Viên Tướng Của Đạo Quân Chết

Lượt đọc: 157 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
CHƯƠNG XIV

❊ ❊ ❊

VIÊN tướng ngủ dậy, mình mẩy đau như dần. Ông đứng lên ra mở cửa sổ. Buổi sáng lạnh lẽo. Mây cao, bất động trên bầu trời xám xịt. Ông tựa vào mặt kính và thấy đầu hơi lảo đảo. «Mình ốm chăng, ông thầm nghĩ. Hay cái đó lại trở lại đây? Cái đó đã bắt đầu y như vậy ở châu Phi. Lúc đầu, mình cho những cơn rối loạn này là do khí hậu, nhưng khí hậu có liên quan gì tới cái đó đâu».

Ông nhìn ra ngoài. Mùa thu sắp tàn. Cây cối ở vườn hoa, trước cửa khách sạn, đã trụi hết lá. Chắc chắn đã từ lâu không có ai ngồi trên những chiếc ghế dài màu xanh. Trừ những lá rụng. Nhưng chẳng bao lâu lá sẽ rữa nát. Viên tướng biết rõ quân phục của các quân đội trong khối Bắc Đại Tây Dương, nhưng chỉ giờ đây, ông mới nhận thấy màu các loại quân phục đó bắt chước sắc đậm nhạt của lá cây mùa thu. Trước hết lá màu xanh, rồi chuyển sang nâu nhạt sau đó ngả màu vàng ối, và cuối cùng, khi thối nát thì trở nên đen sì.

Những bộ quân phục đen, ta không tin là có, viên tướng thì thầm. Hay nói đúng hơn, không còn có quân phục màu đó nữa vì thời xưa đó là quân phục của bọn phát xít».

Ở giữa vườn hoa, gần sân khiêu vũ hình tròn, ghế tựa ướt đẫm được xếp thành đống, chiếc nọ chồng lên chiếc kia. Sân khiêu vũ giờ đây đã được dọn hết bàn ghế và vắng tanh, nom có vẻ rộng thênh thang và buồn tênh. Lá úa rải đầy trên bục của dàn nhạc và trên mặt đất, những người quét đường đã vun lại thành từng đống lớn.

- Mình thấy trong người không khỏe, viên tướng thầm nghĩ; ông xuống tầng dưới để đi ăn sáng.

- Ông có vẻ mệt, ông linh mục nói khi hai người ngồi vào bàn. Có lẽ ông cần nghỉ ngơi một chút.

- Tôi cũng không hiểu tôi làm sao nữa, viên tướng nói nhưng chắc chắn là tôi thực sự thấy trong người không được khỏe. Tôi nhớ hình như tối qua tôi có xúc phạm đến ông. Tôi xin ông thứ lỗi cho, tôi có hơi quá chén một chút.

- Không sao cả, ông linh mục đáp một cách hòa nhã.

- Thời tiết ở cái đất nước này mới xấu làm sao chứ!

- Có lẽ tốt hơn là ngày mai tôi lên đường một mình. Công việc tìm kiếm ở bờ biển, theo tôi nghĩ, có lẽ đỡ vất vả hơn nhiều so với các vùng miền núi, ông linh mục nói.

- Tôi cũng nghĩ thế

- Ông hãy nghỉ ngơi một chút. Ông nên đi xem hát hoặc ca kịch.

- Tôi khó ngủ, tôi phải uống thuốc ngủ mới được.

Hai người ra đại lộ, đi bách bộ trước khách sạn, trên vỉa hè rộng rãi, có trồng những cây thông lớn. Thanh niên nam nữ từng nhóm nhỏ đi qua, có vẻ là những sinh viên đang vội vã đến trường.

- Cái công việc ghê tởm này mà họ giao cho chúng ta là cái công việc gì, viên tướng nói như thể tiếp tục một cuộc tranh luận dở dang. Đối với tôi, lôi lên mặt đất bọn vua chúa Ai Cập vùi sâu trong các kim tự tháp còn dễ hơn là đào sâu hai mét để bốc hài cốt bọn lính này.

- Cái ý nghĩ đó cứ ám ảnh đầu óc ông mãi. Có lẽ vì thế mà ông thấy trong người khó chịu chăng?

Viên tướng nói tiếp:

- Cuộc chiến tranh ở đây không như mọi cuộc chiến tranh khác, nó không diễn ra ở các mặt trận. Nó xâm nhập khắp nơi như một con sâu chui vào mọi tế bào của đất nước này và chính vì vậy tính chất nó khác với các cuộc chiến tranh ở các nơi khác.

- Vì người Albania, chính do bản chất họ, rất hiếu chiến. Họ lao vào chiến tranh với ý thức rõ ràng. Có thể nói chiến tranh là một chức năng hữu cơ của dân tộc này, nó nhiễm vào máu họ như rượu ngấm vào máu những người nghiện. Chính vì vậy mà chiến tranh ở đây thật là khủng khiếp. Mà vấn đề không phải chỉ có thế. Giữa các dân tộc vốn luôn luôn có chiến tranh và sẽ có mãi, nhưng có những dân tộc vì những lý do khác nhau, - và trong trường hợp người Albania, hoàn cảnh của quá trình hình thành tâm lý của họ qua nhiều thế kỷ chắc hẳn đóng vai trò chủ yếu như tôi đã nói, có những dân tộc lao vào chiến tranh với một sự hăng say điên cuồng và chính những dân tộc ấy là những dân tộc nguy hiểm nhất.

- Ông đã nói với tôi về vấn đề đó rồi, viên tướng nói.

- Vâng, tôi có nhớ.

- Hẳn đó là một trong những đề tài thích thú của ông. Có lẽ ông cũng làm một công trình nghiên cứu như tôi chăng?

- Không, ông linh mục đáp, tôi chỉ thấy đấy là một đề tài tranh luận thú vị và chính vì thế mà có lẽ chuyện của tôi thành ra chán ngắt.

- Không đâu, xin ông cứ nói. Tôi rất lấy làm hài lòng được nghe ông. Chúng ta đang nói đến tinh thần hiếu chiến của người Albania.

- Vâng, ông linh mục đáp. Vấn đề này có một hứng thú đặc biệt. Suốt quá trình lịch sử của họ, người Albania đã đi cùng đất nước của họ với vũ khí sắt trên vai. Người dân miền núi Albania sống một cuộc đời tộc trưởng, tuy mới đây thôi sinh hoạt của họ còn như ở thời kỳ đồ đá nhưng không phải vì thế mà họ không có những vũ khí hiện đại nhất. Ông thử nghĩ xem, sự tương phản mới lạ lùng làm sao! Tôi đã nói với ông rồi: không có chiến tranh, không có vũ khí, dân tộc này sẽ cằn cỗi đi, gốc rễ của họ sẽ khô héo đi và rồi họ sẽ bị diệt vong.

- Thế với vũ khí và chiến tranh họ sẽ sống lại sao?

- Họ tưởng như vậy đấy, trong lúc chính vì vũ khí mà họ sẽ diệt vong nhanh chóng hơn.

- Vậy theo ông, chiến tranh đối với họ là một loại thể dục tập cho giãn gân giãn cốt và để giữ sức khỏe ư?

- Cho một thời gian, vâng, ông linh mục nói.

- Nói một cách khác, có hay không có vũ khí, dân tộc này vẫn cứ đi đến chỗ diệt vong.

- Có vẻ thế đấy, ông linh mục nói. Chính phủ họ đã nêu cái thiên hướng ưa chuộng chiến tranh vốn có từ cổ xưa của họ thành nguyên tắc trong chính sách của đất nước và thật may cho các nước láng giềng là dân số Albania không vượt quá hai triệu.

Viên tướng im lặng và châm thuốc hút.

- Ông còn nhớ những bài ca của bọn thợ đấu vào những đêm ta sống dưới lều vải không? Ông linh mục hỏi. Ông còn nhớ nỗi u buồn, rời rã ta cảm thấy khi nghe họ hát không?

- Tôi có nhớ, viên tướng nói, có những điều không dễ gì mà quên được.

- Chủ đề trong những bài hát của họ là tàn phá và chết chóc. Đó là đặc điểm nghệ thuật của họ. Ta còn thấy đặc điểm ấy trong các bài hát, trong phong tục tập quán, trong toàn bộ cuộc sống của họ. Nói chung, đó là một điểm đặc thù chung cho tất cả các dân tộc vùng Balkan, nhưng đối với người Albania, đặc điểm đó đậm nét hơn là ở bất cứ nơi nào khác. Ngay quốc kỳ của họ cũng chỉ tượng trưng cho máu me và tang tóc.

- Ông nói đến những đề tài đó say mê lắm nhỉ, viên tướng nêu lên.

- Tôi quan tâm đến những vấn đề ấy đã từ lâu. Oscar Wilde có nói rằng những người thuộc tầng lớp dưới cảm thấy nhu cầu phải phạm tội ác vì những tội ác ấy gây cho họ những cảm xúc mạnh còn chúng ta thì tìm kiếm nó trong nghệ thuật. Câu nói châm biếm ấy rất có thể áp dụng cho người Albania được lắm, duy chỉ khác có một điều là phải thay chữ «tội ác» bằng chữ «chiến tranh» hay «trả thù». Vì hoàn toàn khách quan mà nói, ta phải công nhận là người Albania không phải là những tội nhân thường phạm. Những vụ giết người của họ bao giờ cũng phù hợp với những tiêu chuẩn do phong tục tập quán cổ xưa đề ra. Sự phục thù của họ giống như một vở kịch được soạn theo đúng những quy tắc của bi kịch, với lời nói đầu, với tính kịch phát triển không ngừng và một kết cục nhất định có chết chóc. Có thể miêu tả sự phục thù này như một con bò mộng hung dữ lao lên các ngọn núi kia và tàn phá hết thảy trên đường nó chạy qua. Tuy nhiên họ đã đeo vào cổ nó vô số đồ trang sức hợp với quan niệm của họ về cái đẹp để khi con vật được thả ra và gieo rắc chết chóc khắp nơi, họ có thể thưởng thức được những khoái cảm về thẩm mỹ cùng với cái chết.

Viên tướng chăm chú nghe.

- Cuộc đời của người Albania, ông linh mục nói tiếp không khác gì một cuộc biểu diễn lớn được sắp đặt theo những cổ tục. Người Albania sống và chết như đóng một vai trò, duy chỉ khác có một điều là cảnh trí trên sân khấu là đồi núi, nơi họ sinh sống trong một tình trạng thiếu thốn cùng cực. Họ chết thường là do phải tôn trọng một số tục lệ chứ không phải vì những lý do khách quan. Cuộc đời sống giữa biết bao thử thách và chịu đựng trên những ngọn núi đá kia, cuộc đời không loại trừ nổi đói rét hoặc núi lở, cuộc đời ấy bỗng dưng chấm dứt một cách đột ngột, sau một lời nói hớ hênh, một sự bông đùa quá trớn hoặc một cái nhìn thèm thuồng đối với một người đàn bà. Sự trả thù lắm khi nổ ra không hề có phẫn nộ căm hờn mà chỉ là để tuân theo luật lệ của phong tục. Và ngay khi kẻ phục thù giết chết nạn nhân của mình, hắn cũng không làm một việc gì khác là thi hành một điều khoản của tục lệ. Những điều khoản cũ đó quấn vào chân họ suốt cả cuộc đời, cho đến một ngày kia chúng làm họ sẩy chân, ngã xuống để không bao giờ trở dậy nữa. Cho nên người Albania hàng bao thế kỉ ròng rã, chỉ là đóng một vở kịch đẫm máu.

Hai người nghe thấy tiếng chân đằng sau và quay lại, đó là anh cán bộ.

- Tôi đến tìm các ông ở khách sạn, anh nói.

- Có chuyện gì thế?

- Mai ta phải xem lại mấy cái biên bản ký với các đại biểu của ban giám đốc các cơ quan thị chính. Họ đợi ta vào hồi mười giờ.

- Được rồi, viên tướng đáp.

Ông linh mục chăm chú nhìn người cán bộ, tìm cách đoán xem anh ta có nghe thấy những lời nói cuối cùng của họ hay không.

- Chúng tôi đang nói chuyện về phong tục tập quán nước ông, ông linh mục nói, giọng bình tĩnh, những phong tục tập quán ấy thật đặc biệt.

Anh cán bộ mỉm cười một mình.

- Ông linh mục nói với tôi về sự trả thù, viên tướng nói, về mặt tâm lý mà nói, rất đáng chú ý.

- Chẳng có gì là đáng chú ý về mặt tâm lý cả, anh cán bộ ngắt lời. Có những người nước ngoài cứ tưởng là sự trả thù và những phong tục độc hại khác ở nước chúng tôi là do tâm lý của người Albania mà ra, nhưng nghĩ như thế là vô lý. Những phong tục đó chính là do bọn áp bức cũ của chúng tôi và tôn giáo đã buộc chúng tôi phải theo.

- Ra thế! Ông linh mục thốt lên.

- Vâng, nhiều người nước ngoài dành rất nhiều công sức nghiên cứu vấn đề trả thù ở nước chúng tôi, nhưng họ nghiên cứu với một ý đồ nhất định.

- Vì vấn đề đó có một lợi ích khoa học, ông linh mục xen vào.

- Theo tôi không phải thế. Ý muốn thực sự của họ là chuẩn bị dư luận để tiêu diệt dân tộc Albania và truyền bá tư tưởng đó của họ.

- Tôi không tin là như vậy, tôi không tin là như vậy. Ông linh mục nói và mỉm cười gượng gạo.

Anh cán bộ đi với hai người vài bước rồi chào họ và cáo từ.

Viên tướng tiếp tục tranh luận với ông linh mục.

- Ông giải thích vấn đề phong tục, viên tướng nói, mà chỉ căn cứ vào những yếu tố tâm lý, nhưng tôi tưởng dù sao cũng không thể loại trừ được một vài nguyên nhân khách quan, thuộc về mặt lịch sử và quân sự. Ông có biết dân tộc này làm tôi nghĩ đến cái gì không? Tôi nghĩ đến những con thú dữ, trước nguy cơ, khi sắp sửa chồm lên, đứng lặng im trong một tình trạng căng thẳng cao độ, gân cốt căng lên, mọi giác quan đều thức tỉnh sẵn sàng. Tôi thấy hình như đất nước này luôn luôn đứng trước nhiều cảnh hiểm nghèo và tình trạng báo động ấy đối với họ đã trở thành bản chất thứ hai.

- Điều ông vừa nêu lên chính là điều mà họ gọi là cảnh giác đấy, ông linh mục nói.

Ông linh mục tiếp tục nói nhưng viên tướng không nghe nữa.

- Tôi có cảm giác là chúng ta nói về họ nhiều quá, sau cùng ông nói như vậy. Thực ra, công việc của họ chẳng liên quan gì mấy đến ta. Họ cứ việc tiêu diệt lẫn nhau, muốn nhanh bao nhiêu tùy ý họ.

Ông linh mục dang hai bàn tay mở rộng.

- Tốt hơn là ta nên xem xét công việc của ta một chút, viên tướng nói tiếp, cái công việc thảm hại của ta đã làm ta mệt lử và ta đã không làm được đến nơi đến chốn. Ông không thấy là ta giậm chân tại chỗ ư? Thậm chí hầu như còn có cả vận đen hay một cái gì rùng rợn cứ nhè vào công việc của ta mà quấy phá.

- Không đúng, ông linh mục đáp, tôi không thấy như thế. Nhiệm vụ của chúng ta rất cao cả.

- Tôi có cảm tưởng là ta lang thang ở đất nước này như một cái u di động. Chúng ta cứ quẩn vào chân người dân ở đây, cản trở công việc của họ.

- Có lẽ ông ám chỉ trường hợp vì chúng ta, công việc xây dựng cái ống nước bị chậm lại mấy ngày chăng?

- Không, viên tướng đáp. Không phải tôi nghĩ đến trường hợp ấy. Trong công việc của chúng ta có một cái gì kỳ quặc và gở.

- Tuyệt đối không có cái gì như thế hết, ông linh mục nói.

- Có bao giờ ông nghĩ rằng những kẻ xấu số mà ta đang tích cực tìm kiếm có thể lại muốn ta để mặc yên họ không?

- Vô lý, ông linh mục đáp. Nhiệm vụ của chúng ta rất cao cả và nhân đạo. Bất cứ ai được giao nhiệm vụ đó cũng phải lấy làm tự hào.

- Thế nhưng trong công việc ấy vẫn có một cái gì không ổn, nó đượm một vẻ mỉa mai nào đó, dù là rất thoảng qua.

- Không đúng, ông linh mục nói. Hoàn toàn không hề có như vậy. Có lẽ với tư cách quân nhân, ông có những lý do khác khiến ông xúc động chăng.

- Thì tôi có những lý do gì mới được chứ?

- Có lẽ tốt hơn hết là không nên đả động đến. Có thể chính ông, ông cũng không muốn thừa nhận những lý do đó kia.

Viên tướng cười gượng.

- Lại những lý do tâm lý chăng? Viên tướng nói. Ông có vẻ quan tâm đến phân tích tâm lý lắm nhỉ. Tôi đã nghe thấy nói nhiều đến chuyện đó, nhưng thật ra tôi chẳng hiểu gì mấy. Quân nhân chúng tôi không ưa những chuyện tinh vi tế nhị đó lắm.

- Vâng, tôi hiểu, ông linh mục đáp như muốn nói «mỗi người một ý thích».

- Dù sao chăng nữa, viên tướng nói, ông giải thích thế nào cái khó chịu về tinh thần mà tôi cảm thấy. Tôi thích nghe ông lý luận, nghe ông nói rất thú vị. Và tôi xin hứa là sẽ không mếch lòng, dù ông nói gì đi nữa.

- Được thôi, ông đã nài thì tôi xin trình bày ý kiến của tôi, ông linh mục rất bình tĩnh nói. Nếu ông có cái cảm giác bực bội, hậm hực đó là vì trong thâm tâm ông, ông tiếc là trước kia đã không được cầm quân ở Albania. Và ông tự nhủ rằng dưới sự chỉ huy của ông, có lẽ mọi sự sẽ khác, quân ta sẽ không bại trận và tan rã mà có lẽ ông sẽ đưa họ ra khỏi thử thách ấy một cách vinh dự. Chính vì thế mà ông thường hay mở bản đồ ra, cặm cụi hàng giờ hoặc nguệch ngoạc vạch các sơ đồ tác chiến trên bao thuốc lá. Thực ra, ông than phiền về mỗi lần thất bại, ông sống lại từng trận thua và ông tự đặt mình vào địa vị các ước mơ điên rồ nhất là chuyển những thất bại của ta thành chiến thắng…

- Đủ rồi, viên tướng nói. Tôi là một con bệnh tinh thần hay sao mà ông phải soi mói trong đầu óc tôi theo kiểu Dostoyevsky như vậy?

Ông linh mục mỉm cười.

Viên tướng sa sầm nét mặt.

- Không, tôi không có một lý do thầm kín nào, viên tướng chậm rãi nói tiếp. Dù sao tôi cũng không phải là một cô gái ngây thơ để tưởng rằng việc đi tìm hài cốt binh lính tử trận lại có thể giống như cuộc đi dạo chơi tình cảm. Tôi đã lường thấy trước đó là một công việc gay go và buồn thảm. Tôi cũng nhận thấy rằng có lẽ tôi sẽ được tình thương yêu lẫn nỗi oán thù ấp ủ trong lòng tôi giúp đỡ tôi làm nhiệm vụ. Thương yêu những người lính tội nghiệp kia và oán thù những kẻ đã giết họ. Khi rời Bộ chiến tranh trở về nhà hôm tôi được giao nhiệm vụ này, tôi thấy vang lên trong lòng tôi những nốt của một bản nhạc. Đó là một bản nhạc bi ai, trang nghiêm. Sau đó khi lật giở từng trang các hồ sơ, tôi cảm thấy từ những bản danh sách dài dằng dặc toát lên một hơi thở oán hận và phục thù. Tôi tới gần quả địa cầu và tìm ra nước Albania. Tôi đã có một thích thú cuồng bạo khi thấy nước này quá nhỏ bé, không lớn hơn một cái chấm. Rồi một lần nữa, tôi cảm thấy nỗi oán thù xâm chiếm lòng tôi. Cái nước ác hại này chỉ gần bằng một cái chấm trên bản đồ đã đánh bại các con em ta, oai hùng và dũng cảm. Tôi ao ước đi thật nhanh đến cái vùng hoang dã và lạc hậu này để biết rõ cái dân tộc mà tôi hình dung như một dân tộc man rợ. Tôi nghĩ là tôi sẽ kiêu hãnh đi giữa họ, căm hờn và khinh miệt nhìn họ như để nói với họ: «Đấy, sự nghiệp của các ngươi đấy, đồ man rợ!» Tôi hình dung buổi lễ chuyển giao hài cốt trang nghiêm, cái nhìn lờ đờ và ngơ ngác của người Albania, cái nhìn của một kẻ thô lỗ phạm tội sau khi đánh vỡ một chiếc lọ quý tần ngần đứng đó ngắm nhìn bằng con mắt buồn phiền. Chúng ta sẽ cho khiêng áo quan của binh lính ta đi qua giữa đám đông, chứng minh cho họ thấy là ngay cái chết của ta cũng còn đẹp đẽ hơn cả cuộc sống của họ. Đấy là điều mà tôi nghĩ trước đây. Nhưng khi tới đất nước này, sự việc đã diễn ra khác hẳn. Ông còn biết rõ hơn tôi. Trước hết lòng kiêu hãnh của chúng ta biến mất, rồi tất cả chuyện này nhanh chóng chẳng còn gì là trang nghiêm nữa, sau hết những ảo tưởng cuối cùng của tôi tiêu tan và giờ đây, chúng ta đi dạo chơi giữa sự lãnh đạm chung, dưới những cái nhìn bí hiểm, chế giễu như những thằng hề thảm hại của chiến tranh, còn đáng thương hơn tất cả những kẻ đã chiến đấu và bại trận ở nước này. Chẳng phải đúng như thế sao?

Ông linh mục không đáp lại và viên tướng hối hận là mình đã nói.

Hai người đi một quãng đường nữa, không ai lên tiếng. Những lá cây cuối cùng tiếp tục rụng xuống vỉa hè. Họ gặp những người qua đường. Viên tướng có một cảm giác khó chịu và đơn độc. Ông ngại nói đến những vấn đề đó. Đáng lẽ nên gợi lại những ngày ảm đạm hai người đã sống trên các nẻo đường và dưới lều vải thì hơn, khi mưa làm họ ướt sũng và run rẩy trong gió; những cái nhìn bí hiểm của nông dân mặc những bộ áo quần thô nặng bằng len đen; cái đêm ông linh mục mê sảng thét lên những tiếng kinh hoàng vì một cơn ác mộng nào đó, nào ai biết được; bãi chiến trường giờ đây chìm dưới đáy hồ nhân tạo của một trung tâm thủy điện, khi nghĩa địa ngập dưới làn nước và những ánh phản quang đỏ rực của làn nước trong buổi hoàng hôn; cả đến cái sọ với toàn bộ răng vàng lấp lánh dưới ánh mặt trời khi công nhân đào lên và cái sọ như mỉm một nụ cười chua cay với tất cả mọi thứ xung quanh.

Hai người uể oải bước tới quảng trường chạy dài trước tòa nhà của trường đại học. Họ rẽ sang phải đi dọc theo nhà hát ca kịch rồi leo lên con đường dốc hai bên trồng bồ đề, lượn ngoằn ngoèo lên tới đỉnh đồi thánh Prokop.

Hai bên đường, các hố đều đầy lá rụng và các bức tượng trong công viên lớn hình như cũng rùng mình dưới những cành cây trơ trụi.

Lên tới đỉnh đồi, hai người nhìn thấy ở bên kia chân đồi, cái hồ nhân tạo có nhiều gò đất bao bọc xung quanh, chạy dài thành nhiều vòng cung hình thể khác nhau. Trên đỉnh đồi tròn xoe, sừng sững một nhà thờ, bên cạnh là một quán cà phê ngoài trời. Xung quanh sân khiêu vũ hình tròn, những cây trắc bá cao vút run rẩy trước làn gió lạnh. Trong một góc, lăn lóc một đống hòm, trên hòm ghi những chữ «Birra Korça» sơn đen.

- Chắc hồ này cũng mới đào, ông linh mục nói. Quán cà phê cũng thế, trước kia không có.

- Thật là một phong cảnh đẹp.

- Đúng thế, ở đây nhìn được hầu hết thành phố Tirana.

Hai người quay lưng về phía hồ và đứng ngắm thành phố. Chiếc áo mưa của viên tướng phần phật trước gió.

Họ nhìn xuống đường phố lớn cắt thành phố ra làm đôi. Một cây phong đung đưa, cành lúc thì che lấp dinh Thủ tướng, lúc thì che lấp trụ sở Trung ương Đảng. Khi gió thổi mạnh hơn, cành cây lại che kín cột đồng hồ cao vút nom như gắn vào tháp của giáo đường Hồi giáo, rồi lại che lấp một phần quảng trường Skanderburg lướt trên trụ sở của Ban chấp hành và khẽ chạm vào Ngân hàng quốc gia.

Tôi đọc trong cuốn sách viết về Albania thấy nói toàn bộ kiến trúc của khúc trên của đường phố lớn thể hiện hình chiếc búa của người cảnh lại, viên tướng vừa nói vừa giơ tay trỏ.

- Đúng đấy, ông linh mục đáp.

- Thế mà cách đây vài phút, tôi nhìn mãi không nhận ra sự giống nhau đó.

- Ông hãy chăm chú nhìn kỹ hơn, ông linh mục nói và cũng giơ tay trỏ. Đại lộ này là cán búa, ngôi nhà lớn của Ban giám đốc trường Đại học là cái đầu cán thò ra ngoài lưỡi búa, nhà hát ca kịch là sống búa - ông linh mục trỏ về phía phải - còn sân vận động mô phỏng lưỡi búa hình cánh cung.

- Lạ nhỉ, viên tướng nói, tôi vẫn không làm thế nào nhận ra được sự giống nhau đó.

- Có lẽ phải đứng ở chỗ cao hơn ngọn đồi này mới nhìn thấy được, ông linh mục nói. Vả lại, điều này là chủ yếu, sau chiến tranh người Albania đã tìm cách xóa bỏ sự giống nhau đó.

- Bằng cách phá đi một phần của toàn bộ ư?

- Không, trái lại, ông linh mục nói, họ đã cất những ngôi nhà mới trong toàn bộ khối kiến trúc này, thế là đạt được kết quả mong muốn rồi.

- Tôi tưởng cái xóa nhòa hình dạng chiếc búa là khu nhà đồ sộ, xây dựng ở bên trái kia chứ, viên tướng nói.

- Vâng, đó là cả một khu nhà mới, ông linh mục đáp, và hình như người ta đã đặt tên cho khu nhà đó là khu «Một tháng Năm».

- Nói tóm lại, đấy là một thứ dấu ấn khổng lồ nằm ở ngay trung tâm thủ đô.

- Chính sau chiến tranh, khi bay qua thành phố lần đầu tiên, những người cộng sản đã nhận thấy và họ đã lập tức ra lệnh xóa bỏ hình dạng chiếc búa.

- Thế trước đây họ không biết sao?

- Tôi không thể trả lời ông được.

- Nhưng dĩ nhiên là đứng ở chỗ cao hơn nhìn thấy rõ hơn.

- Chắc thế.

Hai người bước đi trên mặt đường rải nhựa dọc nhà thờ. Trên một chiếc ghế dài đặt bên đường, một thanh niên và một thiếu nữ đang ngồi bên nhau. Mắt mơ màng, cô ta ngả đầu lên vai người yêu đang vuốt ve đầu gối cô.

- Ta đi xuống thôi, viên tướng nói, gió lạnh quá.

Họ quay xuống theo con đường hai bên trồng bồ đề.

Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 26 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.