngồi xổm trước bếp lò, lòng phân vân không thể nào hiểu nổi làm sao một người lính như tôi thuộc Sư đoàn Sắt lại phải chịu cái nông nỗi đi làm đầy tớ cho một lão chủ cối xay người Albania và chụp lên đầu mình một cái mũ trắng không vành mà người nông dân ở đây vẫn thường đội.
- Anh viết cái gì đó? Lão chủ nhà vừa hỏi tôi vừa rít chiếc tẩu màu đen bằng gỗ hoàng dương.
Ai ở đây cũng gọi tôi là «anh lính» và chẳng người nào nghĩ đến việc hỏi tên tôi. Vợ lão chủ gọi tôi như thế và cô con gái duy nhất của họ, cô Christine cũng gọi tôi như vậy. Tôi còn nhớ chính cô ta là người đầu tiên gọi tôi bằng cái tên đó. Sự việc xảy ra đúng vào cái ngày mà tiểu đoàn tôi bị quân du kích đánh chạy dài và sau khi vứt súng vào bụi rậm, tôi vắt giò lên cổ chạy qua khu rừng, cố men theo con kênh, vì tôi biết là bao giờ kênh đào cũng dẫn tới nơi có người. Tôi đã không lầm. Đúng là con ngòi đưa nước vào cối xay, nơi tôi ở hiện nay, và khi tôi gõ lên cánh cửa cũ kỹ, người thiếu nữ Albania mở cửa cho tôi đã kinh ngạc kêu lên:
- Cha ơi! Một «anh lính».
Vào cái ngày tháng giêng ấy, cuộc đời đi ở kỳ lạ của tôi ở đất nước người đã bắt đầu như vậy đó.
- Nếu mày có thể giúp việc được cho tao, lão chủ cối xay bột nói, mày sẽ có nơi ăn chốn ở, hơn nữa, mày còn được tao che chở. Tao đã già, chân tay không còn sức làm được bao lăm. Đứa con trai độc nhất của tao đã vào chiến khu. Nhưng tao bảo trước cho mày biết, đừng có làm bậy mà rồi oan gia đấy.
Chắc lão muốn ám chỉ đến cô con gái, và tôi hứa hết sức thành thật là nếu lão đồng ý, tôi sẵn sàng giúp việc lão cho đến khi chiến tranh kết thúc.
Nhưng bỗng nhiên lão trừng trừng nhìn tôi, cái nhìn nghiêm nghị, sắc sảo:
- Nghe đây, tên kia, phải chăng mày là gián điệp?
- Tôi là gián điệp ư? Tôi sửng sốt trả lời.
- Tao mà biết thì mày bỏ đời đấy, tao sẽ treo cổ mày lên xà kho thóc!
Đó là bản giao kèo giữa hai chúng tôi.
Cho đến nay hơn một tháng đã trôi qua và bây giờ tôi làm vô số công việc: đốn củi ở rừng, nạo ngòi dẫn nước vào cối xay, đẽo cối, đảo ngói trên mái, lau chùi và cho dầu mỡ vào các bánh xe, đổ bột vào túi và dốc bột ở túi ra.
Các bạn tôi ở tiểu đoàn và những người thân thích của tôi chắc chắn tưởng tôi đã chết rồi. Nếu họ thấy tôi trong tình cảnh này, tôi, một cựu binh «Sư đoàn Sắt», lem luốc, bột trắng toát từ đầu đến chân, với cái mũ này trên đầu, hẳn họ sẽ kinh ngạc vô cùng và chắc sẽ phải cười phá lên.
25 tháng Hai năm 1943
Trời rất lạnh. Gió thổi suốt ngày ròng rã, dữ dội đến nỗi tưởng chừng cối xay sẽ bật khỏi nền. Mọi người làm việc rất ít. Mùa đông rét quá, hiếm có người trong làng dám ra cối xay để xay một túi ngô hoặc mì. Năm nay, đồng áng vắng tanh. Nhiều làng xung quanh đã bị đốt cháy hoặc bỏ hoang. Vài người nông dân ra cối xay kể lại những chuyện rùng rợn.
Đôi khi tôi dừng lại lắng nghe tiếng gió gầm rít át cả tiếng nước ào ào trong ngòi và có cảm tưởng như gió gào thét trên toàn trái đất.
28 tháng Hai năm 1943
Đêm qua tuyết rơi. Tôi chưa bao giờ thấy tuyết đẹp như vậy. Gió đã ngừng rít và giờ đây, mọi vật đều trắng toát, yên lặng. Thật khó mà tin được rằng người ta đang đánh nhau trên khắp thế giới mặc dầu chiến tranh diễn ra ngay kề bên.
Biết bao giờ chiến tranh mới kết thúc!
9 tháng Ba năm 1943
Lão chủ cối xay đối xử với tôi khá tốt. Cũng phải nói rằng về phần tôi, tôi làm cho lão đủ mọi việc, mà là làm một cách vui vẻ. Hôm qua tôi đã sửa lại một bên mái bị gió làm hư. Lão rất hài lòng về tôi, lão bảo:
- Này, anh lính, mày khéo chân khéo tay đấy. Rồi nhìn tôi chòng chọc từ đầu đến chân, lão nói tiếp, giọng giễu cợt:
- Tao thấy có lẽ chỉ có chiến tranh là mày không thạo thôi.
Tôi đỏ bừng mặt. Đó là lần đầu tiên người ta ám chỉ đến việc đào ngũ của tôi.
- Không đúng đâu ông ạ, tôi phật ý trả lời. - Tôi không muốn chiến đấu là vì tôi không tán thành cuộc chiến tranh này, có thế thôi!
Lão liền vỗ vai tôi:
- Tao không muốn làm mày mếch lòng đâu, lão vừa nói vừa mỉm cười. Tao nói thế thôi. Thực ra, mày từ bỏ bọn phát xít là rất đúng.
Những lời nói ấy ám ảnh tôi suốt ngày. Tại sao lão chủ cối xay lại nói với tôi như vậy? Chính bản thân lão ủng hộ du kích và ghét bọn phát xít.
Nhưng tôi nhận thấy là người Albania rất kính phục lòng dũng cảm, dù là lòng dũng cảm của kẻ thù. Họ khinh miệt bọn nhát gan, và hẳn là tôi đã gây cho lão có ấn tượng tôi là một thằng hèn. Một gã to lớn như tôi, cao một mét tám mươi hai, mà lại là một thằng hèn!
Nếu quả thật họ cho tôi là một thằng hèn, tôi sẽ hối tiếc vô cùng. Nhất là trước mặt Christine, tôi sẽ rất hổ thẹn. Christine trẻ và đẹp biết bao! Cô ta chưa đến mười bảy tuổi và mỗi lần gặp cô, tôi cảm thấy tim mình xẹp xuống như chiếc lốp xe đạp bỗng xì hơi. Như thế đấy.
20 tháng Ba năm 1943
Hôm nay xảy ra một sự việc kỳ lạ. Tôi vào rừng đốn củi, lúc trở về, bỗng thấy một người ngồi trên ngưỡng cửa trước cối xay. Tôi ngừng bước và nghe ngóng, sửng sốt. Anh ta khẽ huýt sáo một điệu của quê hương tôi. Tôi liền tới gần và qua bộ quần áo rách mướp, tôi nhận ra dấu vết bộ quân phục của anh ta. Tôi kêu lên:
- A! Anh bạn! Chào anh!
Anh ta ngừng huýt sáo, đứng phắt dậy. Chúng tôi chưa hề gặp nhau bao giờ nhưng chúng tôi đã ôm chầm lấy nhau như những người bạn cố tri rồi cùng ngồi xuống bậc cửa.
Tôi hỏi:
- Cậu ở trung đoàn nào đấy?
- Trung đoàn «Vinh quang».
- Tớ ở «Sư đoàn Sắt»
- Đây là chuyện cũ, anh ta nói. Còn hiện nay chúng ta là gì lại là một chuyện khác.
Chúng tôi phá lên cười.
- Cậu xoay xở thế nào? - Tôi hỏi. - Chuồn lâu chưa?
- Bốn tháng rồi? Còn cậu?
- Hơn hai tháng một chút.
- Cậu làm việc ở đây ư?
- Ừ.
- Chỗ này đẹp đấy, cứ như là Thụy Sĩ ấy.
- Cậu đến đây với ai thế?
Anh ta cười vui vẻ.
- Với ông chủ mình. Bọn này đem hai túi ngô lại xay.
- Có gì mới không? Tôi hỏi. Tớ hoàn toàn trơ trọi, chẳng biết chuyện gì xảy ra trên đời nữa. Chiến tranh đến đâu rồi? Bao giờ thì kết thúc?
- Theo người ta nói thì cũng chẳng còn mấy nỗi nữa. Quân ta chắc chắn chẳng còn cầm cự được bao lâu.
- Còn bọn mình? Rồi thì ra sao đây?
- Chiến tranh kết thúc, ta sẽ trở về quê hương bản quán chứ gì nữa.
- Liệu chuồn như thế này chúng ta có bị lôi thôi gì không nhỉ?
- Cậu điên à? Nghĩ gì mà lạ vậy? Ai lôi thôi với mình mới được chứ? Chính bọn đưa ta đến đây mới bị lôi thôi, họ sẽ phải trang trải món nợ này với chúng ta.
Những lời nói đó làm tôi phần nào yên tâm và chúng tôi châm thuốc hút.
- Có khối lính như chúng ta trong vùng này, anh nói tiếp. Vô số! Nhân dân Albania rất cần người giúp việc, vì con cái họ phần lớn đều vào chiến khu. Dân làng rất thích mướn bọn ta. Tớ đã thấy anh em ta làm đủ mọi việc, từ cày cấy, chăn gia súc đến trông trẻ. Thật đấy, họ làm cả vú em!
- Cậu thấy thế à? Tôi vừa hỏi vừa cười.
- Thì có sao! Cậu không thấy người ta cho chúng mình sống được chẳng phải đã là một điều kỳ diệu rồi ư? Nếu không thì cánh ta đã chết thối ra dưới một cái hố nào đấy, chẳng ma nào biết là xác cánh ta rải rác ở đâu nữa kia!
- Đúng thế đấy.
- Còn vấn đề phụ nữ, cậu làm thế nào? Anh hỏi tôi.
- Chẳng làm gì cả.
- Về khoản này đành siết chặt thắt lưng lại mà nhịn thôi, chẳng thấy đâu có cả. Một thằng trong bọn ta tán tỉnh một cô bé ở địa phương quá sát sàn sạt nên đã bị tống khứ ra khỏi cửa sau một trận đòn ra trò.
Tôi nín lặng.
- Nhưng cậu này, tớ tưởng cậu sống ở đây thoải mái lắm đấy chứ, hắn nhìn tôi, đôi mắt xám và tinh ranh ánh lên vẻ vui đùa. Lúc nãy tớ trông thấy con gái ông chủ cậu, kháu quá!
- Cậu điên à? Nghĩ đến tớ cũng chẳng dám nữa là. Cậu chẳng vừa nói ra là nguy hiểm thế nào đấy ư?
- Đúng, đúng, tớ có nói thế nhưng tớ có cảm giác là ở đây thì khác. Phong cảnh đẹp, thanh bình, tớ xin nhắc lại, cứ như ở Thụy Sĩ ấy.
- Thế còn quả đấm của ông chủ cối xay, cậu chưa trông thấy ư?
Anh ta văng ra một lời tục tĩu và cả hai chúng tôi phá lên cười.
Từ trong cối xay, tiếng cối nghiền thóc vù vù đều đều vẳng đến tai chúng tôi.
Anh ta lấy túi thuốc lá ra, cuộn một điếu y như nông dân vùng này, rồi cuộn cho tôi một điếu khác, tôi chưa tập cuộn lấy được.
- Này cậu ạ, anh nói, mắt lim dim, tư lự. Cậu có nghe thấy nói gì đến «Tiểu đoàn Xanh» không?
Tôi giật mình.
- Không, tôi khe khẽ trả lời. Thế sao?
- Người ta đồn là chúng đang càn đâu đấy ở miền Trung Albania.
- Xa đây lắm phải không?
- Đúng, khá xa, anh ta trả lời, nhưng có quỷ biết được tình hình chuyển biến ra sao, và anh ta gãi gãi gáy.
- Liệu chúng có thể tới tận vùng này không?
- Biết đâu đấy? Mọi chuyện đều có thể xảy ra được.
Anh yên lặng hút thuốc một lát.
- Có thể chúng sẽ chẳng qua đây, tôi nói tiếp, hoặc có thể du kích sẽ diệt chúng.
- Cũng có thể, nhưng tuy giao chiến với du kích cũng nhiều và bị thiệt hại cũng nặng, lần nào chúng cũng được bổ sung thêm.
- Chúng có bao nhiêu quân?
- Chín trăm, toàn bọn phát xít điên cuồng. Đâu chúng đặt chân tới là chỉ có tàn sát và khủng bố. Còn đối với chúng ta, những kẻ đào ngũ…
- Sao? Tôi hỏi và cảm thấy tim tôi đập chậm lại.
- Nhất định là bắn ngay tại chỗ rồi.
- Ôi lạy Chúa! Tôi lẩm bẩm nói.
Chúng tôi còn ngồi đó một lúc nữa trên bậc cửa, chuyện này chuyện khác. Lão chủ tôi và người dân làng còn đang dài dòng bàn tán bên trong. Ngô xay xong, hai người khách lên đường, mỗi người vác một túi trên vai, người dân làng đi trước, người lính theo sau. Chúng tôi chúc họ đi đường bình an.
2 tháng Tư năm 1943
Giờ đây đã là mùa xuân. Chúng tôi rất bận. Từ khắp các vùng xung quanh, nông dân mang thóc đến xay, người đi bộ, người cưỡi ngựa hoặc cưỡi lừa. Mỗi lần nghe thấy tiếng nhạc ngựa loong coong, tôi lại vui mừng thấy có người đến vì cảnh cô đơn đối với tôi nặng nề quá.
Lão chủ cối xay là một người tốt và công bằng, chỉ phải cái tội là dè xẻn lời nói quá. Tôi nhận thấy người Albania, nói chung, rất ít nói, nhất là nam giới. Ròng rã suốt ngày, lão chỉ rít cái tẩu thuốc và có trời biết được lão nghiền ngẫm những ý nghĩ gì sau làn khói thuốc lá. Tôi chuyện trò với vợ lão nhiều hơn - «bác Frosa» như tôi thường gọi. Bà cụ hỏi tôi đủ mọi chuyện, về cha mẹ tôi, về những người thân của tôi, về nhà tôi. Khi tôi tâm sự là tôi khao khát được gặp lại gia đình, bà cụ nhìn tôi lắc đầu ái ngại:
- Tội nghiệp cho cháu, bà cụ khe khẽ nói rồi bỏ đi nhào bột hoặc rửa bát đĩa.
- Thế giờ đây, cháu vắng nhà, có ngày bà cụ hỏi tôi, thì ai trông nom gia súc?
Tôi cười.
- Nhưng nhà chúng cháu làm gì có.
- Bò cái cũng không à?
- Vâng, bò cái cũng không. Nhà cháu sống ở thành phố.
- Vả lại, dù nhà cháu có bò cái đi chăng nữa thì nay cháu đi vắng, chó sói nó cũng ăn thịt mất rồi. A, cháu ạ, thời buổi bây giờ, người với người, họ cũng cắn xé nhau như thú dữ, chứ đừng nói đến chó sói.
Tôi chẳng biết nói gì để đáp lại lời bà cụ.
Một hôm khác, bà cụ hỏi tôi về chiếc hình trái tim đeo ở cổ.
- Cháu đeo cái gì ở cổ thế? Trông như một đồng xu Thổ Nhĩ Kỳ lớn ấy nhỉ.
Tôi cười.
- Đấy là một dấu hiệu mà bọn lính chúng cháu đều đeo để khi tử trận người ta có thể nhận được ra là ai. Đây ngay bên dưới hình Đức bà Đồng trinh có một con số, bà thấy không?
Bác Frosa đeo kính vào, cặp kính rất kỳ cục, một bên mắt rạn vỡ.
- Thế ai cho cháu cái đó?
- Cấp trên của chúng cháu.
- Sét đánh chết chúng đi! Bà cụ nói và vừa bỏ đi vừa làu bàu.
Những chuyện tôi thường nói với bác Frosa là như thế đấy. Còn Christine thì ít khi tôi gặp mặt, được nói chuyện với nàng lại còn ít hơn nữa. Dĩ nhiên chính nàng là người tôi mong muốn được chuyện trò hơn cả, nhất là bây giờ tôi đã nói được tiếng Albania khá thạo. Nhưng không thấy nàng ra cối xay. Cả ngày nàng bận công việc nội trợ, thời giờ còn lại nàng đan len. Ngay cả khi nàng tới báo cho chúng tôi là bữa ăn đã sẵn sàng, nàng cũng chỉ dừng lại chốc lát tại cửa. Nàng liếc mắt lén nhìn tôi, đôi mắt dịu dàng thầm kín, rồi quay ngoắt đi, tôi còn nhìn thấy mái tóc nâu của nàng một lúc lâu trước khi nàng đi khuất.
Đôi khi nàng cũng chẳng xuống dưới nhà, chỉ đứng ở cửa sổ trên gác gọi xuống:
- Cha ơi! Bữa ăn dọn rồi đấy!
Khi bất chợt thấy tôi ở ngoài sân, nàng gọi to bảo tôi:
- Này anh lính, bảo hộ cha tôi là bữa ăn đã dọn rồi đấy!
Khi mọi người ngồi vào xung quanh chiếc bàn rộng và thấp, không bao giờ nàng ngước mắt nhìn lên. Tôi cũng vậy, tôi cứ cúi gằm xuống đĩa.
Rồi tôi nghĩ đến nàng suốt cả buổi tối, đôi khi tôi ra đứng trước cửa, mắt bâng khuâng nhìn vào đêm tối, nghe tiếng suối róc rách mà thả hồn trôi vào mơ mộng.
17 tháng Tư năm 1943
Nông dân tiếp tục đổ đến xay thóc. Họ nói có nhiều chuyện kỳ lạ xảy ra trong các vùng đã được quân du kích giải phóng. Người ta đang thành lập những loại «Ủy ban» chưa từng thấy từ trước tới giờ; người ta chia thóc của bọn nhà giàu; có cái gì mới lạ mà tôi không thể hiểu được đang hình thành.
25 tháng Tư năm 1943
Hôm nay Christine đã mỉm cười với tôi.
Đêm qua bọn trộm định làm một vố ở ngoài cối xay.
Mọi người đang ngủ cả thì Djouvi, con chó gộc, sủa vang. Tôi giật mình tỉnh dậy.
Tôi phân vân không biết có chuyện gì xảy ra và thấy rợn cả người. Lúc đó đã khuya, vào khoảng nửa đêm, và vào giờ này còn ai dám thò ra khỏi nhà nữa.
Giờ đây con Djouvi lại càng sủa dữ và tôi nghe thấy có tiếng răng rắc nhè nhẹ ở cầu thang gỗ. Có người từ tầng trên đi xuống, vào phòng bên ngoài, phòng tôi nằm. Đó là lão chủ cối xay. Một tay lão ra hiệu cho tôi theo lão, tay kia tôi thấy lão cầm một khẩu súng trường. Tôi cũng vớ một chiếc gậy lớn đi theo lão. Tim tôi đập mạnh tưởng vỡ được. Ngộ bọn chúng đến thì sao? Tôi nghĩ thầm. Biết đâu có kẻ tố giác mình?
Lão chủ cối xay dừng lại sau cửa, lắng tai nghe. Không còn thấy tiếng động nào ở bên ngoài nữa, không nghe thấy tiếng nói hay tiếng chân đi. Tôi nghĩ thầm: «Nếu là bọn chúng, chúng chẳng thận trọng quá như vậy!»
Bỗng có tiếng kèn kẹt nhè nhẹ, rồi một vật gì gãy răng rắc.
- Trộm! Lão chủ cối xay lẩm bẩm và mở cửa. Lão bước hai bước ra ngoài đêm tối, đưa súng lên vai và bắn. Trời ơi! Tôi chưa hề nghe thấy tiếng súng nào nổ to như vậy, khạc ra ngọn lửa lớn như thế! Ai biết được nhãn hiệu cổ lỗ sĩ của khẩu súng đó. Lão chủ cối xay lại đưa súng lên vai và bắn về phía cối xay. Tiếng súng vang ra xa rồi từ hẻm núi bên cạnh dội lại.
Có tiếng chân người từ phía cối xay vọng tới! Lão chủ cứ lom khom lao đi, tôi chạy theo, tay cầm chiếc gậy.
Chúng tôi chạy một lúc lâu, hết cả hơi phải ngừng lại.
- Chúng chạy mất rồi, lão chủ cối xay nói, ta đi về thôi.
Chúng tôi quay lại, không ai nói một lời.
- Thế nào? Bác Frosa hỏi khi chúng tôi trở về.
Hai mẹ con bà cụ đang đứng ở phòng ngoài tối om, nhưng tôi cũng nhận ra là bà cụ cầm một chiếc gậy lớn.
- Trộm đấy! Lão chủ cối xay nói.
- Trộm, tôi nghe thấy tôi nhắc lại và tôi phát hiện ra trong tận đáy lòng mình ngấm ngầm một niềm vui sướng và tự hào. Xưa nay tôi chưa bao giờ tưởng tượng được rằng cúi lom khom đuổi trộm trong đêm tối mà lại có thể thấy vui thích được.
- Ôn dịch bắt chúng đi! Bác Frosa nói, lo nghĩ thế này còn chưa đủ hay sao!
- Tất nhiên, hiện nay đang thời chiến, lão chủ cối xay nói, Christine, con có sợ không?
- Có ạ, nàng thú thật và tôi cảm thấy chưa bao giờ được nghe giọng nói êm dịu, âu yếm bằng. Tôi cố nhìn đôi mắt nàng trong đêm tối nhưng không được.
- Thôi chúc anh ngủ ngon, «anh lính» nhé, lão chủ cối xay nói và bước lên thang gác trước tiên. Hai người đàn bà theo sau. Bậc thang cuối cùng rền rĩ rồi ngôi nhà trở lại tĩnh mịch, im ắng.
Sáng hôm sau, nhìn cánh cửa cối xay, chúng tôi thấy ổ khóa đã bị phá và không hiểu sao, tôi cảm thấy trong lòng trống trải.
25 tháng Năm 1943
Tôi mơ tưởng đến nhiều chuyện nhưng nghĩ nhiều nhất đến Christine. Rất nhiều ý nghĩ ngông cuồng luẩn quẩn trong đầu óc tôi, tôi biết rõ đó là những chuyện vô lý nhưng dù sao tôi cũng cứ thích nghiền ngẫm trong đầu.
Hôm qua vào khoảng giữa trưa, tôi nằm dài bên ngòi và chẳng biết làm gì, tôi ném cuội xuống nước. Những cây ngô đồng xào xạc xung quanh và tôi ru mình theo tiếng nước róc rách.
Đột nhiên tôi nghe thấy ầm ầm, tiếng chân người bước, tiếng nói, tiếng còi, tiếng vó ngựa. Tôi đứng phắt dậy và tôi nhìn thấy gì? Một đoàn quân ta dài dằng dặc hầu như đã tới gần cối xay. Tôi muốn chạy trốn nhưng không hiểu tại sao, chân tôi không chịu nhúc nhích. Tôi đứng đó như đóng đinh tại chỗ. Họ tiến về phía tôi, vây chặt lấy tôi. Một tên vừa hỏi tôi vừa lén lút làm hiệu cho tôi.
- Cối xay đây hở?
Tôi kinh hoảng trả lời:
- Phải.
- Nào! Đốt cái này ra tro cho tao! Hắn vừa thét lên vừa lao đi trước. Những tên khác chạy theo. Tôi cũng nhập vào bọn họ. Tôi không hiểu tại sao chân tôi như được cởi trói và tôi cảm thấy hăng hái nhanh nhẹn tựa hồ cơ thể tôi đã được giải mê. Cái hăng say và cái tàn bạo của tôi trong khi chúng tôi đốt cháy sáu làng liền trong chiến dịch mùa đông năm ngoái, nay lại xâm chiếm con người tôi.
Chúng tôi vừa xông vào vừa la hét như điên cuồng. Hai tên châm lửa đốt cối xay. Vài tên khác túm lấy lão chủ cối xay và lôi lão ra ngoài, bắn chết ngay ở ngưỡng cửa.
Tôi nghĩ đến Christine. Tôi leo lên thang gác, nhảy bốn bước một. Mấy tên lính khiêng bác Frosa xuống, chân tay bị trói chặt. Nhìn thấy tôi, bà cụ nhổ vào mặt tôi, thét lên:
- Đồ chó! Đồ gián điệp!
Nhưng mặc, tôi chỉ nghĩ đến Christine. Tôi chạy vào buồng nàng và lao lên giường nàng. Toàn thân nàng run bắn!
- Không! Không! Anh lính ơi!
Nhưng máu đã bốc lên đầu tôi bừng bừng, tôi phải hành động cho nhanh nhanh, thời gian gấp lắm rồi.
Tôi lật tung chăn, xé phăng chiếc áo lót mỏng và đè lên nàng:
- Anh lính! Anh lính!
Tôi giật mình tỉnh dậy. Có tiếng Christine gọi tôi. Bên cạnh tôi cũng như lúc nãy, dòng nước vẫn lặng lẽ róc rách và mùi rơm rạ vẫn thơm phức. Tôi đã chợp mắt đi mất một lúc.
- Anh lính! Anh lính!
Tôi nặng nề bước quay về nhà. Christine hiện ở cửa sổ giữa.
- Mẹ tôi gọi anh đấy, nàng nói:
Tôi lại dụi mắt một lần nữa.
Nếu nàng biết được giấc mơ của tôi hồi nãy!
24 tháng Sáu 1943
Dân Gjirokastër rời khỏi thành phố và tản về các vùng xung quanh. Họ bước đi mệt mỏi, tay nải khoác trên vai, đàn bà ẵm con, người già lê bước một cách khó nhọc. Cả một sự hốt hoảng. Họ nói rằng người ta sắp châm lửa đốt thành phố. Có người lại quả quyết là người ta sẽ phá bằng mìn. Tóm lại, người ta chờ đợi những sự việc ghê gớm.
Những người chạy trốn ẩn náu tại nông thôn. Người thì đi sang các khu giải phóng, người thì ở lại các vùng không bên nào kiểm soát, như ngôi làng gần cối xay của chúng tôi.
Thành phố Gjirokastër ngày nào cũng bị ném bom. Đôi khi tôi leo lên cây ngô đồng cao ngất, sừng sững bên kia suối và nhìn về thành phố. Thành phố nom như đang leo lên núi, bám chặt vào đó, nhất định không chịu rời. Tôi đã đóng ở đấy với trung đoàn tôi hơn một năm và tôi thuộc hết tất cả các phố phường ngõ ngách, tất cả các quán rượu và hàng bán gofté. Tôi còn biết cả hai ả gái điếm ở khu phố Varosh.
Thành phố thường thường bị bom vào buổi sáng hồi chín giờ rưỡi và buổi chiều vào hồi bốn giờ. Khi không có việc gì làm, tôi leo lên ngọn cây này trước khi máy bay tới và tôi chờ chúng, mắt đăm đăm sục sạo khắp chân trời. Bên phải là làng Grihoti, nơi sư đoàn tôi đóng với những doanh trại mới, rộng rãi, có ngọn đồi cao nhìn xuống làng, và trên đỉnh đồi có một teqe trơ trọi xung quanh trồng trắc bá; ở chân đồi, về phía lòng sông đầy cuội, là nhà thờ và nghĩa địa công giáo, có chiếc cầu tôi đã đứng canh gác không biết bao nhiêu đêm ròng, sân bay quân sự, rồi giữa dòng sông và ngọn đồi Thánh Ba Ngôi là các khu phố bậc thang trên sườn núi, các ngọn núi đã khơi sâu dòng nước chảy và những chiếc cầu nối liền các khu vực khác nhau của thành phố.
Máy bay đến rất đúng giờ. Từ phía Bắc lại, chúng thường lao tới qua đèo Tepelene. Súng phòng không ở Grihoti phát hỏa trước nhất. Tiếng súng không tới được chỗ chúng tôi, chỉ trông thấy những đám khói trắng của đạn trái phá nổ. Rồi đến súng phòng không đặt trên đồi có cái teqe hoạt động nhưng cũng chẳng làm đường bay của chúng rối loạn gì mấy. Chúng cứ bình tĩnh bay về thành phố và tôi hình dung lúc này tiếng còi báo động rú lên ở Gjirokastër, mọi người vội vã rút xuống hầm. Thật lạ lùng, chỉ có ba cái vật nhỏ bé kia lấp lánh bay dưới ánh nắng nom như những đồng tiền bằng bạc tung cao lên bầu trời, mà cả thành phố phải khiếp đảm, kinh hoàng.
Những khẩu súng phòng không bắn sau rốt là những khẩu đặt trên các tháp cao của tòa thành. Đứng đây thấy rất rõ hoạt động của bọn phi công, trước hết chúng hạ thấp dần rồi lao xuống sát mặt đất, bay là là trên sân bay quân sự rồi vọt lên và lại lao xuống, mỗi lần như vậy lại thả những trái bom nặng.
Đứng đây trông thấy những cột khói đen từ các ngôi nhà bị tàn phá bốc lên rồi máy bay lại rút đi theo đường chúng tới, bình tĩnh và bóng loáng, như không hề có việc gì xảy ra vậy.
Tất cả những hình ảnh đó chỉ nhìn thấy được vào ban ngày còn ban đêm thành phố tối om trong cảnh tắt đèn phòng không. Cùng với mặt trời lặn, cảnh vật chìm dần vào đêm tối. Trước hết bóng đêm nuốt các ngõ hẻm, các ngôi nhà thấp, chiếc cầu vắt qua sông, rồi lần lượt nuốt hết các tầng gác, từng tầng một bắt đầu từ dưới lên, các khu phố, các cầu trên các dòng suối và sau cùng là tòa thánh, các gác chuông, các tháp giáo đường với những tổ cò sùm sụp trên ngọn.
Chiều hôm qua, tôi đang ngắm nhìn thành phố tràn ngập vào trong đêm tối và biến đi như thể chưa bao giờ thấy ánh sáng mặt trời, tôi nghĩ đến nỗi bất hạnh chúng ta phải sống trong cảnh tối tăm, phải trốn tránh chính bản thân ta. Và tôi nhớ đến một đêm tương tự, cách đây gần ba tháng, khi đại đội tôi tiến về phía Nam, lần đầu đi qua thành phố Gjirokastër.
Chuyện xảy ra vào một đêm nóng bức, trời muốn đổ mưa. Vừa tới doanh trại Grihoti, mặc dù mệt lử, nhớp nhúa, chán ngán, chúng tôi vẫn cứ yêu cầu được dẫn đến nhà chứa. Ban chỉ huy đồng ý. Tức thì như có phép thần thông biến hóa, chúng tôi lập tức thấy tỉnh táo khỏe khoắn và trong tình trạng đó, với bộ râu bao ngày chưa cạo, bùn vấy đầy người, thậm chí súng không kịp rời khỏi vai, chúng tôi lại hàng ngũ chỉnh tề bước ra khỏi trại qua cổng lớn. Nhà chứa ở vào trung tâm thành phố và chúng tôi phải đi hơn một cây số nữa mới tới. Nhưng giờ đây, chân chúng tôi không còn nặng nhọc nữa, chúng tôi xếp thành hàng đi trên lòng đường tối om, trao đổi những câu bông đùa tục tĩu hoặc chọc ghẹo nhau; chúng tôi chẳng đòi hỏi gì hơn, chỉ cần thế thôi đã lấy làm sung sướng lắm rồi. Chúng tôi không được phép hát ban đêm, nếu không có trời biết được sẽ ồn ào ầm ĩ như thế nào. Đúng là những giờ phút sung sướng của cuộc đời người lính khi đi thành cơ ngũ trên một quãng đường yên ổn vô sự vào một đêm hè, súng đóng chốt an toàn. Tôi còn nhớ rõ như chuyện mới xảy ra hôm nay. Một người trong chúng tôi khe khẽ huýt sáo một giai điệu cổ và trên đường đi, tôi nhìn thấy hình bóng ngọn núi Lunxhëria ghê rợn lù lù ở bên trái, nom như sát ngay cạnh, tưởng chừng chỉ giơ tay ra là với tới, còn ở bên phải sừng sững đen ngòm ngọn Mali Gjerë, nơi thành phố tựa lưng vào đó.
Đi đến chỗ cầu bắc qua sông, lính của trạm kiểm soát hỏi giấy tờ chúng tôi, rồi để đi cho nhanh, chúng tôi rời khỏi đường cái đi theo đường tắt.
Tới khu phố Varosh mé dưới thành phố chúng tôi leo lên các đường phố dốc thoai thoải. Thành phố im lìm như chết. Phần lớn các cửa sổ đều đóng kín mít chỉ có vài cái là để ngỏ, cắt lên tường những hình chữ nhật mờ tối. Chúng tôi gõ giày đinh to kếch sù rầm rập trên hè, và sau những cánh cửa chớp, sau những cánh cửa ra vào to nặng, dân thành phố chắc hẳn đang run sợ kinh hãi khi nghĩ đến một cuộc tàn sát mới có thể xảy ra. Nếu họ biết chúng tôi đang đi tới đâu!
Cuối cùng chúng tôi tới «ngôi nhà» như chúng tôi gọi tắt với nhau. Đêm tối như mực và thời tiết nặng trĩu, ngột ngạt. Chúng tôi dừng lại trước cửa. Viên sĩ quan dẫn chúng tôi đẩy cửa bước vào.
Ngôi nhà yên lặng, tối mò. Có vẻ chẳng có người khách nào bên trong.
- Hay là các cô nàng ngủ, một người trong bọn chúng tôi lo ngại nói.
Chúng tôi đều bồn chồn vì mãi vẫn chưa thấy viên sĩ quan trở ra.
- Dù các nàng có ngủ đi chăng nữa thì cũng phải dậy, mà dậy cho nhanh lên, một người nói.
- Đúng, một người khác tiếp. Chúng ta mặc quân phục, họ phải tôn trọng ta. Nhất là chúng ta lại chỉ đi qua đây thôi.
- Hôm qua ta ở đây, chắc gì ngày mai còn ở đây nữa, một giọng nhỏ nhẹ khàn khàn thốt lên.
Nhưng rồi mở cửa, viên sĩ quan trở ra, chúng tôi ùa cả lại vây quanh lấy hắn.
- Thế nào? Một tiếng nói trong bóng tối.
- Nghe đây, viên sĩ quan lên tiếng. Các anh được vào ngay lập tức. Nhưng không được làm ồn, nếu không các anh sẽ phải về ngay. Nào! Xếp hàng vào!
Mọi người xếp hàng quấy quá cho xong, có trời biết được ra cái hàng lối gì. Ai nấy đều nóng lòng muốn vào ngay.
- Chú ý! Viên sĩ quan nói. Trong đó tối lắm, cửa sổ phải để ngỏ, vì rất ngột ngạt và cấm không được thắp đèn. Ai bật lửa hoặc đánh diêm thì rồi thiệt đến thân đừng có trách. Ngay gần đây có một đồn kiểm soát với một ổ liên thanh đấy.
- Rõ, hai ba tiếng đáp lại. Không cần ánh sáng, chẳng có ánh sáng cũng vẫn ổn thôi.
- Đúng, chúng ta cần gì ánh sáng, cần là…
- Câm mồm đi, đồ khốn! Viên sĩ quan càu nhàu. Im lặng! Năm sáu tên đầu! Vào!
Họ xô đẩy nhau rồi lao vào bóng tối trong sân.
- Đừng để lẫn súng ống đấy, viên sĩ quan thét lên. Rồi quay về phía chúng tôi, hắn nói: «Sáu tên khác theo tao».
Tôi thuộc vào số đó. Chúng tôi bước đi và có người khép cửa lại sau lưng chúng tôi. Chúng tôi đi qua cái sân lát gạch, như lũ say rượu, rồi leo lên thang gác, tới đầu thang là một hành lang dài. Trong nhà tối như bưng và ngột ngạt khó thở mặc dù cửa ra vào, cửa sổ các phòng đều mở toang.
- Im đi, một giọng đàn bà nổi lên, chắc là giọng mụ chủ.
Chúng tôi đứng sát vào nhau như hạt lúa cùng một bông, thở hổn hển, chẳng biết rúc vào đâu, và trong bóng tối tôi nghe thấy viên sĩ quan khe khẽ thì thào với mụ chủ. Mụ dẫn hắn đi, chắc là đến phòng cô gái điếm đẹp nhất. Rồi lại có tiếng chân đi trên sàn, các bạn tôi biến vào đâu tôi cũng chẳng rõ, mất hút trong đêm tối, vài giây sau chỉ còn trơ lại một mình tôi ở ngoài hành lang. Tôi mò mẫm trong bóng tối, tôi nghe tiếng rên rỉ, rồi lại một tiếng rên rỉ nữa, đầu óc tôi bốc lửa, tôi xô vào căn buồng đầu tiên để ngỏ cửa nhưng nghe tiếng thở hổn hển, tôi trở ra ngay tức khắc và thấy mình đứng trước một khung cửa khác. Trong đêm tối, tôi trông thấy lờ mờ một hình dáng trăng trắng trong góc buồng. Rồi đi vào, bước hai bước và dừng lại.
- Lại đây, một giọng dịu dàng gọi tôi.
Tôi rụt rè bước tới, dang tay ra và chạm vào cô gái. Cô ta trần như nhộng. Tay tôi lướt trên người cô gái nhớp nháp mồ hôi. Mắt tôi hoa lên và tôi không tìm thấy giường đâu cả.
- Bỏ súng ra, cô ta khẽ bảo tôi.
Tôi gỡ súng và dựng nó bên tường. Cô ta bèn nằm xuống.
Trong đêm tối, tôi không nhìn rõ mặt cô ta, nhưng bằng vài tiếng nói và bộ ngực thì chắc là cô còn rất trẻ.
- Xin lỗi cô nhé, vài phút sau tôi nói khi nằm nghỉ trong tay cô, xin lỗi cô, tôi bẩn quá.
- Ồ không sao, cô ta trả lời, giọng chán chường như muốn nói cô đã quen với mồ hôi lính từ lâu rồi.
- Anh đi đâu? Cô ta hỏi.
- Về phương Nam, ra mặt trận.
Cô ta im bặt. Đó là những lời duy nhất chúng tôi trao đổi với nhau. Tôi cố gắng nhận rõ nét mặt cô ta, nhưng không được, nét mặt cô cứ rối lên, mờ đi như những hình ảnh phim bị nhòe khi máy quay trục trặc. Tôi thong thả đứng dậy, cầm lấy súng, khoác lên vai và quay lại nhìn lần nữa cái hình dáng mờ mờ trắng nằm dài trong góc buồng.
- Chào cô, tôi nói.
- Chào anh, một giọng hờ hững đáp lại. Tôi bước ra, dò dẫm lần ra cầu thang đi xuống. Mấy người đã xong trước ngồi đợi ở ngoài lặng lẽ hút thuốc trên ghế đá bên cạnh cửa, đầu gối cặp lấy khẩu súng.
Một giờ sau chúng tôi đã bước đi trên đường cái, nhưng giờ đây chẳng ai bông đùa nữa, chúng tôi chỉ lắng nghe tiếng chân chúng tôi bước không đều vang trên nền đường, người lại rã rời mệt lử, vấy bùn đến phát khiếp lên được.
- Mẹ kiếp, sao mà tối thế! Một người nói như trong giấc mơ, nhưng chẳng ai đáp lại, và chúng tôi cứ lặng lẽ đi về Grihoti.
Mãi về sau chúng tôi lại có dịp đi qua Gjirokastër và lẽ dĩ nhiên chúng tôi lại xin phép đến ngôi nhà ấy. Người ta bảo chúng tôi là ngôi nhà đã bị đóng cửa. Tôi không nhớ rõ lý do vì sao nhưng hình như đã có chuyện lôi thôi rắc rối gì đó. Một cô gái điếm đã bị giết chết và sau đấy người ta đã phải chuyển các cô kia đi. Tôi lại nhớ đến cô gái đã cùng tôi sống chốc lát trong bóng tối vào một đêm oi ả và tôi thầm nghĩ có thể là chính cô ta đã bị giết cũng không biết chừng. Nhưng cũng rất có thể là một cô khác. Hình như có năm sáu cô thì phải. Bảy cô là cùng.
29 tháng Sáu 1943
Thời gian gần đây, Christine lại càng đẹp ra, mỗi lần thấy nàng, lòng tôi lại se lại. Hôm kia nàng rửa chân ở dưới ngòi. Đôi chân xinh đẹp làm sao! Vả lại, bất cứ cái gì ở nàng tôi cũng thấy đẹp cả. Nhất là đôi mắt. Đôi mắt âm thầm, mượt như nhung gợi cho tôi cảnh êm đềm của chiều hôm. Tôi không thể nào tả được. Nhưng tôi không sao hiểu được đôi mắt nàng, tuyệt nhiên không. Tôi có cảm giác là nói chung, không thể nào hiểu được có gì trong đôi mắt các cô gái Albania. Tưởng chừng như đó là những cái gì bí hiểm vậy. Những vật bí hiểm sợ sệt, rất sợ sệt. Hoặc giả có lẽ các cô chỉ gây ra ấn tượng như vậy đối với chúng tôi thôi, những người lính nước ngoài.
Có trời biết!
13 tháng Bảy 1943
Đêm qua có đơn vị hành quân trên đường đi Gjirokastër, họ tiến lên phía Bắc. Đứng đây nhìn thấy ánh đèn pha. Có vẻ là một trung đoàn đang chuyển quân.
21 tháng Bảy năm 1943
Làng bên chật ních bọn ballistes[1]. Dân làng đến xay bột ở cối xay chúng tôi kể lại đã một tuần nay, bọn chúng đến đóng ở làng như ở nhà chúng. Suốt ngày chúng chỉ ngốn cho đầy ruột rồi tối đến ca hát om sòm. Chúng đã lột hết của dân làng tội nghiệp này. May mà cối xay của chúng tôi ở vào một nơi hẻo lánh một chút nếu không chúng đã đến đây rồi.
Để đề phòng mọi sự bất trắc, lão chủ cối xay cho tôi biết là nếu trông thấy mũ trắng của chúng có đính hình con phượng hoàng lớn ở phía trước thì tôi phải đi trốn ngay lập tức. Lão cũng khuyên Christine như vậy.
Đôi khi tôi tưởng tượng: «Nếu bọn ballistes đến và Christine cùng tôi trốn ở đâu đấy, cùng một chỗ, nàng sẽ sợ hãi, tôi sẽ nắm chặt tay nàng để nàng yên tâm, tôi sẽ cảm thấy nàng ở bên tôi và sẽ chỉ có hai chúng tôi ngồi sát bên nhau…»
Nhưng đâu có chuyện như vậy. Trong phim thì thường thấy như thế đấy, nhưng chắc là giữa phim và cuộc đời có khác nhau.
Nhưng tôi vẫn ao ước được đi xem chiếu bóng.
3 tháng Tám 1943
Hôm qua tiếng súng máy nổ lẹt đẹt không ngừng từ xế trưa. Buổi tối bọn ngụy đã xéo khỏi làng. Du kích đã trở về và «Ủy ban» đã được thành lập lại. Đó là tin của hai người làng đến cối xay từ tang tảng sáng nói lại. Hôm nay Christine dịu dàng nhìn tôi. Thời gian gần đây nàng có một cái gì đó khó hiểu, xao xuyến, làm nàng càng thêm duyên dáng.
Không đêm nào tôi không mơ đến nàng. Tôi yêu nàng, chắc chắn là như vậy rồi. Về vấn đề đó chẳng còn nghi ngờ gì nữa. Và mối tình của tôi là mối tình vô vọng, không một chút hy vọng nào, vì xét cho cùng tôi chỉ là một tên lính của một đạo quân chiến bại, một thằng đầy tớ, một gã ngoại quốc, một kẻ bại trận, tóm lại một kẻ chẳng ra gì. Đấy Hoàng đế và chủ nghĩa phát xít đã biến tôi thành một con người như vậy đó.
6 tháng Tám 1943
Một tuần nữa, Christine sẽ lấy chồng. Thật hoàn toàn tình cờ mà tôi biết tin đó. Tôi không biết là nàng đã đính hôn từ lâu, và hôm qua khi bác Frosa đi lấy nước ở ngòi về tôi nói với bác cốt chỉ là cho có chuyện:
- Ít lâu nay, bà cứ ngồi lì ở khung cửi, tại sao thế?
- Ồ, sắp tới ngày rồi, sắp tới ngày rồi, cháu ạ.
- Ngày gì ạ?
- Thế nào, ngày gì ấy à? Tuần sau, chúng tôi gả chồng cho con Christine, cháu không biết sao?
- Không ạ, tôi đáp, cháu không biết.
Nhưng giọng nói của tôi nhỏ đi đến nỗi bác Frosa ngước mắt nhìn tôi chằm chằm một lúc. Trước hết tôi cố gắng trấn tĩnh lại nhưng rồi tôi nghĩ thầm: «Quỷ bắt nó đi, việc gì phải giấu giếm nỗi buồn của ta?»
Tôi không thể nói được là bác Frosa có nhận thấy sự xúc động choáng váng của tôi hay không nhưng một lần nữa, bác lại nhìn tôi chằm chằm và bảo:
Đúng đấy, cháu ạ. Thời gian trôi qua và các cô gái đã đến tuổi lấy chồng. Cháu cũng vậy, khi trở về nhà, ngay sau khi chiến tranh kết thúc, mẹ cháu sẽ lấy vợ cho cháu, một cô gái đẹp như tranh.
Nghe đến đấy, tôi suýt nữa thì giơ hai tay lên ôm lấy đầu vì tôi có cảm giác như bác muốn an ủi tôi và nỗi đau đớn của tôi lại càng thêm gay gắt.
Tôi ra ngồi bên bờ suối và tôi nói một mình: «Christine, em sắp lấy chồng!», tôi chỉ nói được có thế thôi.
20 tháng Tám 1943
Ngày lại ngày nối tiếp nhau, đơn điệu đến chán ngấy. Mùa thu sắp tới rồi và có trời biết cơ sự sẽ ra sao.
Christine đã đi lấy chồng. Chủ nhật trước, những người thân thích của chú rể đã đến đón nàng. Sáu người cưỡi ngựa, tất cả đều mang vũ khí. Đường sá rất nguy hiểm và người Albania ngay thời bình đi đâu cũng đeo súng trên vai, thì thời buổi này, họ không một lúc nào rời khẩu súng nữa. Không có cỗ bàn linh đình gì. Đàn ông quay quần xung quanh chiếc bàn thấp, ngồi nhấm nháp ít rượu raki. Họ không thể uống nhiều được theo như tục lệ của họ vào dịp này vì đường về còn xa. Tôi cũng được mời dự nhưng khách khứa chẳng ai nói với tôi một lời, tựa hồ như không có tôi ở đó.
Cách đây hai hôm, tôi muốn tặng Christine một món quà nhỏ. Nhưng cho nàng cái gì được? Tôi chẳng có gì cả! Tôi đã định đẽo một con dao bằng gỗ như người nông dân Albania thường làm nhưng tôi đã phí công vô ích. Tôi liền nghĩ đến tặng nàng hình trái tim của tôi. Nàng đã hai ba lần tò mò liếc nhìn nó.
- Đây, cô cầm lấy cái này làm kỷ niệm của tôi.
Nàng cầm và vui thích ngắm nghía:
- Hình Đức bà Đồng trinh!
- Vâng.
- Ai cho anh đấy? Mẹ anh ư?
- Không phải, cấp trên của tôi đấy.
- Để làm gì?
- Để người ta có thể nhận ra được tôi khi tôi chết.
Nàng bật cười.
- Nhưng làm thế nào mà anh biết được là anh sẽ bị giết chết?
- À, nếu một ngày kia tôi bị chết!
- Christine? Từ ngoài sân bác Frosa gọi.
Christine cảm ơn tôi rồi thoăn thoắt chạy đi.
Tôi đã cho cô ta vật duy nhất tôi có. Vả lại cái vật đó đối với tôi còn dùng được việc gì nữa? Dẫu sao thì tôi cũng đã mất tích. Tôi còn sống nhưng đã mất tích, còn như khi đã chết thì tìm thấy phỏng có ích gì?
Vào khoảng giữa trưa, những người phù rể đứng dậy, khoác súng lên vai và nhảy lên ngựa. Một con ngựa trắng, trang điểm rất tráng lệ nhân dịp này, được dành cho Christine. Christine khóc. Bác Frosa cũng khóc và lão chủ cối xay lặng lẽ hút tẩu, không nói một lời. Rồi cha mẹ nàng ôm hôn nàng, còn tôi, tôi đứng tách ra một bên, im lặng, hy vọng ít ra giờ đây nàng cũng đưa mắt nhìn tôi một lần, vào giờ phút cuối cùng. Nhưng mắt nàng mọng nước mắt, vai nàng rung lên. Nàng đẹp quá! Tôi cũng muốn ra chào nàng nhưng không hiểu tại sao tôi không có can đảm lại gần bầy ngựa, có lẽ tại thái độ lạnh nhạt của những người phù rể hoặc cũng có thể vì tôi bối rối quá, tôi cũng không rõ nữa. Tôi chỉ biết rằng tôi đứng riêng ra một nơi, như sửng sốt ngây ngất; không một ai chú ý đến tôi và tôi tự cảm thấy mình xa lạ và thừa hơn bao giờ hết giữa những con người tập họp ở đây.
Những người cưỡi ngựa bắt đầu lên đường. Một lần nữa, Christine ngoái cổ lại nhìn chúng tôi, rồi bầy ngựa biến mất, rồi đến nửa mình trên của những người cưỡi ngựa và sau cùng là những nòng súng đen ngòm của họ. Chúng tôi quay về không ai nói một lời. Lão chủ cối xay và bà vợ trở về nhà. Còn tôi, tôi đứng lại bên bờ ngòi, nằm sấp xuống đất, lòng trĩu buồn và đột nhiên òa lên nức nở.
Tôi khóc mà cũng chẳng hiểu tại sao. Tôi khóc vì Christine đã ra đi thì ít, mà vì số phận tôi thì nhiều, và tôi chẳng có thể nói được tại sao lại như vậy.
24 tháng Tám 1943
Từ mấy đêm nay, quân lính đi lại không ngừng trên đường đi Gjirokastër. Chắc không bao lâu nữa sẽ có chuyện gì quan trọng xảy ra. Nông dân đến cối xay kể rằng những người ở thành phố lại chạy về nông thôn đầy khắp các làng, đâu đâu cũng có những người tị nạn và người ta có cảm giác như họ đem theo một hương vị tro tàn. Người ta tiên đoán những điều khủng khiếp.
Cũng có tin đồn là «Tiểu đoàn Xanh» đã xuất hiện ở địa phương. Có người lại quả quyết là chúng đang hoành hành ở bên kia Lunxhëria, người khác lại nói rằng chúng còn hoạt động gần hơn nữa. Đêm hôm trở nên sầu thảm ghê rợn. Tôi thao thức không ngủ được và thường dậy để nghe ngóng.
Lòng mong muốn gặp Christine ám ảnh tôi.
1 tháng Chín 1943
Gió thu nổi lên. Một nỗi buồn sâu sắc nặng trĩu trong lòng tôi và tôi rất sợ không bao giờ thoát khỏi nơi đây nữa. Tôi mới có hai mươi hai tuổi đầu mà thấy hình như từ nay mình sẽ mãi mãi mất hút trong sa mạc.
Đôi khi tôi đến ngồi bên bờ ngòi. Đó là nơi tôi ưa thích nhất.
Tôi nhìn dòng nước lặng lờ trôi, cuốn theo chiếc lá, cọng rơm, cũng có khi chỉ cuốn đi vài ánh nước long lanh.
Tôi nhớ lại những ngày sư đoàn tôi hành quân ở các vùng nông thôn Albania. Tôi nhớ đến những con kênh đào chúng tôi đã gặp trên đường. Tôi không hiểu tại sao những con kênh lặng lẽ đó ở các làng Albania, do nông dân Albania đào bằng cuốc với sức lao động của họ, lại làm tôi xúc động đến thế. Không có gì gợi lên trong đầu óc tôi những ngày của thời thanh bình một cách rõ ràng và cô đọng như vậy bằng những con kênh đó. Tôi dạo chơi trên bờ kênh, súng trên vai, với một cảm giác khó chịu. Những con kênh đó khuấy lên một cái gì mơ hồ trong thâm tâm tôi. Tôi cảm thấy chúng gợi lên trong lòng tôi một bản năng truyền kiếp, thúc đẩy tôi phải làm một cái gì đó.
Tôi nhớ đến một cuốn sách tôi đã học khi còn ở trường trung học. Tôi không nhớ tên tác giả. Cuốn sách đó nói về những bản năng của giống chó lai đã bị vùi sâu từ lâu, thỉnh thoảng lại xuất hiện. Tôi cảm thấy một cái gì tương tự như vậy khi dạo chơi bên những dòng nước đó. Chúng khơi lại trong tâm hồn tôi, vào cái thời tàn bạo này, những tình cảm cũ đã bị lãng quên. Chúng kêu gọi tôi. Tôi cảm thấy xào xạc trong lòng tôi tiếng rì rầm bất diệt của những tình cảm đó và chắc chắn là chính trong khi đi theo dọc một con kênh, tôi đã nảy ra ý nghĩ đào ngũ, mới đầu còn rất lờ mờ, rồi mỗi ngày một rõ nét hơn.
Và giờ đây, tôi thường đến ngồi bên bờ kênh này và tôi thầm nghĩ, đối với chúng tôi - những kẻ không còn biết mình là ai nữa, không biết số phận sẽ dẫn mình đi tới đâu - có lẽ vẫn sẽ còn có những ngày tốt đẹp hơn, êm đềm hơn.
5 tháng Chín 1943
Yên tĩnh. Lá đã bắt đầu ngả màu vàng. Sáng nay, trên đầu chúng tôi, tít trên cao, hàng mấy trăm máy bay, bay về hướng Đông Bắc.
Ai biết được chúng từ vùng nào trên trái đất bay đến và chúng sẽ tới ném bom vùng nào. Bầu trời mở rộng thông thống tứ bề.
Thế giới của chúng ta thật là kỳ quặc!
❀ ❀ ❀
[1] Ngụy binh