Catriona

Lượt đọc: 174 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 8
Kẻ Liều Lĩnh

❊ ❊ ❊

Hôm sau, ngày 29 tháng 8, tôi đúng hẹn đến nhà viên Biện lý trong chiếc áo khoác tự may theo số đo của chính mình và vừa mới hoàn tất.

“Aha,” Prestongrange cất lời, “hôm nay trông cậu thật bảnh bao; các tiểu thư nhà tôi sắp có một vị hiệp sĩ tuấn tú đây. Nào, tôi rất cảm kích lòng tốt ấy của cậu, anh David ạ. Ồ, chúng ta sẽ làm việc với nhau rất suôn sẻ, và tôi tin rằng những rắc rối của cậu sắp đi đến hồi kết.”

“Ngài có tin tức gì cho tôi sao?” tôi kêu lên.

“Vượt cả mong đợi,” ông đáp. “Lời khai của cậu xét cho cùng vẫn sẽ được tiếp nhận; và nếu muốn, cậu có thể đi cùng tôi đến phiên tòa được tổ chức tại Inverary vào thứ Năm, ngày 21 tháng sau.”

Tôi ngạc nhiên đến mức không tìm được lời nào để thốt lên.

“Trong lúc này,” ông tiếp lời, “dù tôi không đòi hỏi cậu phải nhắc lại lời hứa, tôi vẫn phải nghiêm khắc nhắc nhở cậu giữ kín miệng. Ngày mai, buổi thẩm vấn sơ bộ của cậu sẽ được tiến hành; ngoài ra, cậu biết đấy, nói ít thì sẽ ít rắc rối hơn.”

“Tôi sẽ cố gắng hành xử thật kín đáo,” tôi nói. “Tôi tin rằng chính ngài là người tôi phải cảm ơn vì ân huệ tột cùng này, và tôi xin chân thành cảm ơn ngài. Thưa lãnh chúa, sau ngày hôm qua, điều này tựa như cánh cửa thiên đường vậy. Tôi không tài nào ép lòng mình tin đó là sự thật.”

“À, nhưng cậu phải cố gắng, phải cố gắng mà tin lấy chứ,” ông nói với giọng vỗ về, “và tôi rất vui khi nghe cậu biết ơn như vậy, vì tôi nghĩ chẳng mấy chốc cậu có thể đền đáp lại cho tôi”—ông ho nhẹ một tiếng—“hoặc thậm chí ngay bây giờ. Mọi chuyện đã đổi khác nhiều rồi. Lời khai của cậu, thứ mà hôm nay tôi chưa làm phiền cậu phải đưa ra, chắc chắn sẽ làm thay đổi cục diện vụ án đối với tất cả những ai liên quan, và điều này giúp tôi đỡ ngượng ngùng hơn khi bàn bạc với cậu về một vấn đề bên lề.”

“Thưa ngài,” tôi ngắt lời, “xin lỗi vì đã ngắt lời ngài, nhưng chuyện này làm sao mà thành sự được vậy? Những trở ngại mà ngài kể cho tôi nghe hồi thứ Bảy vừa rồi, ngay cả với tôi cũng thấy là không thể vượt qua; làm thế nào mà người ta xoay sở được vậy?”

“Anh David thân mến của tôi ơi,” ông nói, “sẽ chẳng ra sao nếu tôi tiết lộ (thậm chí là với cậu, như cậu nói đấy) những quyết sách của Chính phủ; và nếu được, cậu hãy cứ bằng lòng với thực tế hiển nhiên đi.”

Vừa nói, ông vừa mỉm cười với tôi như một người cha, tay nghịch một cây bút mới; tôi thầm nghĩ chẳng thể nào có chút bóng dáng lừa dối nào ở con người này: thế nhưng khi ông kéo lại gần một tờ giấy, nhúng bút vào mực và định nói chuyện với tôi tiếp, chẳng hiểu sao tôi lại thấy hoang mang và bản thân vô thức thủ thế.

“Có một điểm tôi muốn đề cập đến,” ông bắt đầu. “Hôm trước tôi đã chủ đích gác nó sang một bên, nhưng bây giờ thì không cần thiết phải làm thế nữa. Đương nhiên, đây không phải là một phần trong buổi thẩm vấn của cậu — việc đó sẽ do người khác đảm nhận; đây là một mối quan tâm riêng tư của chính tôi. Cậu nói đã chạm trán Alan Breck trên đồi ư?”

“Thưa ngài, đúng vậy ạ,” tôi đáp.

“Việc này xảy ra ngay sau vụ án mạng phải không?”

“Đúng thế ạ.”

“Cậu có nói chuyện với hắn không?”

“Có ạ.”

“Tôi nghĩ trước đó cậu đã quen hắn rồi phải không?” lãnh chúa hờ hững hỏi.

“Tôi không thể đoán được lý do tại sao ngài lại nghĩ vậy, thưa ngài,” tôi đáp, “nhưng sự thật đúng là như thế.”

“Và cậu chia tay hắn vào lúc nào?” ông hỏi.

“Tôi xin giữ lại câu trả lời,” tôi nói. “Câu hỏi đó sẽ được đặt ra cho tôi tại tòa án.”

“Anh Balfour,” ông nói, “cậu không hiểu rằng tất cả những điều này chẳng hề làm tổn hại gì đến bản thân cậu hay sao? Tôi đã hứa cho cậu mạng sống và danh dự; và tin tôi đi, tôi giữ lời. Do đó, cậu hoàn toàn không phải lo lắng gì nữa. Còn Alan, có vẻ như cậu nghĩ mình có thể bảo vệ được hắn; và cậu nói với tôi về lòng biết ơn của cậu, mà tôi nghĩ (nếu cậu cứ ép tôi phải nói) là cũng đáng lắm chứ. Có rất nhiều cân nhắc khác nhau đều hướng về cùng một mối; và tôi sẽ chẳng bao giờ bị thuyết phục rằng cậu không thể giúp chúng ta (nếu cậu muốn) tóm cổ được Alan đâu.”

“Thưa ngài,” tôi nói, “tôi xin lấy danh dự ra đảm bảo rằng tôi thậm chí còn chẳng đoán nổi Alan đang ở đâu.”

Ông khựng lại một nhịp. “Cả cách để tìm ra hắn nữa ư?” ông hỏi.

Tôi ngồi trước mặt ông trơ ra như khúc gỗ.

“Và lòng biết ơn của anh David chỉ có thế thôi sao!” ông nhận xét. Lại một khoảng im lặng nữa trôi qua. “Thôi được,” ông nói rồi đứng dậy, “tôi không gặp may rồi, và chúng ta đang bất đồng ý kiến với nhau. Không bàn về chuyện đó nữa; cậu sẽ nhận được thông báo về thời gian, địa điểm và người sẽ tiến hành buổi thẩm vấn sơ bộ của cậu. Còn bây giờ, các tiểu thư nhà tôi chắc đang chờ cậu đấy. Họ sẽ chẳng bao giờ tha thứ cho tôi nếu tôi cứ giữ chân vị hiệp sĩ của họ lại đâu.”

Thế là tôi đành ngoan ngoãn giao thân cho các vị tiểu thư ấy, và thấy họ ăn diện lộng lẫy hơn cả những gì tôi có thể tưởng tượng, trông xinh đẹp rạng rỡ như một bó hoa tươi.

Khi chúng tôi bước qua cánh cửa, một chuyện nhỏ đã xảy ra mà sau này nhìn lại mới thấy vô cùng nghiêm trọng. Tôi nghe thấy một tiếng còi vang lên lớn và ngắn gọn như một tín hiệu, và khi đảo mắt nhìn khắp nơi, tôi thoáng thấy mái tóc đỏ của Neil thuộc xứ Tom, con trai của Duncan. Ngay khoảnh khắc tiếp theo, hắn đã biến mất, và tôi thậm chí chẳng thấy cả vạt váy của Catriona – người mà tôi đinh ninh là hắn đang đi theo hộ tống.

Ba người dẫn đường đưa tôi qua ngả Bristo và Bruntsfield Links; từ đó một lối đi dẫn chúng tôi đến Công viên Hope, một khu dạo chơi xinh đẹp được rải đường sỏi, có ghế ngồi, cácái chòi mát và được canh giữ bởi một người gác cổng. Con đường đến đó hơi xa; hai cô em gái tỏ ra ra vẻ mệt mỏi theo kiểu tiểu thư đài các khiến tôi cụt hứng vô cùng, cô chị cả nhìn tôi với vẻ mặt đôi lúc trông giống như đang buồn cười; và mặc dù tôi nghĩ mình đã tự chủ tốt hơn ngày hôm qua, nhưng cũng phải cố gắng lắm mới được vậy. Khi chúng tôi đến công viên, tôi bị ném vào giữa một bầy tám hay mười thanh niên trẻ tuổi (vài người là sĩ quan mang phù hiệu, số còn lại phần lớn là các luật sư) đang xúm lại hầu hạ các kiều nữ này; và mặc dù tôi được giới thiệu với tất cả bọn họ bằng những lời lẽ rất tốt đẹp, có vẻ như tôi đã bị tất cả bọn họ quên bẵng đi ngay lập tức. Đám thanh niên tụ tập với nhau chẳng khác nào loài dã thú: chúng lao vào hoặc khinh miệt một kẻ lạ mặt mà chẳng cần chút phép lịch sự hay tôi có thể nói là lòng nhân tính nào cả; và tôi chắc chắn rằng, nếu tôi ở giữa bầy khỉ đầu chó, chúng cũng sẽ đối xử với tôi chẳng kém phần là mấy. Vài gã luật sư thì ra điều ta đây thông thái, còn mấy gã lính thì khoác lác ỏn ẻn; và tôi chẳng thể phân biệt nổi cực đoan nào làm tôi bực mình hơn. Gã nào gã nấy có dáng điệu mân mê kiếm và vạt áo mà (chỉ vì sự ghen tị đen tối thuần túy) tôi suýt nữa đã đá bay chúng khỏi công viên rồi. Tôi dám cá là về phần họ, họ vô cùng cay cú khi tôi lại được đi chung với một nhóm người sang trọng như vậy; và chẳng mấy chốc, tôi đã tụt lại phía sau, bước đi cứng nhắc ở mép ngoài của đám đông vui vẻ ấy với những suy nghĩ của riêng mình.

Tôi bị lôi khỏi dòng suy nghĩ đó bởi tiếng gọi của một sĩ quan, Trung úy Hector Duncansby, một gã trai vùng cao lóng ngóng, liếc mắt đưa tình, hỏi xem có phải tên tôi là “Palfour” không.

Tôi bảo đúng là thế, giọng không mấy thân thiện, vì thái độ của hắn chẳng lấy gì làm lịch sự.

“Ha, Palfour,” hắn nói, rồi lặp lại, “Palfour, Palfour!”

“Tôi e là anh không thích tên tôi thì phải, thưa anh,” tôi nói, vừa bực mình vì bản thân lại đi nổi giận với một tên nhà quê như thế.

“Không,” hắn nói, “nhưng ta đang suy nghĩ.”

“Tôi khuyên anh đừng nên có cái thói quen đó, thưa anh,” tôi nói. “Tôi chắc chắn là anh sẽ thấy nó chẳng hợp với mình đâu.”

“Tit you effer hear where Alan Grigor fand the tangs?” hắn nói.

Tôi hỏi hắn có ý gì, và hắn cười khẩy đáp rằng chắc tôi đã tìm thấy cái lò sưởi ở cùng chỗ đó và nuốt chửng luôn rồi.

Chẳng thể nào nhầm lẫn được ngụ ý này, và má tôi nóng bừng lên.

“Trước khi giở trò sỉ nhục các quý ông,” tôi nói, “tôi nghĩ anh nên học tiếng Anh cho tử tế đã.”

Hắn tóm lấy tay áo tôi, nháy mắt ra hiệu rồi lặng lẽ kéo tôi ra ngoài Công viên Hope. Nhưng vừa khuất tầm mắt của những người đang dạo chơi, sắc mặt hắn liền thay đổi.

“Đồ khốn kiếp người vùng thấp!” hắn hét lên và giáng một cú đấm như trời giáng vào quai hàm tôi bằng nắm đấm siết chặt.

Tôi tung ra một cú đấm đáp trả ngang ngửa hoặc thậm chí còn nặng đô hơn; thế là hắn lùi lại một bước rồi lịch sự ngả mũ chào tôi.

“Ta nghĩ thế là đủ đòn rồi đấy,” hắn nói. “Ta sẽ đóng vai quý ông bị xúc phạm, bởi vì làm gì có chuyện đi nói với một quý ông là sĩ quan của nhà vua rằng hắn không biết nói tiếng Anh của Chúa cơ chứ? Chúng ta đều mang gươm bên hông, và Công viên của Nhà vua ở ngay gần đây thôi. Anh đi trước, hay để tôi dẫn đường?”

Tôi đáp lễ cúi đầu, bảo hắn đi trước rồi bước theo sau. Trên đường đi, tôi nghe thấy hắn càu nhàu về tiếng Anh của Chúa và chiếc áo khoác của Nhà vua, đến mức tôi cứ ngỡ là hắn thực sự bị xúc phạm nghiêm trọng. Nhưng thái độ của hắn ở đầu cuộc gặp gỡ đã phủ nhận điều đó. Rõ ràng là hắn đã đến đây với sự chuẩn bị sẵn sàng để kiếm chuyện gây sự với tôi bằng mọi giá; rõ ràng là tôi đã rơi vào một mưu kế mới của kẻ thù; và đối với tôi (khi bản thân đã ý thức rõ những khiếm khuyết của mình) thì cũng đủ rõ ràng rằng tôi sẽ là kẻ ngã gục trong cuộc đấu này.

Khi chúng tôi bước vào vùng đất hoang vu đầy đá sỏi gồ ghề của Công viên Hoàng gia, tôi đã có đến sáu lần bị cám dỗ muốn quay đầu cắm cổ chạy quách đi cho rồi, bởi tôi vừa ngần ngại không muốn phơi bày sự dốt nát của mình trong môn đấu kiếm, lại vừa sợ hãi cái chết hoặc thậm chí là bị thương. Nhưng tôi nghĩ lại rằng nếu sự ác độc của bọn chúng đã đẩy mọi chuyện đi xa đến mức này thì chúng sẽ chẳng từ thủ đoạn nào; và việc ngã xuống dưới lưỡi gươm, dù có kém phần tao nhã đi chăng nữa, thì vẫn còn hơn là lên giá treo cổ. Tôi cũng tự nhủ rằng do sự xấc láo thiếu suy nghĩ trong lời nói cùng cú ra đòn chớp nhoáng của mình, tôi đã tự đặt bản thân vào thế kẹt hoàn toàn; và rằng ngay cả khi tôi có bỏ chạy, đối thủ của tôi có lẽ cũng sẽ đuổi theo và tóm lấy tôi, điều đó chỉ càng làm cho sự bất hạnh của tôi thêm phần nhục nhã. Thế là, suy tính chán chê, tôi vẫn tiếp tục lê bước phía sau hắn, chẳng khác nào một kẻ đang theo sau đao phủ, và chắc chắn là chẳng còn mấy hy vọng.

Chúng tôi đi vòng qua phía cuối những vách đá dài và tiến vào thung lũng Hunter’s Bog. Ở đây, trên một khoảnh cỏ phẳng phới, đối thủ của tôi rút kiếm. Chẳng có ai ở đó chứng kiến ngoại trừ mấy chú chim; và tôi chẳng còn cách nào khác ngoài việc làm theo gương hắn, giơ kiếm thủ thế với vẻ mặt bình tĩnh nhất có thể.

Có vẻ như thế vẫn chưa đủ làm hài lòng ngài Duncansby, kẻ đã soi mói thấy vài sơ hở trong những động tác của tôi, liền khựng lại, trừng mắt nhìn tôi chằm chằm, rồi lượn qua lượn lại và khua lưỡi gươm đe dọa ngay trong không khí. Vì tôi chưa từng thấy Alan làm thế bao giờ, lại thêm phần hoảng loạn vì cái chết đang cận kề, tôiâm ra hoàn toàn lúng túng, đứng chôn chân bất lực và chỉ ước gì mình có thể chuồn thẳng.

“Cái quái gì mọc sừng ở mụ ta thế?” viên trung úy hét lên.

Và đột ngột lao vào giao chiến, hắn hất văng thanh kiếm khỏi tay tôi, khiến nó bay vèo đi xa vào giữa đám sậy.

Động tác ấy được lặp lại đến hai lần; và đến lần thứ ba, khi tôi lết đi nhặt lại thứ vũ khí đang hổ thẹn của mình, tôi thấy hắn đã đút thanh kiếm của mình vào bao và đang đứng đợi tôi với nét mặt có phần tức giận, hai tay đan vào nhau dưới vạt áo.

“Có chết tao cũng không thèm chạm vào mày nữa!” hắn hét lên, rồi trách móc cay đắng rằng tại sao tôi lại dám đứng đối mặt với “các quý ông” trong khi bản thân còn chẳng phân biệt nổi mặt sống và mặt lưng của một thanh kiếm.

Tôi đáp rằng đó là lỗi do sự giáo dục của tôi; và liệu hắn có đối xử công bằng với tôi khi thừa nhận rằng tôi đã cho hắn đầy đủ sự thỏa mãn mà không may là tôi có thể mang lại, và tôi đã đứng vững như một người đàn ông hay không?

“Đó là sự thật,” hắn nói. “Bản thân ta đây vô cùng dũng cảm, và gan dạ chẳng kém gì sư tử. Nhưng mà đứng lù lù ra đó – mà mày thì cóc biết gì về kiếm thuật! – theo cái cách mà mày đã làm, tao tuyên bố là quá sức tưởng tượng của tao. Và tao rất tiếc vì cú đấm vừa rồi; dù tao phải thừa nhận là tao tin cú đánh của mày là của ông anh cả, và đầu tao vẫn còn đang ong ong vì nó đấy. Và tao xin thề là nếu tao biết trước cơ sự thế này, tao đã chẳng nhúng tay vào một việc tồi tệ như vậy đâu.”

“Lời này nghe thật đẹp lòng,” tôi đáp, “và tôi chắc chắn là anh sẽ không đứng ra làm quân cờ cho kẻ thù cá nhân của tôi thêm lần thứ hai nữa đâu.”

“Đương nhiên là không rồi, Palfour,” hắn nói; “và ta nghĩ bản thân ta cũng bị lợi dụng một cách quá quắt khi bị đẩy đi đấu kiếm với một mụ già, hay chẳng khác nào một đứa trẻ con dại dột! Ta sẽ nói lại điều đó với ngài Chủ tịch, và thề có Chúa, ta sẽ phang nhau với chính lão!”

“Và nếu anh biết rõ bản chất mối thù của ngài Simon với tôi,” tôi nói, “anh sẽ càng cảm thấy bị xúc phạm hơn nữa khi bị lôi kéo vào những chuyện thế này.”

Hắn thề thốt rằng hắn hoàn toàn có thể tin được điều đó; rằng tất cả bọn họ nhà Lovat đều cùng một giuộc và quỷ sứ chính là kẻ xay bột; rồi đột nhiên bắt tay tôi, hắn thề rằng suy cho cùng tôi cũng là một gã trai khôi ngô ra phết, thật là tiếc đứt ruột khi tôi bị bỏ bê không được dạy dỗ, và nếu tìm được thời gian, chính hắn sẽ để mắt đến việc cho tôi ăn học nên người.

“Anh có thể làm cho tôi một dịch vụ còn lớn hơn thế nữa kìa,” tôi nói; và khi hắn hỏi đó là việc gì – “Hãy đi cùng tôi đến nhà của một trong những kẻ thù của tôi, và làm chứng về cách mà tôi đã thể hiện ngày hôm nay,” tôi bảo hắn. “Đó mới thực sự là một ân huệ lớn. Bởi vì mặc dù hắn đã phái đến một đối thủ hào hiệp cho lần đầu tiên, nhưng ẩn sâu trong tâm trí ngài Simon chỉ toàn là ý định giết người. Sẽ có lần thứ hai rồi lần thứ ba; và qua những gì anh đã chứng kiến về sự tài tình của tôi với thanh gươm lạnh, anh có thể tự phán đoán xem kết cục sẽ ra sao.”

“Và tao sẽ không đời nào thích thế nếu tao cũng hèn nhát như mày đâu!” hắn hét lên. “Nhưng tao sẽ đòi lại công bằng cho mày, Palfour. Dẫn đường đi!”

Nếu như lúc bước vào cái công viên đáng nguyền rủa đó, chân tôi nặng trĩu bao nhiêu, thì lúc bước ra, gót chân tôi lại nhẹ nhàng bấy nhiêu. Chúng nhịp nhàng theo một giai điệu cổ xưa tuyệt đẹp, cũ kỹ như Kinh Thánh, với lời ca rằng: “Quả thật, sự cay đắng của cái chết đã qua đi.” Tôi nhớ là lúc đó mình cực kỳ khát nước, và đã ghé lại uống một ngụm nước ở giếng Saint Margaret trên đường đi xuống, vị ngọt của dòng nước ấy ngon đến mức khó tin. Chúng tôi đi qua khu vực điện thờ, ngược lên phố Canongate, rẽ qua cổng Netherbow, và tiến thẳng đến cửa nhà Prestongrange, vừa đi vừa trò chuyện và sắp xếp các chi tiết cho việc của chúng tôi. Người hầu gác nhận rằng chủ nhân của hắn có ở nhà, nhưng tuyên bố ngài đang bận tiếp những vị khách khác bàn chuyện vô cùng cơ mật, và cửa phòng đã được lệnh đóng kín.

“Việc của tôi chỉ mất tầm ba phút, và nó không thể chờ đợi được,” tôi nói. “Anh có thể nói rằng đây hoàn toàn không phải là chuyện riêng tư gì cả, và tôi thậm chí rất sẵn lòng có thêm vài nhân chứng.”

Khi gã gia nhân miễn cưỡng lên đường thực hiện mệnh lệnh này, chúng tôi bèn cả gan bám theo hắn đến phòng đợi, nơi tôi có thể nghe thấy một lát sau tiếng thì thầm của mấy giọng nói phát ra từ căn phòng phía trong. Sự thật là, họ có ba người ngồi quanh một chiếc bàn – Prestongrange, Simon Fraser và ông Erskine, Chánh án hạt Perth; và vì họ đang tụ họp để bàn thảo chính về vụ án mạng Appin, nên họ có chút hoảng hốt khi thấy sự xuất hiện của tôi, nhưng rồi vẫn quyết định tiếp đón tôi.

“Nào, nào, anh Balfour, chuyện gì đưa anh quay lại đây thế này? Và người đi cùng anh đây là ai?” Prestongrange lên tiếng.

Còn về phần Fraser, hắn chỉ chăm chú nhìn xuống mặt bàn trước mặt.

“Cậu ta đến đây để làm chứng một chút có lợi cho tôi, thưa ngài, mà tôi nghĩ ngài rất cần phải nghe,” tôi nói rồi quay sang phía Duncansby.

“Tôi chỉ muốn nói thế này,” viên trung úy cất lời, “rằng ngày hôm nay tôi đã thượng đài với Palfour ở Hunter’s Bog, mà bây giờ tôi cảm thấy vô cùng hối hận, và cậu ấy đã cư xử chuẩn mực đúng như những gì một quý ông có thể đòi hỏi. Và tôi dành sự tôn trọng lớn cho Palfour,” hắn nói thêm.

“Tôi cảm ơn những lời phát biểu thành thật của anh,” tôi nói.

Ngay lập tức, Duncansby cúi đầu chào mọi người rồi rời khỏi phòng, đúng như những gì chúng tôi đã thỏa thuận từ trước.

“Tôi thì liên quan gì đến chuyện này chứ?” Prestongrange nói.

“Tôi sẽ thưa với ngài chỉ trong hai câu thôi,” tôi đáp. “Tôi đã đưa vị sĩ quan của Nhà vua này đến đây để làm cho tôi ra ngô ra khoai như vậy đấy. Giờ đây tôi nghĩ danh dự của mình đã được bảo toàn, và cho đến một thời điểm nhất định nào đó mà ngài thừa khả năng để nhớ, việc phái thêm bất kỳ sĩ quan nào đến gây sự với tôi cũng đều là vô ích. Tôi sẽ không đồng ý đấu kiếm mở đường qua đám quân canh trong lâu đài đâu.”

Những đường gân nổi phồng trên trán Prestongrange, và ông nhìn tôi với ánh mắt giận dữ tột cùng.

“Ta nghĩ con quỷ dữ nào đã thả rông cái gã cún con này ra để gây rối giữa chân ta thế này!” ông hét lên; rồi quay phắt sang trừng trừng nhìn người bên cạnh, “Đây là một trong những trò của anh đấy, Simon,” ông nói. “Tôi nhìn ra bàn tay của anh trong chuyện này rồi, và để tôi nói cho anh biết, tôi rất bất bình đấy. Thật là hèn hạ khi chúng ta đã thống nhất cùng một giải pháp rồi mà lại lén lút đi theo đuổi một con đường khác ở sau lưng. Anh đã phản bội tôi đấy. Cái gì cơ! Anh lại để tôi sai cậu thanh niên này đến đó cùng chính các cô con gái của tôi ư? Và chỉ vì tôi lỡ buột miệng nói với anh một câu... Phỉ phu, anh hãy giữ lấy sự đê tiện đó cho riêng mình đi!”

Mặt Simon cắt không còn một giọt máu. “Tôi sẽ không làm cái quả bóng để hai người đá qua đá lại với ngài Công tước nữa đâu,” hắn quát lên. “Hoặc là đi đến một thỏa thuận chung, hoặc là cãi nhau to to lên rồi tự mà giải quyết lấy với nhau đi. Chứ tôi sẽ không đời nào đi sai vặt, rước lấy những mệnh lệnh trái ngược nhau của hai người rồi lại bị cả đôi bên trách mắng nữa đâu. Bởi vì nếu tôi mà nói cho hai người nghe suy nghĩ của tôi về toàn bộ mấy cái trò dính líu đến Hanover của các người thì thể nào hai người cũng phải lùng bùng cả óc cho mà xem.”

Nhưng Chánh án Erskine vẫn giữ được bình tĩnh và lúc này đã uyển chuyển đứng ra can thiệp.

“Và trong lúc này,” ông nói, “tôi nghĩ chúng ta nên thông báo cho anh Balfour rằng danh tiếng về lòng dũng cảm của cậu ấy đã hoàn toàn được xác lập. Cậu ấy có thể yên giấc được rồi. Cho đến ngày mà cậu ấy vừa nhã ý nhắc đến, sự dũng cảm đó sẽ không phải đem ra thử thách thêm lần nào nữa đâu.”

Sự điềm tĩnh của ông đã kéo những kẻ khác trở lại với sự khôn ngoan; và họ vội vã tống cổ tôi khỏi nhà với một sự lịch sự có phần phân tâm.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 23 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.