Mũi kiếm đang chỉ thẳng vào tim tôi, và đôi mắt tên sát nhân giống hai cái hốc đen ngòm đe dọa sẽ nuốt chửng tất cả những gì tới quá gần. Tôi biết mình không thể trốn thoát. Tôi khó nhọc lùi lại vài bước.
Gã bám sát tôi. “Ta sẽ xóa bỏ những thứ khiến Chúa phiền lòng khỏi mặt đất!” giọng gã vang lên. “Mặt đất sẽ thấm đẫm máu ngươi!”
Tôi có ít nhất là hai câu để trả đũa những lời lẽ đầy tội lỗi kia ngay trên đầu lưỡi. (Thấm đẫm máu ta ư? Ô, mi cứ thử, dưới chân chúng ta là sàn gạch.) Nhưng tôi đang hoảng đến nỗi từ ngữ đông cứng không tuôn ra nổi. Nói cho cùng, lúc này xem ra gã sẽ không thể ưa mấy câu đùa nhẹ của tôi. Mà quả tình, trông gã không hề có tí khiếu hài hước nào cả.
Tôi lùi lại thêm một bước, và bị chặn bởi một bức tường. Tên sát nhân cười phá lên. Thôi được, có lẽ gã cũng có khiếu hài hước, chỉ là không giống của tôi lắm.
“Chết đi, đồ quỷ dữ!” Gã gào lên, không chút do dự xọc thẳng kiếm vào ngực tôi.
Tôi choàng tỉnh giấc, hét lên. Mồ hôi túa đẫm, còn tim thì đau như thể đã bị một lưỡi kiếm xuyên qua. Giấc mơ kinh khủng! Nhưng có gì đáng lạ lắm không nhỉ?
Trải nghiệm của tôi ngày hôm qua (và cả ngày hôm trước nữa) không thể nói là có thể khiến tôi thoải mái rúc vào giường và ngủ ngon. Những ý nghĩ không mong muốn xoắn vặn trong não tôi chẳng khác gì cái cây ăn thịt người đang phát điên. Gideon chỉ giả vờ, tôi nghĩ. Hắn không hề yêu tôi.
“Cậu ta gần như chẳng phải làm gì để thu hút lũ con gái,” Tôi nghe bá tước Saint Germain nói đi nói lại bằng một giọng ôn tồn trầm trầm. Và “Chẳng có gì dễ đoán hơn phản ứng của một phụ nữ đang yêu.”
Ồ, thế sao? Vậy một phụ nữ đang yêu sẽ phản ứng thế nào khi phát hiện ra ai đó vẫn đang nói dối và thao túng mình? Cô ta sẽ mất hàng giờ buôn điện thoại với bạn thân, vậy đó, rồi cô ta sẽ ngồi trong bóng tối, thao thức, tự hỏi rằng thế quái nào mà lúc đầu mình phải lòng hắn, và đã phải khóc muốn trôi cả tròng mắt vì khao khát hắn kinh khủng… Phải rồi, chả cần là một thiên tài mới đoán nổi.
Đồng hồ báo thức bên giường tôi hiển thị số 3:10, có lẽ cuối cùng tôi cũng ngủ gật. Thậm chí tôi đã ngủ hơn hai tiếng. Và hẳn có ai đó, mẹ tôi?, đã vào đắp chăn cho tôi, vì tôi vẫn nhớ mình chỉ nằm còng queo, vòng hai tay ôm chặt đầu gối, và nghe thấy tim đập như điên.
Xét cho cùng, một trái tim tan vỡ mà cũng đập được thì kỳ lạ thật.
“Tớ cảm giác như nó là những mảnh vỡ sắc nhọn đỏ lòm, đang cắt phanh tớ ra từ bên trong cho tới khi tớ chảy hết máu mà chết,” Tôi nói, cố gắng miêu tả trái tim mình cho Leslie (được rồi, nghe cũng sến súa chả kém gì mấy thứ cái gã trong giấc mơ của tôi đã nói, nhưng đôi lúc sự thật đúng là sến súa mà). Leslie thốt lên đềy thương cảm, “Tớ biết cậu cảm thấy thế nào. Khi Max đá tớ, ban đầu tớ tưởng tớ sẽ chết vì buồn. Buồn bã và suy tạng cả loạt. Vì trong những điều thiên hạ nói về tình yêu cũng có chút sự thật đấy: nó di căn đến thận cậu, nó thụi vào dạ dày cậu, nó đập tan tim cậu và… ừm… nó bò quanh gan cậu như rận. Nhưng mà thứ nhất, tất cả rồi sẽ qua; thứ hai, mọi thứ không vô vọng như cậu nghĩ; và thứ ba, tim cậu không phải là thủy tinh.”
“Đá, không phải thủy tinh,” Tôi chỉnh nó, và khóc nức nở. “Tim tớ là một viên bảo thạch, và Gideon đập vỡ nó thành hàng ngàn mảnh, đúng như bà Maddy đã tiên đoán.”
“Nghe có vẻ hay đấy, nhưng không! Tim được làm từ những thứ hoàn toàn khác, tin lời tớ đi.” Leslie hắng giọng, và trở nên nghiêm túc cứ như thể sắp tiết lộ bí mật quan trọng nhất trong lịch sử thế giới. “Trái tim được làm từ thứ gì đó cứng rắn hơn nhiều. Nó không thể tan vỡ, và cậu có thể nhào nặn lại nó bất cứ lúc nào. Những trái tim được làm từ một công thức bí mật.”
Thêm vài cái hắng giọng để tăng phần kịch tính. Tôi nín thở theo phản xạ.
“Chúng được làm từ những thứ như bánh hạnh nhân!“Leslie tuyên bố.
“Bánh hạnh nhân?” Trong một tích tắc, tôi ngừng khóc và toét miệng cười.
“Đúng rồi đó, bánh hạnh nhân,” Leslie nhắc lại với vẻ chân thành chết người. “Loại ngon nhất, với cả đống bột hạnh nhân nghiền.”
Tôi suýt bật cười thành tiếng. Nhưng tôi sực nhớ ra ngay mình vẫn là đứa con gái bất hạnh nhất trên thế giới. Tôi sụt sịt mũi, và nói, “Nếu vậy, thì Gideon đã cắn tiệt mất một phần trái tim tớ rồi! Và hắn đã gặm hết cả phần chocolate phủ xung quanh nữa! Cậu phải thấy cái mặt hắn khi mà…”
Nhưng trước khi tôi có thể lại khóc tiếp, Leslie thở dài đánh sượt.
“Gwenny, tớ ghét phải nói điều này, nhưng trò khóc lóc ăn vạ này chẳng ích lợi gì cả. Cậu cần phải dừng lại!”
“Tớ không cố ý,” Tôi nói. “Nó cứ tự bùng lên thôi. Một phút trước tớ vẫn là cô gái hạnh phúc nhất thế giới, và rồi hắn nói với tớ…”
“Được rồi, vậy thì Gideon đã cư xử như một thằng khốn,” Leslie ngắt lời tôi, “mặc dù cũng khó hiểu đấy. Ý tớ là, xin chào? Thế quái nào mà bọn con gái đang yêu lại dễ bị thao túng hơn bình thường thế nhỉ? Tớ tưởng phải ngược lại chứ. Lũ con gái đang yêu cứ như bom nổ chậm ấy. Cậu chẳng biết bọn nó sẽ làm gì tiếp theo đâu. Gideon và lão bá tước ái quốc cực đoan kia nhầm to rồi.”
“Tớ thực sự đã nghĩ Gideon yêu mình. Cái ý nghĩ rằng hắn chỉ giả vờ thật là…” Xấu tính? Nhẫn tâm? Không có từ ngữ nào miêu tả nổi tâm trạng tôi cả.
“Ôi, cưng à, nghe này, vào những hoàn cảnh khác, cậu có thể vùi mình trong đau khổ hàng tuần liền, nhưng bây giờ cậu không thể làm vậy. Cậu cần năng lượng cho những việc khác. Như để sống sót chẳng hạn.” Leslie có vẻ nghiêm khắc khác thường. “Cho nên cậu làm ơn chỉnh đốn lại đi.”
“Xemerius cũng nói vậy. Trước khi nó chuồn mất và bỏ tớ lại một mình.”
“Con tiểu quỷ vô hình của cậu đúng đấy! Cậu cần tỉnh táo và sắp xếp lại các manh mối. Eo ôi, cái gì vậy? Đợi chút, tớ phải mở cửa sổ. Bertie vừa thả một quả bom thối tàn tệ. Đồ chó hư! Bây giờ thì, tớ nói đến đâu rồi nhỉ? Phải rồi, chúng ta phải tìm xem ông cậu đã giấu cái gì trong nhà.” Leslie hơi lên giọng. “Tớ phải công nhận, hóa ra Raphael cũng có ích. Hắn không ngố như cậu nghĩ đâu.”
“Như cậu nghĩ thì có.” Raphael là em trai Gideon, và hắn vừa vào học cùng trường với chúng tôi. Hắn đã phát hiện ra câu đố ông tôi để lại là về tọa độ địa lý. Và nó dẫn thẳng đến nhà tôi. “Tớ cực kỳ muốn biết Raphael đã đào bới được bao nhiêu bí mật về vụ du hành thời gian của Đội Cận vệ và Gideon rồi.”
“Có thể nhiều hơn chúng ta đoán,” Leslie nói. “Dù sao thì, hắn cũng không tin chuyện mấy câu đố về tọa độ là trào lưu mới nhất ở London. Nhưng hắn cũng đủ thông minh để không hỏi han thêm gì nữa.” Nó ngập ngừng. “Hắn có đôi mắt khá hấp dẫn đấy.”
“Ừa.” Chúng hấp dẫn thật, và điều đó nhắc tôi rằng mắt của Gideon cũng giống hệt thế. Màu xanh lá với hàng lông mi đậm và dày.
“Không phải tớ bị ấn tượng hay gì đâu. Chỉ là quan sát thôi.”
Anh yêu em mất rồi. Giọng Gideon nghe hoàn toàn nghiêm túc khi anh nói câu ấy, mắt nhìn thẳng vào tôi. Và tôi đã nhìn vào mắt anh, tin từng lời! Nước mắt tôi lại bắt đầu tuôn ra, và tôi gần như chẳng còn nghe thấy Leslie nói gì nữa.
“… nhưng tớ mong đấy là một lá thư dài, hay là một dạng nhật ký, trong đó ông cậu giải thích tất cả những gì bọn họ không nói với cậu và thêm thắt chút đỉnh nữa. Rồi chúng ta có thể thôi lần mò trong bóng tối và lập một kế hoạch tử tế…”
Đáng lẽ những đôi mắt như thế không nên tồn tại. Hoặc là phải có luật buộc những cậu trai có đôi mắt tuyệt cỡ ấy luôn phải đeo kính râm. Trừ phi họ có thứ gì đó để bù trừ, một đôi tai vểnh to tướng hay một thứ xấu xí đại loại.
“Gwenny? Cậu không khóc tiếp đấy chứ, phải không?” Giờ thì Leslie nói nghe giống hệt cô Counter dạy Địa của bọn tôi khi có đứa thưa rằng đã quên làm bài tập. “Cưng à, như thế này không ổn đâu! Cậu phải ngừng ngay lập tức cái việc đào khoét quả tim bằng cái tấn kịch đó! Chúng ta phải…”
“Bình tĩnh, ừ, cậu đúng đấy.” Tốn kha khá công sức, nhưng tôi cố gắng trục xuất ý nghĩ về đôi mắt của Gideon ra khỏi đầu và bơm thêm chút tự tin vào giọng nói. Tôi nợ Leslie điều đó. Dù sao thì mấy ngày qua nó cũng là người đã cố xốc tôi đứng dậy. Trước khi dập máy, tôi nói với nó rằng tôi đã vui đến cỡ nào khi có nó làm bạn, bất chấp mấy lời lâm ly đó lại khiến tôi rơi nước mắt, lần này thì là vì quá xúc động.
“Tớ cũng vậy,” Leslie cam đoan với tôi. “Đời tớ sẽ chán phèo nhạt thếch chết mất nếu không có cậu!”
Khi nó cúp máy thì đã suýt soát nửa đêm, và tôi thực sự cảm thấy người ngoai ít phút. Nhưng bây giờ, ba giờ mười phút, tôi rất muốn gọi cho nó và nói lại tất cả từ đầu.
Không phải tôi là đồ Minnie Mè nheo. Chỉ là, đây là lần đầu tiên tôi phải chịu cảnh yêu đơn phương. Yêu đơn phương thực sự ấy, ý tôi là vậy. Thứ đó làm người ta đau khổ. Mọi thứ khác đều lùi thành phông nền. Thậm chí sống cũng hết quan trọng. Quả thực, vào lúc đó, tôi nghĩ cái chết cũng không tệ. Tôi không phải là người đầu tiên chết vì tan vỡ trái tim, tôi có bạn đồng hành. Nàng Tiên cá, Juliet, Pocahontas, cả Trà hoa nữ và Hồ điệp Phu nhân nữa, còn bây giờ là tôi, Gwendolyn Shepherd. Tin tốt là tôi có thể bỏ qua mấy thứ kịch tính như dao kéo như Leslie đã gợi ý, bởi vì, với tình trạng bây giờ, tôi cảm thấy mình như đã mắc lao phổi từ tỉ năm trước rồi, và chết vì lao là cách chết ăn ảnh nhất. Tôi sẽ nằm trên giường, xanh xao và xinh đẹp như Bạch Tuyết với mái tóc xõa ra trên gối. Gideon sẽ quỳ bên giường tôi, cảm thấy tiếc nuối, cay đắng vì những gì hắn đã làm khi tôi thì thào lời cuối.
Nhưng trước tiên tôi cần đi toilet, khẩn cấp.
Trà bạc hà chanh đường là thuốc chữa bách bệnh trong gia đình tôi, và hẳn là tôi đã uống hàng lít. Bởi vì khi tôi về nhà tối hôm qua, mẹ đã lập tức nhận ra rằng tôi không ổn. Cũng chẳng khó để nhận ra điều đó, vì khóc lóc đã khiến tôi nom như một con thỏ bạch tạng. Và nếu tôi bảo mẹ, như Xemerius đã gợi ý, rằng tôi phải băm hành trong limo trên đường từ trụ sở Đội Cận vệ về nhà, thì đừng hòng bà tin.
“Có phải đám cận vệ chết tiệt kia làm gì con không? Có chuyện gì vậy?” Bà hỏi, bằng một cách nào đó vừa có vẻ thương hại vừa cực kỳ giận dữ. “Mẹ sẽ làm thịt Falk nếu…”
“Chẳng ai làm gì con cả, mẹ à,” Tôi nói nhanh, cố làm mẹ yên tâm. “Và không có chuyện gì cả.”
“Cứ làm như mẹ cậu sẽ tin ấy! Sao cậu không thử cái lý do củ hành? Cậu chả bao giờ nghe lời khuyên của tớ cả.” Xemerius giậm cái chân đầy móng vuốt lên sàn. Nó là một cái miệng máng xối bằng đá với một đôi tai to tướng, một đôi cánh dơi, một cái đuôi phủ vảy như đuôi rồng, và hai chiếc sừng nhỏ trên cái đầu mèo. Đáng tiếc là nó chẳng đáng yêu bằng nổi một nửa vẻ ngoài, và không ai ngoài tôi có thể nghe những câu bình luận ác liệt của nó và đáp trả. Ngoài ra, có hai thứ kỳ lạ thuộc về tôi mà tôi buộc phải chung sống. Thứ nhất là tôi có thể thấy quỷ máng xối cùng các loại ma mãnh và nói chuyện với chúng từ khi còn bé. Điều kia còn kỳ hơn, và tôi vẫn không biết về nó cho tới gần hai tuần trước, khi tôi phát hiện ra mình là một trong mười hai nhà du hành thời gian cực kỳ bí mật, tức là những người có thể đi về một điểm nào đó trong quá khứ vài giờ mỗi ngày. Lời nguyền du hành thời gian, ờ, được rồi, đúng ra là một món quà, đáng lẽ phải ám vào bà chị họ Charlotte của tôi, đã được chuẩn bị kỹ lưỡng nên hơi bị siêu vụ này, nhưng cuối cùng thì tôi lại là đứa rút trúng cọng rơm ngắn. Không có lý do gì để ngạc nhiên. Tôi luôn là đứa giữ trên tay lá bài cuối cùng khi chúng tôi chơi Old Maid; nếu cả lớp chơi trò bốc thăm để xem ai sẽ mua quà Giáng sinh cho cô Counter, tôi luôn tóm đúng mẩu giấy có tên cô (nghĩ cho ra mua quà gì tặng một giáo viên địa lý đúng là rất hại não!?); nếu tôi có vé đi hòa nhạc, cứ yên tâm là tôi sẽ lăn ra ốm; và khi nào đặc biệt cần xinh đẹp được mắt một chút, sẽ có một cái mụn to cỡ con mắt thứ ba mọc chễm chệ trên trán tôi. Có một đôi người sẽ không hiểu ngay sự giống nhau giữa mụn và du hành thời gian, họ có thể ghen tị và nghĩ rằng du hành thời gian rất vui, nhưng không có đâu. Nó gây phiền toái, đau tim và còn nguy hiểm nữa. Không thể quên rằng nếu không thừa hưởng cái khả năng ngu ngốc đó thì tôi đã không gặp Gideon và trái tim tôi, dù nó có làm từ bánh hạnh nhân hay không, vẫn sẽ yên ổn. Bởi vì hắn cũng là một trong mười hai nhà du hành thời gian. Một trong vài người còn sống. Bạn không thể gặp mấy người kia đâu, chỉ trừ trong quá khứ.
“Con vừa mới khóc,” Mẹ tôi nói bằng giọng rất thực tế.
“Đấy, cậu thấy chưa?” Xemerius nói. “Giờ thì mẹ sẽ vắt cậu như vắt chanh cho tới khi hạt bắn ra ngoài. Bà sẽ không để cậu lọt khỏi tầm mắt một giây nào, và chúng ta sẽ đứt luôn cả vụ tìm kho báu tối nay.”
Tôi nhăn mặt để nó hiểu rằng hôm nay tôi cũng chẳng còn tâm trạng đi săn kho báu nữa. Người ta phải làm mặt xấu với lũ bạn vô hình nếu không muốn người khác tưởng mình bị điên vì nói chuyện với không khí.
“Bảo bà ấy cậu đang thử bình xịt cay xem,” Cục không khí trả lời tôi, “và cậu lỡ làm bắn vào mắt.”
Nhưng tôi đã quá mệt để nói dối. Tôi nhìn mẹ với đôi mắt vằn đỏ và liều nói thật. Mình nói đây, tôi nghĩ. “Chỉ là… không, con không thấy ổn lắm. Đó… đại khái là chuyện con gái ấy, mẹ biết không?”
“Ôi, con yêu.”
“Nếu con điện cho Leslie, con biết mình sẽ thấy khá hơn.”
Trước sự kinh ngạc của Xemerius, và cả của tôi, mẹ đã hài lòng với lời giải thích. Mẹ làm trà bạc hà, để bình trà và chiếc cốc chấm bi yêu thích của tôi trên tủ đầu giường, vuốt tóc tôi, rồi để tôi yên thân. Bà thậm chí không hề nhắc nhở tôi về giờ giấc như thường ngày. (“Gwendolyn! Mười giờ hơn rồi, và con đã ôm điện thoại được bốn mươi phút rồi đấy. Mai hai đứa còn gặp nhau ở trường mà.”) Đôi lúc, bà đúng là người mẹ tuyệt nhất thế giới.
Tôi thở dài, rồi thò chân ra khỏi giường và lết vào buồng tắm. Bỗng có một làn hơi lành lạnh phả tới.
“Xemerius? Cậu có đó không?” Tôi thì thào và lần tìm công tắc.
“Còn tùy hoàn cảnh.” Xemerius đang treo ngược người trên chiếc đèn trần hành lang, chớp chớp mắt bởi luồng sáng. “Tớ ở đây chừng nào cậu thôi biến thành cái vòi tưới cây.” Nó rít lên bằng giọng the thé sướt mướt để nhại tôi, khá giống, tôi e là vậy. “Rồi thì hắn nói, tôi không hiểu em đang nói gì, rồi thì tớ nói, có hay không, rồi thì hắn nói, có, nhưng làm ơn đừng khóc nữa…” Nó thở dài như đóng kịch. “Lũ con gái làm tớ ức chế hơn bất cứ loại người nào. Chẳng kém gì nhân viên thuế về hưu, mấy cô bán hàng thêu và các ông chủ tịch hiệp hội làm vườn.”
“Tớ không thể đảm bảo gì đâu,” Tôi thì thầm để không dựng cả nhà dậy. “Chúng ta không nên nhắc đến Người Mà Cậu Biết Là Ai Đấy, nếu không thì cái đài phun nước lại hoạt động mất.”
“Đằng nào tớ cũng phải nghe tên hắn đến phát ngán lên rồi. Chúng ta làm cái gì hợp lý hơn một chút có được không? Săn kho báu chẳng hạn?”
Đi ngủ chắc là hợp lý hơn, nhưng tiếc rằng lúc này tôi đã tỉnh như sáo sậu. “Thôi được, chúng ta có thể bắt đầu, nếu cậu muốn. Nhưng trước tiên tớ phải đi xả đống trà đó đã.”
“Gì cơ?”
Tôi chỉ vào cửa phòng tắm.
“Ô, tớ hiểu,” Xemerius nói. “Tớ sẽ đợi ở đây.”
Nhìn trong gương, trông tôi khá khẩm hơn mong đợi. Tuy nhiên lại không hề có triệu chứng lao phổi. Mí mắt tôi hơi sưng, chỉ thế thôi, như thể tôi đã lỡ tay đánh quá nhiều phấn mắt màu hồng.
“Cậu ở chỗ nào suốt vậy Xemerius?” Tôi hỏi khi quay ra hành lang. “Không phải là với…”
“Với ai?” Xemerius trông có vẻ tức giận. “Cậu đang hỏi tớ về cái người mà chúng ta không được nhắc tên đấy hả?”
“Ừ thì, đúng.” Thực sự tôi rất muốn biết Gideon đã làm gì tối qua. Vết thương trên tay hắn ra sao rồi? Và liệu hắn đã nói với ai về tôi chưa? Kiểu như Tất cả là một sự hiểu lầm khủng khiếp. Đương nhiên là tôi yêu Gwendolyn. Tôi đâu có giả vờ khi nói với cô ấy như vậy.
“Ồ, không có đâu! Tớ còn lâu mới bị lừa.” Xemerius dang cánh bay xuống sàn. Những khi ngồi trước mặt nhau như thế này, nó không nhô lên quá đầu gối tôi là mấy. “Nhưng tớ không đi ra ngoài. Tớ còn bận nhòm ngó quanh nhà. Nếu có ai tìm được kho báu thì đó chính là tớ. Vì bọn cậu không thể đi xuyên tường; hay là lục lọi ngăn kéo của bà cậu mà không bị tóm.”
“Phải, hẳn là cũng có vài lợi ích khi cậu vô hình,” Tôi nói. Tôi không nói rằng Xemerius không thể lục lọi cái gì cả vì móng vuốt ma của nó không mở được ngăn kéo. Tôi không biết con ma nào di chuyển được đồ vật. Hầu hết bọn chúng, khác với Xemerius, thậm chí còn không thở ra nổi một làn hơi lạnh. “Với cả cậu biết là bọn mình đâu có đi tìm kho báu, chỉ là thứ gì đó của ông tớ để lại có thể giúp chúng ta tìm hiểu thêm thôi.”
“Căn nhà này đầy rẫy những thứ có thể coi là kho báu. Lại còn bao nhiêu chỗ để giấu nữa,” Xemerius tiếp tục lải nhải, không đếm xỉa gì đến tôi. “Vài bức tường ở tầng một rỗng và có đường hầm chạy bên trong, những đường hầm hẹp đến nỗi cậu biết ngay rằng nó không được xây cho mấy người mông to.”
“Thật á?” Đến tôi còn chưa phát hiện ra những lối đi đó. “Làm sao để vào được?”
“Cửa vào ở hầu hết các phòng đều bị bít giấy dán tường, nhưng vẫn có một lối đi qua tủ quần áo của bà cô cậu và một lối nữa đằng sau tủ bát đĩa trong phòng ăn. Và một cửa nữa trong thư viện, ẩn sau tủ sách xoắn. À, còn có một đường đi nối từ thư viện và cầu thang lên phòng ông Bernhard, một đường khác dẫn lên tầng hai.”
“Chả trách ông Bernhard cứ hay thoắt ẩn thoắt hiện như thế,” Tôi lẩm bẩm.
“Chưa hết đâu. Có một chiếc thang trong ống khói to ở chỗ bức tường sát vách nhà 83 bên cạnh. Cậu có thể trèo lên tận nóc nhà. Cậu không vào được ống khói từ nhà bếp nữa đâu, vì lò sưởi cũ bị bịt kín rồi, nhưng vẫn có một đường cửa sập đằng sau tủ đĩa cuối hành lang tầng một, đủ to để cho ông già Noel chui qua, hoặc là ông quản gia quái dị nhà cậu.”
“Hoặc là người quét ống khói.”
“Rồi lại còn có tầng hầm nữa!” Xemerius giả vờ chưa nghe thấy lời bình luận rất thực tế của tôi. “Hàng xóm nhà cậu có biết căn nhà này có bí mật không, và có một cái hầm chứa nữa ở dưới cái hầm mà ai cũng biết? Tuy nhiên nếu muốn đi tìm thứ gì ở dưới đó thì tốt nhất là cậu đừng có sợ nhện.”
“Thế thì chúng ta tìm chỗ khác trước,” Tôi nói, quên rằng phải nhỏ giọng.
“Nếu bọn mình biết phải tìm cái gì thì đã dễ rồi.” Xemerius lấy chân gãi cằm. “Ý tớ là, nó có thể là bất cứ thứ gì: con cá sấu nhồi bông trong hốc tường, chai Scotch giấu sau đống sách trong thư viện, bó thư trong ngăn bàn bí mật của bà Maddy nhà cậu, chiếc rương nhỏ ở khoang rỗng trong bức tường gạch…”
“Cái rương ở trong tường?” Tôi ngắt lời nó. Nó đang nói đến cái khoang rỗng nào nhỉ?
Xemerius hất đầu. “Ôi trời, tớ nghĩ cậu vừa đánh thức em trai rồi kìa.”
Tôi quay ngoắt lại. Thằng em mười hai tuổi của tôi, Nick, đang đứng ở ngưỡng cửa phòng nó, hai bàn tay lùa trong mớ tóc đỏ bù xù. “Chị đang nói chuyện với ai thế, Gwenny?”
“Nửa đêm rồi,” Tôi thì thào. “Đi về giường đi Nick.”
Nick nhìn tôi do dự, và tôi có thể thấy nó đang dần tỉnh ngủ. “Chuyện cái rương trong tường là sao vậy?”
“Chị… chị định đi tìm, nhưng chị nghĩ đợi trời sáng sẽ tốt hơn.”
“Vớ vẩn,” Xemerius nói. “Tớ có thể nhìn trong bóng tối chẳng thua gì… ừm, xem nào, một con cú chẳng hạn. Và cậu không thể lục lọi quanh nhà khi mọi người đang tỉnh. Trừ phi cậu muốn có thêm cả đống bạn đồng hành.”
“Em có thể mang đèn pin,” Nick nói. “Trong rương có gì?”
“Chị cũng không biết.” Tôi nghĩ một lúc. “Có thể là thứ gì đó ông ngoại để lại.”
“Ồ,” Nick nói, bắt đầu hứng thú. “Nó được giấu ở đâu?”
Tôi nhìn Xemerius dò hỏi.
“Tớ thấy nó trong đường hầm đằng sau ông béo có ria, cái ông cưỡi ngựa ấy,” Xemerius nói. “Nhưng ai lại đi giấu bí mật, ý tớ là kho báu, trong một cái rương cũ rích chán ốm nhỉ? Tớ nghĩ con cá sấu có vẻ hứa hẹn hơn. Trời biết nó được nhồi bằng cái gì? Tớ ủng hộ việc rạch bụng nó ra.”
Tôi thì không. Tôi nghĩ mình đã gặp con cá sấu đó rồi. “Hãy xem cái rương trước đã. Một cái hốc nghe cũng không tệ đâu.”
“Chán ốm, chán ốm, chán ốm!” Xemerius đai đi đai lại. “Có khi là một cụ tổ của cậu đã trốn vợ giấu thuốc lá trong đó… hay…” Rõ ràng nó vừa sực nghĩ ra điều gì đó, vì tự nhiên bỗng cười nhe nhởn. “Hay là một cô hầu gái bị phanh thây vì lầm đường lạc lối!”
“Cái rương ở trong đường hầm sau bức tranh ông bác cụ kỵ Hugh,” tôi giải thích cho Nick. “Nhưng…”
“Em sẽ lấy đèn pin!” Thằng em tôi đã quay vào phòng.
Tôi thở dài.
“Sao cậu lại thở dài?” Xemerius đảo mắt. “Cho em cậu đi theo cũng chẳng hại gì.” Nó dang cánh. “Tớ sẽ chạy quanh một vòng cho chắc là cả nhà đã ngủ say. Bọn ta không muốn bà bác mũi nhọn của cậu tóm được trong lúc đi tìm kim cương mà.”
“Kim cương nào?”
“Hãy suy nghĩ tích cực!” Xemerius đã bay vọt lên không trung. “Cậu chọn cái gì, kim cương hay là thi thể một cô hầu bị sát hại? Đây hoàn toàn chỉ là vấn đề thái độ nhìn nhận. Gặp nhau ở trước ông chú béo cưỡi con ngựa của cậu nhé.”
“Chị đang nói chuyện với ma đấy à?” Nick xuất hiện sau lưng tôi. Nó tắt đèn trần hành lang và bật đèn pin.
Tôi gật đầu. Nick chưa bao giờ nghi ngờ việc tôi có thể nhìn thấy ma, mà còn ngược lại. Khi nó lên bốn và tôi lên tám, nó thường bảo vệ tôi khi mọi người không tin điều đó. Trước bác Glenda chẳng hạn. Chúng tôi luôn cãi vã khi cùng bác tới Harrods, và tôi trò chuyện với ông gác cửa tốt bụng Grizzle. Ông Grizzle chết đã năm chục năm, nên tất nhiên mọi người đều băn khoăn khi tôi đứng lại lại và bắt đầu luyên thuyên về Hoàng gia (ông Grizzle cực kỳ ngưỡng mộ Nữ hoàng) và về tháng Sáu ẩm ướt bất thường (thời tiết là chủ đề yêu thích thứ nhì của ông Grizzle). Nhiều người qua đường cười giễu tôi, có người thốt lên rằng trí tưởng tượng của trẻ con thật tuyệt (rồi xoa đầu tôi rối bù để nhấn mạnh ý kiến đó), có người lắc đầu, nhưng không ai tức giận như bác Glenda. Bác có vẻ xấu hổ hết mức, ra sức lôi tôi đi và mắng mỏ nếu tôi cố nán lại. Bác nhắc tôi phải noi gương Charlotte (thậm chí từ hồi đó, Charlotte đã hoàn hảo đến mức chị ta chưa bao giờ đánh mất dù chỉ là một cái cặp tăm gài tóc), tệ nhất là, bác dọa cắt món tráng miệng của tôi tối hôm đó. Nhưng mặc dù bác đã thực hiện đúng lời đe đọa ấy (tôi mê món tráng miệng, kể cả mận hầm), tôi vẫn không thể ép mình đi qua ông Grizzle mà không nói gì. Nick luôn cố trợ giúp bằng cách cầu xin bác Glenda buông tôi ra vì ông Grizzle tội nghiệp chẳng có ai để trò chuyện cả, nhưng bác Glenda sẽ khôn khéo đánh bại thằng bé bằng câu hỏi ngọt xớt, “Ồ, Nick bé bỏng, đến khi nào cháu mới hiểu rằng chị cháu chỉ cố gây chú ý thôi hả? Chẳng có ma mãnh nào hết. Cháu có trông thấy con ma nào ở đây không?”
Lần nào Nick cũng đành lắc đầu buồn bã, còn bác Glenda cười đắc thắng. Đúng hôm mà bác Glenda quyết định sẽ không dắt chúng tôi đến Harrods nữa, Nick đã bất ngờ thay đổi chiến thuật. Khi đó, còn nhỏ xíu, với đôi má béo phính, nó là một thằng bé thật đáng yêu, với cái giọng ngọng nghịu dễ thương - nó đã đứng đối diện bác Glenda và hỏi, “Bác có biết ông Grizzle đã nói gì với cháu không, bác Glenda? Ông ấy bảo bác là một mụ phù thủy già xấu tính hôi xì!” Tất nhiên là ông Grizzle sẽ không bao giờ nói thế, ông ấy quá lịch sự, còn bác Glenda thì là một khách hàng tuyệt vời, nhưng mẹ tôi đã nói cái gì đó tương tự vào tối hôm trước. Bác Glenda mím chặt môi bỏ đi, kéo theo Charlotte. Còn sau đó, lúc ở nhà, bác đã có một vụ cãi vã nho nhỏ với mẹ tôi, đang rất bực bội vì hai đứa chúng tôi phải tự tìm đường về nhà. Bác Glenda tuyên bố, giọng lạnh như băng, rằng mẹ phải chịu trách nhiệm về cái câu phù thủy bốc mùi kia. Kết quả là chúng tôi không bao giờ được đi mua sắm cùng bác Glenda nữa. Nhưng cho đến tận bây giờ chúng tôi vẫn rất khoái nói hai chữ “hôi xì”.
Lớn hơn chút nữa, tôi không còn nói với mọi người rằng tôi có thể nhìn thấy những thứ mà họ không thể trông thấy. Tốt nhất nên như thế, nếu bạn không muốn bị mắng là đồ khùng. Nhưng tôi chưa bao giờ phải giả vờ với Nick, Caroline và Leslie, vì chúng tin vào những con ma của tôi. Tôi không chắc lắm về mẹ và bà Maddy, nhưng ít nhất hai người cũng không cười nhạo tôi. Ngay cả bà Maddy thỉnh thoảng cũng có những tiên đoán kỳ lạ, nên có lẽ bà hiểu cảm giác không có ai tin mình là thế nào.
“Nó có tốt không?” Nick thì thầm. Ánh đèn pin của nó nhảy nhót trên những bậc thang.
“Ai cơ?”
“Con ma của chị, tất nhiên rồi.”
“Còn tùy,” Tôi thành thật đáp.
“Trông nó thế nào?”
“Nó khá đáng yêu. Nhưng nó nghĩ nó nguy hiểm.” Khi chúng tôi nhón chân xuống đến tầng hai của bác Glenda và Charlotte, tôi cố gắng tả Xemerius một cách kỹ nhất.
“Hay đấy,” Nick thì thầm. “Một con vật nuôi tàng hình! Em ước gì mình có một con!”
“Vật nuôi! Đừng bao giờ nói câu đó khi Xemerius đang ở trong tầm tai!” Tôi hơi hy vọng có thể nghe thấy cô chị họ mình ngáy qua cửa phòng ngủ, nhưng tất nhiên là Charlotte không ngáy. Những người hoàn hảo không phát ra thứ âm thanh kinh tởm đó khi ngủ.
Nửa đường xuống tầng tiếp theo, thằng em trai tôi ngáp một cái, khiến tôi lập tức thấy tội lỗi. “Nghe này, Nick, ba rưỡi sáng rồi, và tí nữa em phải đi học đấy. Mẹ sẽ làm thịt chị nếu phát hiện ra chị bắt em thức.”
“Em không mệt! Và nếu chị bỏ em bây giờ thì chị thật là xấu tính! Ông giấu cái gì trong rương thế?”
“Chị cũng không biết. Có lẽ là một cuốn sách giải thích tất cả mọi thứ cho chị. Không thì ít nhất là một lá thư. Ông là Trưởng Hội kín và lãnh đạo các cận vệ. Ông biết hết về chị, về mấy thứ du hành thời gian này, và trước lúc chết, ông đã biết Charlotte không thừa hưởng gene. Bởi vì chị đã gặp ông trong quá khứ và giải thích mọi chuyện.”
“Chị may mắn thật,” Nick thì thầm, rồi nói thêm như thể xấu hổ về bản thân, “Nói thật, em gần như không còn nhớ ông. Nhưng ông luôn tốt bụng và không nghiêm khắc chút nào, ngược lại hoàn toàn với quý bà Arista. Quanh ông luôn thoang thoảng mùi caramel và thứ thảo mộc gì đó.”
“Đó là mùi thuốc lá trong tẩu của ông, cẩn thận!” Tôi chặn Nick lại vừa kịp. Bây giờ chúng tôi đã đi quá tầng hai, nhưng trên đường xuống tầng một lại có vài bậc thang dở hơi kẽo kẹt rất to. Hàng năm trời lỉnh xuống bếp vào ban đêm đã dạy tôi cách tránh làm chúng rít lên. Hai đứa cẩn thận tránh qua những chỗ kẽo kẹt, cuối cùng cũng đến trước chân dung ông bác cụ kỵ Hugh.
“Xong. Chúng ta đến nơi rồi.”
Nick chiếu đèn pin lên mặt kỵ Hugh. “Ông ấy xấu tính quá, đặt tên ngựa của mình là Annie Mập! Cô ngựa đẹp và thon thả, ông ấy mới là cái người trông như con heo có ria mép.”
“Chị đồng ý.” Tôi sờ soạng tìm chốt khỏi động cơ cấu mở cánh cửa bí mật đằng sau khung tranh. Như thường lệ, nó hơi bị kẹt.
“Mọi người đều ngủ như em bé.” Xemerius hạ cánh trên cầu thang bên cạnh chúng tôi, thở phì phì. “Thực ra thì là mọi người, trừ ông Bernhard. Rõ ràng là ông ấy mắc chứng mất ngủ, nhưng mà đừng lo. Ông ấy đang ăn thịt gà nguội trong bếp và xem phim của Clint Eastwood.”
“Tốt.” Bức tranh mở ra với một tiếng rít, để lộ vài bậc thang giữa hai bức tường. Chúng dừng lại chừng sáu, bảy bước trước một cánh cửa khác. Cánh cửa này dẫn tới phòng tắm tầng một, và ở phía phòng tắm nó được giấu sau một tấm gương dài. Chúng tôi thường chui vào đoạn đường hầm này chơi, và cũng từng ăn đòn vì ai mà biết được lúc nào có người trong nhà tắm, nhưng hai đứa vẫn chưa phát hiện ra đoạn hành lang bí mật này có công dụng gì. Có lẽ là một cụ tổ nào đó của chúng tôi nghĩ rằng được trốn vào một góc yên tĩnh bất cứ lúc nào mà ông ấy thích thì sẽ rất vui.
“Cái rương đâu, Xemerius?”
“Bên trái. Giữa mấy bức tường.” Trong ánh sáng mờ mờ, tôi không thấy Xemerius rõ lắm, nhưng nghe thì có vẻ nó đang cậy cái gì đó ra khỏi răng.
“Xemerius hơi bị xoắn lưỡi,” Nick nói. “Em sẽ gọi nó là Xemi. Hoặc là Merry. Em có thể vào trong lấy cái rương không?”
“Nó ở bên trái,” Tôi nói.
“Xoắn cái lưỡi mi ấy,” Xemerius nói. “Shemi hay là Merry, không đời nào! Ta xuất thân từ ròng rõi quể hùng mạnh, và têng của trúng ta…”
“Cậu mắc cái gì trong mồm à?”
Xemerius nhổ nước bọt và bặm môi. “Hết rồi. Tớ ăn con bồ câu ngủ trên nóc nhà. Lông vũ ngu ngốc.”
“Nhưng cậu đâu có ăn được!”
“Cậu chả biết quái gì, nhưng cứ thích ý kiến ý cò!” Xemerius đáp, vẻ bị xúc phạm. “Còn chả cho tớ ăn một con bồ câu nhỏ!”
“Cậu làm gì ăn được bồ câu,” Tôi nhắc lại. “Cậu là một con ma.”
“Tớ là quỷ! Tớ có thể ăn bất cứ thứ gì tớ thích! Có lần tớ đã ăn cả một ông mục sư. Đủ cả áo lễ và các thứ. Tại sao cậu nhìn tớ ngờ vực như thế?”
“Hay là cậu canh xem có ai đến không đi?”
“Này, sao cậu không tin tớ?”
Nick đã trèo xuống những bậc thang dẫn đến phòng tắm và đang chiếu đèn pin dọc theo tường. “Em không thấy gì cả.”
“Chiếc rương nằm trong bức tường. Trong cái lỗ hổng ấy, đầu đất,” Xemerius nói. “Và tớ không nói dối. Nếu tớ nói tớ đã ăn một con bồ câu, thì là tớ đã ăn một con bồ câu thật.”
“Nó ở trong một cái lỗ trên tường,” Tôi bảo Nick.
“Nhưng em có thấy viên gạch lỏng nào đâu.” Thằng em tôi đã quỳ xuống sàn, ấn ấn tay vào tường để kiểm tra.
“Xin chào-o-o, tớ đang nói chuyện với cậu đấy!” Xemerius nói. “Cậu đang bơ tớ đấy à, đồ khóc nhè?” Khi tôi không trả lời, nó nói, “Thôi được rồi, thì đó là bồ câu ma. Như nhau cả.”
“Bồ câu ma, cậu đang cố tỏ ra vui tính à? Kể cả nếu có bọn bồ câu ma, và tớ chưa bao giờ thấy con nào, cậu vẫn không thể ăn chúng. Ma không thể giết nhau.”
“Bức tường này chắc như đá ấy,” Nick nói.
Xemerius khịt mũi tức giận. “Thứ nhất, kể cả bồ câu đôi lúc cũng quyết định ở lại trái đất và ám nó, đừng hỏi vì sao. Có lẽ chúng nó còn ân oán chưa giải quyết với một con mèo ở đâu đó. Thứ hai, làm ơn nói cho tớ biết làm sao cậu phân biệt được bồ câu ma với lũ bồ câu khác. Và thứ ba, cuộc đời làm ma của chúng sẽ kết thúc khi tớ ăn chúng. Bởi vì tớ đã nói với cậu không biết bao nhiêu lần rồi, tớ không phải một con ma bình thường. Tớ là quỷ! Có thể tớ không làm được nhiều thứ lắm trong thế giới của cậu, nhưng trong thế giới ma quỷ, tớ cũng là sao đấy. Bao giờ cậu mới chịu hiểu đây?”
Nick đứng dậy, giơ chân đá bức tường mấy cái. “Không, chúng ta chẳng làm được gì đâu.”
“Ssh! Đừng làm thế, ầm ĩ quá.” Tôi thò đầu vào buồng tắm, và nhìn Xemerius quở trách. “Ờ thì cậu là sao. Tuyệt. Giờ thế nào?”
“Ý cậu là sao? Tớ chưa nói câu nào về gạch lỏng nhé.”
“Thế thì làm sao chúng ta lấy được cái rương?”
“Với búa và dùi đục.” Đó là một câu trả lời rất có ích, chỉ có điều, không phải Xemerius nói, mà là ông Bernhard. Tôi sợ cứng người. Ông Bernhard đứng lù lù ở đó, chỉ cách tôi vài bước chân. Tôi có thể thấy cặp kính gọng vàng của ông lấp lánh trong bóng tối. Và răng ông nữa. Lẽ nào ông đang cười?
“Ôi, khỉ!” Xemerius bối rối tới mức nó phun cả nước ra tấm thảm trên bậc thang. “Chắc ông ấy phải hít gà qua mũi thì mới nhanh thế. Hoặc là phim quá dở. Dạo này cậu chẳng thể dựa dẫm vào Clint Eastwood được nữa rồi.”
Đen đủi là tôi không thể nói gì ngoài câu: “S… s… sao cơ?”
“Một cái búa với một cái dùi sẽ là giải pháp tốt nhất,” Ông Bernhard bình tĩnh nhắc lại. “Nhưng ta muốn gợi ý rằng cháu nên hoãn việc này lại. Chỉ là để không phải đánh thức cả gia đình dậy khi cháu lấy chiếc rương ra khỏi chỗ giấu mà thôi. À, ta cũng thấy cả cậu Nick ở đây nữa.” Ông nhìn vào chùm sáng chiếc đèn pin của Nick mà không chớp mắt. “Chân trần! Hai đứa sẽ ốm chết mất.” Bản thân ông thì đang đi dép trong nhà và mặc một chiếc áo ngủ thanh lịch thêu hai chữ WB, (Walter? William? Wilfred?) tôi luôn nghĩ ông Bernhard là một người không tên.
“Sao ông biết bọn cháu đang tìm một chiếc rương?” Nick hỏi. Giọng nó không run, nhưng nhìn đôi mắt mở to của nó, tôi có thể thấy nó cũng sửng sốt chẳng kém gì tôi.
Ông Bernhard chỉnh gọng kính. “Ta biết được vì chính ta đã giấu chiếc… ờ… rương kia ở đó. Nó là một chiếc hộp gỗ khảm khá giá trị, một món đồ cổ từ đầu thế kỷ 18, thuộc sở hữu của ông ngoại hai đứa.”
“Trong đó có gì thế ạ?” Tôi hỏi, phát hiện ra cuối cùng mình cũng có thể nói được thành tiếng.
Ông Bernhard nhìn tôi với ánh mắt khiển trách. “Theo lẽ thường, tất nhiên ta đã không có quyền hỏi câu đó. Ta chỉ đơn giản là giấu chiếc rương theo ủy thác của ông chủ.”
“Lão ấy không thể nói như vậy với tớ,” Xemerius cau có. “Không thể, khi mà lão ấy đang chạy quanh chõ mũi vào tất cả mọi chuyện. Và lẻn đến đây sau khi đánh lừa, gây cho người ta cảm giác an toàn giả tạo với món thịt gà nguội. Nhưng mà đều là lỗi của cậu cả đấy, bình tưới cây ngu ngốc ạ! Nếu mà cậu tin tớ thì cái ông già hay mất ngủ kia chẳng bao giờ đánh úp bọn mình như thế này được!”
“Ta sẽ, tất nhiên, thấy rất vui khi được giúp các cháu lấy lại chiếc rương,” Ông Bernhard tiếp tục. “Nhưng tốt nhất là lấy nó vào tối nay, khi bà ngoại và bác Glenda của các cháu đến Câu lạc bộ Rotary[1]. Vì vậy, bây giờ ta đề nghị tất cả hãy trở về giường. Dù sao thì sáng mai cả hai đều phải đi học.”
“Đúng đấy, thế rồi trong lúc ấy lão ta sẽ đi đào cái thứ đó ra khỏi bức tường,” Xemerius gào lên. “Rồi lão ấy có thể vơ hết đống kim cương và để vài quả óc chó nhăn nheo héo quắt lại cho chúng ta. Tớ biết lắm.”
“Đừng có ngốc thế,” Tôi lẩm bẩm. Nếu ông Bernhard muốn làm thứ gì tương tự thì ông đã có thể làm từ lâu rồi, bởi vì không có ai biết gì về chiếc rương cả. Có thứ quái quỷ gì trong đó mà ông ngoại lại muốn xây luôn nó vào tường nhà nhỉ?
“Tại sao ông muốn giúp bọn cháu?” Nick hỏi thẳng thừng, vượt trước tôi một bước với câu hỏi ấy.
“Bởi vì ta thành thạo cách dùng búa và dùi đục,” Ông Bernhard nói. Rồi ông nói thêm, giọng càng nhỏ thêm, “Và bởi vì, đáng tiếc thay, ông chủ không còn ở đây để giúp Gwendolyn.”
Đột nhiên tôi lại thấy khó thở, và phải cố kìm dòng nước mắt đang chực phun ra. “Cảm ơn ông,” Tôi thì thào.
“Đừng vui mừng quá sớm. Ta e là chiếc chìa khóa rương đã… bị mất. Và ta thực sự không biết làm sao để dùng búa tạ với một thứ đồ cổ đẹp đẽ và quý giá như thế đây,” Ông Bernhard nói và thở dài.
“Nghĩa là ông sẽ không nói với mẹ cháu và quý bà Arista điều gì đúng không?” Nick hỏi.
“Không, nếu hai đứa đi ngủ ngay bây giờ.”
Tôi thấy răng ông Bernhard lóe lên trong bóng tối một lần nữa trước khi ông quay lưng và bước lên nấc thang.
“Buổi tối vui vẻ, và cố ngủ đi một chút nhé.”
“Chúc ngủ ngon, ông Bernhard,” Nick và tôi lẩm bẩm.
“Lão người xấu già khú!” Xemerius nói. “Lão đừng nghĩ tớ sẽ để lão ra khỏi tầm mắt.”
❀ ❀ ❀
[1] Câu lạc bộ Rotary: dành cho các nhà lãnh đạo và các thương nhân, thuộc tổ chức Rotary International. Đây là một tổ chức quốc tế cống hiến vì các hoạt động nhân đạo và hòa bình thế giới.