“Thêm một lý do nữa để không uống rượu,” Leslie rên lên. “Nhìn từ bất cứ góc độ nào, khi cậu nốc quá nhiều và tự biến mình thành trò cười, cậu sẽ thấy như một con đần. Tớ sẽ không muốn ở vào vị trí của Charlotte hôm thứ Hai tới đâu.”
“Hoặc là Cynthia,” Tôi nói. Khi rời khỏi căn nhà kia, chúng tôi đã thấy cô nàng sinh nhật đang hôn hít một thằng nhóc kém chúng tôi hai tuổi trong phòng để áo khoác. (Trong tình huống đó, tôi không buồn chào tạm biệt nó, và nhất là khi chúng tôi còn chưa gặp nhau.)
“Và tớ cũng không muốn làm cái anh chàng đáng thương đã ọe hết cả lên đôi chân ếch kỳ lạ của bác Dales,” Raphael nói.
Chúng tôi rẽ vào phố Chelsea Manor. “Nhưng mà lần này thì Charlotte đã giành cúp rồi.” Leslie dừng lại bên cửa sổ một cửa hàng vải, nhưng không phải để ngắm nghía hàng hóa mà là để ngưỡng mộ hình ảnh phản chiếu của chính mình. “Tớ chẳng thích nói điều này chút nào, nhưng tớ thực sự đã thấy thương chị ta.”
“Tớ cũng thế,” Tôi khẽ nói. Rốt cuộc thì, tôi biết chính xác việc yêu Gideon là thế nào. Và không may là tôi cũng biết cái việc tự biến mình thành trò cười là như thế nào.
“May ra thì chị ta sẽ quên hết mọi thứ vào buổi sáng.” Raphael mở khóa cửa căn hộ của Gideon trong một tòa nhà lớn xây bằng gạch đỏ. Căn nhà của nhà Dales trên phố Flood rất gần đây, nên việc thay đồ cho bữa tiệc ở nhà Gideon là rất hợp lý.
Nhưng chỉ tới giờ tôi mới nhìn nó kỹ hơn. Lúc trước, tâm trạng tôi vẫn còn quá rối bời bởi cuộc gặp với Lucy và Paul vào năm 1912 để có thể để ý được bất cứ thứ gì. Tôi cứ chắc mẩm rằng Gideon sẽ sống ở một trong mấy căn hộ thời thượng, hàng chục mét vuông không gian trống, toàn crom và kính và một chiếc ti vi màn hình phẳng to như sân bóng đá. Nhưng tôi đã nhầm. Một hành lang hẹp từ cánh cửa, ngang qua một cầu thang nhỏ, dẫn tới phòng khách sáng trưng; bức tường đằng sau đó có một chiếc cửa sổ lớn. Những bức tường khác kê giá sách cao đến tận trần nhà, chất đầy những cuốn sách, DVD, và một vài tập tin, tất cả lẫn lộn vào nhau, và trước bệ cửa sổ có một chiếc sofa lớn màu xám với hàng đống gối tựa.
Nhưng chính giữa căn phòng lại là một chiếc đại dương cầm, mặc dù chiếc bàn là dựng bên cạnh đó khiến nó trông bớt ấn tượng đi một chút. Và chiếc mũ ba cạnh treo trên một góc của nắp đàn trông cũng không hợp cảnh lắm. Hẳn là Madame Rossini đang tuyệt vọng tìm kiếm nó khắp nơi. Dù vậy, có lẽ đây chính là ý tưởng của Gideon về Nhà và Vườn.
“Hai người muốn uống gì?” Raphael nói, vào vai vị chủ nhà hoàn hảo.
“Có gì vậy?” Leslie hỏi, ánh mắt nghi ngờ nhìn vào cánh cửa mở dẫn ra bếp, nơi chiếc bồn rửa đang chất đầy bát đĩa đóng vảy cái gì đó có thể đã từng là sốt cà chua. Hoặc đó là một thí nghiệm y khoa và một phần trong các nghiên cứu của Gideon.
Raphael mở tủ lạnh. “Hừm, để coi nào. Có một ít sữa, nhưng hạn sử dụng của nó là từ thứ Tư trước. Nước cam… Ồ. Nước cam có kết tủa được không? Nghe nó hơi lạo xạo trong hộp. À, cái này có vẻ triển vọng đây, có thể là nước chanh gì đó. Nếu chúng ta trộn nó với…”
“Cho tớ xin chút nước thôi, làm ơn.” Leslie đang định thả mình xuống chiếc sofa lớn, nhưng đến phút cuối lại nhớ ra rằng chiếc váy Grace Kelly không hợp với việc nằm ườn ra và đoan trang ngồi xuống mép ghế. Tôi rũ người xuống bên cạnh nó với một tiếng thở dài.
“Gwenny đáng thương.” Nó vỗ má tôi. “Một ngày thật đỉnh! Hẳn là cậu mệt lắm rồi. Tớ mà nói trông cậu không mệt đến thế thì có an ủi gì không?”
Tôi nhún vai. “Một chút.”
Raphael trở lại với cốc và một chai nước, và hắn gạt vài cuốn tạp chí và sách xuống khỏi bàn cà phê, trong đó có một cuốn minh họa về đàn ông thời Rococo.
“Cậu có thể dịch vài mét vải của chiếc váy ra để dành chỗ cho tớ trên sofa không?” Hắn nhe răng cười với tôi.
“Ồ, khỏi bận tâm đi, cứ ngồi lên váy ấy,” Tôi nói, ngả đầu ra sau và nhắm mắt lại.
Leslie nhảy dựng lên. “Không, không, đừng! Chúng ta sẽ làm rách cái gì đó và rồi sẽ không bao giờ được mượn quần áo của Madame Rossini nữa. Thôi nào, đứng dậy đi và tớ sẽ tháo đống dây dợ kia ra cho.” Nó kéo tôi dậy và bắt đầu giúp tôi cởi chiếc váy Nữ hoàng Alexandra. “Cậu nhìn chỗ nào khác đi, Raphael.”
Raphael duỗi người ra chiếc sofa và nhìn lên trần nhà. “Thế này được chứ?”
Khi đã mặc lại quần bò áo phông và uống vài hớp nước, tôi đã thấy khá hơn một tẹo.
“Cậu thấy thế nào khi gặp… ý tớ là, gặp Lucy và Paul?” Leslie hỏi khẽ khi chúng tôi lại ngồi trên sofa.
Raphael nhìn tôi vẻ thương hại. “Có bố mẹ gần như bằng tuổi mình chắc cũng khủng lắm.”
Tôi gật đầu. “Mọi thứ hơi… kỳ lạ và… Và bối rối.” Và rồi tôi kể hết cho họ, bắt đầu từ màn chào hỏi của ông quản gia, tiếp đến lời thú nhận rằng chúng tôi đã khép lại Vòng tròn Huyết hội bằng chiếc máy đồng hồ bị đánh cắp. “Họ phát choáng khi biết bọn tớ thực sự đã có viên đá tiên tri trong tay, hay là thứ muối lấp lánh, như cậu bạn quỷ máng xối Xemerius của tôi nói. Họ trở nên xúc động kinh khủng, và khi xúc động, Lucy còn nói nhiều hơn tớ, cậu tin nổi không? Họ không ngừng nói bọn tớ đã làm một việc tệ hại đến thế nào cho tới khi tớ nói rằng tớ đã biết về… ờm, mối quan hệ chính xác giữa mình và họ.”
Mắt Leslie mở lớn. “Vậy là?”
“Vậy là họ im re. Tới khi tất cả mọi người lại òa khóc một lần nữa,” Tôi nói, dụi dụi đôi mắt mệt mỏi của mình. “Tớ đoán là đống nước mắt tớ sản xuất ra trong mấy ngày vừa rồi cũng đủ để tưới một cánh đồng hạn hán ở châu Phi đấy.”
“Ôi, Gwenny.” Bất lực, Leslie vuốt cánh tay tôi.
Tôi cố nặn một nụ cười. “Phải, và rồi bọn tớ báo cho họ một tin tốt rằng, tình cờ, ngài bá tước không thể giết tớ vì có vẻ là tớ đã bất tử. Tất nhiên là họ không thể tin nổi, và thời gian cũng sắp hết, nên bọn tớ không thể chứng minh cho họ bằng cách bảo Stillman diễn một màn thắt cổ với tớ hay gì đó. Bọn tớ phải bỏ họ ngồi đó sững sờ và chạy để có thể trở lại nhà thờ kịp lúc du hành trở về.”
“Giờ thì sao?”
“Sáng mai bọn tớ sẽ gặp lại họ, và Gideon sẽ nói cho họ kế hoạch thiên tài của hắn,” Tôi nói. “Rắc rối duy nhất là hắn sẽ phải nghĩ ra nó trong đêm nay. Và nếu hắn chỉ bằng một nửa tớ thôi, hắn thậm chí sẽ không nghĩ ngợi được gì tử tế.”
“Hừm, cà phê đẻ ra để làm gì chứ. Và cả tớ nữa, Leslie Hay thiên tài.” Leslie nở một nụ cười động viên. Và rồi nó thở dài. “Nhưng cậu nói đúng, nó không đơn giản đến thế. Ý tớ là, thật tốt là hai người có hẳn một máy đồng hồ để du hành thời gian, nhưng vẫn có giới hạn về thời lượng sử dụng. Nhất là khi ta đều nhớ rằng hai người phải đi gặp bá tước vào ngày mai, tức là sẽ chỉ còn khoảng hai giờ trong quỹ thời gian du hành thôi.”
“Cái gì cơ?” Tôi ngây ra.
Leslie thở dài. “Cậu chưa đọc phần đó trong Anna Karenina sao? Cậu không thể phân nhánh quá năm tiếng rưỡi một ngày, không thì sẽ có tác dụng phụ.” Leslie làm như nó không thấy vẻ mặt ngưỡng mộ của Raphael. “Và tớ không biết mình có thích việc cậu dùng thử cái món muối kia hay không. Nó… nó rất nguy hiểm. Tớ hy vọng rằng cậu đã giấu nó ở chỗ nào đó không ai tìm thấy được.”
Theo như tôi được biết thì cái lọ vẫn ở trong túi áo khoác da của Gideon, nhưng tôi không bảo Leslie điều đó. “Paul nói ít nhất là hai mươi lần rằng bọn tớ phải tiêu hủy nó.”
“Anh ta không đần đâu!”
“Không!” Tôi lắc đầu. “Gideon nghĩ nó có thể trở thành con át chủ bài của chúng ta.”
“Tởm,” Raphael nói. “Cậu luôn có thể đấu giá nó trên eBay như một trò đùa. Bột bất tử, uống một lần duy nhất. Giá khởi điểm một bảng.”
“Ngoài bá tước ra, tớ không biết có ai muốn sống bất tử,” Tôi cay đắng nói. “Tớ không thích việc mình phải sống khi mọi người xung quanh sẽ chết đi vào một ngày nào đó. Tớ thà ném mình xuống khỏi vách đá còn hơn là bị bỏ lại một mình trên thế giới!” Tôi nén một tiếng thở dài nữa trước ý tưởng này. “Cậu có nghĩ cái vụ bất tử này có thể là một lỗi gì đó trong gene của tớ không? Rốt cuộc thì, tớ có đến tận hai nhà du hành thời gian trong gia đình.”
“Có thể,” Leslie nói. “Và Vòng tròn đúng là kết thúc với cậu, theo tất cả mọi nghĩa.”
Một lúc lâu, chúng tôi ngồi đó, lạc trong ý nghĩ của chính mình và nhìn chằm chằm vào bức tường đối diện. Nó có vài từ tiếng Latin màu đen sơn trên bức thạch cao.
“Nó nói gì vậy?” Cuối cùng, Leslie hỏi. “Đừng quên nhét đồ vào tủ lạnh?”
“Không,” Raphael nói. “Đó là một câu nói của Leonardo da Vinci, và nhà Villiers chôm nó để làm gia huy.”
“Thế thì tớ nghĩ trong tiếng Anh,” Leslie nói, “nó sẽ có nghĩa gì đó kiểu như ‘Chúng tôi không hề khoe khoang, chúng tôi thực sự rất đỉnh. ’ Hoặc là ‘Chúng tôi biết mọi thứ, chứng tôi luôn luôn đúng!’ ”
Tôi khúc khích.
“ ‘Người luôn hướng tới những vì sao không bao giờ đổi ý,” Raphael nói. “Nó bảo vậy đó.” Hắn hắng giọng. “Hay là tớ đi tìm bút với giấy nhé? Để giúp chúng ta suy nghĩ mạch lạc hơn?” Hắn cười ngượng ngùng. “Nghe thì hơi bệnh, nhưng phải nói là tớ rất thích trò chơi bí ẩn của cậu.”
Leslie ngồi thẳng dậy. Một nụ cười nở ra trên khuôn mặt nó, và những đốm tàn nhang trên mũi nó bắt đầu nhảy múa. “Tớ cũng thế,” Nó nói. “Ý tớ là, tớ biết nó không phải một trò chơi mà là vấn đề sống chết, nhưng mà tớ chưa bao giờ vui như hai tuần vừa rồi.” Nó ném cho tôi một cái nhìn xin lỗi. “Xin lỗi, Gwenny, nhưng có một nhà du hành thời gian làm bạn thật quá đỉnh. Đỉnh hơn cả, tớ đoán là, làm một người du hành thời gian thực sự.”
Tôi không thể không bật cười. “Cậu nói đúng. Tớ sẽ vui hơn nếu chúng ta có thể đổi chỗ.”
Khi Raphael quay lại với giấy và chì màu, ngay lập tức, Leslie bắt đầu vẽ những chiếc hộp và mũi tên nhỏ. “Vấn đề về tên đồng lõa của bá tước trong Đội Cận vệ thực sự khiến tớ đau đầu.” Nó gặm đuôi bút chì một lúc. “Mặc dù đó chỉ là phỏng đoán, nhưng mà thôi, khỏi bận tâm. Về cơ bản thì đó có thể là bất cứ ai, đúng không nào? Ông bộ trưởng Bộ Y tế, lão bác sĩ kỳ quái, ông George tốt bụng, thầy Whitman, ông Falk… hay là tên ngố tóc đỏ đó, tên anh ta là cái gì nhỉ?”
“Marley,” Tôi nói. “Nhưng tớ không nghĩ anh ta phù hợp với ba cái trò đó.”
“Dù sao thì anh ta cũng là hậu duệ của Rakoczy. Và thường thì người làm chuyện xấu lại là người ta ít nghi ngờ nhất, cậu biết mà!”
“Phải đó,” Raphael đồng ý. “Người có vẻ vô hại thường là kẻ xấu. Cậu nên cẩn thận với mấy tên ngố hay nói lắp.”
“Tên đồng lõa này, hãy gọi hắn là ngài X, có thể là người đã giết ông ngoại Gwenny.” Leslie bận rộn viết ngoáy lên mẩu giấy. “Và có lẽ hắn sẽ là người giết Gwenny một khi bá tước có thuốc trường sinh.” Nó nhìn tôi đầy thân thương. “Ít nhất thì tớ có thể bớt lo đi một chút về vụ đó từ khi biết cậu bất tử.”
“Bất tử, chứ không phải không thể bị thương,” Gideon nói. Chúng tôi nhảy dựng lên và nhìn hắn ngạc nhiên. Hắn vào căn hộ mà không ai hay biết và giờ đang đứng trên ngưỡng cửa, hai tay khoanh lại trước ngực. Hắn vẫn mặc bộ quần áo từ thế kỷ 18, và như thường lệ, trái tim tôi hụt mất một nhịp khi thấy hắn.
“Charlotte thế nào?” Tôi hỏi, hy vọng câu hỏi có vẻ tự nhiên như mong muốn.
Gideon mệt mỏi nhún vai. “Tôi đoán cô ấy sẽ phải uống vài viên aspirin vào sáng mai.” Hắn tiến lại gần hơn. “Mọi người đang làm gì thế?”
“Xây dựng kế hoạch.” Lưỡi Leslie như dính chặt vào một bên má trong khi ngòi bút của nó ngoáy lên trên mặt giấy. “Và chúng ta không được quên về phép thuật của loài quạ,” Nó thêm vào, giống như tự nhủ hơn là nói với người khác.
“Gid, anh nghĩ tên đồng lõa trong Đội Cận vệ có thể là ai?” Raphael đang cắn móng tay. “Em nghi ngờ bác Falk. Em luôn nghĩ bác ấy rất kỳ, ngay từ hồi em còn nhỏ.”
“Vớ vẩn.” Gideon tới gần và đặt một nụ hôn lên tóc tôi trước khi ngồi xuống chiếc ghế bành bọc da cũ kỹ ở đối diện. Hắn chống khuỷu tay lên đầu gối và kéo một lọn tóc đen ra khỏi mặt. “Anh không thể gạt những gì Leslie vừa nói ra khỏi đầu. Về việc bá tước mất đi sự bất tử ngay từ giây phút Gwendolyn sinh ra.”
Leslie ngẩng lên khỏi đống biểu đồ và gật đầu. “Nhưng hãy cảnh giác: khi ngôi sao thứ mười hai hiển hiện. Cuộc đời hắn trên mặt đất sẽ trở về đúng lẽ tự nhiên,” Nó trích dẫn, và tôi thấy hơi khó chịu, lại một lần nữa, khi thấy những câu thơ ngớ ngẩn đó khiến một cơn rùng mình chạy dọc sống lưng mình. “Và nếu người trẻ tuổi bị hủy hoại, cây sồi sẽ đứng vững. Tới tận cùng của thời gian, bắt rễ sâu vào lòng đất.”
“Cậu thuộc lòng cả cái đống đó sao?” Raphael hỏi.
“Không phải tất cả. Nhưng rất nhiều câu thơ như thế như kiểu dính vào đầu tớ vậy,” Leslie nói, hơi xấu hổ. Rồi nó quay sang Gideon. “Em thấy thế này. Nếu bá tước nuốt thứ bột đó trong quá khứ, ông ta sẽ trở nên bất tử. Nhưng chỉ tới khi ngôi sao thứ mười hai mọc lên, tức là… ờ… tới khi Gwendolyn sinh ra. Và thế là tạm biệt nhé bất tử; ông ta sẽ già đi như tất cả mọi người. Trừ phi ông ta giết Gwendolyn để dừng quá trình đó lại. Nhưng trước đó, Gwendolyn phải giúp ông ta có được thuốc trường sinh. Và nếu ông ta không lấy được thuốc trường sinh, ông ta sẽ không được bất tử nữa. Em nói có lý chứ?”
“Hơi hơi,” Tôi nói, nghĩ đến Paul và hệ thống tàu điện ngầm trong não.
Gideon chậm rãi lắc đầu. “Nhưng giả sử chúng ta đã mắc lỗi lý luận ngay từ đầu?” Hắn trầm ngâm hỏi. “Giả sử bá tước đã có được thứ bột này từ lâu rồi?”
Tôi suýt thì nói, “Cái gì cơ?” lần nữa, nhưng tôi đã kịp ngăn mình lại.
“Điều đó không thể được, bởi vì Vòng tròn Huyết hội trên một máy đồng hồ chưa được khép lại, và em hy vọng rằng thuốc trường sinh từ chiếc máy còn lại được giấu ở đâu đó an toàn.”
“Phải,” Gideon nói, vẫn chậm rãi. “Phải, ngay lúc này thì đúng thế. Nhưng nó không nhất thiết phải là như vậy.” Hắn thở dài khi thấy vẻ ngây ngốc trên mặt chúng tôi. “Nghĩ thử xem: có khả năng rằng vào một lúc nào đó ở thế kỷ 18, bá tước, bằng cách này hay cách khác, đã có được thuốc trường sinh, và nó khiến ông ta bất tử.”
Cả ba người chúng tôi nhìn hắn chằm chằm. Tôi nổi hết cả da gà mà không hiểu tại sao.
“Tức là có thể ông ta vẫn còn sống, ngay lúc này,” Gideon nói tiếp, nhìn thẳng vào mắt tôi. “Ông ta có thể ở đâu đấy quanh đây, chờ đợi chúng ta mang thuốc trường sinh về cho mình ở thế kỷ 18. Và chờ đợi thời điểm để giết em, Gwendolyn.”
Trong vài giây, sự tĩnh lặng bao trùm tất cả. Rồi Leslie nói, “Không phải là em hoàn toàn hiểu anh, nhưng thậm chí nếu vì một lý do nào đó hai người đổi ý và mang thuốc trường sinh cho bá tước… chẳng phải ông ta vẫn còn một vấn đề nhỏ xíu sao?” Nó bật cười sung sướng. “Ông ta không thể giết Gwenny.”
Raphael làm chiếc bút chì của mình xoay trên bàn như một con quay. “Và tiện thể thì, tại sao anh lại đổi ý khi mà giờ anh đã biết được ý định thực sự của bá tước?”
Gideon không trả lời ngay, và mặt hắn gần như trống rỗng khi cuối cùng hắn cũng lên tiếng, “Bởi vì tụi anh có thể bị tống tiền.”
•§•
Tôi thưc dậy, cảm thấy thứ gì đó ẩm ướt, lành lạnh trên mặt, và Xemerius nói, “Đồng hồ báo thức của cậu sẽ reo trong mười phút nữa!”
Rên rỉ, tôi kéo chăn trùm lên đầu.
“Chẳng thể nào khiến cậu hài lòng được! Hôm qua cậu phàn nàn vì tớ không đánh thức cậu dậy.” Có vẻ tôi đã khiến Xemerius hơi tổn thương.
“Hôm qua tớ đâu có đặt báo thức. Và vẫn còn sớm kinh khủng ấy,” Tôi lẩm bẩm.
“Cậu phải hy sinh một chút nếu muốn cứu thế giới khỏi một lão già bất tử siêu cấp điên khùng chứ,” Xemerius nói. Tôi có thể nghe nó ngâm nga trong khi bay quanh phòng. “Lão khùng cậu phải gặp vào chiều nay ấy, trong trường hợp cậu đã quên. Thôi nào, tỉnh dậy và cười tươi lên.”
Tôi giả chết. Cũng không khó lắm, bởi vì dù bất tử hay không, tôi thấy như chết rồi. Tuy nhiên, Xemerius có vẻ không ấn tượng với cố gắng của tôi lắm. Nó vui vẻ lượn lờ lên xuống trước giường tôi, rên rỉ những câu nói của mấy bà cụ về chim dậy sớm mới bắt được sâu.
“Đám chim dậy sớm có thể bắt bao nhiêu sâu cũng được,” Tôi nói, nhưng cuối cùng, Xemerius là đứa được thỏa nguyện. Bức bối, tôi lăn ra khỏi giường, và kết quả là, đúng bảy giờ sáng, tôi đã có mặt ở ga tàu điện ngầm Temple.
Ờ, nói đúng ra thì đó là bảy giờ mười sáu, nhưng mà đồng hồ trên điện thoại của tôi hơi nhanh.
“Trông cậu mệt mỏi y như tớ,” Leslie, đứng đợi tôi sẵn ở sân ga, phàn nàn. Vào một sáng Chủ nhật, trên sân ga chẳng có mấy chuyện xảy ra, nhưng tôi băn khoăn làm sao Gideon có thể vào một trong mấy đường hầm ở đây mà không bị để ý. Sân ga được bật đèn sáng trưng và đầy rẫy máy quay an ninh.
Tôi đặt chiếc túi du lịch đựng đủ thứ xuống đất, ném cho Xemerius, kẻ đang lượn qua lượn lại giữa mấy chiếc cột trong một cuộc đua trượt tuyết vượt chướng ngại vật, một cái nhìn chua chát. “Là lỗi của Xemerius. Nó không cho tớ dùng phấn phủ của mẹ vì quá muộn rồi. Và nó cũng không cho tớ dừng lại ở Starbucks trên đường tới đây nữa.”
Leslie nghiêng đầu sang bên với một cái nhìn thú vị. “Cậu ngủ ở nhà?”
“Ừ, tất nhiên rồi, còn ngủ đâu được nữa?” Tôi hỏi, hơi mất kiên nhẫn.
“Ừm, tớ nghĩ hai người sẽ dừng kế hoạch một chút sau khi tớ và Raphael rời đi chứ.” Nó xoa mũi. “Nhất là khi tớ dành hàng thập kỷ chúc ngủ ngon Raphael, cố ý để thời gian cho các cậu di chuyển từ sofa ra phòng ngủ.”
“Cố ý?” Tôi chậm rãi hỏi. “Chà, cậu thật là biết hy sinh!”
Leslie nhe răng cười. “Đúng thế, phải không nào?” Nó còn không đỏ mặt. “Nhưng đừng có mà đổi chủ đề. Đáng ra cậu có thể bảo mẹ là cậu ngủ lại nhà tớ.”
Tôi cười mệt mỏi. “Nói thật, tớ cũng định làm thế. Nhưng Gideon nhất quyết gọi taxi cho tớ.” Tôi nói tiếp, hơi không vui, “Rõ ràng là trông tớ không quyến rũ như mình nghĩ.”
“Chẳng qua là anh ta có tinh thần… trách nhiệm,” Leslie an ủi tôi.
“Cậu có thể gọi thế,” Xemerius, cái kẻ đã hoàn thành cuộc đua vượt chướng ngại vật, nói. Nó đáp xuống sàn bên cạnh tôi, thở phì phò. “Hoặc cậu có thể gọi hắn là tên nhạt nhẽo, chậm chạp, sợ sệt,” Nó dừng lại lấy hơi. “rụt vòi, non gan, như con gà…”
Leslie nhìn đồng hồ. Nó phải hét lên để át tiếng thông báo đoàn tàu Central Line đang tới. “Và có vẻ hắn cũng không đúng giờ lắm. Đã hơn hai mươi phút rồi.” Nó nhìn về phía mấy hành khách đang xuống tàu. Rồi đột nhiên, mắt nó sáng lên. “Ồ, họ kia rồi.”
“Sáng hôm ấy, hai chàng hoàng tử cổ tích vô cùng được mong đợi đã để những chú ngựa trắng ở nhà và đi bằng tàu điện ngầm,” Xemerius tuyên bố đầy châm biếm. “Nhìn thấy họ, mắt của hai nàng công chúa sáng lên, và hai đống hormone trẻ tuổi đâm sầm vào nhau, thể hiện bản thân mình thông qua những nụ hôn ngượng nghịu và điệu cười ngớ ngẩn, và không may là con quỷ thông minh và điển trai không ai sánh bằng đã phải ọe vào thùng rác.”
Nó đang phóng đại quá đà, chẳng ai trong chúng tôi cười ngớ ngẩn cả. Nhiều nhất là chúng tôi cũng đang cười sung sướng. Và không có ai ngượng nghịu cả, có lẽ trừ tôi ra, bởi tôi nhớ lại cái cách Gideon gỡ tay tôi khỏi cổ hắn tối hôm qua và nói, “Tôi nên gọi taxi cho em. Chúng ta vẫn còn một ngày mai đầy căng thẳng.” Tôi thấy hơi giống một cái nhụy hoa phải nhặt ra khỏi vải áo. Và tệ nhất là đúng lúc đó tôi đã chuẩn bị tinh thần để nói “Em yêu anh.” Cũng chẳng phải là hắn chưa biết điều đó cả ti tỉ năm rồi, nhưng mà… hừm, tôi vẫn chưa nói hẳn ra. Và giờ tôi không còn chắc liệu hắn có muốn nghe.
Gideon khẽ vuốt má tôi. “Gwenny, tôi có thể tự mình làm điều này, em biết đấy. Tôi chỉ cần cản đường người cận vệ đang làm nhiệm vụ trong khi anh ta đang trên đường tới trụ sở và lấy lại lá thư.”
“Câu chỉ cần nghe được đấy,” Leslie nói. Mặc dù chúng tôi còn lâu mới tự nghĩ ra được ý tưởng tuyệt vời gì, nhưng cả bốn đứa đã xây dựng cái mà Leslie gọi là “sơ thảo kế hoạch hành động”. Trong bất cứ trường hợp nào, chúng tôi phải gặp lại Lucy và Paul, và chúng tôi phải làm thế trước khi đến trình diện bá tước vào buổi chiều. Chúng tôi cũng phải làm gì đó về lá thư báo nơi trốn của Lucy và Paul mà Gideon đã đem về năm 1912 tuần trước. Bằng mọi giá, nó không được rơi vào tay Hội trưởng và đôi song sinh mang họ Villiers. Và bởi thời gian chúng tôi có thể dành để phân nhánh hồi khứ bằng máy đồng hồ riêng, theo như tính toán của hai đứa, chỉ được một tiếng rưỡi là nhiều nhất, nếu chúng tôi không muốn tự gây thương tích (ví dụ như bắt chước Xemerius và nôn ọe), làm thế nào để tận dụng từng phút một cũng là một vấn đề.
Ban đầu, Raphael đã nghiêm túc gợi ý rằng chúng tôi có thể lén mang máy đồng hồ vào trụ sở Đội Cận vệ và phân nhánh thẳng từ đó, nhưng thậm chí anh trai hắn cũng không đủ gan làm trò ấy.
Bù lại, Gideon đã lôi vài cuộn giấy ra khỏi giá sách, và từ giữa cuốn Giải phẫu 3D cơ thể con người và Cấu trúc bàn tay con người, hắn lấy ra một tấm bản đồ những đường hầm bí mật chạy qua quận Temple. Tấm bản đồ đó là lý do tại sao hiện giờ chúng tôi lại hẹn gặp nhau ở ga tàu điện ngầm.
“Anh muốn tiến hành mà không có tụi em?” Leslie cau mày. “Nhưng chúng ta đã đồng ý rằng trong tương lai sẽ làm mọi thứ cùng nhau.”
“Chính xác,” Raphael nói. “Không thì anh sẽ nói là mình đã tự thân đi cứu cả thế giới.” Hắn và Leslie phải đứng gác máy đồng hồ, và mặc dù Xemerius, hơi bị xúc phạm một chút, đã nói rằng nó cũng có thể làm vậy, tôi thấy khá an lòng khi biết rằng họ có thể nhặt chiếc máy lên và đem nó đi nếu chúng tôi bị buộc phải trở về ở địa điểm khác.
“Kiểu gì thì kiểu, chắc chắn anh sẽ gặp rắc rối to nếu không có tụi em!” Leslie gắt Gideon.
Gideon giơ tay đầu hàng. “Được rồi, được rồi, tôi hiểu rồi.” Hắn cầm túi của tôi lên và nhìn đồng hồ. “Phải rồi, chú ý này. Chuyến tàu tới đến vào lúc bảy giờ ba mươi. Sau đó, chúng ta có đúng bốn phút để tới lối vào đầu tiên trước khi một chuyến tàu nữa đi qua. Đừng bật đèn pha lên tới khi tôi nói vậy.”
“Cậu nói đúng,” Leslie thì thầm với tôi. “Hắn ta nghiện việc ra lệnh cho mọi người.”
•§•
“Merde!” Câu chửi của Raphael như xuất phát tự đáy lòng. “Suýt thì toi.”
Tôi chỉ có thể đồng ý. Luồng sáng từ những chiếc đèn pin rọi lên những bức tường lát gạch và soi sáng bộ mặt nhợt nhạt của chúng tôi. Những toa tàu đang lướt qua đường hầm đằng sau lưng.
Bốn phút, giờ chúng tôi đã biết, là một khoảng thời gian rất nhỏ để trèo qua rào chắn cuối sân ga, nhảy xuống, chạy dọc đường hầm, tránh xa đường ray dẫn điện. Cũng không thể bỏ qua thời gian chúng tôi bắt kịp Gideon năm mươi thước cuối và đứng thở hồng hộc và tuyệt vọng trước cánh cửa sắt dẫn vào bức tường bên phải đường hầm, trong khi hắn lôi một chiếc chìa khóa kiểu cổ ra và bắt đầu phá khóa. Đó là lúc Leslie, Xemerius và tôi bắt đầu đồng thanh hét, “Nhanh lên, nhanh lên, nhanh lên!” theo tiếng đoàn tàu đang tới gần.
“Trên bản đồ trông nó gần hơn,” Gideon nói, nhìn chúng tôi đầy xin lỗi.
Leslie là người đầu tiên bình tĩnh lại. Nó chiếu luồng sáng của đèn pin vào bóng tối phía trước, rọi sáng một mảng tường nơi lối đi đột ngột bị bít kín, cách chỗ chúng tôi khoảng bốn thước.
“Được rồi, chỗ này đúng rồi đấy.” Nó kiểm tra bản đồ. “Bức tường đó chưa được xây hồi năm 1912. Lối đi này vẫn còn kéo dài nữa.”
Trong khi Gideon quỳ xuống, mở máy đồng hồ và lên cài đặt, tôi lấy mớ quần áo năm 1912 ra khỏi túi và chuẩn bị cởi quần bò.
“Ý tưởng gì vậy?” Gideon nhìn tôi, rõ ràng là đang phân tâm. “Em định mặc váy dài mà chạy sao?”
“Em chỉ nghĩ… ý em là, tính nguyên bản…”
“Tính nguyên bản cái con khỉ,” Gideon nói.
Xemerius vỗ tay. “Quá chuẩn, tính nguyên bản cái con khỉ!” Nó hào hứng nói. Rồi nó quay sang tôi. “Chơi với người xấu sẽ ảnh hưởng tới cậu đấy. Và cũng đến lúc rồi.”
“Em trước, Gwenny.” Gideon gật đầu với tôi.
Tôi quỳ xuống bên máy đồng hồ. Biến mất trước ánh mắt thích thú của Leslie và Raphael thì hơi kỳ lạ, nhưng tới lúc này, tôi nhận ra rằng việc ấy đã trở thành thói quen. (Bất cứ lúc nào tôi cũng có thể nhảy về quá khứ kiếm một ổ bánh mì mới cho bữa sáng.)
Gideon hạ cánh bên cạnh tôi và chiếu đèn pin về phía trước. Tất nhiên rồi, không có bức tường nào cả vào năm 1912; luồng sáng chạy mãi về đằng xa tới khi nó chìm vào một lối đi dài và thấp.
“Sẵn sàng chưa?” Tôi hỏi, miệng nở một nụ cười.
“Sẵn sàng, nếu em cũng vậy,” Hắn đáp và cười lại.
Tôi không biết liệu mình đã sẵn sàng thật chưa. Đường hầm tàu điện đã đủ dọa người rồi, và nếu tôi luẩn quẩn ở chỗ này lâu hơn, tôi có thể sẽ cần gặp bác sĩ tâm lý vì chứng sợ không gian hẹp.
Càng đi xa, trần hầm càng thấp, và nó càng phân ra nhiều nhánh hơn. Đây đó có những lượt cầu thang dẫn xuống dưới, và khi tới một đoạn đường nơi trần hầm đã sụp xuống, chúng tôi phải quay lại. Không có chút âm thanh nào ngoài tiếng thở của chúng tôi và tiếng cộp-cộp nhè nhẹ của gót giày, và đôi khi là tiếng loạt soạt khi Gideon dừng lại tham khảo bản đồ. Tôi tưởng mình còn nghe thấy tiếng sột soạt từ đâu đó. Có khi còn có hàng đoàn chuột sống dưới mê cung này, và vẫn đang tưởng tượng, tôi nghĩ nếu mình là một con nhện khổng lồ, đây là nơi lý tưởng để sống và đi săn.
“Được rồi, phải có một lối rẽ phải ở đây,” Gideon lẩm bẩm, cố gắng tập trung.
Chúng tôi rẽ vào lối rẽ thứ bốn mươi hay gì đó.
Những đường hầm giống nhau như những hạt đậu. Không có gì giúp bạn định hướng. Và ai mà biết được liệu cái bản đồ kia có chính xác không? Giả sử nó được vẽ bởi một tên ngố như Marley thì sao? Trong trường hợp đó, Gideon và tôi có thể sẽ được đào lên vào năm 2250, khi đã trở thành hai bộ xương nắm tay nhau. Ồ, không tôi quên mất, chỉ có Gideon hóa thành bộ xương, còn tôi, sống nhăn và khỏe mạnh, sẽ bấu lấy bộ xương của hắn, và viễn cảnh này cũng chẳng tươi đẹp lắm.
Gideon dừng lại, gập bản đồ vào và nhét nó vào túi quần bò.
“Chúng ta lạc rồi sao?” Tôi hỏi, cố giữ bình tĩnh. “Có lẽ cái bản đồ đó là vô dụng. Giả sử chúng ta không bao giờ…”
“Gwendolyn,” Hắn sốt ruột ngắt lời tôi. “Từ đây tôi biết đường rồi. Không còn xa nữa đâu. Đi nào.”
“Ồ. Em hiểu.” Tôi thấy xấu hổ. Tôi đang hơi, ờ, nhõng nhẽo vào buổi sáng hôm nay. Hai đứa nhanh chóng đi tiếp. Tôi chịu không hiểu sao Gideon nghĩ hắn biết đường đi lối lại trong cái mê cung này.
“Bố khỉ!” Tôi giẫm phải một vũng nước. Và ngồi ngay cạnh vũng nước đó là một con chuột nâu sẫm, đôi mắt đỏ của nó chóp chớp trong ánh đèn pin. Tôi rú lên. Có lẽ tiếng rú của tôi có nghĩa là “Mày thật đáng yêu!” trong tiếng chuột, bởi con chuột ngồi thẳng lên hai chân sau và nghiêng đầu sang bên.
“Mày chẳng đáng yêu chút nào đâu!” Tôi rít. “Đi đi!”
“Em đâu rồi?” Gideon đã biến mất sau khúc quanh tiếp theo.
Tôi nuốt nước bọt và gom hết can đảm chạy ngang qua con chuột. Chuột cũng giống như chó, phải không? Một con chó sẽ chạy theo và cạp cho bắp chân của tôi một miếng. Để an toàn, tôi tiếp tục chiếu đèn pin vào mắt con chuột để làm nó choáng, cho tới khi tôi đến gần chỗ rẽ nơi Gideon đang đợi. Bóng một ai đó tiến vào cuối đường hầm.
“Ôi, chết tiệt!” Nhanh như chớp, Gideon tóm lấy tôi và kéo tôi vào trong bóng tối. Nhưng đã quá muộn. Thậm chí nếu tôi không rú lên, luồng sáng đèn pin cũng đã để lộ vị trí của tôi.
“Em nghĩ anh ta thấy em rồi,” Tôi thì thầm.
“Còn phải nói!” Gideon cau mày nói. “Hắn ta là tôi! Tôi mới ngu làm sao chứ! Này, em đi trước đi. Hãy tử tế với tôi nhé!” Và với những lời đó, hắn đẩy nhẹ tôi một cái, và tôi loạng choạng trở lại lối đi.
“Cái quái gì…?” Tôi thì thầm khi thấy mình đứng trong luồng sáng của một chiếc đèn khác.
“Gwendolyn?” Tôi nghe giọng nói nghi ngờ của Gideon. Nhưng lần này, âm thanh phát ra từ phía trước tôi. Phải mất nửa giây tôi mới kịp hiểu. Và rồi tôi nhận ra rằng chúng tôi đã bắt gặp Gideon hồi trước, sau khi hắn đi giao lá thư cho Trưởng hội vào năm 1912. Tôi chiếu đèn pin vào hắn. Ôi, Chúa ơi, đúng rồi, đúng là Gideon, không sai vào đâu được! Và hắn dừng lại cách tôi vài bước và nhìn tôi, sững sờ. Trong tầm hai giây, chúng tôi tiếp tục làm nhau chói mắt bằng mấy chiếc đèn pin, và rồi hắn nói, “Làm sao em đến được đây?”
Tôi không thể không cười hắn. “Ừm, cũng hơi khó để giải thích đấy,” Tôi nói, mặc dù tôi muốn bảo “Này, anh chả thay đổi chút nào!” hơn. Đằng sau phần lồi ra của bức tường chúng tôi vừa nấp, Gideon kia đang khoa tay múa chân.
“Giải thích đi nào!” Phiên bản trẻ hơn của hắn đề nghị, tiến lại gần hơn.
Một lần nữa, Gideon kia lại điên cuồng khoa tay. Tôi không hiểu hắn định ra hiệu cái gì.
“Đợi một chút.” Tôi cười thân thiện với Gideon trẻ. “Có việc này tôi phải làm rõ một chút. Tôi sẽ trở lại ngay.”
Nhưng rõ ràng là cả hai Gideon đều chẳng muốn giải thích gì. Khi người trẻ hơn đi theo tôi, cố túm cánh tay tôi, người già hơn không đợi hắn nhìn quá được khúc quanh mà nhảy tới và đập cho bản kia của mình một cú giữa trán bằng cả cái đèn pin. Gideon trẻ ngã xuống nền đất như một túi khoai tây.
“Anh làm anh ta bị thương rồi!” Tôi quỳ xuống và nhìn vết thương đang rỉ máu, sợ hãi.
“Hắn ta sẽ sống thôi,” Gideon kia nói, không chút xúc động. “Đi nào, không còn thời gian để lãng phí đâu! Lá thư đã được chuyển đi rồi. Hắn,” Hắn tự sút mình một cái, “đang trên đường trở về khi gặp em.”
Tôi không thèm chú ý đến hắn, mà vuốt mái tóc của anh chàng đang nằm bất tỉnh dưới đất. “Anh tự đập vào đầu mình! Anh có nhớ sau lúc đó anh đối xử tệ hại với em thế nào không?”
Gideon khẽ cười. “Có. Và tôi thực sự xin lỗi. Nhưng ai mà lường trước được một chuyện như thế chứ? Đi nào! Trước khi tên đần kia thức dậy. Hắn đưa bức thư từ đời nào rồi.” Rồi hắn nói thứ gì đó bằng tiếng Pháp. Tôi ngờ rằng nó bao gồm vài lời chửi vô cùng thật tâm bởi vì, như với Raphael lúc trước, từ merde xuất hiện vài lần.
“Này, này, này, chàng trai trẻ,” Một giọng nói vang lên gần chúng tôi. “Chúng ta có thể đang đứng gần hệ thống cống ngầm, nhưng đó không phải lý do để sử dụng thứ ngôn ngữ cống rãnh tự do như thế.”
Gideon quay phắt lại, nhưng hắn trông không có vẻ gì là định đánh gục người mới đến cùng phiên bản trẻ hơn của hắn. Có lẽ là bởi giọng nói nghe có vẻ tốt bụng và hơi thích thú. Tôi nâng đèn pin lên và chiếu lên mặt người lạ kia, và rồi lia đèn từ trên xuống dưới, đề phòng ông ta đang nhắm súng vào hai đứa. Ông ta không làm vậy.
“Tôi là bác sĩ Harrison.” Ông ta tự giới thiệu và khẽ nghiêng mình chào, trong khi đôi mắt đầy tò mò đảo qua đảo lại giữa Gideon và Gideon đang nằm trên mặt đất. “Và tôi vừa lấy lại lá thư của cậu từ môn sinh gác ca Cerberus.” Ông ta lôi một phong thư có dấu đỏ to tướng ra khỏi túi áo khoác. “Quý bà Tilney đảm bảo với tôi rằng trong bất cứ trường hợp nào nó cũng không được rơi vào tay Trưởng hội hay bất cứ thành viên nào của Bộ Nội vụ. Tất nhiên là, trừ tôi ra.”
Gideon thở dài và lấy mu bàn tay dụi trán. “Chúng tôi đang trên đường ngăn chặn chính việc này, nhưng đi qua mê cung này mất quá nhiều thời gian… Và rồi, ngu quá, tôi lại bắt gặp chính mình.” Hắn lấy bức thư và nhét vào túi. “Cảm ơn.”
“Một người nhà Villiers nhận lỗi sao?” Bác sĩ Harrison bật cười khe khẽ. “Hừm, cái này mới đấy. Nhưng không may là quý bà Tilney đã nắm quyền kiểm soát, và tôi chưa bao giờ thấy bất cứ kế hoạch nào của bà ấy thất bại. Hơn nữa, cãi cọ với bà ấy là hoàn toàn vô ích.” Ông ta chỉ vào Gideon đang nằm trên sàn. “Cậu ta cần giúp đỡ không?”
“Khử trùng vết thương và cho anh ta gối lên cái gì đó mềm mềm cũng không hại gì đâu nhỉ,” Tôi nói, nhưng Gideon ngắt lời tôi. “Vớ vẩn, hắn sẽ ổn thôi!” Không thèm bận tâm đến lời phản đối của tôi, hắn kéo tôi đứng dậy. “Chúng ta phải trở về rồi. Làm ơn gửi lời cảm ơn của chúng tôi tới quý bà Tilney, bác sĩ Harrison. Và nói với bà ấy rằng tôi rất biết ơn.”
“Rất hân hạnh,” Bác sĩ Harrison nói. Ông ta sắp sửa quay lưng đi, nhưng rồi tôi chợt nhớ ra.
“Ồ, bác sĩ Harrison,” Tôi nói, “ông có thể làm ơn nói với quý bà Tilney rằng bà ấy không cần sợ hãi nếu trong tương lai tôi có tới gặp bà ấy trong lúc đang phân nhánh được không?”
Bác sĩ Harrison gật đầu. “Chắc chắn rồi.” Ông ta vẫy tay, nói, “Chúc may mắn!” và vội vã bước đi.
Tôi đang nói với theo, “Tạm biệt!” thì Gideon lại kéo tôi đi về hướng ngược lại. Hắn bỏ mặc Gideon kia nằm bất tỉnh một mình trong đường hầm.
“Em chắc rằng nơi này nhung nhúc chuột,” Tôi nói đầy thương hại. “Và chúng rất thích máu.”
“Em đang nhầm chúng với cá mập rồi,” Gideon nói. Nhưng rồi hắn đột nhiên đứng lại, quay lại nhìn tôi và ôm tôi vào lòng. “Tôi xin lỗi!” Hắn lẩm bẩm vào tóc tôi. “Tôi thật là một thằng ngốc! Nếu có một con chuột đến cắn tôi vài nhát thì cũng đáng đời.”
Ngay lập tức, tôi quên sạch tất cả mọi thứ xung quanh (thực ra thì, tất cả mọi thứ nói chung luôn), quàng tay qua cổ hắn và bắt đầu hôn hắn, ban đầu chỉ là những nơi tôi có thể với tới, cổ hắn, tai hắn, trên thái dương, và cuối cùng là miệng hắn. Hắn kéo tôi lại gần, chỉ để đẩy tôi ra ba giây sau.
“Chúng ta không có thời gian cho việc này, Gwenny!” Hắn đột ngột nói, và hắn cầm tay tôi, kéo đi.
Tôi thở dài. Vài lần. Vô cùng dài. Nhưng Gideon không nói gì cả. Hai đường hầm sau, khi hắn dừng lại và lấy bản đồ ra, tôi không thể chịu được nữa và hỏi, “Có phải vì em không biết hôn cho tử tế không?”
“Cái gì cơ?” Gideon nhìn tôi qua mép bản đồ, bối rối ra mặt.
“Em hôn như thảm họa ấy, phải không?” Tôi cố gắng nén lại chút điên khùng trong giọng nói cũng chẳng thành công lắm. “Anh thấy đấy, trước vụ này em chưa bao giờ… ý em là để hôn cho tử tế cũng cần thời gian và kinh nghiệm. Phim không kể cho anh hết mọi thứ đâu, anh thấy đấy! Và khi anh đẩy em ra cũng hơi đau lòng.”
Gideon hạ tấm bản đồ xuống, và luồng sáng từ chiếc đèn pin của hắn rọi xuống sàn. “Gwenny, nghe này…”
“Phải, em biết là chúng ta đang vội,” Tôi ngắt lời hắn. “Nhưng đơn giản là em phải nói ra. Bất cứ việc gì cũng đỡ hơn là bị đẩy ra hay… hay là gọi taxi. Em có thể nghe chỉ trích. Hay ít nhất là, em có thể nếu anh nói một cách nhẹ nhàng.”
“Đôi lúc em thật là…” Gideon lắc đầu. Rồi hắn hít một hơi sâu và nghiêm túc nói, “Khi em hôn tôi, Gwendolyn, tôi thấy như mình không còn chạm chân trên mặt đất nữa. Tôi không biết em làm thế nào hay học ở đâu. Nếu đó là từ một bộ phim, hừm, chúng ta sẽ phải đi xem nó cùng nhau.” Hắn ngừng lại một chút. “Điều tôi muốn nói là, khi em hôn tôi, tất cả những gì tôi muốn làm là chạm vào em và giữ em trong vòng tay mình. Khỉ thật, tôi yêu em nhiều đến mức như thể có ai đó đã dốc cả can xăng đâu đó trong người tôi và châm lửa! Nhưng lúc này, chúng ta không thể… chúng ta phải tỉnh táo. Hay là một trong hai chúng ta, đằng nào cũng vậy.” Ánh mắt của hắn xóa tan mọi nghi ngờ của tôi. “Gwenny, tất cả những chuyện này khiến tôi sợ hãi. Không có em, cuộc đời tôi sẽ không còn ý nghĩa gì nữa… Tôi sẽ chết nếu có chuyện gì xảy đến với em.”
Tôi cố cười với hắn, nhưng đột nhiên, họng tôi nghẹn lại, “Gideon…” Tôi bắt đầu, nhưng hắn không cho tôi nói hết.
“Tôi không muốn… Ừm, với em thì không thể như vậy, Gwenny. Bởi bá tước có thể dùng những tình cảm này để chống lại chúng ta. Và ông ta sẽ làm thế!”
“Quá muộn để nói rồi,” Tôi thì thào. “Em yêu anh. Và em không muốn sống mà không có anh.”
Gideon trông như thể sắp sửa bật khóc. Hắn nắm tay tôi và suýt thì bóp nát nó. “Vậy thì chúng ta chỉ có thể hy vọng rằng bá tước không bao giờ, không bao giờ, không bao giờ phát hiện ra.”
“Và hy vọng là chúng ta vẫn có thể nghĩ ra cái kế hoạch tuyệt vời kia,” Tôi nói. “Nên là không cần lảng vảng ở đây nữa. Chúng ta đang rất vội.”
•§•
“Mười lăm phút, không hơn không kém!” Gideon nói. Hắn đang quỳ trước máy đồng hồ trên tấm thảm picnic chúng tôi đã trải ra trên thảm cỏ trong Hyde Park, cách đó không xa là phòng tranh Serpentine và hồ nước, cây cầu. Mặc dù hôm nay trông có vẻ như một ngày xuân đẹp giống hôm qua, trời vẫn rét run, và cỏ thấm đẫm sương. Những người chạy bộ và dắt chó đi ngang qua, một vài người nhìn chúng tôi với ánh mắt tò mò.
“Nhưng mười lăm phút là không đủ!” Tôi nói khi mắc chiếc khung váy lên người. Nó sẽ giữ chiếc váy phồng lên quanh tôi như buồm căng gió và không bị lê trên mặt đất, và đó cũng là lý do sáng nay tôi mang chiếc túi du lịch quá khổ đi thay vì cặp sách. Giả sử anh ấy đến muộn thì sao? Hoặc là không thèm đến. Đó là điều mà tôi sợ nhất. “Em chắc chắn rằng đồng hồ không được lên dây cót tử tế vào thế kỷ 18…”
“Vậy thì đấy là anh ta xui xẻo,” Gideon gầm gừ. “Đằng nào thì đây cũng là một ý tưởng điên rồ. Và vào ngày nào không vào lại vào ngày hôm nay!”
“Lần này thì hắn nói đúng đó,” Xemerius nói, giọng có vẻ mệt mỏi. Nó nhảy vào chiếc túi du lịch, gác đầu lên móng và ngoác mồm ngáp. “Đánh thức tớ khi cậu trở về nhé. Chắc chắn là sáng nay tớ dậy sớm quá rồi.” Không lâu sau, tôi nghe thấy tiếng ngáy từ trong túi.
Leslie cẩn thận tròng váy qua đầu tôi. Đó là chiếc váy hoa xanh dương tôi mặc trong lần đầu tiên gặp bá tước, và nó vẫn treo trong tủ tôi bấy lâu nay. “Về sau vẫn còn nhiều thời gian để gặp James mà,” Nó nói. “Với anh ấy, thời gian và ngày tháng vẫn luôn như thế, bất kể cậu trở về đó vào lúc nào.” Nó bắt đầu móc mấy chiếc móc sau lưng tôi.
“Y hệt như vậy với việc ngăn lá thư không bị chuyển đi,” Tôi phản bác. “Việc đó cũng không phải làm vào hôm nay. Ví dụ, Gideon có thể tự đập vào đầu mình vào thứ Ba, hoặc là vào tháng Tám năm sau, mọi thứ vẫn sẽ y nguyên như vậy. Thêm vào đó, cuối cùng, quý bà Tilney cũng đã kiểm soát được tình hình.”
“Tớ luôn thấy chóng mặt khi mọi người lôi mấy chuyện này ra,” Raphael phàn nàn.
“Đơn giản là tôi muốn xong hẳn việc này trước khi chúng ta gặp Lucy và Paul,” Gideon nói. “Chắc hẳn điều này không hề khó hiểu.”
“Và em cũng muốn tiêm phòng cho James cho xong đi,” Tôi lên giọng, “bởi vì nếu có chuyện gì xảy ra với chúng ta, ít nhất anh ấy cũng đã được cứu!”
“Hai người thực sự sẽ biến mất và xuất hiện trở lại trước tất cả những người này sao?” Raphael hỏi. “Không ai nghĩ rằng mình sẽ lên báo và mọi người sẽ muốn phỏng vấn mình trên ti vi sao?”
Leslie lắc đầu. “Vớ vẩn,” Nó kiên quyết nói. “Chúng ta cách đường rất xa, và họ sẽ không đi lâu. Chỉ có lũ chó mới để ý.” Tiếng ngáy của Xemerius đổi cao độ.
“Nhưng nhớ là phải trở về từ đúng chỗ mà cậu đã hạ cánh,” Leslie nói tiếp. “Hay là thế này, cậu hãy đánh dấu chỗ đó với chiếc giày này.” Nó đưa cho tôi một trong hai chiếc giày mà Raphael đang đi, và cười toe. “Vui thật đấy! Tớ muốn từ giờ, ngày nào chúng ta cũng làm những trò này, đi mà!”
“Tớ thì không,” Raphael nói, liếc nhìn tất mình một lúc, ngó ngoáy mấy ngón chân một cách buồn bã, và rồi lại nhìn chằm chằm con đường đi. “Dây thần kinh tớ căng đến mức sắp đứt luôn rồi đây. Vừa rồi ở trong ga tàu, tớ chắc chắn rằng chúng ta đã bị bám đuôi. Nếu Đội Cận vệ cho ai đó theo dõi chúng ta thì cũng hợp lý thôi. Và nếu ai đó đến đây cướp máy đồng hồ khỏi Leslie và tớ, tớ còn không thể đá hắn cho tử tế khi không có giày!”
“Hắn hơi hoang tưởng,” Leslie thì thầm với tôi.
“Tớ nghe thấy rồi nhá,” Raphael nói. “Và điều đó không đúng. Tớ chỉ đang cẩn trọng thôi.”
“Và tôi không thể hiểu tại sao mình lại làm cái trò này,” Gideon nói, đeo ba lô của Leslie lên. Hắn đã để bộ dụng cụ tiêm phòng vào đó. “Chúng ta đang cùng lúc phá vỡ tất cả những Luật lệ Vàng. Đi nào, Gwenny, em đi trước đi.”
Tôi quỳ xuống bên hắn và nở nụ cười. Hắn từ chối việc mặc bộ quần áo màu xanh, mặc dù tôi đã cố giải thích rằng hắn sẽ dọa James với bộ quần áo bình thường này. Hoặc tệ hơn, James sẽ không coi trọng chúng tôi.
“Cảm ơn vì đã làm điều này cho em,” Tôi nói, đặt ngón tay vào cái lỗ dưới viên hồng ngọc.
“Không có gì,” Gideon nói, và rồi mặt hắn nhòa đi trước mắt tôi. Khi có thể nhìn lại, tôi đang quỳ trên một đống lá ướt giữa một cụm cây hạt dẻ. Tôi nhanh chóng đứng dậy và đặt giày của Raphael xuống chỗ vừa hạ cánh.
Trời đang mưa tầm tã, và trong tầm mắt không hề có lấy một bóng người. Chỉ có một chú sóc phi thẳng lên cây và nhìn xuống chúng tôi đầy tò mò.
Gideon đáp xuống cạnh tôi và nhìn quanh. “Hừm,” hắn nói, gạt nước mưa ra khỏi mặt. “Thời tiết hoàn hảo để cưỡi ngựa và tiêm phòng đấy.”
“Chúng ta sẽ đợi sau bụi cây kia,” Tôi gợi ý. Lần này, tôi là người nắm tay Gideon và dẫn hắn đi.
Hắn lưỡng lự. “Chỉ mười phút thôi,” Hắn khăng khăng. “Nếu lúc đó anh ta chưa xuất hiện, chúng ta sẽ trở lại chỗ chiếc giày của Raphael.”
“Vâng, vâng,” Tôi nói.
Ở thời này thực sự đã có một cây cầu bắc qua hồ, mặc dù trông nó không giống cây cầu ở thời tôi lắm. Một cỗ xe lọc cọc đi qua con đường chạy quanh công viên. Và có một kỵ sĩ đang phi nước kiệu qua cầu. Trên lưng một chú ngựa xám.
“Anh ấy kia rồi!” Tôi kêu lên, và bắt đầu vẫy tay loạn xạ. “James! Em ở đây!”
“Em có lộ liễu hơn nữa được không?” Gideon hỏi.
James, mặc chiếc áo khoác với vài lớp choàng và một kiểu mũ ba góc gì đó đang rỏ nước tong tỏng, ghìm cương ngựa cách chúng tôi vài thước. Mắt anh ta đảo từ mái tóc ướt nước xuống gấu váy của tôi, và rồi chuyển sang săm soi Gideon.
“Ngươi là người buôn ngựa sao?” Anh ta nghi ngờ hỏi, trong khi Gideon lục lọi ba lô của Leslie.
“Không, anh ấy là bác sĩ!” Tôi giải thích. “Ờ thì, cũng gần giống.” Tôi thấy anh ta nhìn chằm chằm vào hàng chữ trên ba lô. Nó ghi là HELLO KITTY PHẢI CHẾT. “Ôi, James, em thật mừng là anh đã đến,” Tôi bắt đầu. “Nhất là trong cái thời tiết này, và hôm qua ở vũ hội em cũng chưa giải thích rõ ràng. Chuyện là thế này, anh thấy đấy. Em muốn bảo vệ anh khỏi một căn bệnh anh sẽ mắc phải trong năm tới, và em e là anh sẽ chết vì nó, thủy đậu, ý em là vậy. Em đã quên tên cái người đã lây cho anh rồi, nhưng không cần quan tâm. Tin tốt là, tụi em đã mang tới một thứ giúp anh không thể nhiễm thủy đậu nữa.” Tôi cười tươi rói. “Anh chỉ cần xuống ngựa và xắn tay áo lên, và tụi em sẽ tiêm cho anh.
Mắt James càng lúc càng mở lớn trong khi tôi độc thoại. Hector (nó thực sự là một chú ngựa xám tuyệt đẹp) lo lắng lùi lại một bước. “Thật là quá thể,” James nói. “Cô yêu cầu ta tới gặp cô trong công viên, rồi cố bán cho ta một thứ thuốc đáng ngờ và một câu chuyện còn đáng ngờ hơn? Và bạn đồng hành của cô trông chẳng khác nào một tên trộm hay một tên cướp đường!” Anh ta gạt áo choàng sang bên để chúng tôi thấy cây kiếm bên hông. “Ta cảnh báo cô, ta có vũ khí, và ta có thể tự bảo vệ bản thân!”
Gideon thở dài.
“Ôi, James, làm ơn nghe em đi!” Tôi tới gần hơn và nắm lấy cương Hector. “Em chỉ muốn giúp anh, và em e là mình không có nhiều thời gian lắm. Vậy nên làm ơn hãy xuống ngựa và cởi áo khoác ra.”
“Ta sẽ không làm điều gì như thế,” James tức giận nói. “Và bây giờ cuộc trò chuyện này đã kết thúc. Tránh khỏi đường của ta, đứa con gái kỳ lạ! Hy vọng đây sẽ là cuộc gặp cuối cùng! Tránh ra!” Và trông anh ta như thể sắp lấy roi thúc ngựa vụt cho tôi một cái. Nhưng anh ta không thể làm vậy, bởi Gideon đã tóm cánh tay và kéo anh ta xuống ngựa.
“Chúng ta không có thời gian chơi trò chơi,” Hắn gắt, vặn hai tay James ra sau lưng.
“Cứu!” James rú lên, vặn vẹo như một con lươn.
“Người xấu! Tôi đang bị tấn công!”
“James, đây là vì lợi ích tốt nhất của anh,” Tôi đảm bảo, nhưng anh ta nhìn tôi như thể tôi là quỷ sứ hiện thân. “Anh không biết điều này, nhưng… nhưng ở nơi em đến, anh và em là bạn. Bạn rất tốt!”
“Cứu! Người điên! Tôi đang bị tấn công!” James kêu lên, nhìn chằm chằm vào Hector đầy tuyệt vọng. Nhưng chú ngựa xám có vẻ không muốn làm anh hùng cho lắm. Thay vì hùng dũng xông vào chúng tôi, nó cúi đầu và bắt đầu bình tĩnh gặm cỏ.
“Em không bị điên,” Tôi cố giải thích. “Em…”
“Trật tự và lấy kiếm của hắn đi, Gwenny,” Gideon sốt ruột ngắt lời. “Và lấy kim tiêm với ống đựng vắc xin ra đây cho tôi.”
Thở dài, tôi làm theo lời hắn. Hắn nói đúng. Mong đợi James hiểu chuyện chẳng có nghĩa lý gì cả.
“Đó,” Gideon nói và dùng răng mở ống thuốc. “Được rồi, cô ấy sẽ cắt họng anh nếu anh nhúc nhích dù chỉ một múi cơ trong vòng hai phút tới, rõ chưa? Và đừng có mà to gan kêu cứu.”
Tôi chỉ mũi kiếm vào họng James. “Thực lòng, James, em không nghĩ mọi chuyện lại thành ra thế này, tin em đi! Em rất hoan nghênh anh đến ám trường em mãi mãi, Chúa ơi, em sẽ nhớ anh nhiều kinh khủng! Nếu em đúng, đây sẽ là lần cuối cùng chúng ta gặp nhau.” Lệ trào lên mắt tôi.
James trông như thể sắp sợ đến xỉu bất cứ lúc nào. “Cô có thể lấy ví của tôi nếu cần tiền, nhưng hãy tha mạng cho tôi! Làm ơn!” Anh thì thầm.
“Ờ, ờ, đừng lo,” Gideon nói. Hắn gập chiếc cổ áo to tướng James đang mặc lại và đặt mũi kim ngay trên họng anh. James rên rỉ khi cảm thấy nó chọc vào da mình.
“Không phải người ta thường hay tiêm vào cánh tay sao?” Tôi hỏi.
“Thường thì không nhất thiết phải vặn ngược tay bệnh nhân lại,” Gideon lầm bầm, và James lại rên lên.
“Chào tạm biệt thế này thật là ngớ ngẩn,” Tôi nói, không thể ngăn nổi một cái sụt sịt. “Giá em được ôm anh một cái chứ không phải gí kiếm vào cổ anh thế này! Anh luôn là bạn thân nhất của em ở trường, chỉ sau có Leslie.” Giọt nước mắt đầu tiên đang chảy dọc má tôi. “Và không có anh, em sẽ không bao giờ biết được sự khác biệt giữa Royal Highness, Serene Highness, Illustrious Highness[1], và…”
“Được rồi đó,” Gideon nói và thả tay James đang loạng choạng lùi lại vài bước, tay bấu vào cổ. “Anh nên đặt một miếng gạc lên đó, nhưng không có cũng không sao. Cẩn thận đừng để dây đất vào.” Gideon lấy lại thanh kiếm. “Giờ thì, hãy lên ngựa, đi đi và đừng nhìn lại, hiểu chưa?”
James gật đầu. Mắt anh ta vẫn trợn tròn vì sợ hãi, như thể vẫn chưa tin nổi vụ này đã kết thúc.
“Tạm biệt,” Tôi nức nở. “Tạm biệt, James Augustus Peregrine Pympoole-Bothame! Anh là con ma tốt bụng nhất em từng gặp!”
Thở phì phò, và chân mềm oặt, James trèo lên ngựa.
“Kiếm của anh ở dưới cây dẻ nếu anh muốn lấy lại nó,” Gideon chêm vào, nhưng James đã thúc gót giày vào hông Hector tội nghiệp. Tôi nhìn anh phóng đi cho tới khi anh khuất dạng sau lùm cây.
“Thỏa mãn chưa?” Gideon hỏi, nhặt nhạnh đồ đạc của chúng tôi.
Tôi chùi nước mắt và cười với hắn. “Cảm ơn anh! Có bạn trai là sinh viên y khoa thật là tuyệt.”
Gideon cười lớn. “Tôi thề đó là lần cuối cùng tôi tiêm vắc xin cho người khác. Đám bệnh nhân thật vô ơn!”
❀ ❀ ❀
[1] Các danh xưng long trọng dành cho quý tộc thời xưa, kiểu như Đức ông cao quý, lẫy lừng, lừng danh…