Tôi mất vài giây để làm quen với nguồn ánh sáng mới. Long điện chỉ được thắp sáng bởi một ngọn đèn dầu đặt trên bàn. Những gì tôi nhìn thấy trong ánh sáng yếu ớt mà ấm áp là một bức tranh về cuộc sống yên bình: một chiếc rổ, vài cuộn len hồng hồng, một ấm trà trong chiếc giỏ ủ, và một chiếc cốc trang trí hoa hồng. Và quý bà Tilney, người đang ngồi móc, hạ tay xuống khi nhìn thấy tôi. Rõ ràng là kỵ già hơn so với lần gặp trước, với những sợi bạc lẫn trong mái tóc đỏ uốn gọn gàng. Dù vậy, kỵ vẫn mang vẻ oai nghiêm, xa cách như bà ngoại tôi. Và trông kỵ không có vẻ gì là sắp rú lên hay xông tới vung cây kim móc vào mặt tôi.
“Giáng sinh vui vẻ,” Kỵ nói.
“Giáng sinh vui vẻ,” Tôi đáp lời, hơi ngơ ngác. Trong phút chốc, tôi không biết phải nói gì tiếp theo, nhưng rồi tôi trấn tĩnh. “Đừng lo, cháu không muốn lấy máu của kỵ hay gì đó đâu.” Tôi bước ra khỏi cái bóng của tấm rèm.
“Ồ, chúng ta đã giải quyết xong vụ máu me đó từ lâu rồi, Gwendolyn,” Quý bà Tilney nói với một chút quở trách, như thể tôi phải biết kỵ đang nói về điều gì. “Ta vẫn băn khoăn không biết bao giờ cháu sẽ lại xuất hiện. Cháu uống trà chứ?”
“Không ạ, cảm ơn kỵ. Xem nào, cháu e mình chỉ có vài phút thôi.” Tôi bước tới gần và đưa bà mẩu giấy. “Ông ngoại cháu phải nhận được thứ này để… ừm, để mọi chuyện có thể diễn ra như nó đã xảy ra. Việc này rất quan trọng.”
“Ta hiểu.” Quý bà Tilney nhận lấy tờ giấy và chậm rãi gấp nó lại. Trông kỵ không có chút khó chịu.
“Tại sao kỵ lại chờ cháu?” Tôi hỏi.
“Vì cháu bảo ta không được sợ hãi khi cháu tới thăm. Không may là cháu không nói khi đó là khi nào, nên ta đã đợi hàng năm trời để cháu đến và dọa ta.” Kỵ cười khẽ. “Nhưng mà móc mấy chú lợn này có tác dụng xoa dịu rất tốt. Thực lòng mà nói, nó có thể dễ dàng khiến cháu ngủ gật vì buồn chán.”
Tôi có một câu “Dù sao thì thế cũng có ích,” đầy lịch sự trên đầu lưỡi, nhưng khi liếc nhìn chiếc rổ, tôi thốt lên, “Ôi, chúng thật đáng yêu!” Và chúng đáng yêu thật đấy. Lũ lợn đáng yêu hơn tôi tưởng nhiều, như những món đồ chơi mềm mại, và rất giống thật.
“Lấy một con đi,” Quý bà Tilney nói.
“Kỵ nói thật sao?” Tôi nghĩ đến Caroline và cho tay vào rổ. Lũ lợn đều mềm và xù bông lên.
“Len lông dê và cashmere,” Quý bà Tilney nói với giọng tự hào. “Ta chưa bao giờ dùng thứ gì khác. Hầu hết mọi người đều móc với len lông cừu, nhưng mà thứ đó gây ngứa ngáy vô cùng.”
“Ồ, vâng. Cảm ơn kỵ!” Ôm chú lợn hồng xinh xinh vào ngực, tôi dành một thoáng để sắp xếp lại ý nghĩ. Chúng tôi nói đến đâu rồi nhỉ? Tôi hắng giọng. “Khi nào chúng ta lại gặp nhau ạ? Ý cháu là, ở trong quá khứ ấy?”
“Năm 1912. Mặc dù đó không phải là lần tới ở bên ta.” Kỵ thở dài. “Những ngày tháng ấy mới náo động làm sao…”
“Ôi, khỉ!” Dạ dày tôi lại trèo lên tàu lượn. Tại sao chúng tôi không chọn một khung thời gian dài hơn cơ chứ? “Nếu vậy thì, kỵ biết nhiều hơn cháu,” Tôi vội vàng nói. “Không có thời gian nói chi tiết, nhưng mà… có lẽ kỵ có thể cho cháu xin vài lời khuyên tốt?” Tôi đã lùi vài bước về phía cửa sổ, ra khỏi quầng sáng ngọn đèn.
“Lời khuyên?”
“Vâng. À, mấy thứ kiểu như là: hãy cảnh giác với…?” Tôi nhìn bà đầy hy vọng.
“Cảnh giác cái gì?” Quý bà Tilney nhìn lại tôi với vẻ hy vọng y chang.
“Đó là thứ cháu không biết! Cháu phải cảnh giác với thứ gì?”
“Sandwich bò hun khói, thứ đó là một, và quá nhiều ánh sáng mặt trời. Nó hại da lắm,” Quý bà Tilney nói đầy chắc chắn, rồi kỵ nhòe đi trước mắt tôi và tôi trở về năm 1956.
Sandwich bò hun khói, ôi Chúa ơi! Đáng nhẽ tôi phải hỏi tôi cần cảnh giác với ai, không phải với cái gì. Nhưng quá muộn rồi. Tôi đã mất cơ hội.
“Cái quái gì vậy?” Ông Lucas kêu lên khi nhìn thấy con lợn.
Phải, và thay vì tận dụng mọi giây quý giá để lấy thông tin từ quý bà Tilney, tôi đã ngu ngốc dành thời gian vào một thứ đồ chơi màu hồng. “Nó là một con lợn móc, ông ngoại à, ông có thể thấy nó mà,” Tôi mệt mỏi nói. Tôi thực sự rất thất vọng về bản thân! “Lông dê và cashmere. Những người khác dùng thứ lông cừu ngứa ngáy.”
“Dù sao thì cuộc thí nghiệm của chúng ta cũng thành công,” Ông Lucas nói, lắc đầu. “Cháu có thể dùng chiếc máy đồng hồ, và chúng ta có thể hẹn gặp một ngày khác. Trong nhà ta.”
“Mọi thứ kết thúc nhanh quá,” Tôi kêu lên đầy ai oán. “Cháu không tìm hiểu thêm được thứ gì cả!”
“Ít nhất cháu cũng có một… ừm, một con lợn, và quý bà Tilney không bị đau tim. Hay là có?”
Tôi lắc đầu trong vô vọng. “Tất nhiên là không rồi.”
Ông Lucas gói máy đồng hồ vào chiếc khăn nhung và đem nó lại chỗ đền thờ. “Đừng lo. Thế này chúng ta sẽ có đủ thời gian đưa cháu xuống hầm và tiếp tục lên kế hoạch trong khi đợi cháu vượt thời gian trở về. Mặc dù nếu cái tên Cantrell vô dụng kia đã ngủ thì chúng ta cũng không biết phải ăn nói thế nào đây.”
•§•
Tôi thấy khá vui khi hạ cánh tại phòng máy đồng hồ trong thời của mình. Mặc dù chuyến đi để lấy chú lợn hồng kia (tôi đã nhét nó vào cặp) không đem lại mấy lợi ích, nhưng ông Lucas và tôi đã vạch ra một kế hoạch khôn ngoan. Nếu đúng là chiếc máy đồng hồ cũ ở trong cái rương kia, chúng tôi sẽ không phải dựa vào may rủi nữa.
“Có việc gì đặc biệt không?” Marley hỏi.
Ờ, để xem nào: tôi dành cả buổi chiều lên kế hoạch mưu phản với ông ngoại, phá vỡ đủ thứ luật lệ. Chúng tôi nhận diện máu của tôi vào máy đồng hồ, và rồi tôi trở về năm 1852 để lên kế hoạch mưu phản với quý bà Tilney. Được rồi, tôi không thực sự lên kế hoạch mưu phản gì với kỵ cả, nhưng dù sao thì đó cũng là một cuộc gặp trái phép.
“Thi thoảng cái bóng đèn nháy vài cái,” Tôi nói, “và tôi học thuộc lòng từ vựng tiếng Pháp.”
Marley cúi xuống bên cuốn nhật ký, và với nét chữ nhỏ chỉn chu của mình, anh ta viết 19h43, Hồng ngọc trở về từ năm 1956, hoàn thành bài tập ở đó, bóng đèn nhấp nháy. Tôi nén một tiếng cười khúc khích. Anh ta cứ phải ghi mọi thứ thật chi tiết! Tôi đồ là anh ta thuộc cung Xử nữ. Nhưng giờ đã quá muộn. Hy vọng mẹ tôi chưa bảo Leslie về nhà trước khi tôi về tới nơi.
Tuy nhiên, Marley không có vẻ gì là vội vàng cả. Anh ta vặn cái nắp bút vào chậm rãi đến phát điên.
“Tôi có thể tự tìm đường ra,” Tôi nói.
“Không, cô không được làm thế,” Anh ta cảnh giác nói. “Tất nhiên tôi sẽ hộ tống cô ra xe.” Marley đóng cuốn nhật ký và đứng dậy. “Và tôi sẽ phải bịt mắt cô, cô biết tôi phải làm vậy mà.”
Tôi thở dài để anh ta thắt dải khăn đen quanh đầu. “Tôi vẫn không hiểu vì sao mình không được biết đường đến căn phòng này.” Ngoại trừ việc là tôi đã thuộc nằm lòng nó rồi.
“Bởi vì điều đó được nhắc đến trong Biên niên sử,” Marley nói, nghe có vẻ ngạc nhiên.
“Cái gì cơ?” Tôi thốt lên. “Tên tôi trong Biên niên sử, và mấy người đó nói tôi không được biết đường tới đây và quay lại? Sao lại không?”
Giờ thì giọng Marley lộ rõ vẻ không thoải mái. “Đúng ra thì tên cô sẽ không có ở đó, không thì trong những năm qua viên hồng ngọc kia, ý tôi là cô Charlotte, tất nhiên, sẽ không…” Anh ta hắng giọng rồi im bặt, và tôi nghe tiếng mở cửa. “Cho phép tôi,” Anh ta nói, nắm lấy cánh tay tôi. Anh ta dẫn tôi ra hành lang. Tôi không nhìn thấy gì, nhưng tôi chắc chắn là anh ta lại bắt đầu đỏ bừng mặt mũi. Tôi thấy mình như đang đi cạnh một cái lò sưởi.
“Chính xác thì họ nói gì về tôi trong đó?” Tôi hỏi.
“Xin lỗi, nhưng tôi thực sự không thể… tôi đã nói quá nhiều rồi.” Bạn như có thể nghe thấy anh ta vặn vẹo hai bàn tay, hay ít nhất là cái tay không nắm lấy tôi. Và anh chàng này tự nhận mình là hậu duệ của Rakoczy nguy hiểm! Cứ như đùa!
“Đi mà, Leo,” Tôi nói, cố gắng thân thiện hết mức có thể.
“Xin lỗi, nhưng cô sẽ không biết thêm được điều gì từ tôi.” Cánh cửa nặng nề chốt lại sau chúng tôi. Marley thả tay tôi ra để khóa nó, cảm tưởng như mất đến cả chục phút đồng hồ, trong khi tôi cố gắng tiết kiệm thời gian bằng cách bước thêm một bước, cũng không dễ dàng lắm với hai mắt bị bịt kín. Marley lại túm lấy tay tôi, và thật may, vì tôi có thể đâm thẳng vào tường nếu không có người dẫn. Tôi quyết định nịnh hót anh ta. Chẳng chết ai được. Có lẽ tí nữa anh ta sẽ rò rỉ thêm thông tin.
“Anh biết không, tôi đã gặp cụ tổ anh rồi đấy.” Đúng ra thì tôi đã chụp ảnh ông ta, nhưng rủi là tôi không thể khoe với Marley. Anh ta sẽ mách chuyện tôi mang những vật cấm về quá khứ.
“Thật sao? Tôi ghen tị với cô. Hẳn là nam tước có một tính cách ấn tượng.”
“Ừm, phải, rất ấn tượng.” Quá đúng luôn ấy chứ! Lão già điên rồ đáng sợ! “Ông ấy hỏi tôi về Transylvania, nhưng không may, tôi chẳng biết gì mấy về nơi đó cả.”
“Phải, sống cuộc đời tha hương hẳn là rất khó khăn,” Marley nói. Rồi sau đó anh ta rú lên một tiếng “eek!” chói tai.
Chuột, tôi nghĩ, và trong lúc hoảng loạn, tôi giật cái khăn bịt mắt ra. Nhưng không phải một con chuột đã khiến Marley rú lên. Đó là Gideon. Vẫn râu ria như chiều nay, thực ra thì còn nhiều râu hơn, nhưng đôi mắt hắn sáng và thận trọng. Và điển trai vô cùng cực.
“Chỉ là tôi thôi,” Hắn nói, miệng cười cười.
“Tôi có thể thấy điều đó,” Marley cằn nhằn. “Anh khiến tôi sợ chết khiếp.”
Tôi cũng thế. Môi dưới tôi lại bắt đầu run rẩy, và tôi bặm môi, cố gắng bắt cái thứ ngu xuẩn đó ngừng lại.
“Cậu có thể về nhà rồi. Tôi sẽ đưa Gwendolyn ra xe,” Gideon nói, giơ tay ra cho tôi như thể anh ta chắc chắn tôi sẽ nắm lấy.
Tôi cố trông ngạo mạn hết mức có thể với mấy chiếc răng cắm chặt vào môi dưới, có lẽ trông tôi giống một con hải ly, một con hải ly ngạo mạn chẳng hạn, và mặc kệ tay hắn.
“Không được,” Marley nói. “Việc của tôi là hộ tống cô Gwendolyn ra - ááá!” Anh ta nhìn tôi chằm chằm, vẻ mặt kinh hoảng. “Ôi, cô Gwendolyn, sao cô lại tháo khăn? Điều đó là trái luật.”
“Tôi cứ tưởng anh nhìn thấy chuột,” Tôi nói, ném một cái nhìn u ám về phía Gideon. “Tôi cũng chẳng sai lắm.”
“Nhìn xem anh đã làm gì này!” Marley buộc tội. “Tôi không biết mình có thể… luật nói rằng… Và nếu chúng ta…”
“Đừng cứng nhắc thế, Marley. Đi nào, Gwen, ra xe thôi.”
“Nhưng anh không thể… tôi phải…” Marley lắp bắp. “Và… Và… Và anh không có quyền nói tôi phải làm gì…”
“Vậy thì cứ đi mách tội tôi đi.” Gideon nắm tay và kéo tôi theo. Tôi định phản kháng, nhưng rồi nhận ra rằng như thế sẽ chỉ tốn thêm thời gian. Chúng tôi có thể sẽ đứng đó kèn cựa nhau đến tận sáng mai. Vậy nên tôi để hắn dẫn mình đi, ngoái lại nhìn Marley đầy hối lỗi. “Gặp anh sau, Leo.”
“Phải, chính xác. Gặp anh sau, Leo,” Gideon nói.
“Anh… Vụ này chưa xong đâu,” Marley lắp bắp đằng sau chúng tôi. Mặt anh ta sáng như ngọn hải đăng trong căn hầm tối.
“Không, chắc chắn rồi, chúng tôi đang run rẩy vì sợ hãi đây.” Gideon dường như không bận tâm việc Marley có thể nghe thấy hắn bồi thêm, “Tên huênh hoang ngu ngốc.”
Tôi đợi tới khi rẽ sang một con đường khác rồi rũ tay Gideon ra, và bước nhanh hơn đến mức tôi như đang chạy.
“Muốn tham gia Thế vận hội lắm sao?” Gideon hỏi.
Tôi quay ngoắt lại đối mặt với hắn. “Anh muốn gì?” Leslie sẽ rất tự hào về cách tôi quát vào mặt hắn. “Tôi đang vội.”
“Tôi chỉ muốn chắc rằng em đã hiểu lời xin lỗi của tôi lúc chiều.” Giọng hắn không còn chút châm chọc.
Nhưng giọng tôi thì không thế. “Ừa, tôi hiểu,” Tôi khịt mũi. “Tức là tôi sẽ không chấp nhận nó.”
“Gwen…”
“Được rồi, anh không cần nói anh rất thích tôi nữa. Đoán coi, tôi cũng đã thích anh. Thực ra thì tôi đã rất thích anh. Nhưng giờ thì tôi không thế nữa.” Tôi chạy nhanh hết mức có thể lên chiếc cầu thang xoắn, và kết quả là tôi hết cả hơi khi lên tới nơi. Tôi muốn vắt mình qua lan can mà thở. Nhưng tôi sẽ không để lộ sự yếu ớt của mình như vậy. Nhất là khi Gideon chẳng mấy khó khăn mà đuổi kịp tôi. Nên là tôi chạy tiếp, tới khi hắn nắm lấy cổ tay tôi và bắt tôi đứng yên. Tôi nhăn mày khi ngón tay hắn siết vào miệng vết thương. Nó bắt đầu chảy máu.
“Em ghét tôi cũng được thôi, thật đấy, không vấn đề gì cả,” Gideon nói, nghiêm túc nhìn thẳng vào mắt tôi. “Nhưng tôi đã phát hiện ra những điều khiến sự hợp tác giữa hai ta trở nên vô cùng cần thiết. Để em… để chúng ta có thể giữ nguyên mạng mà thoát ra khỏi vụ này.”
Tôi cố giằng tay ra, nhưng hắn chỉ siết tay chặt hơn. “Những điều gì?” Tôi hỏi, mặc dù tôi thà hét lên “Oái!” còn hơn.
“Tôi không biết chính xác, chưa hẳn. Nhưng có thể tôi đã sai về Lucy và Paul và ý định của họ. Nên việc quan trọng bây giờ là em…” Hắn ngừng lại, thả tôi ra, và nhìn xuống lòng bàn tay. “Có phải đó là máu?”
Chết tiệt. Tôi không được tỏ vẻ tội lỗi. “Chẳng có gì đáng nói cả. Tôi cắt phải tay vào tờ giấy ở trường sáng nay. Bám vào chủ đề đi. Trừ phi anh nói cụ thể hơn,” Nghĩ ra câu đó, tôi tự hào kinh khủng! “Tôi sẽ không hợp tác với anh trong việc quái gì cả.”
Gideon cố cầm lấy tay tôi lần nữa. “Đây, vết cắt đó trông kinh quá. Để tôi coi nào… Chúng ta nên tới gặp bác sĩ White. Có lẽ ông ấy vẫn ở trong tòa nhà.”
“Chắc ý anh là anh không muốn nói thêm gì về cái thứ anh phát hiện ra chứ gì.” Tôi giơ tay tránh ra, không cho hắn kiểm tra vết thương.
“Bởi vì chính tôi cũng chưa biết phải nghĩ như thế nào,” Gideon nói. Và giống như ông Lucas, hắn thêm vào bằng một giọng đầy tuyệt vọng, “Tôi cần thêm thời gian!”
“Ai không cần thêm chứ?” Tôi cất bước. Chúng tôi đã tới xưởng của Madame Rossini, và cửa lớn không còn xa nữa. “Tạm biệt, Gideon. Gặp anh ngày mai, không may là vậy.”
Tôi bí mật đợi hắn giữ tôi lại một lần nữa, nhưng hắn không làm vậy. Hắn cũng không đuổi theo tôi. Tôi rất muốn nhìn thấy vẻ mặt hắn, nhưng tôi không quay lại. Dù sao thì, làm thế cũng thật là ngu ngốc, bởi nếu vậy thì hắn sẽ thấy những giọt nước mắt lại chảy dài trên má tôi.
•§•
Nick đợi tôi trước cửa nhà. “Cuối cùng!” Nó kêu lên. “Em muốn bắt đầu mà không có chị, nhưng ông Bernhard bảo là phải đợi. Ông đã đảm bảo cái cần giật nước của toilet trong buồng tắm xanh bị hỏng để không ai dùng nó, và ông ấy bảo là phải gỡ gạch lát ra để tháo cái bồn chứa nước. Bọn em còn chốt cánh cửa bí mật từ bên trong nữa. Thông minh đấy chứ?”
“Rất thông minh.”
“Nhưng mà tầm một tiếng nữa quý bà Arista với bác Glenda đã về rồi, và thể nào họ cũng bảo ông ấy hoãn việc sửa chữa đến mai.”
“Vậy thì mình phải nhanh tay lên.” Tôi ôm nhanh nó một cái và đặt một nụ hôn lên mớ tóc đỏ bờm xờm của nó. Việc đó thì lúc nào tôi cũng có thời gian! “Em chưa kể với ai đấy chứ?”
Trông Nick hơi xấu hổ. “Chỉ có Caroline thôi. Nó quá… ôi, chị biết nó luôn ngửi ra là có chuyện gì đó mà, và nó hỏi nhiều kinh khủng. Nhưng nó sẽ im lặng và giúp chúng ta đánh lạc hướng mẹ, bà Maddy và chị Charlotte.”
“Đặc biệt là Charlotte,” Tôi nói, tự nói với mình nhiều hơn là với Nick.
“Họ đều đang ở phòng ăn trên gác. Mẹ đã mời chị Leslie ở lại ăn tối.”
Trong phòng ăn, mọi người vừa mới rời khỏi bàn. Tức là bà Maddy đã tới ngồi trên chiếc ghế bành bên lò sưởi và ghếch chân lên trong khi ông Bernhard và mẹ dọn dẹp bàn ăn. Mọi người đều vui khi thấy tôi, trừ Charlotte. Ôi dào, có lẽ chị ấy chỉ rất giỏi giấu sự vui mừng thôi.
Xemerius lướt xuống từ trên đèn chùm và kêu lên, “Cuối cùng, cậu đây rồi! Tớ suýt thì chết vì chán.”
Mặc dù đồ ăn vẫn còn tỏa ra thứ mùi thơm ngon lành và mẹ bảo là đã để dành thứ gì đó nóng cho tôi, tôi hào hùng tuyên bố rằng mình không đói vì đã ăn ở Temple. Dạ dày tôi thắt lại đầy tức giận trước lời dối trá khủng khiếp này, nhưng tôi không thể phí thì giờ thỏa mãn nó.
Leslie nhìn tôi cười nhe răng. “Cà ri ngon lắm. Tớ ăn không thể ngừng được. Mẹ tớ đang trải qua giai đoạn thích thử nghiệm. Kể cả con chó của tớ cũng không nuốt nổi mấy món thực dưỡng mẹ tớ nấu những ngày này.”
“Dù vậy, trông cậu khá là… ừm, cứ nói là được nuôi dưỡng khá tốt đi,” Charlotte gắt. Chị ta tết tóc và vấn lên, nhưng vài lọn tóc nhỏ đã rơi xuống và ôm lấy khuôn mặt chị trông rất xinh. Làm sao một người có thể vừa xinh đẹp vừa xấu tính đến thế?
“Chị thật may mắn. Ước gì em cũng có một con chó,” Caroline nói. “Hay bất cứ loại vật nuôi gì cũng được.”
“Đừng bận tâm. Chúng ta có Nick rồi,” Charlotte nói. “Thế cũng gần như là có một con khỉ.”
“Đừng quên chị, cái đồ nhện độc xấu tính!” Nick nói.
“Nói hay lắm, anh bạn trẻ!” Xemerius reo lên, lại trèo lên đèn chùm. Nó vỗ tay.
Mẹ vẫn giúp ông Bernhard xếp đĩa bẩn vào thang máy rửa bát. “Con biết là chúng ta không thể có vật nuôi vì bác Glenda dị ứng với động vật mà Caroline.”
“Chúng ta có thể kiếm một con chuột chũi trụi lông mà,” Caroline nói. “Thế còn hơn là không có gì.”
Charlotte mở miệng rồi lại ngậm lại, rõ ràng là bởi chị ta không nghĩ ra cái gì xấu để nói về chuột chũi trụi lông.
Bà Maddy đã ngồi thoải mái trên ghế của mình. Bà mơ màng chỉ lên gò má tròn hồng hào, “Hôn bà bác già của cháu đi nào, Gwendolyn. Thật tiếc là mấy ngày nay chúng ta gặp cháu ít quá. Hôm qua ta mơ về cháu, nhưng phải nói rằng đó không phải một giấc mơ đẹp…”
“Bà kể cho cháu sau được không?” Khi hôn bà, tôi thì thầm. “Và bà có thể giúp cháu giữ Charlotte tránh khỏi buồng tắm xanh được không?”
Lúm đồng tiền của bà Maddy sâu thêm, và bà nháy mắt với tôi. Đột nhiên, trông bà lại tình như sáo.
Mẹ, đang có cuộc hẹn với một người bạn, có tâm trạng tốt hơn hẳn mấy ngày trước. Không còn vẻ mặt lo lắng, không còn thở dài sườn sượt khi nhìn thấy tôi. Điều khiến tôi ngạc nhiên là mẹ thậm chí còn cho phép Leslie ở lại muộn hơn một chút và tha cho chúng tôi bài giảng thường lệ về sự nguy hiểm khi đi xe buýt vào tối muộn. Tuyệt hơn là mẹ còn bảo Nick có thể giúp ông Bernhard sửa nhà tắm đến lúc nào cũng được. Caroline là người duy nhất xui xẻo. Con bé bị đuổi lên đi ngủ. “Nhưng con muốn ở đó khi mọi người phát hiện kh… khi mọi người gỡ bồn nước ra,” nó cầu khẩn, nén lại vài giọt nước mắt khi không thể làm mẹ mềm lòng.
“Giờ chị cũng sẽ lên giường,” Charlotte bảo Caroline. “Với một cuốn sách hay.”
“Dưới bóng ngọn núi Ma cà rồng,” Xemerius nói. “Chị ta đang tới trang 413, khi anh chàng Christopher St. Ives trẻ tuổi, mặc dù anh ta cũng bất tử nữa, đưa được nàng Mary Lou xinh đẹp lên giường.”
Tôi nhìn nó kỳ lạ, và trước sự ngạc nhiên, đột nhiên trông nó hơi xấu hổ. “Tớ chỉ nhòm một chút thôi, thật đấy,” Nó nói, nhảy từ đèn chùm xuống bệ cửa sổ.
Bà Maddy nhanh chóng tấn công Charlotte bằng một tuyên bố. “Ồ, cháu yêu, ta hy vọng cháu có thể bầu bạn với ta trong phòng nhạc một lúc,” Bà nói. “Ta rất muốn chơi sắp chữ.”
Charlotte đảo mắt. “Lần trước chúng ta đã phải đá bà khỏi trò chơi vì bà cứ khăng khăng có từ mèo tai.”
“Có chứ sao không. Đó là một con mèo có tai.” Bà Maddy đứng dậy và cầm tay Charlotte. “Nhưng hôm nay ta không phiền đâu nếu cháu nói từ đó không được tính.”
“Chim mùa xuân và nước bò cũng thế,”
“Ồ, nhưng chắc chắn là có một chú chim mùa xuân mà, cháu yêu,” Bà Maddy nói, nháy mắt với tôi lần nữa.
Tôi ôm mẹ trước khi về phòng với Leslie. “Và tiện thể, con phải gửi lời chào của Falk de Villiers tới mẹ. Ông ấy muốn biết liệu mẹ có bạn trai chưa.”
Đáng nhẽ tôi nên giữ cái tin nhắn cho tới khi Charlotte và bà Maddy rời khỏi phòng, bởi vì hai người đó đứng khựng lại, cắm rễ tại chỗ, và nhìn mẹ đầy hứng thú.
“Cái gì?” Mẹ hơi đỏ mặt. “Và con nói với ông ấy cái gì?”
“À, con nói là mẹ không hẹn hò với ông nào từ lâu lắm rồi, và người gần đây nhất thì hay cãi cọ mỗi khi ông ta nghĩ mẹ không nhìn.”
“Con không hề nói thế!”
Tôi cười, “Không, con không nói thế.”
“Ồ, hai đứa đang nói về tên chủ nhà băng điển trai mà Arista muốn gả cháu cho sao, Grace? Ngài Itchman[1],” Bà Maddy nói. “Cá là hắn có rận hay gì đó.”
Leslie cười khúc khích.
“Tên anh ta là Hitchman, bà Maddy.” Mẹ tôi xoa xoa cánh tay, run rẩy. “Cũng may là cháu chưa bao giờ tìm ra liệu vụ chấy rận kia có phải thật không. Vậy thì con bảo ông ấy cái gì? Falk ấy, ý mẹ là vậy.”
“Chẳng có gì cả,” Tôi nói. “Mẹ muốn con hỏi liệu ông ấy có bạn gái chưa vào lần gặp tiếp theo không?”
“Đố con dám,” Mẹ nói. Rồi bà cười và thêm vào. “Anh ta không có đâu. Tình cờ mẹ biết được từ một người bạn. Cô ấy có một người bạn biết Falk khá rõ… không phải là mẹ hứng thú hay gì đâu.”
“Không, tất nhiên là không rồi!” Xemerius nói. Nó bay khỏi bệ cửa sổ và hạ cánh xuống giữa bàn ăn. “Chúng ta chuyển đề tài được chưa?”
•§•
Nửa tiếng sau, Leslie đã được cập nhật đầy đủ các diễn biến mới nhất, và Caroline trở thành chủ nhân một chú lợn móc len màu hồng, đồ cổ hàng thật, từ năm 1929. Khi tôi kể về xuất xứ của chú lợn, con bé ấn tượng vô cùng và nói nó sẽ đặt tên chú lợn của mình là Margaret, theo tên quý bà Tilney. Nó vui vẻ ôm chặt Margaret và chìm vào giấc ngủ khi mọi thứ yên tĩnh trở lại.
Ngoại trừ tiếng búa và đục của ông Bernhard, tất nhiên rồi. Ngồi ở đâu trong nhà cũng nghe thấy được. Chúng tôi sẽ không bao giờ bí mật gỡ nổi một viên gạch ra khỏi tường. Và ông Bernhard với Nick cũng không thể bí mật đem chiếc rương lên phòng tôi nữa. Bà Maddy bước vào ngay sau họ.
“Bà ấy tóm được bọn em trên cầu thang,” Nick nói đầy hối lỗi.
“Và ngay lập tức nhận ra chiếc rương nhỏ đó,” Bà Maddy nói. Bà có vẻ phấn khích. “Ôi, nó thuộc về anh trai Lucas của ta! Nó ngự ở trong thư phòng hàng năm trời, và rồi, ngay trước khi anh ấy mất, nó biến mất luôn. Nên là ta nghĩ ta có quyền biết các cháu định làm gì với nó.”
Ông Bernhard thở dài. “E là chúng ta không còn lựa chọn nào khác,” Ông bảo tôi. “Quý bà Arista và cô Glenda sắp về nhà tới nơi rồi.”
“Phải, vậy nên ta là lựa chọn tốt hơn trong hai kẻ xấu, đúng không nào?” Bà Maddy cười đầy tự mãn.
“Miễn là Charlotte không biết chuyện gì đang xảy ra,” Leslie nói.
“Đừng lo, con bé đã tức giận bỏ về phòng vì ta đặt từ kéo bài xuống.”
“Thứ mà mọi người đều biết là kéo để cắt bài,” Xemerius nói. “Thiết yếu trong mỗi gia đình.”
Bà Maddy quỳ xuống bên chiếc rương và vuốt ve cái nắp đầy bụi. “Cháu tìm thấy nó ở đâu vậy?”
Ông Bernhard nhìn tôi dò hỏi, và tôi nhún vai. Dù sao thì bà ấy cũng ở đây, chúng tôi cũng nên kể cho bà toàn bộ câu chuyện
“Tôi đã xây nó vào trong tường, theo chỉ dẫn của anh trai bà,” Ông Bernhard đường hoàng nói. “Đó là buổi tối ngay trước ngày mất của ông ấy.”
“Buổi tối ngay trước ngày mất?” Tôi lặp lại. Cái này cũng là tin mới với tôi.
“Và có gì trong này?” Bà Maddy muốn biết. Bà lại đứng dậy, nhìn quanh tìm chỗ ngồi. Vì không thấy chỗ nào khác, bà ngồi xuống bên Leslie trên mép giường tôi.
“Đúng đó, đó là câu hỏi trọng yếu,”
“Câu hỏi trọng yếu,” Ông Bernhard nói, “là làm sao chúng ta có thể mở chiếc rương. Bởi chìa khóa đã biến mất, cùng với nhật ký của huân tước Montrose, trong vụ trộm.”
“Vụ trộm nào ạ?” Leslie và Nick đồng thanh.
“Tên trộm đột nhập vào ngày diễn ra tang lễ ông ngoại các cháu,” Bà Maddy giải thích. “Trong khi mọi người đang tiễn biệt ông ở nghĩa trang. Thật là một ngày buồn bã, phải không, ông Bernhard thân mến?” Bà hỏi, nhìn lên ông. Ông lắng nghe mà không để lộ chút cảm xúc.
Câu chuyện nghe có vẻ quen quen. Theo như tôi nhớ, những tên trộm đã bị đánh động và bỏ trốn trước khi chúng có thể chôm bất cứ thứ gì. Nhưng khi tôi nói thế với Nick và Leslie, bà Maddy phản đối.
“Không, không, thiên thần nhỏ của ta. Cảnh sát chỉ cho rằng không có thứ gì bị mất bởi vì tất cả tiền bạc, khế ước ngôi nhà này, và các trang sức quý giá đều an toàn trong két.”
“Và điều đó chỉ có lý khi thứ lũ trộm nhắm tới là các cuốn nhật ký,” Ông Bernhard nói. “Khi đó, ta cho phép bản thân đề đạt giả thuyết này với cảnh sát, nhưng không ai tin ta. Hơn nữa, không có dấu hiệu nào cho thấy chúng cố đột nhập két. Chúng phải biết được mã số. Vậy nên có lẽ huân tước Montrose đã cất nhật ký ở nơi khác.”
“Tôi đã tin ông, ông Bernhard thân mến,” Bà Maddy nói. “Nhưng tiếc là khi đó không có ai nghĩ ý kiến của ta có giá trị. Hay là bất cứ lúc nào khác, thật đấy,” bà nói, vẻ mặt đăm chiêu. “Dù sao thì, ba ngày trước khi Lucas mất, ta có một điềm báo, và ta tin rằng anh ấy không chết vì nguyên nhân tự nhiên. Nhưng mà như thường lệ, mọi người đều nghĩ ta điên. Nhưng điềm báo ấy sao mà rõ ràng: một con báo đen nhảy lên ngực Lucas và xé toang cổ họng anh.”
“Ồ, rất rõ ràng,” Leslie lẩm bẩm, và tôi hỏi, “Còn mấy cuốn nhật ký thì sao?”
“Chúng chưa bao giờ xuất hiện trở lại,” Ông Bernhard nói. “Chiếc chìa khóa rương cũng vậy, bởi huân tước Montrose luôn kẹp nó trong cuốn nhật ký mới nhất, theo như ta biết, bởi ta đã được tận mắt chứng kiến.”
Xemerius sốt ruột vỗ vỗ đôi cánh. “Sao chúng ta không thôi nói nhảm và đi kiếm một cái xà beng nhỉ?”
“Nhưng mà… nhưng mà ông ngoại bị đau tim mà,” Nick nói.
“Ừm, sau vụ đó thì mọi việc có vẻ giống thế thật.” Bà Maddy thở dài nặng nề. “Rốt cuộc thì anh ấy cũng tám mươi rồi. Anh ấy gục trên bàn làm việc ở Temple. Điềm báo của ta không đủ thuyết phục để khiến họ thực hiện một cuộc khám nghiệm tử thi. Arista cáu ta kinh khủng khi ta muốn bà ấy theo đuổi vụ này tới cùng.”
“Mấy chuyện này làm em nổi hết cả da gà,” Nick thì thầm, nhích lại gần hơn và rúc vào cạnh tôi. Trong ít phút, không ai nói gì cả. Xemerius lượn vòng vòng quanh cái đèn trần và than vãn, “Ôi, chuyển chủ đề đi nào!” Nhưng tất nhiên chỉ có tôi nghe thấy nó.
“Khá nhiều sự trùng hợp,” Cuối cùng Leslie cũng nói.
“Phải đấy,” Tôi đồng tình. “Ông Lucas giấu cái rương đi, và tình cờ, ông mất ngay ngày hôm sau.”
“Phải, và tình cờ, ta nhận được điềm báo ba ngày trước ngày anh ấy mất,” Bà Maddy nói.
“Và tình cờ, nhật ký của ông biến mất không còn tung tích gì,” Nick thêm vào.
“Và tình cờ,” Ông Bernhard nói, có vẻ hơi hối lỗi, “chiếc chìa khóa cô Leslie đây đang đeo trên cổ giống y hệt như chìa khóa cho chiếc rương này. Suốt cả bữa tối, ta không thể ngừng nhìn chằm chằm vào nó.”
Leslie đặt tay lên chiếc dây chuyền, vẻ mặt sửng sốt, “Gì ạ, cái này á? Chiếc chìa khóa trái tim của cháu?”
“Không thể nào,” Tôi nói. “Cháu chôm nó trong một chiếc ngăn kéo bàn trong Temple đâu đấy hồi thế kỷ mười tám. Thế thì trùng hợp quá, ông nghĩ vậy không?”
“Sự tình cờ là kẻ thống trị hợp pháp duy nhất của vũ trụ, như Einstein từng nói. Và ông ấy chắc chắn phải biết điều đó.” Bà Maddy cúi người về phía trước, hứng thú ngắm chiếc chìa khóa.
“Không phải là Einstein mà là Napoleon,” Xemerius gọi với xuống từ trên trần. “Và lúc đó thì Napoleon sợ mất mật rồi.”
“Có thể là ta sai, tất nhiên rồi. Các chìa khóa cổ trông rất giống nhau,” ông Bernhard nói.
Leslie lóng ngóng gỡ móc dây chuyền và đưa tôi chiếc chìa khóa. “Đằng nào cũng đáng thử một lần.”
Tôi chuyển nó sang cho ông Bernhard. Những người còn lại đồng loạt nín thở khi ông quỳ xuống bên chiếc gương và tra chìa vào chiếc ổ khóa nhỏ. Nó mở ra dễ dàng.
“Tuyệt cú mèo!” Leslie thì thầm.
Bà Maddy gật đầu thỏa mãn. “Cháu thấy chưa, không chỉ là tình cờ và trùng hợp thôi đâu! Đó là số phận. Và giờ thì, ông Bernhard, đừng bắt chúng tôi đợi nữa. Nâng cái nắp lên đi nào.”
“Đợi chút!” Tôi hít một hơi sâu. “Việc tất cả những người trong căn phòng này giữ bí mật tuyệt đối về vật trong rương là rất quan trọng.”
Coi tôi bị ảnh hưởng nhanh chưa này! Mới chỉ vài ngày trước, tôi vẫn còn cằn nhằn về Đội Cận vệ và đống bí mật của họ, và giờ thì tôi ở đây, gần như là đang thành lập một cộng đồng bí mật của riêng mình. Còn thiếu mỗi nước tôi bắt mọi người bịt mắt lại trước khi rời phòng thôi.
“Nghe có vẻ như là cậu biết trong đó chứa gì,” Xemerius bình phẩm. Nó đã cố thò đầu qua lớp gỗ để coi bên trong có gì vài lần, nhưng nó lại rút đầu ra, ho sặc sụa.
“Tất nhiên bọn em sẽ không hé răng rồi,” Nick nói, giọng hơi bị xúc phạm, và Leslie với bà Maddy trông khá tức giận. Đến ông Bernhard với khuôn mặt không chút biểu cảm cũng phải nhướng mày.
“Thề đi,” Tôi yêu cầu, và để họ nhận ra tôi nghiêm túc đến mức nào, tôi bồi thêm, “Thề trên mạng sống của mọi người đi!”
Bà Maddy là người duy nhất nhảy lên và hào hứng đặt tay lên trái tim. Những người khác vẫn còn do dự. “Chúng ta có thể thề bằng cái gì khác không?” Leslie lầm bầm. “Tớ nghĩ dùng tay trái cũng được rồi.”
Tôi lắc đầu. “Nhanh lên, thề đi nào!”
“Ta thề trên mạng sống của mình!” Bà Maddy kêu lên vui vẻ.
“Tôi thề,” Mấy người kia xấu hổ lầm bầm. Nick bắt đầu cười khúc khích đầy lo lắng, bởi vì bà Maddy vừa bắt đầu ngâm nga bản quốc ca để chứng tỏ dịp này quan trọng đến thế nào.
Khi ông Bernhard, nhìn sang tôi trước để hỏi sự đồng ý, nhấc nắp rương lên, nó phát ra tiếng rít nhè nhẹ. Ông cẩn thận mở vài lớp vải nhung bọc, và khi vật trong rương cuối cùng cũng lộ ra, tất cả mọi người trừ tôi đều ngạc nhiên thốt lên ồ! và à! Thậm chí Xemerius cũng kêu lên, “Lão quỷ già ranh ma!”
“Liệu đó có phải thứ mà ta nghĩ không?” Một lúc sau, bà Maddy hỏi. Mắt bà vẫn tròn như hai cái đĩa.
“Phải,” Tôi nói, vén mái tóc ra khỏi mặt. “Đó là chiếc máy đồng hồ.”
•§•
Nick và bà Maddy chần chừ, ông Bernhard lén lút, và Leslie, sau khi phản đối kịch liệt, đã rời đi. Tuy nhiên, mẹ nó đã gọi điện thoại hai lần để hỏi liệu nó đã (a) tình cờ bị sát hại, hoặc (b) bị chặt thành vài khúc ở đâu đó trong Hyde Park, nên là nó cũng không còn lựa chọn nào.
Nhưng trước hết, nó bắt tôi thề sẽ theo đúng kế hoạch ban đầu. “Thề trên mạng sống của cậu,” Nó yêu cầu, và tôi làm theo. Tuy nhiên, không như bà Maddy, tôi tha cho nó bài quốc ca.
Cuối cùng phòng tôi cũng yên tĩnh trở lại, và hai giờ sau, sau khi mẹ đã nhòm qua cửa phòng để kiểm tra tôi, cả ngôi nhà cũng vậy. Tôi đấu tranh dữ dội với bản thân về việc có quyết định nên thử chiếc máy đồng hồ ngay hay không. Với ông Lucas, sẽ chẳng khác biệt gì nếu tôi trở lại năm 1956 vào hôm nay hay ngày mai, hay thậm chí là bốn tuần nữa. Và thay đổi không khí một chút với một giấc ngủ ngon sẽ rất tốt. Mặt khác, ngày mai, tôi phải tới vũ hội và đối mặt với bá tước Saint Germain, và tôi vẫn chưa biết ông ta có âm mưu gì.
Tôi bước xuống tầng với chiếc máy bọc trong váy ngủ. “Sao cậu tha cái thứ đó đi khắp nhà thế?” Xemerius hỏi. “Cậu chỉ cần vượt thời gian trong phòng mình thôi mà.”
“Ừ, nhưng làm sao tớ biết được có ai ngủ ở đó hồi năm 1956? Và rồi tớ sẽ phải chạy khắp nhà, và có thể sẽ bị nhầm là một tên trộm lần nữa. Không, tớ muốn đi thẳng tới đường hầm bí mật. Vậy tớ sẽ không sợ bị ai phát hiện khi hạ cánh. Ông Lucas sẽ đợi tớ trước tranh ông bác cụ kỵ Hugh.”
“Mỗi lần cậu lại đếm chữ số một kiểu,” Xemerius chỉ ra. “Nếu tớ là cậu, tớ sẽ chỉ nói là ông tổ béo ú thôi.”
Tôi bơ nó và tập trung vào mấy bậc thang kêu cót két. Một lúc sau, tôi đang nhẹ nhàng đẩy bức tranh sang một bên, ông Bernhard đã tra dầu ở phía sau, nên nó không rít lên. Ông cũng đã lắp chốt cho cả cửa buồng tắm và cửa dẫn ra cầu thang. Ban đầu, tôi do dự không muốn chốt cả hai lại, vì nếu bằng cách nào đó mà tôi hạ cánh ở ngoài đường hầm khi trở lại, tôi sẽ nhốt bản thân ở ngoài và chiếc máy ở trong.
“Bắt chéo ngón tay và hy vọng là nó hoạt động đi,” Tôi bảo Xemerius và quỳ xuống sàn, đặt ngón trỏ vào cái lỗ bên dưới viên hồng ngọc và đâm vào cái kim. (Mà tiện thể thì, bạn sẽ không bao giờ quen nổi với cơn đau đâu. Lần nào cũng đau như quỷ ấy.)
“Tớ sẽ làm thế nếu tớ có ngón,” Xemerius nói, và rồi nó biến mất cùng máy đồng hồ.
Tôi hít một hơi sâu, nhưng không khí mốc meo trong đường hầm chẳng giúp tôi đỡ nôn nao hơn chút nào. Tôi đứng dậy, hơi lảo đảo, siết tay cầm chiếc đèn pin của Nick chặt hơn, và mở cánh cửa dẫn ra cầu thang. Nó kẽo kẹt và rít lên hệt như thứ gì đó trong một bộ phim kinh dị kinh điển khi bức tranh mở sang một bên.
“À, cháu đây rồi,” Ông Lucas thì thầm. Ông đang đợi tôi, và cũng đang cầm một chiếc đèn pin. “Trong một thoáng, ta còn sợ cháu là một con ma xuất hiện lúc nửa đêm…”
“Mặc đồ ngủ Thỏ Peter sao?”
“Ta có uống một ly hay gì đó vì… nhưng mà thật vui vì ta đã đúng về vật trong rương.”
“Vâng, và may là cái máy còn hoạt động. Chúng ta có một giờ, như đã định trước.”
“Vậy thì theo ta, nhanh lên nào, trước khi nó bắt đầu gào khóc và dựng cả nhà dậy.”
“Trước khi ai gào khóc cơ?” Tôi thì thầm cảnh giác.
“Harry bé nhỏ, tất nhiên rồi. Nó đang mọc răng hay gì ấy. Cứ gào rú như còi báo động vậy.”
“Bác Harry?”
“Arista bảo chúng ta phải cho nó khóc vì mục đích giáo dục không thì lớn lên nó sẽ thành một thằng lẻo khoẻo mất. Nhưng mà chả có ai chịu nổi. Đôi lúc ta lén vào ngắm nó, mặc cho nó có lẻo khoẻo hay không. Nếu cháu hát cho nó nghe bài ‘The Fox Went Out ơn a Chilly Night’ [Con cáo ra ngoài vào một đêm lạnh lẽo], nó sẽ thôi khóc.”
“Bác Harry đáng thương. Nghe có vẻ giống một vụ giáo dục sớm, nếu ông hỏi cháu.” Bảo sao dạo này bác ấy cứ thích bắn tất cả mọi thứ có thể chĩa được súng vào, vịt trời, hươu, gà gô, gà lôi và nhất là lũ cáo. Bác ấy là chủ tịch một hội đấu tranh cho quyền dùng chó săn săn cáo một cách hợp pháp ở Gloucestershire. “Có lẽ ông nên hát cho bác ấy nghe cái gì đó khác. Và mua cho bác ấy một con cáo bông mềm mềm nữa.”
Chúng tôi tới được thư viện mà không bị phát hiện, và khi ông Lucas đóng cửa rồi khóa nó lại sau lưng, ông buông một hơi thở nhẹ nhõm. “Chúng ta đến rồi!” Căn phòng khá giống với thời của tôi, ngoại trừ việc hai chiếc ghế bành bên lò sưởi có bọc khác, một thứ vải kẻ caro kiểu Scotland xanh lá và xanh dương, thay vì những bông hoa hồng màu kem trên nền xanh rêu như trong tương lai. Có một ấm trà trên chiếc bàn nhỏ đặt giữa hai ghế, cộng với hai chiếc tách, và, tôi nhắm mắt, khi mở mắt ra thì đó vẫn là hiện thực chứ không phải ảo ảnh, còn có một đĩa bánh kẹp! Không phải bánh quy khô khốc, mà là những chiếc bánh kẹp thực sự giàu dinh dưỡng! Không thể tin nổi. Ông Lucas thả mình xuống một trong hai chiếc ghế và chỉ vào chiếc còn lại.
“Ngồi xuống đi nào, và nếu cháu đói, hãy tự…” Nhưng tôi đã tự nhiên rồi. Tôi đang cắm răng vào chiếc bánh đầu tiên.
“Ông vừa cứu mạng cháu,” Tôi nói với cái mồm đầy bánh. Rồi đột nhiên tôi nghĩ ra. “Chúng không phải bánh kẹp thịt bò hun khói chứ?”
“Không, giăm bông và dưa chuột,” Ông Lucas nói. “Trông cháu có vẻ mệt mỏi.”
“Ông cũng vậy.”
“Ta vẫn chưa thực sự bình tĩnh lại sau những náo nhiệt hồi tối qua. Vừa nãy, như ta đã nói với cháu, ta phải làm một cốc whisky. Ờ thì, hai cốc whisky. Nhưng bây giờ mọi thứ đã rõ ràng rồi… Ừ, ăn cái bánh nữa đi, và cứ từ từ mà nhai cho tử tế. Trông cháu làm thịt chúng thế cũng khá đáng sợ.”
“Tiếp tục đi ông,” Tôi nói. Ôi, thức ăn mới ngon làm sao chứ! Chưa bao giờ trong đời tôi từng ăn món bánh kẹp ngon như vậy. “Ông rõ hai thứ gì vậy?”
“Ừm, đầu tiên, mặc dù gặp cháu rất vui, nhưng những cuộc gặp của chúng ta phải cách nhau xa hơn trong tương lai nếu muốn có được kết quả gì đó. Chúng ta nên gặp nhau gần với năm sinh của cháu nhất có thể. Lúc đó, có lẽ ta đã hiểu Lucy và Paul đang lên kế hoạch gì và tại sao, và chắc chắn là ta sẽ biết nhiều hơn bây giờ. Vậy có nghĩa là lần tới chúng ta nên gặp nhau vào năm 1993. Khi đó ta cũng có thể giúp cháu với buổi vũ hội.”
Ờ, nghe hợp lý đấy.
“Và thứ hai, những việc trên sẽ không khả thi nếu ta không tiến sâu hơn vào trung tâm quyền lực của Đội Cận vệ, thẳng vào Bộ Nội vụ.”
Tôi gật đầu bùm bụp. Vì mồm đầy quá nên tôi chẳng nói được gì.
“Đến giờ ta vẫn chưa thấy hứng thú lắm với mấy chuyện như vậy.” Ông Lucas liếc nhìn gia huy nhà Montrose treo trên bệ lò sưởi. Một thanh kiếm, bao quanh là những đóa hồng và bên dưới đề dòng chữ HIC RHODOS, HIC SALTA, nghĩa là ‘Thể hiện hết khả năng của mình’ hay gì đó.
“Đúng là ta đã có một khởi đầu tốt trong hội, dù sao thì đại diện của nhà Montrose cũng thuộc nhóm thành viên đã lập nên hội vào năm 1745, và ta cũng đã cưới một người có tiềm năng mang gien từ dòng Bích ngọc. Tuy nhiên, ta không định cống hiến cho Đội Cận vệ nhiều hơn cần thiết… Hừm, giờ thì mọi thứ sẽ thay đổi. Vì cháu và Lucy và Paul, ta thậm chí sẽ nịnh bợ cả lão Kenneth de Villiers. Không rõ liệu ta có thành công không, nhưng mà…”
“Ôi, có, ông sẽ thành công! Thậm chí ông sẽ là Trưởng hội,” Tôi nói, phủi vụn bánh khỏi bộ đồ ngủ. Tôi chỉ vừa kịp nén một tiếng ợ đầy thỏa mãn. Được đầy bụng thật là sung sướng. “Để xem nào; vào năm 1993, ông sẽ là…”
“Suỵtt!” Ông Lucas nghiêng người đặt tay lên môi tôi. “Ta không muốn nghe. Có lẽ ta đang hơi vô lý, nhưng ta không muốn biết tương lai chứa đựng những gì cho mình, trừ phi nó giúp ta tìm hiểu những điều cháu quan tâm. Ta có ba mươi bảy năm để sống trước khi chúng ta gặp lại, và ta muốn sống những năm tháng ấy… ừm, vô lo nhất có thể. Cháu có thể hiểu không?”
“Vâng.” Tôi nhìn ông buồn bã. “Vâng. Cháu hiểu rất rõ.” Trong trường hợp này, bảo ông rằng bà Maddy và ông Bernhard nghi ngờ rằng ông không chết một cách tự nhiên có lẽ sẽ không khôn ngoan lắm. Tôi luôn luôn có thể cảnh báo cho ông vào năm 1993 mà.
Tôi dựa lưng vào ghế và cố nặn ra một nụ cười. “Vậy thì hãy nói về phép thuật loài quạ đi, ông ngoại. Bởi vì có một điều ông vẫn chưa biết về cháu.”
❀ ❀ ❀
[1] Chơi chữ: Itch nghĩa là ngứa, ở đây nhắc đến chuyện ông này hay gãi.