Chiếc Xe Đạp Mất Cắp

Chiếc Xe Đạp Mất Cắp

Lượt đọc: 187 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Giới Thiệu

❊ ❊ ❊

Một người cha mất tích bí ẩn, một hành trình truy tìm dấu vết của ông bằng cách lần theo một mẫu xe đạp vào 20 năm sau của đứa con nay đã là nhà văn, một mạng lưới các câu chuyện đan xen của những cảnh đời gắn liền với những con ngựa sắt, Chiếc xe đạp mất cắp là cuốn tiểu thuyết lịch sử kỳ vĩ, đồng thời lại thấm đượm yếu tố kỳ ảo độc đáo, dẫn dắt người đọc qua bao vùng đất và thời kỳ, từ những ngõ ngách của Đài Bắc hiện đại tới rừng bắc Burma trong Đệ Nhị Thế Chiến.

Bằng bút pháp từ tốn mà sâu lắng, lại thành thục nghệ thuật truyện lồng trong truyện, Wu Ming Yi, nhà văn đầu tiên của Đài Loan lọt vào đề cử của giải Man Booker Quốc tế, đã khắc họa tài tình những số phận tình cờ liên đới tới nhau, và thể hiện những chiêm nghiệm sâu sắc về đời sống của con người cũng như của động vật.

Tác giả Wu Ming Yi (Ngô Minh Ích) sinh năm 1971, là nghệ sĩ, nhà thiết kế, nhiếp ảnh gia, giáo sư văn chương, học giả sưu tập bướm, nhà hoạt động vì môi trường, giảng dạy văn chương Trung Hoa và môn Viết sáng tạo tại Đại học Quốc gia Dong Hwa từ năm 2002.

Chiếc xe đạp mất cắp (The Stolen Bicycle) sau khi phát hành đã được dịch sang tiếng Nhật, Anh, Hàn; từng được đề cử giải Man Booker, gây chú ý đặc biệt đối với giới phê bình, báo chí và độc giả phương Tây vì một lối viết lạ lùng, thú vị, một cách thế soi rọi lịch sử đầy mới mẻ và hấp dẫn.

❀ ❀ ❀

WU MING-YI (NGÔ MINH ÍCH)

Sinh năm 1971, là nghệ sĩ, nhà thiết kế, nhiếp ảnh gia, giáo sư văn chương, học giả sưu tập bướm, nhà hoạt động vì môi trường; giảng dạy văn chương Trung Hoa và môn Viết sáng tạo tại Đại học Quốc gia Dong Hwa từ năm 2002.

Từ 2007 trở đi, ông dành nhiều thời gian cho sáng tác và trở thành nhà văn gây chú ý qua các tiểu thuyết: Routes in the Dream (2007), The Man with the Compound Eyes (2011), The Stolen Bicycle (2015)… và các tuyển tập tiểu luận: So Much Water So Close to Home (2007), Above Flame (2014)…

Chiếc xe đạp mất cắp (單車失竊記, The Stolen Bicycle) sau khi phát hành đã được dịch sang tiếng Nhật, Hàn, Anh; từng được đề cử vào giải Man Booker; gây chú ý đặc biệt đối với giới phê bình, báo chí và độc giả phương Tây vì một lối viết lạ lùng, thú vị, một cách thế soi rọi lịch sử đầy mới mẻ và hấp dẫn.

Phanbook sẽ ấn hành:

- Người mắt kép

(The Man with the Compound Eyes).

Các bộ phận của chiếc xe đạp

Xe đạp quân sự ‘Modele de Luxe 1A’ của BSA đời 1915

Tôi phải thuật lại một chút về buổi sớm hôm đó, bởi mỗi lần thuật lại là một lần có thêm ý nghĩa mới. Tôi phải để nắng mai ló ra, để ánh sáng chậm rãi di chuyển. Tôi phải đem cây cối, nhà cửa trong thôn, trường tiểu học, cánh đồng với đủ mảng sắc màu, thuyền đánh cá chòng chành theo gió bên bờ biển, lần lượt sắp xếp vào khung cảnh đó như sắp những quân cờ.

Ống khói những ngôi nhà trong làng đều không nhả khói, không khí trong lành, cánh đồng trông sạch sẽ là thế, như thể từng gốc lúa đã được trận mưa trong đêm gột sạch. Nếu đứng ở đầu này nhìn ra, đầu bên kia là một thôn làng nửa nông nửa chài trông có vẻ vắng lặng, giản dị, khiến người ta ít nhiều hoài niệm.

Đi quá thôn làng sẽ đến bãi cát và biển.

Âm thanh của biển mang theo nỗi quạnh hiu bị vứt bỏ, theo gió thổi ngang qua thôn, truyền tới bên phía cánh đồng, làm cánh đồng lúa dập dềnh như sóng. Tia nắng yếu ớt ban mai chiếu xuống những hạt lúa vừa kết đòng đòng, hiện rõ đường nét từng hạt, nhìn từ xa thanh bình đến độ khiến lòng người bất an.

Loài chim ăn đêm lác đác theo nhau về tổ, đám chim dậy sớm phát ra tiếng kêu vụn vặt. Trên bờ ruộng đằng xa xuất hiện mấy chấm đen, chấm đen mỗi lúc một to ra, mỗi lúc một gần lại, chúng ta có thể trông thấy đó là bầy trẻ đang chạy. Bốn đứa, đều mặc quần, đều để tóc ngắn, vì thế phải đợi khi chúng chạy tới đủ gần, ta mới nhìn rõ ấy là một đứa bé trai và ba đứa bé gái. Thằng cu đen nhẻm, mặt mũi không có gì đặc sắc, nhưng chân tay dài ngoằng; hai đứa bé gái giống cặp song sinh, ngoại hình giống hệt nhau, màu da giống hệt nhau, hai má rung rinh trong bước chạy giống hệt nhau, ngay cả hơi thở hồng hộc cũng giống nhau. Nhưng nhìn kỹ, một đứa bước phăm phăm như thể có kế hoạch gì cần thực hiện, còn đứa kia chân hơi vòng kiềng. A, đặc điểm rõ rệt nhất hẳn là, đứa thứ hai có lúm đồng tiền hằn rõ cả khi không cười. Cô bé chạy sau cùng dáng loắt choắt, trông có vẻ nhỏ tuổi nhất, nó ra sức chạy như sợ mình bị bỏ lại. Quần áo trên người bốn đứa đều có phần hơi cũ, hơi rộng, nhưng cũng coi như sạch sẽ.

Đám trẻ chạy tới một bờ ruộng hình chữ thập, quây tròn lại thảo luận gì đó xong thoắt cái liền chạy tản ra bốn phía cánh đồng. Chẳng bao lâu sau bóng dáng mấy đứa đã mất hút như đám sơn ca từ trời lao bổ xuống, cánh đồng bảo bọc cho chúng.

“Ô hô!”, đám trẻ gọi lẫn nhau, âm thanh lảnh lót, thấy rõ cả tâm trạng vui vẻ.

Chúng ngồi náu mình trong ruộng, nhưng chẳng bao lâu sau bốn tên người rơm đã được dựng lên giữa đồng, bị đung qua đưa lại. Đây là phần việc ngày hôm nay của cả bọn, mục đích là xua đuổi chim sẻ (tshik-tsiau-a). Giờ đã là tiết Mang Chủng[1], thêm độ nữa là phải gặt lúa (kuah-tiū-à) rồi, cho đến khi đó phải phòng tshik-tsiau-a ăn mất lúa. Cơ mà tshik-tsiau-a khôn lắm, không sợ người rơm không biết cử động đâu, chúng nó biết cả đấy, biết tỏng luôn, hí hửng ngoẹo cái đầu nhỏ xinh ăn sạch lúa, thảo luận với nhau về mùi vị lúa năm nay.

Trong khoảng thời gian lúa chín tới độ có thể gặt thì không cần làm bất cứ việc đồng áng gì nữa, do đó nông dân trong thôn thường sai trẻ nhỏ ra đồng lắc người rơm, đàn ông thì ra biển bắt cá, đàn bà thì trồng rau ở khoanh ruộng nhỏ quanh nhà…

Phải phân công như thế thì mới duy trì nổi sinh kế của cả một gia đình.

Đám trẻ ngồi trong ruộng cười nói oang oang, âm thanh mang mùi của lúa, truyền đến chỗ đứa khác đang nấp. Đứa nào nói xong rồi sẽ yên lặng đợi đứa kia trả lời, nhưng có lúc đợi mãi cũng chỉ nghe thấy tiếng gió, bởi có vài đứa đã ngủ tít. Sau một hồi trò chuyện, cô bé có lúm đồng tiền phát hiện trong khóm lúa cách mình không xa có một cái tổ nho nhỏ, cha từng bảo cô đấy là tổ chiền chiện. Chiền chiện cũng là loài chim ăn lúa, nên cha sẽ gỡ tổ nó, đập vỡ trứng bên trong, giết chim non. Đấy là giết chóc không ác ý, nhằm bảo vệ bông lúa. Cô bé thò đầu vào nhìn một chút, trong tổ có mấy con chim non nhỏ xíu, mới đầu thấy động ngỡ là chim mẹ trở về, rướn cổ lên kêu liếp chiếp, sau nhận ra không phải bèn im bặt rụt về đáy tổ.

“A, bốn con kia đấy”. Cô bé má lúm không định báo lại phát hiện này với cha, ở độ tuổi hiện giờ tình cảm của cô vẫn nghiêng về lũ chim nhiều hơn là bông lúa. Cô bé ngửa đầu nhìn người rơm cầm trong tay, sợ chim mẹ không dám lại gần, bèn quyết định di chuyển từ từ đến một vị trí khác. Nắng càng lúc càng rõ ràng, từ xa vọng lại âm thanh ì ầm kỳ lạ, nhưng cô bé con không hề chú ý đến. Cô bé má lúm ngẩng đầu nhìn dòng nước được chiếu sáng lấp lánh giữa ruộng lúa, thấy đẹp sao, cũng thấy hơi… ừm, một cảm giác kỳ lạ, phải đợi lớn thêm ít nữa cô mới nghe được từ mẹ cái từ ấy: hi-bi (cô liêu). Có lẽ những đứa khác đều ngủ cả rồi, nên cô cũng cho phép mình ngủ.

Không biết bao lâu trôi qua, cô bé má lúm tỉnh dậy, ngửi thấy mùi bất thường trong không khí. Lần đầu tỉnh dậy mà cô có cảm giác này, đầu nặng trịch, thử cất tiếng song không nghe thấy mình nói gì. Âm thanh như đám côn trùng bay qua bay lại trong ruộng lúa, tai không thể nào bắt được.

Cô bé nhổm dậy, đá phải người rơm nằm chỏng chơ, chạy lên bờ ruộng, phát hiện đường chân trời vốn xanh ngăn ngắt giờ tự dưng như bị đào lên mấy chỗ, một phía bầu trời mây nặng như chì. “Dám nhập nhoạng rồi quá?”, cô bé má lúm nghĩ.

Nhưng mà không thể nào, cảm giác mới ngủ có tí tẹo mà. Cô bé lại quay bốn phía réo gọi tên đồng bọn. Không có tiếng đáp. Không có. Chẳng có cả tiếng ve sầu, chẳng có cả tiếng ếch đồng (tshan-kap-a)) cứ như đều bị thứ gì đó bịt miệng bắt đi rồi. Cô bé vốn định chạy tới chỗ ruộng có đám bạn gái để tìm, nhưng đồng ruộng giờ trở nên quá lạ lẫm, chứa đựng ác ý, khiến cô dừng bước.

Cô bé hoảng loạn, nhưng trên mặt vẫn nguyên lúm đồng tiền, cô bé chạy qua giữa các bờ ruộng không mục đích, ngay bản thân cũng không biết rằng mình đang chạy. Đây là con đường cô vừa đi qua ư? Phải không?

“Quay về hướng thôn, quay về ngay”. Một giọng nói từ sâu bên trong bảo với cô bé, đấy là điều mẹ từng dặn, ngộ nhỡ xảy ra chuyện gì thì lập tức về thôn tìm người lớn. Ý nghĩ này làm cô bé cuống cả lên, bất cẩn ngã nhào. Cô lồm cồm bò dậy, phát hiện trước mắt là một chiếc xe đạp đen thùi lụi, nhất định là cô vừa vấp vào chiếc xe này. Cô bé từng thấy cảnh sát Nhật cưỡi xe đạp đuổi người, nhanh lắm, nếu cưỡi cái này, chắc chắn có thể về thôn rất nhanh.

“Quay về ngay!”, rơm rạ bị đốt cháy đen nói.

“Quay về ngay!”, đàn cò đầu vàng bay qua nói.

“Quay về ngay!”, nước chảy trong mương nói.

Nhưng xe đạp cao lớn thế, so với cô chẳng khác nào con ngựa sắt Có điều lúc này cô không muốn ở lại đây một giây phút nào nữa, cũng không biết lấy sức lực từ đâu, cô bé dựng thẳng ghi-đông, hò dô một tiếng đẩy chiếc xe về phía trước mấy bước. Nào trục bánh xe, nào líp, nào dây xích, cả chiếc xe đạp nọ cũng theo nhịp bước chạy của cô bé dần bon bon, lọc cọc lọc cọc, lọc cọc lọc cọc. Chiều cao của cô bé vẫn chưa đủ để ngồi lên yên xe, mà dù có ngồi lên yên cũng không đạp pê-đan được, nhưng cơ thể cô bé lúc này dâng trào thứ trực giác như của loài động vật, cô vắt một chân qua khoảng trống giữa hai gióng xe trên dưới, làm vậy có thể giẫm lên pê-đan bên phải. Đây là kiểu đạp xe bọn trẻ con hay gọi là “đạp lò cò”.

Hây! Phù! Hây! Phù! Xe đạp chạy rồi, hây! Quay về phía thôn! Phù! Quay về ngay! Hây!

Trời đổ mưa đen, không, nhìn kỹ thì thấy đấy là màn sương đen gồm những hạt lấm tấm được sinh ra sau khi thứ gì đó bị đốt cháy, tấm màn ấy ngăn ánh sáng chiếu rọi, khiến bốn bề như phủ lên một lớp lụa đen. Đấy không phải mưa thật, chỉ là nhìn giống mưa vậy thôi.

❀ ❀ ❀

[1] Mang Chủng: Tiết thứ chín trong hai mươi tư tiết khí của âm lịch, thường vào ngày 5, 6, 7 tháng Sáu.

Nguyễn Tú Uyên (dịch)
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 6 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.