Bích Ngọc

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 3 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 3

❊ ❊ ❊

Hãy vẫn là bạn nhé, ý tôi là, đó thực sự là kết thúc!

“Cậu dám cá rằng một nàng tiên sẽ chết mỗi lần ai đó nói câu ấy ở bất cứ nơi nào trên thế giới này không?” Tôi hỏi. Tôi nhốt mình trong phòng vệ sinh nữ và gọi cho Leslie, và tôi đang gắng hết sức để không hét lên, mặc dù chỉ nửa giờ sau cuộc nói chuyện của tôi với Gideon, đó là điều tôi vẫn muốn làm.

“Hắn nói hắn muốn cậu làm bạn,” Leslie chỉnh tôi. Như thường lệ, nó để ý từng chữ một.

“Như nhau cả mà,” Tôi nói.

“Không. Ý tớ là có, có lẽ.” Leslie thở dài. “Tớ không hiểu. Cậu có chắc cậu đã để hắn nói hết không? Như trong phim Mười điều em ghét về anh…”

“Tớ có để anh ta nói hết mà. Thật đen đủi, phải nói thêm như vậy.” Tôi nhìn giờ. “Ôi khỉ. Tớ nói với ông George là sẽ trở lại sau một phút.” Tôi liếc nhìn bóng mình trong tấm gương bên trên chiếc bồn rửa kiểu cũ. “Ôi, khỉ! Tôi nói lần nữa. Có hai vòng tròn đỏ ửng trên má tôi. “Tớ nghĩ tớ bị dị ứng gì đó rồi.”

“Chỉ do tức giận thôi,” Là chẩn đoán của Leslie khi tôi nói với nó điều vừa nhìn thấy. “Mắt cậu thì sao? Có phải chúng đang lóe lên đầy nguy hiểm?”

Tôi nhìn chằm chằm vào hình ảnh phản chiếu của mình, “Ừ, kiểu thế. Trông tớ hơi giống Helena Bonham Carter đóng Bellatrix Lestrange trong Harry Potter. Khá đe dọa.”

“Nghe ổn đấy. Nghe này, giờ cậu hãy ra ngoài đó và dùng hết sức mình phóng ánh mắt đó vào mọi người, được chứ?”

Tôi ngoan ngoãn gật đầu và hứa sẽ làm vậy.

Sau cuộc điện thoại, tôi thấy khá hơn một chút, mặc dù nước lạnh cũng không thể rửa trôi cơn tức của tôi hay hai cái đốm tròn đỏ ửng trên má.

Nếu ông George có băn khoăn tại sao tôi đi lâu đến vậy, ông cũng không thể hiện ra.

“Mọi thứ ổn chứ?” Ông tốt bụng hỏi. Ông đã đợi tôi ngoài phòng ăn cũ.

“Mọi thứ đều ổn cả!” Tôi liếc qua cánh cửa, nhưng không hề có dấu hiệu nào của Giordano và Charlotte, thậm chí khi mà tôi đã quá muộn giờ học. “Cháu chỉ cần… ờm, đánh thêm chút phấn hồng.”

Ông George cười. Ngoài những nếp nhăn do cười quanh khóe mắt và miệng, không có gì trên khuôn mặt tròn thân thiện của ông cho thấy ông đã ngoài bảy mươi. Anh sáng phản chiếu lại trên cái đầu hói của ông khiến tôi nghĩ đến chiếc bát được đánh bóng tới khi nó phát sáng.

Tôi không thể dừng được mà phải cười lại với ông. Ông George luôn khiến tôi an tâm hơn. “Thật đấy ạ. Ông đánh phấn đó vào đây này,” Tôi nói, chỉ vào hai dấu tròn đỏ rực trên má.

Ông George chìa tay ra cho tôi. “Đi nào, cô bé dũng cảm,” Ông nói. “Ông đã nói với họ chúng ta sẽ xuống tầng để xuyên thời gian.”

Tôi nhìn ông ngạc nhiên. “Còn Giordano và chính sách thuộc địa thế kỷ 18 thì sao ạ?”

Ông George cười nhẹ. “Nói thế này nhé: ông dùng khoảng thời gian ngắn ngủi trong lúc cháu ở phòng vệ sinh để nói với Giordano rằng hôm nay cháu không có thời gian tham gia buổi học.”

Ôi, ông George tốt bụng! Dường như ông là người duy nhất trong các Cận vệ quan tâm tới tôi như một con người thực sự. Mặc dù nhảy minuet một chút có lẽ sẽ khiến tôi bình tĩnh hơn. Như kiểu một số người xả cơn giận bằng cách đấm bao cát. Hoặc là tới phòng thể hình. Mặt khác, bây giờ tôi cũng chẳng cần cái nụ cười ngạo mạn của Charlotte cho lắm.

“Máy đồng hồ đang đợi,” Ông nói tiếp.

Tôi vui vẻ khoác tay ông George. Lần đầu tiên, tôi mong đợi đến lúc được xuyên thời gian, những giờ du hành về quá khứ có kiểm soát, và không chỉ để trốn tránh cái thực tại kinh khủng, đồng nghĩa với Gideon. Bởi vì chuyến đi ngược thời gian ngày hôm nay là điểm mấu chốt trong kế hoạch thiên tài mà Leslie và tôi nghĩ ra. Nếu nó diễn ra như chúng tôi mong đợi.

Trên đường xuống tầng hầm, ông George và tôi đi ngang qua trụ sở Cận vệ. Cũng khó để hiểu rõ nơi này, nhất là khi nó chiếm đến vài tòa nhà. Có quá nhiều thứ để xem, đến mức khi bước đi trong những hành lang quanh co, bạn sẽ dễ dàng nghĩ đây là một viện bảo tàng. Hằng hà sa số những bức tranh, những bản đồ cổ, những tấm thảm thêu tay, và nguyên cả bộ sưu tập kiếm treo trên tường. Đồ sứ quý giá, sách bìa da, nhạc cụ cổ bày trong tủ kính, và hàng đống rương và hộp gỗ khảm. Trong những hoàn cảnh khác, tôi rất muốn được xem trong đó có thứ gì.

“Ta không biết mấy về mỹ phẩm, nhưng nếu cháu muốn xả giận về Gideon với ai đó, thì, ta cũng là một người biết lắng nghe đây,” Ông George nói.

“Về Gideon?” Tôi chậm rãi nói, như thể tôi phải cố nghĩ xem Gideon là ai. “Ồ, mọi thứ giữa cháu và Gideon đều ổn.” Thế đó! Tôi đấm bức tường khi đi qua. “Chúng cháu là bạn, chẳng còn gì cả. Chỉ là bạn.” Không may là từ đấy nói ra chẳng dễ chút nào. Đại khái thì tôi đã nghiến răng khi nói cái từ đó ra.

“Bản thân ta cũng từng có thời mười sáu tuổi, Gwendolyn.” Ông George hiền hậu nhìn tôi. “Và ta hứa ta sẽ không nói ta cảnh báo cháu rồi. Mặc dù ta đã làm vậy…”

“Cháu chắc hẳn ông là một chàng trai rất tốt hồi mười sáu tuổi.” Thật khó để tưởng tượng ông George lừa ai đó bằng cách hôn cô ta và nói những lời không thật lòng. Em chỉ cần ở trong cùng một căn phòng và tôi sẽ cần chạm vào em và hôn em. Tôi cố gắng rũ bỏ ký ức về lúc Gideon nhìn tôi bằng cách giậm chân thật mạnh. Mấy món đồ sứ trong tủ kính rung lên lanh canh.

Phải. Ai cần nhảy điệu minuet để xả giận chứ? Thế này là được rồi. Mặc dù đập một trong mấy cái bình đắt tiền kia sẽ có tác dụng tốt hơn.

Ông George liếc sang tôi vài lần, nhưng cuối cùng ông chỉ siết tay tôi và thở dài. Thỉnh thoảng chúng tôi đi qua những bộ giáp, và như thường lệ, tôi có cảm giác rằng mình đang bị giám sát.

“Không có ai trong mấy bộ áo giáp đó chứ, phải không ông?” Tôi thì thầm với ông George. “Một anh môn sinh nào đó không thể đi toilet cả ngày, phải không ạ? Cháu cảm giác có ai đó đang nhìn chúng ta.”

“Không,” Ông George cười nhẹ. “Nhưng đằng sau tấm che mặt trên mũ có lắp máy quay. Có lẽ vì thế mà cháu có cảm giác bị theo dõi.”

Ồ. Máy quay an ninh. Ít nhất tôi cũng không cần thương mấy cái máy quay.

Khi tới lượt cầu thang đầu tiên, tôi chợt nhớ ra ông George đã quên một thứ. “Ông không muốn bịt mắt cháu sao?”

“Ta nghĩ hôm nay chúng ta có thể bỏ qua chuyện đó,” Ông George nói. “Không có ai ở đây để phản đối, phải không nào?”

Tôi nhìn ông, ngạc nhiên. Bình thường tôi phải đi cả quãng đường với một chiếc khăn đen buộc trên mắt, vì đội Cận vệ không muốn tôi tìm được đường xuống chỗ họ cất máy đồng hồ, thứ giúp kiểm soát việc du hành thời gian. Vì một lý do nào đó, họ nghĩ nếu tôi biết đường, tôi sẽ chôm nó, cái việc tất nhiên là hoàn toàn vớ vẩn. Tôi không chỉ nghĩ nó rất kỳ bí, ý tôi là, nó chạy bằng máu cơ mà! Bạn thấy sao! Tôi không hề biết làm sao để vận hành đống bánh răng, đòn bẩy và chốt đó. Nhưng tất cả các Cận vệ đều hoang tưởng về khả năng bị trộm.

Lý do có lẽ là bởi trước đây đã có hai máy đồng hồ. Gần mười bảy năm trước, chị họ Lucy của tôi và bạn trai Paul, số Chín và Mười trong Vòng tròn Thập nhị, những nhà du hành thời gian, đã biến mất với một trong hai cái máy. Đến giờ tôi vẫn chưa tìm ra lý do họ trộm nó. Nhưng đằng nào thì tôi cũng đang mò mẫm trong bóng tối với tất cả cái vụ du hành này.

“Ồ, và tiện thể, Madame Rossini nhờ ta bảo cháu rằng bà ấy đã chọn một màu khác cho váy dạ hội của cháu. E là ta đã quên mất đó là màu gì rồi, nhưng ta chắc cháu sẽ trông rất xinh đẹp.” Ông George cười. “Mặc dù Giordano vẫn luôn nói với ta, không biết bao nhiêu lần rồi, về những lỗi lầm mà cháu chắc chắn sẽ mắc phải ở thế kỷ 18.”

Tim tôi đập rộn lên. Tôi phải tới buổi vũ hội đó với Gideon, và tôi không thể tưởng tượng mình có thể có tâm trạng để nhảy minuet với hắn mà không thực sự phá hỏng cái gì. Chân hắn chẳng hạn.

“Sao phải vội ạ?” Tôi hỏi. “Ý cháu là, từ quan điểm của chúng ta, tại sao vũ hội nhất thiết phải vào tối ngày mai? Tại sao chúng ta không thể đợi vài tuần? Rốt cuộc thì, chắc chắn là vũ hội sẽ được tổ chức vào đúng ngày đó trong năm 1782, bất kể chúng ta đến đó vào ngày nào?” Ngoài Gideon, câu hỏi này đã mắc trong đầu tôi được một thời gian rồi.

“Bá tước Saint Germain đã tính toán chính xác khoảng thời gian nên để trôi qua trong hiện tại giữa các lần viếng thăm ngài,” Ông George nói, để tôi xuống cầu thang trước.

Càng đi sâu vào mê cung trong tầng hầm, mùi ẩm mốc càng mạnh hơn. Trên các bức tường dưới này không có tranh ảnh, và mặc dù các cảm biến chuyển động đảm bảo rằng đèn sẽ được bật lên ở những nơi chúng tôi đi qua, những lối đi hai bên đều chìm trong bóng tối mịt mùng chỉ sau vài thước. Vài người không hề xuất hiện lại cho tới vài ngày sau tại những khu khác trong thành phố, xa khỏi Temple. Nhưng đó cũng chỉ là lời đồn thổi.

“Nhưng mà tại sao bá tước lại nói bắt buộc phải là ngày mai? Và tại sao đội Cận vệ phải theo lệnh ông ta một cách mù quáng như vậy?”

Ông George không trả lời câu đó. Ông chỉ thở dài nặng nề.

“Cháu chỉ nghĩ là nếu chúng ta lùi lại một vài tuần, ờm, bá tước sẽ không hề biết được, phải không?” Tôi nói. “Bá tước ngồi đó trong năm 1782, và thời gian cũng chẳng trôi chậm hơn với ông ta được. Nhưng khi đó cháu có thể từ từ học đống minuet đó, và thậm chí cháu có thể sẽ biết ai đang vây thành Gibralta rồi, vậy tại sao?” Tôi thích gạt vấn đề về Gideon ra ngoài hơn. “Rồi không ai sẽ phải lảm nhảm mãi với cháu, và e sợ những lỗi lầm cháu sẽ mắc phải ở vũ hội, trong trường hợp cách cư xử của cháu để lộ ra rằng cháu đến từ tương lai. Vậy nên tại sao bá tước nhất quyết phải là ngày mai, trong dòng thời gian của chúng ta, khi cháu tới vũ hội?”

“Phải, tại sao?” Ông George lẩm bẩm. “Như thể ngài sợ cháu vậy. Và sợ những gì cháu có thể tìm ra nếu có thêm thời gian.”

Phòng Giả kim thuật không còn xa nữa. Trừ phi tôi nhầm, hẳn là nó ở quanh lối rẽ tiếp theo. Nên tôi đi chậm lại. “Sợ cháu ư? Ông ta bóp cổ cháu mà không chạm vào cháu, và nhờ biết đọc ý nghĩ, ông ta biết rõ rằng cháu sợ ông ta, chứ không phải ngược lại.”

“Ngài bóp cổ cháu? Mà không chạm vào người?”

Ông George dừng bước và nhìn tôi chằm chằm. Trông ông có vẻ sửng sốt. “Trời đất. Gwendolyn, tại sao trước đây cháu không nói với chúng ta?

“Liệu ông có tin cháu không?”

Ông George vuốt tay qua mảng đầu hói và định mở miệng nói gì đó khi chúng tôi nghe thấy tiếng bước chân tới gần và một cánh cửa nặng nề đóng sập. Trông ông George hơi hoảng hốt, hoảng hốt hơn tôi nghĩ, dẫn tôi hướng tới chỗ phát ra âm thanh, và rút một chiếc khăn đen khỏi túi áo khoác.

Đó là Falk de Villiers, chú của Gideon và là Trưởng Hội kín, hăng hái bước đi dọc theo hành lang. Nhưng ông ta cười khi thấy chúng tôi.

“À, cháu đây rồi. Marley tội nghiệp vừa gọi đến văn phòng để hỏi cháu đi đâu, vậy là ta nghĩ ta nên đi xem một chút.”

Tôi chớp mắt và đưa tay lên dụi, như thể ông George vừa mới tháo cái bịt mắt ra, nhưng rõ ràng đó là chuyện diễn trò không cần thiết, vì Falk de Villiers thậm chí còn không để ý. Ông mở cánh cửa vào phòng máy đồng hồ, từng có thời là phòng Giả kim thuật.

Falk có lẽ chỉ già hơn mẹ tôi khoảng một tuổi và rất ưa nhìn, như tất cả các thành viên nhà de Villiers tôi đã gặp. Tôi luôn nghĩ về ông như con sói đầu đàn. Mái tóc dày của ông đã sớm bạc đi và tạo nên một sự tương phản thú vị với đôi mắt xanh ngọc bích.

“Đó, cậu thấy chưa, Marley? Không có ai mất tích cả,” Ông vui vẻ nói với Marley vốn đang ngồi trên một chiếc ghế trong phòng đặt máy đồng hồ, và giờ thì nhảy dựng lên, lo lắng bẻ đốt ngón tay.

“Tôi chỉ… tôi nghĩ, để cẩn thận…” Anh ta lắp bắp. “Tôi xin lỗi, thưa ngài…”

“Không, không, ta rất vui khi thấy cậu coi trọng trách nhiệm của mình đến vậy,” Ông George nói, và Falk hỏi, “Ngài Whitman đâu rồi? Chúng ta có hẹn uống trà với Dean Smythe, và ta định đón anh ta.”

“Ông ấy vừa rời khỏi,” Marley nói. “Họ nói họ rất cần gặp ông ấy.”

“Phải rồi, vậy thì ta đi đây. Ta có thể bắt kịp anh ta trên đường. Ông đi chứ, Thomas?”

Sau khi liếc nhanh sang tôi, ông George lắc đầu.

“Và ta sẽ gặp lại nhau vào ngày mai, Gwendolyn. Khi cháu tới buổi vũ hội lớn.” Nhưng được nửa đường ra khỏi cửa, Falk quay lại và nói như thể tình cờ, “À, và gửi lời chào của ta đến mẹ cháu nhé, Gwendolyn. Cô ấy vẫn ổn chứ?”

“Mẹ cháu? Vâng, bà vẫn ổn.”

“Thật vui khi nghe vậy.” Chắc trông tôi có vẻ khá hoang mang, bởi ông hắng giọng và thêm vào, “Ngày nay không phải bà mẹ độc thân và làm việc toàn thời gian nào cũng có cuộc sống dễ dàng đâu, nên ta rất mừng cho cô ấy.”

Giờ thì tôi cố tình trông hoang mang.

“Hoặc, hoặc là có lẽ cô ấy không còn một thân một mình nữa? Một phụ nữ hấp dẫn như Grace hẳn sẽ gặp rất nhiều đàn ông, nên là có lẽ có một ai đó…”

Falk nhìn tôi đầy mong đợi, như khi tôi cau mày bối rối, ông nhìn đồng hồ và kêu lên, “Ôi, quá muộn rồi. Ta thực sự phải đi đây.”

“Có phải ông ấy vừa đặt câu hỏi không?” Tôi nói khi Falk đã đóng cửa lại sau lưng.

“Phải,” Ông George và Marley nói cùng lúc, và Marley đỏ mặt. “Ờ,” anh ta nói tiếp, “ít nhất thì với tôi, có vẻ ông ấy muốn biết mẹ cô có bạn trai chưa,” Anh ta lẩm bẩm.

Ông George cười lớn. “Falk nói đúng đó, đã muộn rồi. Nếu muốn Gwendolyn làm được xong chút bài tập nào vào tối nay, chúng ta cần đưa cô ấy về quá khứ ngay bây giờ. Chúng ta nên chọn năm nào, Gwendolyn?”

Như đã thống nhất với Leslie, tôi nói thản nhiên nhất có thể, “Cháu không bận tâm đâu. Hôm trước cháu đã về năm 1956, đúng không nhỉ, có phải 1956 không ạ? Lúc đó không có chuột trong hầm. Thậm chí nó khá là thoải mái.” Tất nhiên tôi không thở ra chữ nào về cuộc gặp gỡ bí mật với ông ngoại trong căn hầm không chuột thoải mái. “Cháu còn học thêm được từ mới tiếng Pháp mà không phải run rẩy sợ hãi suốt cả buổi.”

“Không vấn đề,” George nói. Ông mở một cuốn sổ lớn, trong khi Marley đẩy tấm thảm treo tường che đi chiếc két cất máy đồng hồ.

Tôi cố nhòm qua vai ông George trong khi ông lật qua các trang giấy, nhưng tấm lưng rộng của ông chắn hết tầm nhìn.

“Xem nào. Đó là ngày 24 tháng Bảy năm 1956,” Ông George nói. “Cháu dành cả buổi chiều ở đó và trở lại lúc sáu rưỡi tối.”

“Sáu rưỡi cũng được đấy ạ,” Tôi nói, ngoéo ngón tay cầu mong kế hoạch sẽ khả thi. Nếu tôi có thể trở lại đúng thời điểm mình rời đi, ông ngoại sẽ vẫn ở dưới đó, và tôi sẽ không tốn thời gian đi tìm ông.

“Ta nghĩ tốt nhất là nên để thành sáu giờ ba mốt,” Ông George nói. “Ta không muốn cháu đâm phải bản thân mình.”

Marley, người đã đặt chiếc rương chứa máy đồng hồ lên bàn và giờ thì đang lấy cái máy to khoảng cỡ chiếc đồng hồ đặt trên lò sưởi ra khỏi lớp bọc bằng nhung, lẩm bẩm, “Nhưng nói đúng ra, ở đó chưa phải là ban đêm. Ngài Whitman nói…”

“Phải, chúng ta đều biết ngài Whitman luôn tuân theo luật,” Ông George nói trong lúc loay hoay với mấy cái bánh răng. Giữa những hình hoa văn màu, hành tinh, động vật và cây cối là những viên bảo thạch khảm vào bề mặt chiếc máy kỳ lạ, to và sáng tới mức bạn sẽ thấy chúng hẳn phải là đồ giả, giống như những hạt cườm mà em gái tôi hay nghịch. Mỗi nhà du hành thời gian trong Hội Thập nhị đều có một viên đá biểu trưng riêng. Của tôi là viên hồng ngọc, còn viên kim cương, to đến mức nó có thể đáng giá cả một tòa chung cư ở khu West End London, “thuộc về” Gideon. “Tuy nhiên, tôi nghĩ chúng ta cũng đủ lịch thiệp không để một quý cô trẻ tuổi phải ngồi một mình trong một cái hầm giữa lúc đêm hôm, cậu thấy phải không, Leo?”

Marley bối rối gật đầu.

“Leo?” Tôi hỏi. “Tên hay đấy.”

“Viết tắt cho Leopold,” Anh ta nói, đôi tai đỏ rực lên như đèn chiếu hậu của ô tô. Anh ta ngồi xuống, đặt cuốn sổ ghi chép trước mặt và mở nắp chiếc bút mực. Dòng chữ nhỏ rõ ràng, ghi lại một loạt những ngày tháng, giờ giấc và tên người rõ ràng là của anh ta. “Mẹ tôi nghĩ cái tên đó rất xấu, nhưng theo truyền thống, những người con trai cả trong gia đình chúng tôi đều được gọi là Leopold.”

“Leo là hậu duệ trực hệ của Nam tước Miroslav Alexander Leopold Rakoczy,” Ông George giải thích, quay lại và nhìn thẳng vào mắt tôi trong giây lát. “Cháu biết chứ, người đồng hành huyền thoại của bá tước Saint Germain, được biết đến trong Biên niên sử với cái tên Báo đen.”

Tôi ngạc nhiên vô cùng. “Ồ, thật vậy sao?”

Trong tâm trí, tôi so sánh Marley với Rakoczy xanh xao, gầy gò, chủ nhân của đôi mắt đen đã khiến tôi sợ hãi. Nhưng tôi thực sự không biết liệu mình có nên nói với Marley rằng anh ta thật may mắn khi không có vẻ ngoài của ông cụ tổ mờ ám, hay phải nói rằng mái tóc đỏ, khuôn mặt tròn ủm và đống tàn nhang kia trông còn tệ hơn.

“Cô thấy đấy, ông tôi…” Marley bắt đầu nói, nhưng ông George nhanh chóng ngắt lời anh ta. “Ta chắc hẳn ông cậu sẽ rất tự hào về cháu mình,” Ông kiên quyết nói. “Nhất là khi ông biết cậu đã vượt qua bài kiểm tra.”

“Ngoại trừ bài Sử dụng Vũ khí Truyền thống,” Marley nói. “Cháu chỉ được chấm là đạt yêu cầu trong môn đó.”

“Ồ, ngày nay chẳng mấy khi người ta cần đến nó. Sử dụng Vũ khí Truyền thống là môn học lỗi thời rồi.” Ông George chìa tay ra cho tôi. “Đây rồi, Gwendolyn. Đến năm 1956 nào. Ta đã cài máy đồng hồ đến đúng ba giờ rưỡi. Ôm chặt cặp vào và nhớ là đừng để lại thứ gì trong hầm khi trở lại, cháu nhớ chưa? Marley sẽ đợi cháu ở đây.”

Tôi ôm chặt cái cặp bằng một tay và đưa ông George tay kia. Ông đặt ngón trỏ của tôi vào một lỗ hổng nhỏ xíu trên thân máy. Một cây kim xuyên qua da thịt tôi, viên hồng ngọc sáng lên và bao trùm căn phòng trong thứ ánh sáng đỏ rực. Tôi nhắm mắt lại, đợi chờ con choáng váng đưa mình đi. Giây lát sau, khi tôi mở mắt, Marley và ông George đã biến mất, cả cái bàn cũng vậy.

Ở đây tối hơn, căn phòng chỉ có một bóng điện duy nhất để thắp sáng, và ông ngoại Lucas của tôi đang đứng trong luồng sáng nhìn tôi khó hiểu.

“Cháu… cháu, vậy là nó không có tác dụng sao?” Ông kêu lên, thảng thốt. Vào năm 1956, ông mới ba hai tuổi, và trông ông không hề giống ông già tám mươi tuổi mà tôi biết thuở nhỏ. “Cháu biến mất ngay ở đó, và bây giờ cháu lại ở đây.”

“Đúng vậy,” Tôi nói đầy tự hào, cố kìm nén không nhào vào ôm lấy ông. Cũng giống như những lần gặp khác: chỉ cần nhìn thấy ông, tôi đã thấy như có một cục nghẹn trong cổ. Ông ngoại mất khi tôi mười tuổi, và thật tuyệt, nhưng cũng thật buồn, khi gặp ông sáu năm sau lễ tang. Buồn không phải bởi vì khi gặp trong quá khứ, ông mới chỉ là một bản chưa hoàn thiện lắm của người ông tôi từng biết, mà là bởi tôi hoàn toàn xa lạ với ông. Ông không hề biết mình đã bao nhiêu lần cho tôi ngồi trên đùi, hay là khi cha tôi mất, ông an ủi tôi bằng cách kể chuyện cho tôi nghe, và chúng tôi luôn chúc nhau ngủ ngon bằng thứ ngôn ngữ tự phát minh không có ai hiểu được. Ông không biết tôi yêu ông nhường nào, và tôi không thể nói ra. Không ai muốn nghe mấy thứ kiểu đó từ một người chỉ ngồi với họ vài giờ. Tôi cố hết sức quên đi cục nghẹn dâng trong cổ mình. “Với ông, có lẽ mới có khoảng một phút trôi qua, nên là cháu tha thứ cho việc ông chưa thể cạo đống ria mép đó đi. Nhưng với cháu thì đã là vài ngày sau rồi, và đủ thứ chuyện đã xảy ra.”

Ông Lucas vuốt ria và cười. “Vậy là cháu… hừm, thông minh đấy, cháu gái à.”

“Vâng, cũng thông minh ra phết, phải không ạ? Nhưng thực ra thì đấy là ý tưởng của Leslie bạn cháu. Nhờ vậy bọn cháu có thể đảm bảo rằng chúng ta sẽ gặp nhau và không phải phí chút thời gian nào.”

“Và ta thì chưa kịp nghĩ xem sẽ làm gì tiếp theo. Ta mới chỉ bắt đầu nghĩ về cuộc gặp vừa qua.

Ông nghiêng đầu soi xét tôi. “Ừ, trông cháu cũng khác đi. Cháu không có cái cặp tóc kia, và bằng cách nào đó trông cháu có vẻ gầy hơn.”

“Cảm ơn ông,” Tôi nói.

“Đó không phải lời khen. Trông cháu khá tệ đấy.” Ông tiến lại gần và săm soi tôi cẩn thận. “Mọi thứ vẫn ổn chứ?” Ông dịu dàng hỏi.

“Mọi thứ đều ổn,” Tôi định nói thật vui vẻ, nhưng tôi phát hoảng khi thấy mình bật khóc. “Mọi thứ đều ổn,” Tôi nức nở.

“Ôi trời,” Ông Lucas nói, vụng về vỗ lưng tôi. “Tệ thế sao?”

Trong vài phút, tôi chẳng thể làm gì khác ngoài việc để nước mắt chảy ròng ròng. Và tôi cứ nghĩ mình đã kiểm soát được bản thân rồi chứ! Tức giận với các xử sự của Gideon sẽ là một phản ứng đúng đắn, rất dũng cảm và trưởng thành. Và trên phim, sự tức giận trông sẽ hay hơn là cái vụ khóc lóc này. Tôi e là Xemerius đã đúng khi so sánh tôi với cái đài phun nước trong nhà.

“Bạn!” Cuối cùng tôi cũng sịt mũi, bởi ông xứng đáng được nghe một lời giải thích. “Hắn ta muốn bọn cháu làm bạn. Và muốn cháu tin hắn.”

Ông Lucas cúi đầu và cau mày, trông có vẻ bối rối. “Và điều đó khiến cháu khóc bởi vì…?”

“Bởi vì ngày hôm qua hắn nói hắn yêu cháu!”

Nếu có thể, trông ông Lucas còn bối rối hơn trước. “Hừm, đó cũng không phải một cách tệ để bắt đầu tình bạn.”

Nước mắt tôi khô cong như thể có ai đó vừa ngắt điện đài phun nước. “Ông ngoại! Đừng ngốc thế chứ!” Tôi kêu lên. “Thoạt tiên hắn hôn cháu, rồi cháu phát hiện ra đó chỉ là chiến thuật và thao túng, rồi hắn lại nghĩ ra cái trò chúng-ta-làm-bạn-nhé đó!”

“Ồ. Ta hiểu. Thật là… thật là một tên vô lại!” Ông Lucas trông chưa thuyết phục lắm. “Thứ lỗi cho ta hỏi mấy câu ngớ ngẩn, nhưng ta hy vọng cháu đang không nói về cậu chàng Villiers kia? Số Mười một, viên Kim cương?”

“Đúng đấy ạ,” Tôi nói. “Chính là hắn.”

Ông ngoại rên lên. “Ôi, thật sao! Lũ choai choai! Như thể tất cả những việc này còn chưa đủ phức tạp!” Ông ném cho tôi một chiếc khăn tay, cầm cái cặp của tôi và nói, “Khóc thế là đủ rồi. Chúng ta có bao nhiêu thời gian?”

“Máy đồng hồ được cài đặt để đưa cháu về lúc mười giờ tối theo thời gian ở đây.” Hài hước thay, khóc lóc lại tốt cho tôi hơn nhiều so với việc tức giận rất người lớn kia. “Ông có gì ăn không ạ? Cháu hơi đói.”

Ông Lucas cười to. “Thế thì chúng ta nên lên tầng, con gà bé nhỏ à, và tìm cho cháu cái gì đó để mổ. Dưới này chật kinh khủng. Và ta phải gọi về nhà và báo mình sẽ về muộn.” Ông mở cửa. “Đi nào, và cháu có thể kể mọi thứ trên đường đi. Và nếu có ai nhìn thấy cháu, đừng quên cháu là em họ Hazel của ta.”

•§•

Gần một tiếng sau, chúng tôi ngồi trong văn phòng của ông Lucas, nghĩ lung đến mức dường như khói đang phun ra từ hai lỗ tai. Trước mặt hai người là hàng đống giấy với những ghi chú loằng ngoằng, hầu hết là ngày tháng, những hình tròn, mũi tên và dấu hỏi, cùng với những cuốn sách bìa da (Biên niên sử Đội Cận vệ trong vài thập kỷ qua) và một đĩa bánh quy. Bất kể thời nào, có vẻ Đội Cận vệ luôn có thừa thứ này.

“Quá nhiều thông tin, quá ít thời gian để suy nghĩ,” Ông Lucas nói hết lần này đến lần khác. Ông đi đi lại lại không ngừng trong phòng, vò đầu bứt tai. Mặc cho tất cả những thứ ông đã vuốt lên để giữ mượt mái tóc, những sợi tóc bắt đầu chổng ra khắp nơi. “Cháu nghĩ ta có thể giấu gì trong chiếc rương đó?”

“Có thể là một cuốn sách chứa tất cả những thông tin cháu cần,” Tôi nói.

Chúng tôi đã đi qua một anh chàng đứng gác trên cầu thang mà không gặp trở ngại gì. Anh ta ngủ ngon lành, y hệt như trong chuyến thăm trước của tôi, và mùi rượu tỏa ra từ anh ta đủ để khiến những người đi qua cũng thấy lâng lâng. Trên thực tế, Đội Cận vệ có vẻ ít nghiêm khắc hơn trong năm 1956. Không ai nghĩ việc ông Lucas ở lại tăng ca hay cô em họ Hazel từ quê lên tới bầu bạn với ông là lạ. Mà buổi tối ở Temple cũng không hẳn là đông đúc. Ông George trẻ tuổi rõ ràng là đã về nhà, kể cũng tiếc thật. Tôi đã muốn gặp lại ông.

“Một cuốn sách, hừm, có thể lắm,” Ông Lucas nói, trầm ngâm nhấm nháp một chiếc bánh quy. Ba lần, ông suýt nữa thì châm một điếu xì gà, nhưng tôi đã giật nó khỏi tay ông. Tôi không muốn lại bốc mùi xì gà khi quay về. “Mật mã và tọa độ cũng có lý đấy, ta thích đoạn đó, và nó có vẻ giống ta. Ta luôn luôn mềm lòng trước những mật mã. Chỉ là, làm sao Lucy và Paul biết được nó ở trong cái thứ… trong quyển Ngựa vàng?”

“Kỵ sĩ Xanh, ông ạ,” Tôi kiên nhẫn nói. “Cuốn sách ở trong thư viện của ông, và mẩu giấy có mật mã được kẹp giữa các trang sách. Có lẽ Lucy và Paul đã để lại đó.”

“Điều đó không hợp lý. Nếu họ biến mất vào quá khứ trong năm 1994, vậy tại sao họ lại để một cái rương trong tường nhà rất nhiều năm sau như vậy?” Ông dừng bước và cúi xuống bên mấy cuốn sách. “Thứ này làm ta điên mất! Cháu biết cảm giác khi mà giải pháp đã trong tầm với rồi không? Ước gì máy đồng hồ cho phép vượt thời gian tới tương lai. Khi đó cháu có thể tự phỏng vấn ta.”

Đột nhiên, tôi nảy ra một ý tưởng, và nó hay tới mức tôi rất muốn vỗ lưng mình một cái. Tôi nghĩ về điều ông ngoại đã kể cho tôi trong lần gặp trước. Theo ông, Lucy và Paul, chán nản với thời gian phân nhánh hồi khứ họ phải dành ở nơi này, đã du hành xa hơn vào quá khứ và thấy nhiều thứ thú vị, như một buổi diễn Hamlet năm 1602, thời Shakespeare còn sống.

“Cháu biết rồi!” Tôi kêu lên và nhảy múa ăn mừng một chút.

Ông tôi cau mày. “Cháu biết cái gì cơ?” Ông hỏi đầy hứng thú.

“Giả sử ông đưa cháu về xa hơn trong quá khứ với máy đồng hồ này thì sao?” Tôi phấn khởi nói. “Thế thì cháu có thể gặp Lucy và Paul và hỏi họ.”

Ông Lucas ngẩng đầu lên. “Và cháu sẽ gặp họ khi nào? Chúng ta không biết họ đang trốn ở thời điểm nào.”

“Nhưng chúng ta biết thời điểm họ tới thăm ông ở đây. Nếu cháu gặp họ lúc ấy, chúng ta có thể thảo luận mọi thứ cùng nhau…”

Ông ngoại ngắt lời tôi. “Nhưng khi họ tới đây vào năm 1948 và 1949 từ năm 1992 và 1993,” Ông gõ vào mấy tờ ghi chú và miết ngón tay dọc các mũi tên khi nhắc đến những năm ấy, “khi đó, Lucy và Paul cũng không biết đầy đủ, và họ đã nói cho ta tất cả những gì mình biết. Không, nếu muốn gặp họ, tốt nhất là nên gặp lúc họ đã chạy trốn với máy đồng hồ.” Ông lại gõ gõ mấy tờ giấy. “Như thế thì hợp lý hơn. Bất cứ thứ gì khác cũng chỉ khiến ta thêm rối.”

“Vậy thì… Vậy thì cháu sẽ đi về năm 1912, khi cháu gặp họ tại nhà quý bà Tilney ở Eaton Place.”

“Đó cũng là một khả năng nhưng nó không hề khả thi nếu xét về mặt thời gian.” Ông Lucas nhìn đồng hồ với vẻ mặt u ám. “Cháu còn không xác định nổi ngày tháng, chưa kể đến thời điểm trong ngày nữa. Và cũng không thể quên rằng chúng ta phải nhận dạng máu của cháu vào máy đồng hồ, nếu không cháu sẽ không thể dùng nó để vượt thời gian.” Ông lại vò đầu bứt tóc. “Và cuối cùng cháu sẽ phải tự mình đi từ đây đến Belgravia, và vào năm 1912 thì việc đó không đơn giản chút nào… Ôi, và chúng ta còn cần trang phục nữa chứ… không, kể cả với ý chí sắt đá nhất thế giới, việc này không thể được hoàn thành trong thời gian ngắn ngủi như vậy. Chúng ta phải nghĩ ra thứ gì khác. Giải pháp đang ở trên đầu lưỡi ta rồi. Ta chỉ cần thêm thời gian thôi, và có lẽ là một điếu xì gà nữa…”

Tôi lắc đầu. Tôi sẽ không bỏ cuộc dễ dàng như thế. Tôi biết đây là một ý hay. “Chúng ta có thể đưa máy đồng hồ đến trước cửa nhà quý bà Tilney ở thời hiện tại, và rồi cháu sẽ phân nhánh thẳng về năm 1912, như thế sẽ tiết kiệm được khối thời gian, phải không ông? Và còn trang phục thì… tại sao ông lại nhìn cháu như thế?”

Đột nhiên, mắt ông Lucas mở lớn. “Ôi, Chúa ơi!” Ông thì thầm. “Phải rồi!”

“Gì ạ?”

“Máy đồng hồ! Cháu gái, cháu là một thiên tài!” Ông Lucas đi vòng qua bàn và ôm chặt tôi.

“Cháu là thiên tài?” Tôi nhắc lại. Giờ thì lại đến lượt ông ngoại nhảy múa vì vui sướng.

“Đúng! Và ta cũng là thiên tài! Thiên tài, bộ đôi chúng ta, bởi vì giờ chúng ta đã biết trong chiếc rương kia giấu thứ gì!”

Hừm, tôi thì không. “Vậy nó là thứ gì?”

“Máy đồng hồ!” Ông Lucas kêu lên.

“Máy đồng hồ?” Tôi lặp lại.

“Chỉ là logic thôi. Mặc cho Lucy và Paul đã lôi nó đến thời kỳ nào, bằng cách nào đó, nó đã trở lại với ta, và ta đã giấu nó. Cho cháu! Trong nhà của ta. Không độc đáo lắm, nhưng rất hợp lý!”

“Ông nghĩ vậy sao?” Tôi do dự nhìn ông chằm chằm. Nghe thật là xa xôi, nhưng mà trước giờ thì logic cũng không phải điểm mạnh của tôi.

“Tin ta đi, cháu gái, ta biết là ta đúng mà!” Sự phấn khích trên gương mặt ông Lucas biến thành một cái cau mày. “Tất nhiên việc này mở ra vô số khả năng mới. Giờ thì chúng ta phải suy nghĩ thật kỹ.” Ông liếc nhìn đồng hồ một lần nữa. “Chết tiệt, chúng ta cần thêm thời gian.”

“Cháu có thể cố khiến họ đưa cháu về năm 1956 trong lần phân nhánh tiếp theo,” Tôi nói. “Chỉ là, chúng ta không thể gặp nhau vào chiều mai, vì đó là khi cháu phải đến vũ hội gặp bá tước lần nữa.” Ý nghĩ này ngay lập tức khiến tôi thấy nôn nao, và không chỉ do Gideon.

“Không, không, không!” Ông Lucas kêu lên. “Không được đâu. Chúng ta phải đi trước một nước trước khi cháu đối mặt với bá tước.” Ông xoa trán. “Nghĩ, nghĩ, nghĩ đi nào!”

“Ông không thấy đống khói phun ra từ tai cháu sao? Cả tiếng đồng hồ vừa qua cháu chả làm gì ngoài ngồi đó và nghĩ ngợi,” Tôi an ủi ông, nhưng rõ ràng là vừa rồi ông đang tự lẩm bẩm một mình.

“Đầu tiên ta phải nhận dạng máu của cháu vào máy đồng hồ. Cháu sẽ không thể tự làm vậy mà không có sự giúp đỡ vào năm 2011; nó quá phức tạp. Rồi ta phải chỉ cháu cách cài đặt máy.” Lại một cái nhìn lo lắng hướng về phía chiếc đồng hồ. “Nếu ta gọi bác sĩ bây giờ, anh ta có thể tới trong tầm nửa tiếng, và đấy là nếu chúng ta đủ may mắn để tìm thấy anh ta ở nhà… Vấn đề duy nhất là, làm sao để giải thích lý do ta muốn lấy máu của em họ Hazel? Hồi Lucy và Paul ở đây, bọn ta đã lấy máu của họ một cách công khai, vì mục đích khoa học, nhưng cháu lại ẩn danh ở đây, và phải giữ nguyên tình trạng này, không thì…”

“Từ từ đã,” Tôi ngắt lời ông. “Chúng ta không thể tự lấy máu sao?”

Ông Lucas nhìn tôi tò mò. “Ừm, ta được huấn luyện thành thạo nhiều kỹ năng, nhưng với mấy cái kim thì ta vô dụng. Thật lòng mà nói, ta còn không chịu nổi khi nhìn thấy máu. Nó đảo lộn ruột gan ta…”

“Cháu có thể tự lấy máu mình,” Tôi nói.

“Thật sao?” Ông có vẻ ngạc nhiên. “Ở thời cháu người ta dạy học sinh dùng kim tiêm ở trường sao?”

“Không, ông ngoại à, họ không dạy,” Tôi sốt ruột nói, “nhưng chúng cháu cũng được học là nếu ông tự lấy dao khía một nhát vào người, máu sẽ chảy. Ông có con dao nào không?”

Ông Lucas ngập ngừng, “Ừm, ta không biết liệu đó có phải một ý hay.”

“Được thôi, cháu cũng có một con.” Tôi mở cặp và lôi cái hộp kính mà Leslie đã giấu con dao gọt hoa quả của Nhật, đề phòng tôi bị tấn công khi vượt thời gian và cần vũ khí. Trông ông vô cùng sửng sốt khi tôi mở chiếc hộp ra.

“Trước khi ông hỏi, không, đây không phải đồ dùng học tập thường thấy vào năm 2011,” Tôi nói.

Ông Lucas nuốt ực một cái, rồi ông ưỡn thẳng lưng và nói, “Được thôi. Vậy thì hãy tới Long điện, trên đường thì tạt qua phòng y tế để nhặt một cái ống nghiệm.” Ông liếc nhìn đống Biên niên sử vứt trên bàn và với một quyển kẹp vào dưới cánh tay. “Ta sẽ mang thứ này theo. Và bánh quy nữa. Cho thần kinh của ta! Cháu nhớ đừng quên túi.”

“Nhưng tại sao chúng ta lại đến Long điện?” Tôi nhét cái hộp kính vào cặp và đứng dậy.

“Đó là chỗ máy đồng hồ.” Ông Lucas đóng cửa sau lưng tôi và lắng nghe động tĩnh trong hành lang, nhưng tất cả đều yên ắng. “Nếu có gặp ai, chúng ta sẽ nói ta đang dẫn cháu đi tham quan tòa nhà nhé, được chứ, em họ Hazel?”

Tôi gật đầu. “Ý ông là người ta chỉ vứt cái máy chỏng chơ ở đó thôi sao? Ở thời của cháu, họ khóa nó trong két dưới tầng hầm để phòng trộm.”

“Đền thờ của nó trong Long điện cũng được khóa chứ, tất nhiên rồi,” Ông Lucas nói, thúc giục tôi bước xuống cầu thang. “Nhưng chúng ta không thực sự sợ lũ trộm. Thậm chí còn không có người mang khả năng vượt thời gian để dùng nó. Sự náo nhiệt đã qua đi từ nhiều năm trước rồi, khi mà Lucy với Paul phân nhánh tới đây. Hiện tại, máy đồng hồ không phải ưu tiên của Đội Cận vệ. Mà kể ra như thế thì cũng may cho cháu và ta.”

Tòa nhà vắng vẻ thấy rõ, mặc cho ông Lucas nhỏ giọng thì thầm với tôi rằng nó không bao giờ hoàn toàn trống trải. Tôi tiếc nuối nhìn ra buổi tối mùa hè ấm áp ngoài cửa sổ. Tiếc vì tôi không thể bước ra ngoài và khám phá năm 1956 cẩn thận hơn. Ông Lucas để ý cái nhìn của tôi và cười, nói, “Tin ta đi, ta cũng muốn ngồi chỗ nào đó thư thái với cháu và hút một điếu xì gà lắm, nhưng chúng ta có việc phải làm.”

“Ông nên bỏ xì gà đi, ông ngoại à. Hút thuốc hại cho sức khỏe lắm. Và làm ơn, cạo đám ria mép kia đi ông. Nó không hợp với ông chút nào.”

“Suỵttt,” Ông Lucas thì thầm. “Nếu ai đó nghe cháu gọi ta là ông ngoại, chúng ta sẽ phải giải thích hết hơi đấy.”

Nhưng chúng tôi không hề gặp ai, và vài phút sau, khi bước vào Long điện chúng tôi có thể thấy mặt trời chập tối vẫn lấp lánh trên dòng Thames bên ngoài khu vườn và những bức tường. Long điện năm 1956 vẫn đẹp đến ngỡ ngàng như năm 2011, với tầm vóc khổng lồ, những ô cửa sổ lớn, và những bức phù điêu mỹ lệ trên tường, và, như mọi khi, tôi ngửa đầu chiêm ngưỡng con rồng vĩ đại uốn mình trên trần nhà quanh chiếc đèn chùm như thể sắp sửa vút lên không trung.

Ông Lucas chốt cửa. Trông ông còn lo lắng hơn tôi, và tay ông run rẩy khi lấy chiếc máy đồng hồ ra khỏi điện thờ, một cái tủ nhỏ, và đặt nó lên chiếc bàn giữa Long điện.

“Khi gửi Lucy và Paul về quá khứ, đó là một cuộc phiêu lưu vĩ đại. Chúng ta đã rất vui,” Ông nói.

Tôi nghĩ đến Lucy và Paul, và gật đầu. Phải, tôi mới gặp họ có một lần ở nhà quý bà Tilney, nhưng tôi cũng có thể hiểu ý ông. Thật ngu ngốc, cùng lúc đấy tôi lại nghĩ đến Gideon. Niềm vui của hắn trong những chuyến du hành cũng là giả tạo sao? Hay chỉ có những lúc hắn vờ yêu tôi?

Tôi nhanh chóng đem con dao Nhật và cái điều tôi sắp sửa làm với nó đặt lên phía trước trong đầu. Và đoán đi, nó có hiệu quả. Ít nhất thì tôi cũng không bật khóc.

Ông ngoại lau tay vào quần. “Ta bắt đầu thấy hơi già cho mấy cuộc phiêu lưu kiểu này rồi,” Ông nói.

Mắt tôi rời đến chiếc máy đồng hồ. Với tôi, nó giống y hệt chiếc máy đã đưa tôi đến đây, một thiết bị đầy những nút gạt, đòn bẩy, ngăn kéo, bánh răng và mím vặn, tất cả đều được khắc hoa văn.

“Ta không ngại cháu phản đối ta đâu,” Ông Lucas nói, nghe giọng hơi có vẻ tổn thương. “Cái gì đó kiểu như ông quá trẻ để thấy già chẳng hạn!”

“Ồ. Vâng, tất nhiên rồi. Mặc dù bộ ria đó làm ông già đi hàng thập kỷ.”

“Arista nói nó khiến ta có vẻ nghiêm túc và giống mấy chính khách.”

Tôi nhướng mày đầy ẩn ý, và người ông trẻ tuổi của tôi, tự lẩm bẩm với chính mình, cúi xuống bên cỗ máy. “Giờ thì, nhìn cho cẩn thận nhé: cháu đặt thời gian với chục cái bánh xe nho nhỏ này. Và trước khi cháu hỏi tại sao lại có nhiều thế, thì chúng ta đặt thời gian theo số La Mã, hy vọng là cháu biết.”

“Cháu nghĩ vậy.” Tôi lôi một cuốn vở và một cái bút ra khỏi cặp. Không viết ra thì không đời nào tôi nhớ được hết đống này.

“Và cháu cài thứ này,” Ông Lucas nói, chỉ vào một bánh răng khác, “thành tháng mà cháu muốn. Nhưng mà coi chừng, với cái này, vì một lý do nào đó, mà chỉ có cái này thôi nhé, chúng ta sử dụng một hệ thống lịch Celtic cổ mà trong đó tháng thứ nhất là tháng Mười một, thành ra tháng Mười là tháng thứ mười hai.”

Tôi đảo mắt. Thật đúng là Đội Cận vệ mà! Từ lâu tôi đã ngờ rằng họ luôn thích phức tạp hóa vấn đề chỉ để tự nâng tầm quan trọng. Nhưng tôi nghiến răng, và sau khoảng hai mươi phút, tôi cũng nhận ra những thứ này không phải trò phù thủy, miễn là hiểu được nguyên lý của hệ thống.

“Giờ cháu làm được rồi.” Tôi ngắt lời khi ông chuẩn bị nói lại từ đầu và đóng sổ lại. “Giờ thì chúng ta phải nhận dạng máu của cháu. Và rồi… đã muộn lắm chưa nhỉ?”

“Việc cháu không mắc lỗi khi cài đặt máy đồng hồ là rất quan trọng…” Ông Lucas đang nhìn con dao Nhật với vẻ ác cảm khi tôi lôi nó ra khỏi bao. “Không thì cháu sẽ hạ cánh ở một nơi nào… thời nào đó khác. Ôi, Chúa ơi, con dao đó kinh khủng quá. Cháu sẽ làm thế thật sao?”

“Tất nhiên là có rồi ạ.” Tôi xắn ống tay lên. “Cháu chỉ không biết cắt chỗ nào là tốt nhất thôi. Một vết cắt trên bàn tay sẽ gây chú ý khi cháu trở về. Và chúng ta sẽ không lấy được quá vài giọt từ đầu ngón tay.”

“Không đâu, nếu cháu cưa sắp đứt cả ngón ra,” Ông Lucas nói với một cái rùng mình. “Lúc đó cháu sẽ chảy máu như kiểu lợn bị chọc tiết ấy. Có lần ta đã làm vậy…”

“Cháu nghĩ cháu sẽ cắt cánh tay. Sẵn sàng chưa?” Thật buồn cười là ông Lucas còn sợ hơn cả tôi.

Ông ngoại khó nhọc nuốt một cục nghẹn và giữ chặt tách trà in hình hoa lá để đựng máu của tôi. “Không phải ở đó có một cái động mạch chủ sao? Ôi, Chúa ơi, đầu gối ta bải hoải hết cả rồi. Cháu sẽ chảy máu đến chết ở cái năm 1956 này chỉ vì sự cẩu thả của ông ngoại mình.”

“Vâng, động mạch cũng to đấy, nhưng ông sẽ phải cứa theo chiều dọc thì mới chảy máu đến chết được. Ít nhất là cháu đọc được thế. Họ bảo có rất nhiều vụ tự tử không thành, và mấy người đó được phát hiện và cứu sống, nhưng lần tiếp theo thì họ đã biết làm thế nào cho đúng.”

“Lạy Chúa!” Ông Lucas kêu lên.

Bản thân tôi cũng thấy hơi nao nao, nhưng không còn lựa chọn nào khác. Thời điểm tuyệt vọng cần biện pháp tuyệt vọng, như Leslie vẫn nói. Tôi ngó lên vẻ mặt sửng sốt của ông Lucas và hạ lưỡi dao xuống cánh tay, cách cổ tay chỉ vài phân. Tôi lướt nó qua da mà không ấn mạnh tay. Đúng ra thì đó chỉ là thử nghiệm, nhưng tôi cắt sâu hơn mình tưởng, và đường chỉ đỏ dần loang ra. Cơn đau, cái cảm giác nóng rát, bắt đầu chỉ giây lát sau. Một dòng máu nhỏ đều đặn chảy vào chiếc tách trà trong đôi tay run rẩy của ông Lucas. Tuyệt hảo.

“Cắt thịt như cắt bơ,” Tôi nói, ấn tượng. “Leslie bảo thế. Con dao này đúng là sắc chết người.”

“Cất nó đi,” Ông Lucas khăng khăng. Ông trông như thể sắp nôn ngay được. “Trời đất, cháu quả là một cô gái dũng cảm, một thành viên dòng họ Montrose đích thực. Đúng như phương châm đúng đắn của gia đình…”

Tôi cười khúc khích. “Vâng, hẳn là cháu thừa hưởng từ ông.”

Nụ cười của ông Lucas trông hơi gượng gạo. “Đau lắm không cháu?”

“Tất nhiên là có rồi,” Tôi nói. “Thế đã đủ chưa ạ?”

“Ừ, thế này chắc chắn là đủ rồi,” Ông Lucas ọe một cái.

“Ông muốn cháu mở cửa sổ không?”

“Được rồi.” Ông đặt chiếc tách xuống bên máy đồng hồ và hít một hơi sâu. “Phần còn lại thì đơn giản.” Ông nhặt chiếc ống nghiệm lên. “Ta chỉ cần nhỏ ba giọt máu của cháu vào hai cái lỗ này, thấy không, ngay dưới con quạ nhỏ xíu này và hai dấu âm dương? Rồi ta vặn bánh xe và ấn cái cần này xuống. Được rồi đó. Cháu nghe thấy không?”

Bên trong máy đồng hồ, vài chiếc bánh răng bắt đầu chuyển động. Có vài tiếng răng rắc, lách cách và ù ù, rồi không khí có vẻ nóng lên. Viên hồng ngọc nháy nháy, tiếng những chiếc bánh răng tắt dần, rồi tất cả lại yên tĩnh. “Thật kỳ lạ, phải không?”

Tôi gật đầu, và cố lờ đi đống da gà da vịt đang nổi ầm ầm. “Giờ thì máu của tất cả những người du hành thời gian ngoại trừ Gideon đã được nhận diện trong chiếc máy đồng hồ nguyên gốc, phải không ạ? Điều gì sẽ xảy ra nếu máu của hắn cũng được nhận diện?” Tôi đã gập chiếc khăn tay của ông Lucas lại và ép lên miệng vết thương.

“Ngoại trừ việc chẳng ai biết chắc nó là gì, thông tin này được xếp vào hàng tuyệt mật,” Ông nói. Chút màu sắc đã trở lại trên mặt ông. “Mỗi cận vệ phải quỳ xuống và thề sẽ không bao giờ nhắc đến bí mật với bất cứ ai ngoài hội kín. Anh ta phải thề trên mạng sống của mình.”

“Ồ.”

Ông Lucas thở dài. “Nhưng để ta nói cho cháu điều này… ta khá là yếu đuối trong chuyện phá bỏ mấy lời thề.” Ông chỉ vào một ngăn nhỏ trên máy đồng hồ, trang trí bởi một ngôi sao mười hai cánh. “Có điều này là chắc chắn này: khi máu của mười hai người mang gene được nhận dạng, một quy trình trong máy đồng hồ sẽ được hoàn thành, và thứ gì đó sẽ xuất hiện trong chiếc ngăn này. Lời tiên tri nhắc đến ‘tinh chất’ dưới ngôi sao mười hai cánh, hay, cũng có thể hiểu là viên đá tạo vàng. Bảo thạch sẽ hội tụ, hương vị thời gian sẽ bao trọn màn đêm, một khi thời gian gắn kết những người anh em, một kẻ sẽ trường sinh bất tử.”

“Bí mật chỉ có thế thôi sao?” Tôi nói, thất vọng. “Lại là mấy thứ mơ hồ khó hiểu.”

“Ừm, nếu cháu đặt các manh mối lại với nhau, mọi thứ khá rõ ràng đấy chứ. Dưới ánh sáng ngôi sao mười hai cánh, mọi đau ốm bệnh tật sẽ biến thật xa. Có vẻ nếu được dùng đúng, thứ mà máy đồng hồ tạo ra sẽ chữa được mọi bệnh tật của loài người.”

Nghe thế còn được.

“Vậy thì, trong trường hợp đó, cháu hy vọng tất cả đống rắc rối này là đáng giá,” Tôi lẩm bẩm, nghĩ đến sự ám ảnh của Đội Cận vệ với những bí mật và mớ nghi thức luật lệ rối rắm của họ. Nếu một phương thuốc chữa bách bệnh là thành quả, ta cũng có thể hiểu tại sao đám người đó lại tự đề cao bản thân như vậy. Phải rồi, chờ đợi vài trăm năm cho một phương thuốc kỳ diệu như thế cũng đâu có hề gì. Và bá tước Saint Germain chắc chắn sẽ được trọng vọng vì đã tìm ra nó. Giá mà ông ta không phải con người kinh khủng đến thế…

“Nhưng Lucy và Paul nghi ngờ rằng liệu chúng ta có nên tin vào giả thuyết đá tạo vàng,” Ông Lucas nói, như thể đọc được ý nghĩ của tôi. “Chúng nói rằng một kẻ đã không ghê tay giết hại cụ tổ của mình chắc gì đã có chút tốt đẹp nào trong tâm hồn.” Ông hắng giọng. “Máu ngừng chảy chưa?”

“Chưa ạ, nhưng cũng bắt đầu ngớt đi rồi.” Tôi giơ tay lên để đẩy nhanh quá trình. “Và giờ thì chúng ta làm gì? Liệu cháu có nên thử?”

“Lạy Chúa, đây đâu có phải một cái xe mà lái thử,” Ông Lucas nói, vặn vẹo mấy ngón tay.

“Sao lại không?” Tôi hỏi. “Chẳng phải ý tưởng ban đầu là vậy sao?”

“À, ừ,” Ông nói, nheo mắt săm soi cuốn sổ đã mang theo. “Có lẽ cháu đúng. Ít nhất thì chúng ta cũng có thể chắc chắn là nó hoạt động, dù thời gian không còn nhiều cho lắm.” Đột nhiên ông phấn khởi trở lại. Ông nghiêng người mở cuốn Biên niên sử. “Chúng ta phải cẩn thận chọn một ngày nào đó, để làm sao cho cháu không đột nhiên hạ cánh giữa một cuộc họp của Hội. Hay là để cháu đừng chạm mặt anh em Villiers. Họ dành hàng giờ phân nhánh hồi khứ ở Long điện.”

“Cháu có thể gặp quý bà Tilney không? Một mình ấy?” Tôi lại có một ý tưởng tuyệt vời. “Tốt nhất là năm nào đó sau 1912.”

“Ta tự hỏi như thế liệu có phải là khôn ngoan.” Ông Lucas lật giở những trang sách. “Chúng ta không muốn làm sự thể thêm rắc rối.”

“Nhưng chúng ta không thể bỏ lỡ những cơ hội ít ỏi này,” Tôi kêu lên, nghĩ đến những gì Leslie luôn nhắc tôi. Tôi phải tận dụng mọi cơ hội, nó nói vậy, và hơn hết là nghĩ được bao nhiêu câu hỏi thì tôi phải cố hỏi cho hết. “Ai mà biết được khi nào cơ hội tiếp theo sẽ tới?” Tôi hỏi. “Trong rương có thể có thứ gì đó khác, và nó sẽ đem lại tiến triển gì. Ông và cháu gặp nhau lần đầu tiên năm nào nhỉ?”

“Ngày 12 tháng Tám năm 1948, mười hai giờ trưa,” Ông Lucas nói, chúi mũi vào cuốn Biên niên sử. “Ta sẽ không bao giờ quên.”

“Chính xác, và để đảm bảo là ông không bao giờ quên, cháu sẽ viết nó ra,” Tôi nói. À há, mình đúng là thiên tài, tôi nghĩ. Tôi hí hoáy viết lên một trang vở.

Kính gửi huân tước Lucas Montrose – Khẩn!!!

12 tháng Tám năm 1948, 12h trưa. Phòng giả kim thuật. Làm ơn tới một mình.

Gwendolyn Shephern.

Tôi xé trang giấy và gập lại.

Ông tôi ngước nhìn lên một thoáng. “Ta có thể gửi cháu về năm 1852, 16 tháng Hai lúc nửa đêm. Quý bà Tilney phân nhánh tới đó từ chín giờ sáng ngày 25 tháng Mười hai năm 1929,” Ông lẩm bẩm. “Thật đáng thương, bà ấy còn không dành nổi một ngày Giáng sinh yên ổn ở nhà. Ít nhất thì họ còn đưa bà một cái đèn dầu. Nghe này, ở đây có viết: 12:30 PM.: Quý bà Tilney trở về từ năm 1852, có vẻ rất phấn khởi. Dưới ánh đèn dầu, bà đã móc xong hai chú lợn con cho buổi từ thiện vào Đêm Thứ mười hai, với chủ đề năm nay là Cuộc sống Thôn dã.” Ông quay lại nhìn tôi. “Lợn con móc tay! Cháu tưởng tượng nổi không? Tất nhiên, bà ấy có thể được một phen hết hồn khi cháu đột nhiên nhảy ra từ giữa không trung. Chúng ta có phải mạo hiểm thế này không?”

“Kỵ ấy chỉ có một cây kim móc, và theo cháu nhớ thì chúng không có đầu nhọn.” Tôi cúi xuống bên máy đồng hồ. “Được rồi, đầu tiên là năm. 1852, bắt đầu với M đúng không nhỉ? MDCCCLII. Và tháng Hai là số ba trong cái lịch Celtic ông vừa nói, không, là bốn chứ…”

“Cháu làm cái gì vậy? Chúng ta phải băng vết cắt đó vào và suy nghĩ trước đã.”

“Không có thì giờ đâu ông,” Tôi nói. “Ngày… đặt ngày bằng cái cần này đúng không?”

Ông Lucas nhìn qua vai tôi đầy lo lắng. “Đừng nhanh thế! Ngày tháng phải được đặt chính xác hoàn toàn, không thì… không thì…” Trông ông lại có vẻ nôn nao. “Và cháu không bao giờ được ôm máy đồng hồ, nếu làm vậy cháu sẽ đem nó cùng về quá khứ luôn đấy. Và rồi cháu sẽ không thể trở về.”

“Như Lucy và Paul,” Tôi thì thầm.

“Hãy chọn khoảng thời gian ba phút, để cho an toàn. Từ mười hai rưỡi đến mười hai giờ ba mươi ba phút sáng nhé. Sau đó bà ấy có thể thảnh thơi ngồi móc mấy con lợn kia. Nếu bà ấy có ngủ thì đừng đánh thức, không thì bà ấy đau tim mất.”

“Nếu vậy thì họ sẽ phải ghi lại trong Biên niên sử chứ?” Tôi ngắt lời ông. “Khi cháu gặp quý bà Tilney, cháu có ấn tượng kỵ ấy là một con người khá mạnh mẽ chứ không phải kiểu hay ngã ngất này nọ.”

Ông Lucas dời chiếc máy đồng hồ ra bên cửa sổ và đặt nó xuống đằng sau tấm rèm. “Ta có thể đảm bảo là không có thứ đồ đạc nào quanh đây. Không cần đảo mắt. Timothy de Villiers từng hạ cánh xuống một cái bàn và gãy chân đấy.”

“Vậy thì giả sử quý bà Tilney đang đứng đây mơ màng nhìn ra ngoài cửa sổ? Ôi đừng nhìn cháu như thế! Cháu chỉ đùa thôi, ông ngoại.” Tôi nhẹ nhàng ấn ông sang một bên, quỳ xuống trước máy, và mở cái nắp nhỏ bên dưới viên hồng ngọc. Ngón tay tôi vừa khít.

“Đợi một chút! Vết thương của cháu!”

“Ba phút nữa chúng ta có thể khám xét nó. Lúc đó gặp lại,” Tôi nói, hít một hơi sâu và ấn ngón tay xuống cây kim.

Cảm giác đi tàu lượn quen thuộc xâm chiếm tôi, và khi thứ ánh sáng đỏ rực bắt đầu lan tỏa còn ông Lucas thì nói, “Nhưng ta vẫn phải…”, mọi thứ nhòa đi trước mắt tôi.

Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.