BỜ biển buồn tẻ và vắng tanh. Những lô cốt bằng bê tông cốt sắt nổi lên trên bãi cát ẩm ướt và xa xa về phía sau, gần sát chân những vách đá, người ta còn thấy những lô cốt khác, đồ sộ hơn.
Công nhân Sở thị chính đang nhổ cọc các lều vải và chiếc lều đầu tiên được dỡ đi, để lại những vết kỳ quặc trên bãi cát đã rắn lại vì thấm nước, tưởng đâu như một con vật có móng vuốt khổng lồ đã giẫm lên mặt đất ở đây.
Gập xong chiếc lều đầu tiên, họ ném lên xe tải bên trên những chiếc hòm lớn rồi tiếp tục nhổ nốt cọc của chiếc lều kia.
Một làn gió lạnh từ biển thổi vào.
Viên tướng đưa mắt nhìn về hướng Bắc; phía đó, đằng sau những lô cốt xuất hiện dãy biệt thự đầu tiên của bãi biển, những ga nhỏ của đường xe lửa mùa hè, các nhà nghỉ mát và các khách sạn lớn, phần nhiều đều đóng cửa trong mùa này.
Ông linh mục và viên tướng đến đây để thu nhặt hài cốt của binh lính đất nước họ đã tử trận vào ngày đầu tiên của chiến tranh. Ròng rã một tuần, hai người tất tả men theo dọc bờ biển, dừng lại ở những địa điểm đổ bộ, vì mỗi nơi này đều có nghĩa địa riêng.
Viên tướng nhớ rất rõ cái ngày đầu tiên ấy của cuộc chiến tranh, vào mùa xuân năm 1943. Hồi đó ông ở châu Phi. Buổi tối hôm ấy, đài phát thanh báo tin: các đạo quân phát xít đã đổ bộ lên Albania và đã được dân Albania đón tiếp một cách rất hòa bình, thậm chí còn tặng cả hoa cho các sư đoàn oanh liệt đã đem lại cho họ văn minh và hạnh phúc.
Rồi những tờ báo đầu tiên tới, tiếp theo là những tạp chí đăng đầy tranh ảnh và phóng sự về cuộc đổ bộ. Họ đã tả lại mùa xuân lộng lẫy của năm đó, mặt biển và bầu trời chói lọi của Albania, các bãi biển, chân trời trong vắt, tình yêu của các cô gái Albania, y phục và các điệu nhảy dân gian đẹp mắt, duyên dáng của đất nước đó. Không có ngày nào báo chí không nói đến nước này, và đêm đêm binh lính mơ được điều sang Albania, tới bờ biển xinh đẹp này, xiết bao thanh bình, dưới những cây ô liu muôn thuở.
Viên tướng nhớ lại chính bản thân ông vào thời ấy cũng ao ước được chuyển sang Albania, nhưng rồi ông bị ốm, và khi từ châu Phi về, ông đã phải ở lại trong nước.
- Tuy nhiên ngay cả với ta, ông thầm nghĩ, số phận dù sao cũng đã dành cho ta một phần chiến tranh, nhưng mà là về sau. Chính giờ đây ta phải lĩnh cái phần ấy trên mảnh đất thật khó khăn này, vào một thời gian mà toàn thế giới đang sống trong hòa bình.
Anh em công nhân đã gập xong chiếc lều thứ hai và viên tướng bước lên xe. Ông linh mục lên theo:
- Họ đã làm xong rồi ư? Ông hỏi ông linh mục.
- Hình như xong rồi.
- Vậy thì đi thôi!
Xe từ từ chuyển bánh. Động cơ chiếc xe tải rú lên.
Người lái xe con thò đầu ra ngoài cửa để nhìn về phía sau. Động cơ chiếc xe tải khi nổ to, khi nổ nhỏ rồi đột nhiên im bặt.
Người lái xe hãm phanh nói:
- Nó có vẻ không muốn chạy.
Anh đưa mắt nhìn về phía sau, rồi mở cửa xe bước xuống.
- Xe bị «pan» rồi, tôi lại xem có thể giúp gì họ được không.
Viên tướng cũng thò đầu ra ngoài cửa xe và nhìn thấy những người công nhân đang đun chiếc xe tải và người lái chiếc xe con của ông đang chạy tới. Chiếc xe vất vả lắm mới chuyển được bánh, những người công nhân vẫn đẩy, thỉnh thoảng lại thấy họ hô: «Cố lên». Được một lát, chiếc xe tải vượt qua xe ông. Anh em công nhân tiếp tục đẩy, vừa đẩy vừa hò hét động viên nhau. Chân họ trượt trên đất và trong giây phút viên tướng thấy sự cố gắng của họ hiện rõ trên nét mặt đẫm mồ hôi và trên bắp thịt cánh tay và vai của họ căng thẳng, ghé sát vào thân xe. Những chiếc hòm to và đống xẻng cuốc vẫn loảng xoảng ở đằng sau như mọi lần.
- Đây là lần đầu tiên chiếc xe tải này bị hỏng máy, viên tướng nói.
- Đúng thế, có lẽ vì trời lạnh, ông linh mục đáp. Như thế là xe nằm im đã hai ngày đêm nay rồi. Mà gió thì không lúc nào ngừng.
- Thật chẳng có gì xấu bằng một chiếc xe hơi hỏng máy.
Ông linh mục lặng thinh.
Đột nhiên, máy nổ và xe tiếp tục chạy. Người lái xe của họ mồ hôi đầm đìa, chạy trở về.
- Quỷ bắt nó đi! Anh ta vừa leo lên xe vừa nói, - thật vất vả mới làm cho nó nổ máy được.
Lát sau, họ lại vượt qua chiếc xe tải và viên tướng trông thấy những người công nhân, mồm ngậm thuốc lá, ngồi lắc lư trên những chiếc hòm lớn.
Họ chạy qua các biệt thự ở bờ biển, giờ đây trông có vẻ lạnh lẽo và tiêu điều, cửa sổ đóng kín, rồi chạy theo dọc các tòa nhà hiện đại của các khách sạn và các hiệu ăn mùa hè đã đóng cửa từ lâu. Sân ngồi chơi của các nhà nghỉ mát nhô ra biển, bàn ghế xếp lại thành từng chồng cao trong một góc, di tích chỏng chơ của mùa hè.
- Ở đây vào mùa nghỉ mát chắc phải vui lắm, viên tướng nói.
- Tôi cũng có cảm giác như vậy. Tuy nhiên tôi cho rằng tắm ở đây và dạo chơi bên những lô cốt kia cũng chẳng vui gì, nhất là đối với phụ nữ.
Viên tướng chăm chú nhìn.
- Tôi cho rằng mặc dầu các phương tiện phòng thủ đã được hiện đại hóa, một phần các lô cốt này ngày nay vẫn còn giữ được tầm quan trọng quân sự của nó.
- Người Albania hay thích nhắc lại rằng đất nước họ là một thành lũy trên bờ biển Adriatic, ông linh mục nói.
Viên tướng quay về phía bờ biển:
- Ông có nói với tôi là biển cả đã đem lại tai họa cho người Albania và chính vì thế mà họ không ưa gì biển cả.
- Đúng thế, ông linh mục đáp. Người Albania giống như những con vật sợ nước. Họ thích bám vào đá và núi. Ở đó họ mới cảm thấy an toàn.
Con đường tách xa dần bờ biển và bây giờ những ga bé nhỏ của đường xe lửa mùa hè và các ngôi nhà nghỉ mát thưa thớt màu trắng, đã khuất khỏi tầm mắt họ.
- Trong số binh lính tử trận ngày đầu tiên của chiến tranh, chỉ còn phải tìm có một tên cuối cùng ở bờ biển này thôi.
- Kỳ lạ thật. Tại sao tên đó lại có một mình, cách xa những tên khác?
- Ai biết được sự việc gì đã xảy ra, viên tướng vừa nói vừa rút ở sà cột ra một tấm bản đồ. Đây là nơi đáng lẽ phải tìm thấy nó và ông chấm một chấm bút chì đỏ lên bản đồ.
- Có lẽ một giờ nữa chúng ta sẽ tới đấy.
- Có thể sớm hơn. Sau đó là xong việc.
- Ngoài việc đào vài huyệt riêng lẻ, chúng ta chỉ còn phải đi một chuyến nữa ở vùng này thôi, ông linh mục nói.
- Phải, ở một vùng trung du. Lại một chuyến đi khó khăn nữa.
- Không sao, ông linh mục đáp. Vấn đề quan trọng là làm thế nào cho công việc này kết thúc càng sớm càng tốt.
- Ông mong sớm được về nhà phải không?
- Tất nhiên, thế ông không mong sao?
- Tôi thì tôi chỉ mơ ước có thế, viên tướng đáp. Tôi nóng lòng sốt ruột lắm rồi. Nhưng nói đến chuyện đó còn sớm quá. Chúng ta chưa hoàn thành được một phần tư công việc.
- Đúng thế.
Viên tướng thở dài não ruột.
- Còn sớm, ông nhắc lại, còn sớm quá.
Ông linh mục gật đầu.
«Mi ớn lắm rồi. Người ta đang đợi mi», viên tướng thầm nghĩ.
- Đã lâu ta không thấy họ nữa, ông lớn tiếng nói tiếp.
- Ai kia chứ?
- Viên tướng kia và viên thị trưởng.
- Có trời biết được họ đang tìm kiếm ở đâu bây giờ.
- Chắc là ở một sân vận động nào đấy, nếu không phải là trên một đại lộ. Tôi có cảm tưởng là công việc của họ không chạy lắm.
- Theo cái lối họ làm việc, tôi cho họ hai năm nữa chưa rời khỏi được đất nước này.
- Đó là việc của họ, viên tướng nói. Điều cần thiết đối với ta là họ đừng cuỗm của ta một tên nào nữa.
Suốt dọc đường còn lại, hai người lặng lẽ ngồi im.
Tu viện mà hai người tới tìm kiếm mộ tên lính chết lẻ loi, ở trên một ngọn đồi nhỏ nhìn xuống chỗ con đường rẽ ra làm hai ngả, một ngả chạy về hướng Bắc và ngả kia bên trái, chạy theo dọc bờ biển.
Cả đoàn xuống xe và leo lên đồi. Viên tướng dẫn đầu, ông linh mục và anh cán bộ theo sau rồi đến những người công nhân Sở thị chính, dụng cụ trên vai, đi đoạn hậu. Hai người lái xe ở lại bên đường, mỗi người ngồi trên một tảng đá và châm thuốc lá hút.
Phía trước tòa nhà của tu viện lù lù mấy ngôi mộ đồ sộ chôn cất từ xưa, trên có những cây thánh giá lớn ghi chữ La tinh. Chiếc cổng cũ kỹ đóng kín; trên một phiến đá to gắn trên cửa ra vào có khắc mấy chữ: «Societas Jesus».
Anh cán bộ người Albania gõ cửa mãi mới thấy tiếng chân người đi ở bên trong. Một tu sĩ, tóc bạc trắng, mặc áo đen, đội mũ trùm đầu hình tam giác hiện ra trên ngưỡng cửa.
- Kính chào cha, anh cán bộ nói.
- Chào ông, vị tu sĩ trả lời.
- Ở đây có một người lính nước ngoài chết năm 1939. Chúng tôi đến xin bốc ngôi mộ đó.
Vị tu sĩ già nhìn chòng chọc hết người này đến người nọ, từ viên tướng, ông linh mục đến các công nhân với cuốc xẻng vẫn vác trên vai.
- Chúng tôi có giấy phép của chính phủ và của tòa tổng giám mục, anh cán bộ vừa nói vừa rút các giấy tờ trong ví ra. Đôi mắt xám với mi mắt hum húp của vị tu sĩ nhìn xuống, đọc các giấy tờ, môi mấp máy như đang nhai một vật gì.
- Tốt lắm, vị tu sĩ nói, các ông hãy theo tôi. Tôi xin đưa các ông đi ngay tức khắc.
Mọi người theo chân vị tu sĩ, đi theo dọc bên trong bức tường bao quanh tu viện tới phía sau nơi có nhà thờ.
- Đấy, chính ngôi mộ kia, vị tu sĩ nói.
Ngôi mộ rất đơn sơ. Ở đầu ngôi mộ là một cây thập tự bằng đá và một chiếc mũ sắt. Lớp sơn trên mũ đã long lở từ lâu, mũ đã vùi sâu xuống đất và chắc hẳn vào mùa xuân, khi cỏ non mọc lên, chiếc mũ sẽ bị cỏ xanh che lấp.
Một người công nhân lấy xẻng cậy chiếc mũ lên. Hai người khác nhổ cây thập tự trong khi đó hai người nữa chuẩn bị để đào.
- Tại sao ngôi mộ này lại lẻ loi trơ trọi ở đây, xa hẳn các ngôi khác? Viên tướng nói.
- Là vì người lính này đã bị một người tên là Nik Martini giết chết trong những trường hợp lạ lùng, vị tu sĩ già nói, giọng trầm trầm.
Khi nghe thấy ông già nói đến tên Nik Martini, viên tướng đưa mắt nhìn ông linh mục, dò hỏi.
- Một người dân vùng núi không ai rõ, ông linh mục giải thích.
- Chính mắt tôi trông thấy người lính khi anh ta bị bắn trúng. Nik đứng từ trên ngọn đồi kia bắn xuống.
Mọi người quay lại và đưa mắt nhìn lên một mỏm cao sừng sững như một ngọn tháp, bên kia đường cái.
- Có trận đánh nhau nào trong vùng này không? Viên tướng hỏi.
- Không, vị tu sĩ đáp. Vùng này từ đây ra biển không có người ở và không ai ngờ quân địch lại đổ bộ quá gần chúng tôi như vậy.
- Từ đây ra bờ biển bao xa?
- Mười cây số, ông già nói. Chắc hẳn cuộc đổ bộ đã được tiến hành trong sự im lặng tuyệt đối. Không ai có thể ngờ quân địch lại đặt chân lên cái nơi heo hút này. Chỉ có Nik Martini biết tin đó và có trời biết được là qua nguồn nào.
- Nhưng người đó là ai?
- Một người dân miền núi, một người dân miền núi bình thường, vị tu sĩ trả lời, giọng nói đều đều như thể nhắc lại những lời lẽ đã học thuộc lòng. Hôm đó tôi thấy anh ta trên đường cái từ xa đi tới. Anh ta bước đi, súng khoác trên vai, và vì chúng tôi quen biết nhau tôi đi lại gặp anh: «Anh đi đâu đấy, anh Nik?» Tôi gọi - «Con đi chiến đấu đây», anh đáp. - «Một mình ư?» - «Vâng, một mình». Tôi muốn ngăn anh ta lại và xuống đến đường, tôi đứng chặn trước mặt anh và vừa nói vừa làm dấu. «Bình an cho các con của Chúa!» Anh trừng mắt nhìn tôi, cái nhìn hung dữ và tay như muốn nắm lấy khẩu súng: «Cha hãy tránh ra!» - anh gầm lên. Rồi anh đưa mắt nhìn lên gác chuông, và không một lời, tiến về phía tu viện. Tôi theo chân anh. Cả hai chúng tôi leo lên trên đỉnh gác chuông, từ đó nhìn thấy bờ biển, quân địch đông như kiến. «Chúng đổ bộ rồi, tôi nói với anh, về nhà đi, Nik!» «Không, con không về!» anh đáp và thở hổn hển như con thú dữ. Anh trở xuống. Tôi thấy anh đi nhanh ra đường cái và leo lên mỏm cao này.
- Thế rồi anh ta chiến đấu một mình ư? Viên tướng hỏi.
- Phải, đơn độc một mình. Anh đã bắn trong hơn một tiếng đồng hồ. Thỉnh thoảng anh mới nổ súng, tiếng đạn rít trong không khí cách nhau từng quãng dài. Quãng đường này đen ngòm quân địch, còn anh, anh cứ bắn, bắn mãi. Chúng chẳng có cách nào đánh bật được anh ra khỏi đấy cho đến khi một viên đạn súng cối bắn trúng anh.
- Thế anh ấy chết chứ?
- Không. Trước chúng tôi cũng tưởng như vậy, khi tiếng súng của anh im bặt. Nhưng về sau, có tin anh lại xuất hiện cách xa đây mười cây số trên một mỏm cao khác và anh còn chiến đấu trong một giờ nữa.
- Tôi có thể tin được lắm, viên tướng nói. Một vị trí như thế kia hầu như bất khả xâm phạm. Có thể cầm cự suốt ngày ròng rã được nếu không bị pháo đánh bật đi.
- Quân địch đã cố leo lên, vị tu sĩ nói, và chính trong những đợt xung phong ấy mà người lính này bị bắn chết. Từ các cửa sổ tu viện, chúng tôi theo dõi những cố gắng vô ích của họ để leo lên đồi. Rồi sau khi khiêng đến đây người bạn đồng đội của họ bị bắn chết quấn trong chiếc áo khoác da, họ chôn người lính rồi quyết định nã súng cối vào vị trí ấy.
- Thế người dân miền núi đó thoát à? Viên tướng hỏi.
- Nik Martini ấy ư? Vị tu sĩ ngước đôi mắt màu xám, mờ đục, nhìn lên các ngọn đồi. Không, Nik đã hy sinh. Ngày hôm ấy, anh đã chiến đấu tại bốn nơi, cho tới khi kiệt sức. Người ta kể lại rằng khi hết đạn và nhìn thấy đoàn xe tải chở đầy lính chạy về phía Tirana, anh gầm lên như những người dân miền núi chúng tôi thường làm khi có người thân thích chết. Bị vây hãm tứ phía, anh đã bị quân địch dùng dao găm đâm nát người.
Trong giây lát mọi người im lặng.
- Nik Martini không có mộ, vị tu sĩ già nói, có lẽ ông tưởng đám khách này cũng tìm kiếm cả nấm mồ của người dân miền núi đó. Không còn một dấu vết nào, một cây thánh giá cũng không, chỉ có một bài ca để tưởng nhớ anh thôi.
Nửa giờ sau, trong khi đoàn xe chạy về Tirana, viên tướng nói:
- Kỳ lạ thật, một người đơn độc mà dám nghĩ đến chuyện chống lại cả một đạo quân.
- Họ coi chiến đấu đơn độc là một vinh dự, ông linh mục đáp. Đó là một truyền thống lâu đời của họ.
Viên tướng châm thuốc hút, thở dài.
«Lại một ngày chiến tranh trôi qua!»
Ông linh mục thì chẳng nói chẳng rằng. Ông nhìn cánh đồng trải ra hai bên đường. Gió mùa đông thổi thông thống trên cánh đồng. Cách xa vài cây số, biển Adriatic lại hiện ra trước mắt họ, lần này ở bên tay phải, oai nghiêm trong cảnh mênh mông bao la.
Những ngọn đồi nhỏ tròn xoe sừng sững bên bờ biển; sườn đồi rải rác mộ những người Albania tử trận vào ngày đầu tiên của chiến tranh.
Qua những mẩu chuyện thu lượm được từ nhiều nguồn khác nhau, viên tướng được biết sự việc đã diễn ra trong những ngày đó trên hai bờ biển bao bọc Albania. Người ta đã kể cho ông rõ tin đã lan truyền đi khắp nơi như thế nào, và từ mọi nẻo trong nước, từng nhóm năm mười, hai mươi người, súng khoác vai, đã lên đường đi chiến đấu ra sao. Họ từ xa tới, chẳng có ai tổ chức họ, họ vượt núi vượt đèo, trong dáng đi của họ có cái gì cổ xưa, rất cổ xưa, có lẽ được truyền lại cho họ như một bản năng từ thế hệ này qua thế hệ khác, từ thời có những truyền thuyết về Gjergj Elez Alika, khi cái ác như một con quái vật, bao giờ cũng từ biển ngoi lên và cần phải diệt nó ngay từ trên bờ, ngăn không cho nó tiến sâu vào trong đất liền. Đó là tính cảnh giác đã có từ lâu đời đang trỗi dậy trong lòng họ, một sự lo ngại cổ xưa đối với những làn nước xanh biếc, và nói một cách bao quát hơn, đối với mọi đất nước bằng phẳng, nơi cái ác bao giờ cũng xuất hiện, và khi những con người đó từ trên núi đổ xuống nhập vào số tàn quân của binh lực hoàng gia vẫn còn đang cầm cự, họ hít cái không khí của biển cả, phát hiện thấy nó mênh mông bao la trước mặt họ, họ cảm thấy nguy hiểm, và tưởng như nghe thấy trong tiếng sóng gầm thét âm điệu của một bản nhạc chiến đấu.
Hàng chục du kích đã xuống núi như vậy trong ngày hôm đó; trong hàng ngũ họ có những người đội mũ da, đeo kính, xen lẫn với những người miền núi cao lớn, vẫn còn đang sống theo chế độ tộc trưởng, và có lẽ nhiều người cũng không cần biết nước nào đến xâm lược họ, kẻ thù họ sắp chống lại là ai, vì điều đó đối với họ chẳng có gì là quan trọng. Điều chủ yếu là cái ác từ biển tới là phải đánh lui nó xuống biển. Nhiều người suốt đời chưa hề trông thấy biển bao giờ và khi biển Adriatic xuất hiện trước mặt họ, chắc họ đã thốt lên: «Đẹp quá». Có thể họ không tin là cái ác lại có thể từ đó tới. Sau đấy, họ thản nhiên nhìn những chiến hạm đậu san sát ngoài khơi với những nòng pháo khổng lồ chĩa vào bờ, những phi cơ bay thấp là là, những xuồng đổ bộ, và không chần chừ, họ xông vào giao chiến theo như tục lệ đã quy định và ngã xuống, kẻ trước người sau.
Rồi vào buổi chiều tà, từ những miền hẻo lánh, heo hút trong núi, những người đi chậm tới nơi. Rã rời, mệt nhoài sau những chặng đường dài, họ cứ thế mà lao vào trận đánh lúc mặt trời mọc, khi bọn xâm lược đang dùng những máy bơm lớn để rửa sạch máu rực đỏ dưới những tia nắng cuối cùng trên đường phố Durrës.
Những người dân miền núi cứ tiếp tục ùn ùn kéo tới cho đến chập tối. Có những người đến đơn độc một mình và bóng dáng họ, với khẩu súng vươn cao, in hình trên các đỉnh đồi. Khi các ngọn đèn phát hiện thấy họ ở nơi phục kích, họ đã bị súng liên thanh quét ngã gục, và họ cứ nằm úp sấp tại chỗ cho tới sáng, mái tóc ướt đẫm sương đêm.
Ngày hôm sau, người ta chôn cất họ ngay tại nơi họ tử trận và mùa xuân năm ấy, những nấm mộ mọc lên khắp nơi, nom tựa đàn cừu rải rác trên các ngọn đồi nhìn ra biển cả. Chẳng bao giờ người ta biết được họ là ai, từ đâu tới, để có thể ghi lại tên tuổi họ trên mộ. Chỉ có những người dân miền núi là nhận được ra họ qua bộ y phục. Trong số những người ấy, có những người từ rất xa xôi tới, như những người «bayraks» ở miền núi Alps xa xôi phía Bắc; ở vùng đó, khi có tang, toàn thể gia đình đều bận đồ đen, thậm chí còn phủ cả da đen lên tấm bia đá lạnh lẽo và buồn thảm của người đã hy sinh, để rồi sau đấy tặng kẻ xấu số một bài ca. Và những bài ca ấy, lần đó, chắc chắn phải gợi đến biển cả. Biển cả xa vời và nham hiểm.