The Silver Moon
Mùa thu trời cứ mưa rồi lại mưa, sáng ra âm thanh đầu tiên lọt vào tai là tiếng mưa rơi. Mưa lộp độp trên mặt đường, nóc nhà, mái tôn, và lá cây, làm người ta bất an.
Sau khi rời khỏi studio của Abbas ngày hôm đó, thi thoảng tôi lại thử hỏi dò anh về phần tiếp theo câu chuyện liên quan đến chiếc xe đạp của lão Trâu. Abbas bảo, một số đoạn trong câu chuyện này anh không muốn tự mình kể, mà có cách khác để cho tôi biết. Anh hẹn tôi tới thăm quê nhà anh.
Ngôi làng quê Abbas là bộ lạc tộc Trâu nằm ở Nam Đầu, nói đúng ra là một nhánh tộc Trâu phân bố chếch về phía Bắc. Tôi và Abbas hẹn gặp ở Nam Đầu, sau khi ăn cơm thịt kho ở một quán vỉa hè, anh bèn đèo tôi lên núi bằng con SYM Wolf cổ. Chạy theo tuyến đường trên cao dành riêng cho xe ben chở cát gần như được xây ngay trên dòng Trọc Thủy Khê, rẽ vào Trần Hữu Lan Khê, nhìn ra các ngọn núi lớn đều bị cát vàng mênh mông bao phủ. Dòng chảy rộng hàng trăm mét chỉ còn lại vài dòng nước đục rộng chừng mười bước, giống như bùn tóc đan tết vào nhau ra tận cửa biển.
“Xây xong đập Lan Hà, Trọc Thủy Khê đã biến thành Vô Thủy Khê rồi”. Abbas nói.
Sau khi chạy xe vào trong núi, Abbas rẽ vào một con đường nhựa chật hẹp bên cạnh con sông tên là Thương Khố Khê. Thương Khố Khê là một con sông nhỏ rộng chừng ba đến năm mét, hai bên bờ sông trồng toàn cây mơ, người canh tác nắm vững tinh thần không để đất đai lãng phí, hễ có khoảng trống đều trồng xen canh ngô, giờ đang mùa trổ tua đỏ, đám ngô cao vút xếp thành hàng ngay ngắn như vệ binh. Đi lên thêm chút nữa lại là từng vạt từng vạt vườn nho, thân cây nho bò kín giá gỗ, làm người ta nhất thời nhầm tưởng đất ở hai bên còn cao hơn cả mặt đường.
Leo tít đến cuối con đường sẽ thấy bộ lạc hiện ra trước mắt.
Abbas cố ý chạy xe lượn quanh bộ lạc một vòng, để người lần đầu tiên đến nơi này là tôi nhìn ngó xung quanh. Cả bộ lạc chỉ có khoảng mấy chục hộ gia đình, ngoài số ít nhà lầu được cải tạo cao hẳn lên, còn lại đa số đều là nhà ngói thấp lè tè. Vách tường nhiều hộ đều đắp phỗng đất, miêu tả chuyện thờ cúng, săn bắn, trồng trọt, du canh du cư, và cả Kinh Thánh. Người Trâu trên phỗng đất giương cung, truy đuổi các loại vật săn như sóc bay, hươu nước, hoẵng rừng, lợn rừng và sóc, hoặc rải hạt kê, thu gặt, giã gạo, cất trữ. Người tộc Trâu mũi nhỏ sống thẳng, lông mi dài, ánh mắt như có mây đen kéo qua, vẻ lo âu về tương lai, bọn họ trên phỗng đất như thể vẫn còn tách biệt với cả thế giới, cứ thế sống cuộc đời bình lặng vững chãi.
Abbas dừng xe trước một ngôi nhà cấp bốn đắp đá không mấy nổi bật, xung quanh tường bao dùng gạch quây thành một khoanh đất con, trồng mấy loại rau quả thường nhật như cà với ớt, trên khoảng đất trống đang phơi ái ngọc[1], vỏ và hạt ái ngọc tự tách ra, nằm rải rác trên tấm bạt chống nước mang vẻ đẹp hình học như thể không theo quy luật gì song dường như lại có quy luật nào đó. Mẹ Abbas bước ra đón chúng tôi, bà vỗ vỗ mu bàn tay Abbas, mỉm cười nhìn tôi. Người phụ nữ khoảng hơn sáu mươi tuổi, trông có vẻ nhẹ nhàng kín đáo, tóc dài lưng chừng, ấn đường nhăn nheo, khóe miệng lúc nào cũng như đang cười.
Trong nhà bày biện hết sức giản đơn ngăn nắp, có độc một chiếc bàn. Ngoài ra chỉ thấy các tác phẩm của Abbas treo trên tường, đều là ảnh núi non và rừng nhiệt đới đen trắng, trong góc đặt mấy vò tương. Abbas dẫn tôi vào một căn phòng rộng ba bước dài năm bước, có một chiếc giường đơn, khung giường rõ ràng do tự đóng, chân giường là bốn thanh gỗ tròn, giá treo áo cũng có vân gỗ rất đẹp. Cửa sổ gỗ để mở, từ đây có thể trông thấy cây đu đủ đang bói quả.
“Phòng tôi”. Abbas nói.
Trước chuyến đi Abbas đã dặn tôi mang một chiếc đài nghe được băng cassette, cái của anh bị hỏng. Vì thế tôi nhanh chân tới xưởng của A Bố lấy một chiếc SONY CFS-3000S. A Bố bảo cái máy này sản xuất từ những năm 1980, không chỉ đại thể nghe băng cassette, thu sóng FM, mà còn thu được sóng ngắn (SW), có lúc thì thu được cả tín hiệu phát thanh quốc tế xa tít.
“Con máy đảm bảo đấy, nhìn từ tạo hình đã thấy là món đồ công nghệ đậm chất Nhật rồi”. A Bố tự hào nói.
Mẹ Abbas bảo muốn ra xem vườn nho, mùa này bà được thuê hái nho, đóng thùng chuẩn bị chuyển đi bán ở Đài Bắc. Bà đi rồi, Abbas vào phòng ngồi, lôi ra một hộp các-tông, các món đồ bên trong đều được bọc bằng giấy dầu. Là vài tấm ảnh, với hai cuộn băng cassette trắng. Mẩu giấy dán trên cuộn băng viết dằn mạnh hàng chữ “ぎん りんぶたい” (Đơn vị Bánh xe bạc), và “北ビルマの森” (Rừng Bắc Burma) bằng ngòi bút bi.
“Đây là Đơn vị Bánh xe bạc”. Anh chỉ vào một bức ảnh. Nhóm binh lính trong ảnh đang cõng theo xe đạp lội qua một con sông màu như nước bùn. Tôi lật mặt sau bức ảnh, trên nền giấy đã ố vàng, có người dùng bút chấm mực đề “Trọc Thủy Khê” bằng nét chữ non nớt.
Abbas nhặt ra một bức ảnh chụp một cậu thanh niên anh dũng hiên ngang tuổi chừng đôi mươi, mặc quân phục lính Nhật, đứng trước phông nền của tiệm chụp hình, giới thiệu: “Đây là Basuya. Tên tiếng Hán của Basuya là Cao Thiên Tiến, tên tiếng Nhật là Mori Katsuo, thế nên có lúc hàng xóm cũng gọi ông là もり (Mori)”.
Tôi để ý lúc nói chuyện với mình, Abbas thường không hay dùng từ cha, cảm giác người trong ảnh cứ như người xa lạ vậy. Anh lục ra một tấm bìa cứng có vẻ dùng để bảo vệ ảnh chụp, bên trên đề một hàng chữ tiếng Nhật, Abbas bảo anh từng tìm người dịch hộ, đại ý là: “Vì tôi từng là lính Nhật, sợ bị lính Trung Quốc ghi hận, nên đã đốt tất cả ảnh chụp. Chỉ để lại vài tấm này”.
Tôi từ tốn lật xem từng bức ảnh, đa số là ảnh rừng, nhưng rừng trong ảnh có phần lạ lẫm. Ngoài ra có vài bức rõ ràng là ảnh mới chụp giai đoạn gần hơn chút, một bức là ảnh cưới của Basuya và mẹ Abbas, một bức khác là ảnh chụp chung của Basuya và một đứa trẻ, đứa trẻ đó trông qua đã biết là Abbas, người chụp ảnh rất có khả năng là mẹ anh. Hai cha con đứng trước chuồng thú trong vườn bách thú, đằng sau là một con voi đang giơ cao cái vòi dài, như đang ngoác miệng cười. Một bức nữa là ảnh chụp chung của Basuya và mẹ Abbas, đứng phía sau họ vẫn là con voi, có điều góc chụp thấp hơn hẳn.
“Bức này là tôi chụp, tác phẩm đầu tiên của tôi đấy”. Abbas nói.
Ngoài những bức ảnh này, trong hộp các-tông của cha anh còn có vài tờ giấy in chữ tiếng Nhật, và một tấm bản đồ. Trên bản đồ dùng một số ký hiệu đánh dấu cây cối, nhà cửa và sông ngòi, trông có vẻ là một thôn làng nhỏ được bao bọc giữa rừng sâu, sát mé Tây thôn làng - có đánh một chấm đỏ tươi.
Tôi hỏi Abbas có biết bên trên viết gì không, anh bảo biết, anh từng nhờ một người bạn biết tiếng Nhật dịch cho, là vài trang trong sổ tay Chiến tranh làm sao giành thắng lợi do một vị trung tá tham mưu quân đội Nhật viết cho binh lính. Có điều hồi ấy anh không nghĩ đến chuyện giữ lại bản dịch kia, nên không thể kể rõ từng chi tiết. Còn tấm bản đồ, đợi tôi nghe xong cuộn băng chắc sẽ hiểu. Tôi xin phép anh để dùng điện thoại chụp lại ảnh gửi cho Tiểu Ninh, một người bạn làm biên tập rất rành tiếng Nhật, nhắn tin nhờ cô dịch giúp.
Ngoài ra còn một tờ giấy, chép một bài thơ tiếng Nhật bằng bút lông, nhan đề “われは草なり”, nét chữ vô cùng đẹp đẽ, ký tên là “Cao Kiến Thuận”.
“Tôi luôn cho rằng phần sau câu chuyện về chiếc xe đạp ấy, mà không, nên nói là phần trước mới đúng, kể qua lời mình thì không ổn. Để Basuya kể thích hợp hơn. Có điều, anh muốn hiểu ông ấy nói gì thì không dễ đâu, trong hai cuộn băng này thu lẫn lộn cả tiếng Nhật lẫn tiếng tộc Trâu, nhắc đến cả một số chuyện thời chiến. Tiếng Trâu tôi có thể tìm người già trong thôn hỏi giúp anh, nhưng phần tiếng Nhật có lẽ lại phải nhờ người nghe rồi dịch hộ, với cả chất lượng thu âm không được tốt lắm đâu…” Abbas nói.
“Tôi hiểu. Giờ tôi có thể thử bật nghe trước không?”
“Đương nhiên”.
Thế là tôi cầm cuộn băng cassette ghi “Đơn vị Bánh xe bạc” lên, bỏ vào khay băng của chiếc SONY CFS-3000S.
Không lâu sau, một giọng nam trầm đục vang lên giữa những tín hiệu tạp âm như chà xẻng sắt. Phía sau cây đu đủ đang bói quả là một con dốc thoai thoải, vô số cây nho đều đang buộc túi bọc quả màu trắng, lúc này một cơn gió từ ngoài cửa sổ mang theo hương quả thoang thoảng thổi tới. Tôi lắng nghe giọng Basuya, tựa hồ có một dải rừng đang mở ra trước mắt, thấp thoáng trông thấy một bóng người chạy vào rừng, chạy trên con đường mòn mờ mịt.
Đêm hôm đó tôi dùng điện thoại thu lại đoạn băng cassette thành file gửi cho Tiểu Ninh, nhờ cô dịch đuổi, đổi lại về sau khi nào cô ở lì trong nhà mà cần đồ ăn, tôi sẽ làm chân giao hàng.
Hôm sau Abbas dẫn tôi đi gặp một cụ già trong bộ lạc, thuộc số ít những người vừa lưu loát tiếng Trâu mà khả năng biểu đạt bằng tiếng Trung cũng tạm ổn. Do trước đây Abbas từng thử dịch phần tiếng Trâu, nên tôi in luôn bản thảo của anh ra, ngồi trên ghế đẩu dưới mái hiên nghe cụ già giảng giải thêm một lượt. Ông cụ đã gần chín mươi, vóc người nhỏ thó, tựa bản thu nhỏ theo tỷ lệ cơ thể người bình thường, nhưng tinh thần cực kỳ tốt, ông vừa hút thuốc vừa nhìn đỉnh núi phía xa, ngôn từ thốt ra từ miệng ông thảy đều mông lung, như mặt hồ giăng kín hơi sương.
Tối nào tôi cũng chạy ra một chỗ có sóng điện thoại để nhận bản dịch phần tiếng Nhật do Tiểu Ninh gửi. Sau đó lại trở về phòng, nghe đi nghe lại cuộn băng, đối chiếu với bản dịch của ông cụ người Trâu, chắp nối lại bài trần thuật lẫn lộn giữa tiếng Trâu và tiếng Nhật, chẳng khác nào dựng lại một khu đồn trú trên núi cao đã bị dỡ bỏ.
Tôi dần nhận ra, tiếng Nhật của Basuya thường được dùng trong đoạn kể chuyện, còn tiếng Trâu sẽ xuất hiện khi bày tỏ tình cảm hay miêu tả cảnh sắc. Vốn tôi định tách riêng hai phần ngôn ngữ này, nhưng nghĩ lại có lẽ không cần thiết. Vì hai thứ ngôn ngữ ấy đã hợp làm một ở người kể chuyện, giọng tiếng Trâu và giọng tiếng Nhật, giống như vách núi và gió, thân cây cùng những loài thực vật ký sinh trên nó, đã khó lòng phân tách nổi nữa.
Câu chữ trong phần ghi chép này quả tình đã qua gọt giũa, nhưng tôi không hề tự tiện thêm bớt gì. Và để tiện cho tất cả độc giả bất phân thân phận đọc hiểu đoạn ghi chép này, tôi xin mạn phép được dùng ngoặc đơn đề thêm chú thích sau một vài từ.
Năm hai mươi tuổi, tôi rời cố hương lên thuyền vận binh của quân Nhật tới đảo Hải Nam khi trời sắp vào đông. Nửa tháng sau, khi từ Tam Á đảo Hải Nam đặt chân lên tàu chở lính, tôi vẫn không biết cánh chim số phận mình sẽ bay về phương nào. Đó là một đêm ngay cả biển cũng trở nên câm lặng, yên tĩnh đến độ cả tiếng động cơ tàu thuyền cũng bị giấu nhẹm. Những người trên boong tàu đêm đó đều trông thấy mặt trăng lớn ngỡ ngàng, bao bọc trong quầng trăng màu đỏ. Công tác chuẩn bị kéo dài đến tận tờ mờ sáng, mãi khi mặt trăng trở nên nhợt nhạt lặn xuống đằng Tây, vầng dương nhô lên từ đằng Đông, mặt nước đồng thời phản chiếu cả ánh trăng lẫn ánh trời.
(Một đoạn im lặng đằng đẵng.)
Tộc nhân chúng tôi là hậu duệ của lá phong, con dân của Tân Cao Sơn[2]. Ak’i (ông nội) kể, cách đây xa lắc xa lơ, Hamo (thiên thần Cáp Mạc) rung cây phong, lá phong rơi xuống liền thành tổ tiên người Trâu. Về sau xảy ra đại hồng thủy, người và động vật trốn lên patunkuon (núi Ngọc) để tránh nạn, đợi hồng thủy rút, tộc nhân mới bắt đầu tìm lại nơi dựng nhà.
Rời Tân Cao Sơn, tổ tiên chúng tôi đi về phương Bắc, vượt qua Havuhavu (núi Hang Hươu) hùng vĩ, tới bình nguyên phía Tây, dốc sức canh tác, sinh con đàn cháu đống, từ lenohiu (tiểu xã) dần dần phát triển thành hasa (đại xã).
Một quần xã lớn sẽ có kuba (hội sở nam giới), có yoyasva (quảng trường cúng tế), xung quanh trồng yono (cây thần), fiteu (hoa thần) riêng cúng tế có pamomutu (nơi thờ phụng thần, xã thần), có cả oisiasutu (địa điểm cúng tế) của ak’e mameoi (thần thổ địa). Trong quần xã cũng có trưởng lão và tù trưởng đảm đương các chức vụ, bọn họ tinh thông các nghi thức cúng tế của người Trâu, hơn nữa ai nấy đều là những người kể chuyện đại tài. Tộc nhân chúng tôi không hận hay sợ người Nhật như người dưới xuôi. Bởi xưa kia khi bị đại hồng thủy vây trên núi Ngọc, chim sẻ và sơn dương giúp nhóm lửa, cua hợp lực cùng tổ tiên chúng tôi đẩy lùi nước lũ trước, rồi trước khi rời núi Ngọc tộc nhân mới cùng Bố Nông (sbukunu) và maya chia nhau các đoạn cung tên làm bằng để các tộc anh em ngày sau gặp lại. Có người già cho rằng người Nhật có khả năng chính là người Maya li tán bao lâu.
Bộ lạc tôi ra đời là Hosa no luhtu (đại xã Lỗ Phú Đô Hòa Xã, còn gọi là Hòa Xã), amo (cha) kể Hòa Xã từng là một bộ lạc rất lớn, nhưng về sau vì bị ôn dịch như nước lũ đánh úp mà trẻ con cả thôn gần như đều bị chôn cất dưới những gốc cây mới mọc năm đó. Năm Chiêu Hòa thứ năm, người Nhật ép chúng tôi chuyển tới Mamahavana, nơi người Nhật gọi là ナマカバン (giờ là bộ lạc Cửu Mỹ). Người tộc tôi đem theo trẻ nhỏ, chó, hạt giống lợn và gà tới nơi ở mới, sợ con cháu quên đường về nên đã vẽ chuyện này lên vách tường.
Mamahavana cũng có tộc nhân Bố Nông, người xuôi, chúng tôi cùng nhau chung sống như người thân, có lúc cãi cọ có khi thành thân. Đến khi tôi có ấn tượng thì tộc nhân trong bộ lạc đã có không ít “thầy quốc ngữ” (người hiểu tiếng Nhật), mọi người lúc nói tiếng Nhật lúc nói tiếng dân tộc. Giáo viên trong trường khen tiếng Nhật của tôi rất khá, song cha bắt tôi không được xa tiếng tộc mình, vì người như vậy sẽ trở thành một cái cây rỗng.
Năm mười tám tuổi, tôi gia nhập “đoàn thanh niên”. Trong đoàn thanh niên, các thầy cô thường dạy chúng tôi hy sinh thân mình vì Arahitogami là vinh quang. Hồi đó có rất nhiều giáo viên bị gọi nhập ngũ, trước khi lên đường bọn họ đều hào hứng nói: “Giấy báo nhập ngũ tôi đợi bao lâu nay rốt cuộc cũng tới rồi, cảm động quá, có thể ra sa trường giết chết bọn giặc Mỹ giặc Anh, được tàn lụi trong huy hoàng như hoa anh đào rồi!”. Song có một thầy giáo tên Shiina lại lén nói vụng rằng mình thuộc “văn đạo” chứ không phải “võ đạo”, gọi người như thầy ấy ra chiến trường cũng vô dụng, chỉ như đi bồi táng thôi, thầy không thể nào hô được câu khẩu hiệu ra trận “Hẹn gặp lại trước đền Yasukuni, trong chiếc hộp trắng tinh đến đau lòng”. Khi đó tôi rất coi thường thầy Shiina.
Năm Chiêu Hòa thứ mười sáu, tôi được thầy Ogamo Jirō giới thiệu, gia nhập một đơn vị quân thực nghiệm đặc biệt. Thầy Ogamo bảo, vì Hoàng quân đang chuẩn bị tấn công về phía Nam, khí hậu ở đó còn nóng nực hơn cả Đài Loan, lại có rừng rậm như biển rộng. Hoàng quân quen chiến đấu ở xứ lạnh, cuộc chiến lần này sẽ là một khảo nghiệm hoàn toàn mới. Thầy bảo tôi, một vị trung tá cực kỳ thông minh được lệnh thành lập “tổ thực nghiệm”, nghiên cứu xem tác chiến trong rừng nhiệt đới phải mặc trang phục như thế nào, làm sao duy trì thông tin, vận chuyển tiếp tế trong khí hậu ẩm thấp, làm sao xử lý vấn đề vệ sinh, thanh trùng, ông ta hy vọng có thể tìm một vài người dân tộc tới giúp bọn họ tìm hiểu những chuyện cần chú ý trong rừng.
Thầy Ogamo bảo, lý do chọn tôi là vì thể lực tôi rất khỏe, nghe nói amo lại là thợ săn giỏi nhất bộ lạc, tôi chắc chắn biết rất nhiều chuyện liên quan đến rừng nhiệt đới. Thầy nói đây là cơ hội tốt để báo đáp Thiên hoàng, hơn nữa sau khi kết thúc huấn luyện, bọn họ sẽ tặng nhà chúng tôi mấy bao gạo.
Tôi giấu amo gia nhập tổ thực nghiệm đó. Mới đầu nhiệm vụ của tôi là dẫn quan thầy người Nhật tới vùng săn lân cận, dạy họ cách thợ săn của bộ lạc tìm thức ăn, nguồn nước - làm thế nào lấy muối từ vỏ cây, làm thế nào cắt dây mây giải khát, làm thế nào tránh rắn độc. Tối đến tôi dùng con dao nhỏ vót gỗ, làm thành đinh gỗ, giăng vải dầu chống thấm nước, lấy thừng buộc lên một thân cây, lại dùng dây sắt và que gỗ dựng thành giá đun, nấu nước và vật săn được. Tôi dạy bọn họ cách quan sát sao, nghe hướng gió, và làm thế nào đi đường trong bóng tối, Những thứ này đều do amo dạy tôi, ông luôn nói, mũi chân rất quan trọng, mũi chân chính là râu của chúng ta trong đêm đen. Bọn họ ghi chép lại mọi điều tôi nói.
Một đêm tôi không ngủ được, tỉnh dậy thấy thiếu úy Fujii bình thường rất chăm lo cho tôi cũng mất ngủ, hai chúng tôi cùng ngồi trên vách đá bên bìa rừng nói chuyện. Tháng đó được tộc nhân chúng tôi gọi là Cofkoyacifeoh.
Feoh có nghĩa là trăng, tộc nhân gọi thời gian một tháng là “một con trăng”. Con trăng cuối cùng của một năm dài hai tháng, vì đó là tháng báo đáp.
Cofkoyacifeoh về mặt chữ có nghĩa là “trăng sạch”, thực ra ý chỉ tháng có thể cử hành lễ tế, thể hiện trong quá trình trăng tròn trăng khuyết này, bộ lạc không có ai qua đời, cũng không xảy ra sự cố gì.
Tôi bảo với thiếu úy Fujii, giờ là “tháng sạch”, có thể làm Mayasvi[3], cũng có thể dựng nhà. Không hiểu sao tôi lại nói nhầm getsu thành tsuki, thành thử Fujii đáp lời: “Phải rồi, trăng ở đây đúng là rất trong rất đẹp, trăng quê tôi cũng đẹp, nhưng là một kiểu đẹp khác. Đơn vị bọn tôi cưỡi trên bánh xe bạc (ぎん りん), ngẩng đầu cũng có thể trông thấy một ぎんりん khác”.
Tôi hỏi anh, trăng ở đâu cũng như nhau phải không?
Anh thoáng ngập ngừng đáp, trăng ở đâu cũng giống nhau. Có Kaguya Hime ở trên đó.
(Ngừng khoảng nửa phút.)
Về sau bọn họ dạy tôi đi xe tự quay, đó là lần đầu tiên tôi đi xe tự quay. Tôi mau chóng học được cách dùng cơ thể điều khiển, cảm nhận chiếc xe. Thầy Ogamo bảo tôi, muốn vượt biển đánh trận, rất khó để vận chuyển số lượng lớn xe bọc thép và xe gắn máy, nhưng xe tự quay so ra lại có thể mang theo kha khá. Xe tự quay vừa nhẹ vừa nhanh, còn có thể chở đồ. Tôi bảo với thầy mình chưa từng trông thấy biển, thầy cười rằng, có khi sau này anh lại mong không trông thấy nó cũng nên.
Rất lâu về sau, tôi mới hiểu ra ý tứ câu nói này.
Sau đó tôi tham gia một đơn vị bộ đội đặc biệt, ở đó ai cũng có một bộ “đồ đi rừng” nghe nói đang trong quá trình thực nghiệm, và một chiếc xe tự quay.
Mới đầu có nhân viên kỹ thuật dạy chúng tôi tháo và sửa chữa xe tự quay. Chiếc xe tự quay này không hoàn toàn giống những chiếc xe về sau tôi thấy những người có tiền ở thành phố hay đi. Nó có thể gác thêm một khẩu súng trường hoặc súng máy hạng nhẹ lên càng bánh trước, thanh ngang và túi sau xe có thể đựng đạn dược quân tư trang. Lúc vượt sông có thể dùng móc trên khung xe xỏ dây đai cõng theo người. Tiếp đến là một trung sĩ đứng lớp, dạy chúng tôi đạp xe phối hợp chiến thuật và di chuyển theo hàng ngũ, trong đó quan trọng nhất là đạp xe đường trường, và huấn luyện chạy xe trong rừng. Quân đội huấn luyện vô cùng nghiêm khắc, chỉ cần làm sai một chỗ là bị “phạt” ngay, bị đấm thẳng vào má, hơn nữa chúng tôi phải tiếp tục đứng thẳng, chịu cú đấm đó.
Tuần huấn luyện thứ hai, chúng tôi thực hiện cuốc đạp xe đường trường đầu tiên, từ cảng Cơ Long Đài Bắc tít phía Bắc, tới ngọn hải đăng ở Cao Hùng “tận cùng phía Nam đế quốc”, gọi là quân tốc hành Bánh xe bạc. Từ đường quốc lộ giữa miền Tây chạy xuống Nam, ngoài thời gian ăn ngủ ngắn ngủi, đến uống nước cũng giải quyết ngay trên xe. Người đạp nhanh ngày thứ tư đã đến bia đánh dấu đặt ở hải đăng, tôi luôn nằm trong top dẫn đầu, đi cùng tôi chỉ có một binh nhất tên Kashiwazaki Yuu. Đó là một chàng trai trẻ rất xinh, về sau tôi nghe nói cậu ta chết trận trên một hòn đảo giữa đại dương.
Lúc đạp xe cứ cố chịu, nhưng vừa bước xuống xe hai cẳng chân đã như cây gặp lửa, rất nhiều người đều ngồi liệt dưới đất không tài nào tiếp nhận kiểm tra. Đơn vị nghỉ lại địa phương một ngày rưỡi, rồi lại đạp tiếp ba ngày về Đài Trung.
Bấy giờ đội trưởng của chúng tôi là một trung sĩ thấp đậm tên Noguchi Noriya, anh ta đợi mọi người tập hợp rồi chỉ huy chúng tôi chia ra ba người một nhóm, mười nhóm một đội, đi vào núi, sẵn sàng chờ nghe điều động chiến thuật, thao diễn tính cơ động trong tác chiến đường rừng.
Đây là một đợt huấn luyện bí mật, tuyến đường vừa hay men theo nơi người bộ lạc gọi là himeucicumu (Trọc Thủy Khê), rẽ vào Trần Hữu Lan Khê, Thiệp Khê, lên núi Vọng Hương, rồi từ triền dốc khác của núi đi xuống, tập kết ở cao nguyên. Từ tuyến đường này trông ra xa, chính là bộ lạc quê tôi, Mamahavana nơi thung lũng bên sông.
Amo từng bảo tôi, sở dĩ gọi Mamahavana là vì trước kia từ vùng đồng bằng tới nơi này không những phải băng qua cao nguyên, đồi núi, sông suối mà trước khi tới được bộ lạc còn có một đoạn đường dốc rất dốc. Thành thử, đi đến được đây ai nấy đều đã mamuhu (nhức mỏi tê rần) cả, bèn gọi nơi này là Mamuhuana, lâu dần, đọc chệch thành Mamahavana. Có lẽ nhờ thường xuyên cùng amo trèo lên trèo xuống cái nơi khiến người ta chùn chân này, mới luyện thành cho tôi sức chân dẻo dai vậy chăng.
Chúng tôi xuất phát trước lúc mặt trời mọc, cùng nhóm với tôi là hai binh nhất Sawaki Kida và Amano Yoshikazu, bọn họ đều từ đơn vị dã chiến được điều động tới tập huấn. Sawaki là một người cao lớn nhưng hay xấu hổ, Amano lại trái ngược, hình thể anh nhỏ nhắn, song giọng nói rền vang, là một người đầy dũng mãnh, thậm chí có thể nói là hơi lỗ mãng.
Trước tiên, chúng tôi tìm đến nơi hẹp nhất của dòng sông, cõng xe tự quay và quân tư trang vượt sông, khi trên đất bằng bọn họ còn miễn cưỡng theo kịp tốc độ của tôi, nhưng vừa chạy vào đường núi đã bị tụt, xa, trở thành lợn rừng suýt bị tên đuổi kịp.
Amo từng nói, mũi tên bao giờ cũng chỉ đuổi kịp con lợn rừng đáng chết, muốn sống thì phải nhanh hơn tên, thông minh hơn người bắn tên. Sau khi đến điểm tập kết, chúng tôi nhận mệnh lệnh, đội trưởng yêu cầu chúng tôi cùng một nhóm nhỏ khác tiến hành diễn tập truy đuổi hỗn chiến trong rừng. Một nhóm xuất phát trước, sau một khoảng thời gian đến nhóm còn lại bám đuổi theo sau. Tiếp đó hai bên lại đổi vai.
Giống hệt như bắt lợn rừng, mình phải theo sát đuôi nó, bất kể ra sao, phải quan sát thật kỹ, duy trì trực giác. Vì đã quá quen thuộc với cánh rừng này, tôi dẫn Sawaki và Amano chạy vòng vòng trong rừng, tìm chỗ ẩn nấp, đồng thời dạy họ cách đứng ở vị trí thích hợp nhằm phân biệt nơi âm thanh phát ra - amo nói âm thanh biết cách giăng bẫy trong rừng, nó thường khiến mình nghĩ rằng nó ở bên trái, kỳ thực lại đến từ đằng sau, đây đều là trò bỡn cợt của gió và cây.
Chúng tôi nhanh chóng tìm ra dấu vết của nhóm nhỏ còn lại, lùa bọn họ phải chui ra khỏi rừng, sau đó vây họ lại giữa vách đá dựng đứng. Nhóm thua cuộc phải thừa nhận mình thua và chịu phạt Khi đổi vai trò công thủ, tôi cũng dạy bọn họ kỹ thuật ẩn thân trong rừng. Hơi thở của con người nếu được kiểm soát thích đáng có thể vô cùng gần với cây cối, động vật không hề cảnh giác với cây, nếu nắm được bí quyết thì ngay đến loài cây to như Trạch Mộc cũng đóng giả được.
Sang buổi chiều, chúng tôi bắt đầu vượt sông. Sau nửa ngày huấn luyện, nhóm nào cũng mệt lử không thiết nói năng. Đến khi vượt qua được dòng nước chảy xiết, vào đến khoảng đất trống giữa khe núi, nhìn thấy núi cao sừng sững trước mặt, cơ thể đã chẳng khác nào con rắn bị phơi khô, không làm sao tiến lên nổi nữa. Bấy giờ vừa hay có một con toeoya (ó hoa Myanmar) lượn vòng trên cao, gần như bất động giữa bầu không, sượt bóng qua trước bánh xe của chúng tôi.
Tôi nhớ có lần cùng amo đi săn, cũng vào lúc chính ngọ, bắt gặp bóng ó hoa in trên thảo nguyên, chầm chậm chuyển động phía trước chúng tôi, amo khi ấy vội giơ tay phải, làm động tác vuốt ve cái bóng, và cười bảo tôi: “Làm thế này là chạm được vào lông chim ưng rồi”.
Tôi kể với Sawaki và Amano, trên mũ da các dũng sĩ bộ lạc chúng tôi đội đều cắm lông ó hoa, doevos (gà lôi xanh) và fudufudu (chim trĩ đen) mỗi loài hai cọng, tổng cộng sáu cọng, thợ săn có được lông ba loài chim này cực kỳ không xoàng, mà là dũng sĩ chân chính. Trong đó chim ó hoa là khó săn nhất, khi chúng bay trên không gần như là bất khả xâm phạm, nhất định phải tìm ra nơi chúng làm tổ.
Bọn họ nghe xong tinh thần như được dội nước suối lạnh băng, đạp xe đuổi theo bóng chim ưng, đến tận khi gần sát bóng chim liền từ trên xe nhảy xuống vồ bắt cái bóng khổng lồ, cứ như thể mình bắt được chim ưng thật.
Tôi cảm thấy mình đã phải lòng chiếc xe tự quay được nhiều binh lính đặt cho biệt danh “Hinomaru”[4] này, cũng cảm thấy một phần nào đó của chiếc xe đang thuộc về mình. Như cha từng có lần nhắc với tôi về quan hệ giữa cung tên và thợ săn.
Tối hôm đó chúng tôi dựng trại qua đêm ở lưng chừng núi, xe tự quay được dựng ngay ngắn bên rìa đường rừng, binh lính ai nấy đều lẳng lặng lấy vải dầu trong hộp đồ nghề lau chùi xe và súng của mình. Cú mèo trong rừng lúc thì im lìm bay qua đầu cả đội, khi lại rúc lên từ sâu trong rừng già. Không hiểu sao, nhìn vầng trăng tròn đến ngỡ ngàng trên nền trời, tôi lại có một dự cảm, có lẽ một ngày nào đó mình sẽ rời xa Mamahavana.
Có điều trăng ở nơi nào cũng giống nhau cả. Tôi tự an ủi mình như vậy.
Đêm hôm đó tôi nằm mơ. Một mình tôi tiến vào một khu rừng lớn, băng qua vô số cây cối, đi về phía một gốc cây đơn côi. Cái cây khổng lồ đó khác hẳn với đám cây còn lại, lá cây màu xanh biếc, vô số chim muông chui ra chui vào giữa các kẽ lá, ánh nắng rọi qua khe hở giữa lá và chim, chói lóa. Trong mơ, tôi thử đi bắt lũ chim đó, nhưng cũng có dự cảm hễ giơ tay ra con rắn bảo vệ cái cây sẽ xuất hiện, nó đang chuẩn bị cắn tôi. Tôi thầm nghĩ: lần này phải dựa vào vận may rồi. Nhưng khao khát bắt chim mạnh mẽ hơn cả nỗi sợ con rắn, vì thế tôi vẫn giơ tay ra. Đúng lúc sắp tiếp cận được một con chim màu lưu ly, một con rắn vảy lấp lánh ánh xanh lục liền bò lên người tôi, tôi bắt đầu ra sức giãy giụa, nhưng vẫn bị quấn lấy, hơn nữa càng quấn càng chặt. Tôi nghe thấy tiếng cẳng chân bị nghiền nát, tiếp đó con rắn từ từ nuốt lấy tôi, bắt đầu từ bàn chân. Ngay khoảnh khắc đó, ino (mẹ) xuất hiện, bà cõng theo cái gùi, bên trong đựng gà, tay kéo sợi thừng, một đầu sợi thừng cột vào tai lợn. Mẹ hay xỏ một cái lỗ trên tai lợn để buộc dây. Bà thả con gà mái trong gùi ra mổ mắt rắn, và để lợn đi cắn đuôi rắn. Con rắn bị đau liền nhả tôi ra, sau đó ino đặt tôi vào trong gùi chạy đi như bay. Vì chạy quá nhanh, con lợn bị mẹ kéo tai rất đau, vừa chạy vừa ré lên éc éc.
Lúc tỉnh lại, mặt trăng vẫn chưa lặn, mà mặt trời đã ló.
Ngày thứ tư ở tại Cửu Mỹ, tôi sắp xếp lại ghi chép được đến đây, đoạn thở dài thườn thượt, tưởng như điều gì đó trong tâm khảm cũng được trút ra theo hơi thở. Abbas về Đài Bắc xử lý công chuyện rồi vội vàng quay lại, vừa hay kịp đọc bản sơ cảo của tôi. Anh có vẻ rất hài lòng, bảo: “Tôi biết ngay mời anh tới là đúng mà”.
“Anh biết tôi thể nào cũng chỉnh lí lại đoạn băng ghi âm hả?”
“Ừ”.
“Vì sao?”
“Vì tôi cảm thấy anh thực sự muốn biết câu chuyện về chiếc xe đạp lão Trâu cho tôi.
“Nên giờ hai câu chuyện đã nối với nhau rồi ư?”
“Vẫn chưa, nhưng sắp rồi”.
“Để tôi đoán?”
“Anh đoán xem”.
“Xe đạp của lão Trâu chính là Hinomaru của đơn vị Bánh xe bạc?”
“Tuy không dám khẳng định, nhưng tôi cũng nghĩ vậy”. Abbas có vẻ không mấy ngạc nhiên trước việc tôi đoán trúng.
“Đương nhiên đó không phải chiếc xe Basuya cưỡi, chiếc xe đó chắc đã biến thành đống sắt vụn trên bán đảo Mã Lai rồi. Xe của lão Trâu hẳn là một chiếc xe quân dụng khác của đơn vị Bánh xe bạc, vì lý do nào đó mà được giữ lại Đài Loan”.
“Anh chưa từng hỏi Basuya hả?”
“Chưa. Phải đến mười năm trời, tôi hầu như không nói câu gì với ông ấy. Bắt đầu từ trước khi nhập ngũ”. Abbas đẩy một đĩa nho tới cho tôi.
Tôi vốn định hỏi anh vì sao, nhưng kìm lại. Bởi Abbas không phải kiểu người thích hợp để hỏi vì sao. Nếu đó là chuyện anh muốn nói, tự anh sẽ nói ra vào thời điểm thích hợp.
“Thế anh làm sao biết đó chính là xe của đơn vị Bánh xe bạc?”
“Trên mặt phải gióng đầu và phía dưới yên xe lão Trâu quả thực có hai cái móc không biết để làm gì, có lúc tôi hay móc cá hoặc mì mua cho lão vào chỗ đó. Về sau nghĩ lại, chưa biết chừng vị trí ấy lại là để gác súng trường. Với cả như tôi từng kể với anh, sau khi xuất ngũ tôi đạp xe về bộ lạc, lần nào Basuya trở về cũng đều ngồi xổm trước chiếc xe rõ lâu. Thời gian đó, chỉ có duy nhất một lần ông chủ động mở miệng nói chuyện với tôi, chính là vì chiếc xe đó”.
“Ông ấy nói gì?”
“Hỏi tôi xe từ đâu ra”.
“Anh có cho ông ấy biết không?”
“Không”. Abbas ngừng một thoáng rồi nói. “Ông ấy cũng chưa từng nhắc đến chuyện đơn vị Bánh xe bạc trước mặt tôi, nếu ông ấy kể, chưa chừng tôi sẽ kể cho ông ấy chuyện lão Trâu”.
Tôi nghĩ quan hệ giữa hai cha con nhà này giống như núi Vọng Hương và núi Hang Hươu phân cách bởi con sông chảy qua vậy, mỗi người cố chấp trấn thủ một bên bờ sông. Bọn họ nghe thấy tiếng hét gọi của nhau, nhưng lại vờ như không nghe thấy.
“Về sau, sau khi Basuya mất, mẹ tôi sai cơi nới cái kho phía sau nhà. Để chuyển dịch bức tường gian công cụ, tôi mới dỡ cái chạn ông ấy đóng xuống thì phát hiện ra cái hộp này. Bên trong là băng cassette với mấy giấy tờ mà anh thấy đấy. Bấy giờ tôi có bỏ ít công sức đi tìm hiểu những việc Basuya kể trong cái băng, mới biết được chuyện về đơn vị Bánh xe bạc.
“Chiến dịch nổi tiếng nhất của đơn vị Bánh xe bạc chính là trận quân Nhật điều Yamashita Tomoyuki từ bán đảo Mã Lai xuống phía Nam, đánh bại quân Anh-Ấn tại Singapore. Nước Anh khi ấy tuy nhận định quân Nhật là một mối đe dọa đối với Singapore, song trước sau luôn cho rằng chiến tranh có khả năng sẽ xảy ra trên biển, vì họ nghĩ quân Nhật muốn xuyên rừng xuống thẳng bán đảo Mã Lai hoàn toàn không phải là chuyện đơn giản.
“Yamashita Tomoyuki yêu cầu tham mưu của ông ta là Tsuji Masanobu nghiên cứu phương pháp tác chiến trong rừng nhiệt đới, vì ông ta đã quyết định lên bờ ở biên giới Mã Lai và Thái Lan, rồi tiến quân về phía Nam. Đơn vị Bánh xe bạc được ra đời trong chính bối cảnh này. Vị quan thầy cao cấp của quân đội Nhật được nhắc đến trong băng ghi âm, tôi đoán chính là Tsuji Masanobu, và cũng là tác giả của mấy trang Chiến tranh làm sao giành thắng lợi kia, ông ta được mệnh danh là Quân sư ác ma. Sau chiến tranh nhằm tránh bị xét xử, nghe nói còn từng giữ vai trò cố vấn quân sự cho Tưởng Giới Thạch, về sau lại một lần nữa dạt về Lào tiếp tục nghĩ cách thúc đẩy ‘Khối thịnh vượng chung Đại Đông Á’. Người này rất khéo léo lợi dụng nỗi thống khổ vì bị đế quốc thực dân phương Tây áp bức của nhân dân các quốc gia Đông Nam Á, để hợp lý hóa hành động xâm lăng quân sự của Nhật Bản, là một người rất có sức kích động.
“Có rất nhiều đồn thổi về cái chết của ông ta, một trong số đó là, sau khi chiến tranh kết thúc, ông ta lén lút quay lại Lào thì bỏ mạng dưới vuốt hổ”.
“Bấy giờ quân của Yamashita Tomoyuki chia làm hai nhánh, tốc độ di chuyển của đơn vị xe đạp nhanh hơn nhiều so với tưởng tượng của quân Anh, hơn nữa họ lại thường từ trong rừng nhiệt đới đột ngột xộc ra tấn công cánh bên. Cảnh tượng đội quân xe đạp từ trong rừng ập ra đột kích ấy, lúc nào cũng xuất hiện trong giấc mơ của tôi, khiến tôi cảm thấy mông lung thần bí”.
“Hồi trẻ tôi mơ tưởng chụp được những tác phẩm mang tính chấn động, nhưng mãi vẫn chỉ thấy vô định. Vì vậy bấy giờ tôi liền dựa vào một thứ trực giác, quyết định đạp con xe của lão Trâu, từ biên giới Malay Thái Lan chạy xuống phía Nam, vừa đạp vừa chụp tuyến đường của chiến dịch Mã Lai hồi đó”.
“Thế nên Basuya từng tham gia chiến dịch Mã Lai hả?”
“Không. Quân tình nguyện Đài Loan bắt đầu được chiêu mộ từ năm 1942, mà chiến dịch đó bắt đầu từ năm 1941 cơ”.
“Ra vậy. Nên là những bức ảnh chụp bán đảo Malaysia ở studio của anh đều được chụp trong chuyến du lịch đó?”. Tôi vừa ăn nho mới hái vừa nói, vị ngọt của núi rừng lan tỏa trong khoang miệng.
“Phải. Tôi nghĩ, chiếc xe của lão Trâu có lẽ do một nguyên do nào đó mà không đến được chiến trường ấy, vì thế tôi muốn cưỡi nó đi một chuyến”.
Abbas đi ra ngoài, châm điếu thuốc, một người già tộc Trâu đi ngang qua trong bóng đêm, vẫy vẫy tay chào tôi và Abbas. Từ xa vẳng lại âm thanh như cú mèo kêu, tiếng gù gù tựa hồ thương xót, khóc than điều gì.
“Tôi vẫn hơi có chút lăn tăn với các nhiếp ảnh gia chụp ảnh chiến tranh”. Khi ấy tôi đã biết, Abbas là một trong số ít các nhiếp ảnh gia chiến trường của Đài Loan, anh thường công bố những bức ảnh đó ý dưới một cái tên giả.
Abbas nhướng mày đợi tôi nói tiếp.
“Dù là ở nơi chiến tranh đang xảy ra hay nơi chiến tranh đã kết thúc, việc có người cất công tới đó nhấn màn trập lưu lại những cảnh tượng ấy, rốt cuộc có ý nghĩa gì?”
Abbas vẻ như đang suy ngẫm nên trả lời câu hỏi này của tôi thế nào, rít vài hơi thuốc rồi mới lên tiếng: “Bảo là tập hợp rỗng cũng không đúng, mà nói nó đầy ý nghĩa cũng không phải.
“Hồi trẻ tôi từng muốn viết thơ. Viết thơ với chụp ảnh có gì khác nhau? Tôi thường tự hỏi mình như vậy. Sau mới nghĩ ra, điểm khác biệt lớn nhất giữa thơ và ảnh là, người chụp ảnh nhất định phải đi tới nơi cần chụp. Một người chưa từng trải qua chiến tranh đau khổ cũng có thể viết ra thơ tựa hồ anh ta đã nếm trải nỗi đau nào đó, và tôi tin rằng những nhà thơ quả thật cảm nhận được nỗi đau ấy, nhưng thiết nghĩ, chắc chắn sự cảm động của nhiều người chỉ là giả tạo, âm thanh ấy giống như đi qua thiết bị biến âm, nhào nặn niềm thương hư cấu thành niềm thương có vẻ chân thành. Có điều người bình thường không nhìn ra được.
“Vì phải tới tận hiện trường, người chụp ảnh ít nhiều thế nào cũng bị hiện trường đó thay đổi. Mỗi lần ấn cửa màn trập, nếu như anh thực sự nhìn, anh nhất định sẽ bị quang cảnh trước mắt biến đổi. Vì thế một nhiếp ảnh gia chiến trường xuất sắc không thể nào vui nổi, ảnh bọn họ chụp thường trở thành những thứ rất nhức mắt, hơn nữa còn ra đời sớm hơn những tấm bia kỷ niệm chiến tranh. Tôi vô cùng khâm phục một nhiếp ảnh gia tên Don McCullin, ông ấy kể trong quá trình chụp ảnh cuộc chiến Biafra[5], ngọn roi của lương tâm và lòng thương không hề ngừng tấn công ông. Ông nói các nhiếp ảnh gia trẻ đều bị niềm tin ngây thơ chuốc họa, ngỡ rằng chỉ dựa vào bản tính chính trực là có thể ngẩng cao đầu đứng ở bất cứ đâu, nhưng nếu là đứng trước mặt một người hấp hối, anh còn cần nhiều lý do hơn nữa. Nếu không giúp được gì thì không nên ở đó”. Nói đến đây, ánh mắt Abbas bỗng trở nên ảm đạm, giống như dòng sông đã quyết tâm dừng dòng chảy.
“Mà chúng ta quả thật không giúp được gì hết. Anh biết không? Trong những bức ảnh chiến trường thực sự, không hề có vinh quang hay danh dự gì, chỉ có khủng khiếp, và bất hạnh nhất là người nhấn màn trập, giống như Toynbee từng nói, có lúc cũng sẽ phải lòng chính sự khủng khiếp mà mình phản đối, chỉ là bấy giờ không biết đấy thôi. Có những chuyện là thế đấy, nếu anh nhìn thẳng vào mặt trời lâu quá, mắt anh sẽ bị thương”.
Ánh mắt anh và tôi giao nhau, chỉ trong vài giây. Đừng nói là mặt trời, ngay đến cặp mắt anh tôi cũng không tài nào nhìn thẳng nổi.
“Lần nào chụp ảnh xong, quay về Đài Loan, lúc ở sân bay tôi cũng có một cảm giác kỳ quặc, vì bản thân có thể lành lặn trở về một thế giới an toàn, không có gì khó lường, súng ống và bệnh dịch không thể làm đảo lộn thời gian biểu vũ trụ mà cảm thấy như trút được gánh nặng, nhưng lại không thực sự trút được gánh nặng. Có lúc tôi nghĩ, mọi thứ nghệ thuật rốt cuộc đều ích kỷ, nó chưa chắc đã thay đổi được suy nghĩ của người khác, nhưng thay đổi cái gì thì bản thân anh là người biết rõ nhất. Sau khi tới Chechnya, tôi cảm thấy mình tạm thời không thể tiếp tục đi và nhìn quá nhiều chuyện nữa, nên mới mở Nhà Kyoko”.
Tôi nhận thấy trong quá trình trò chuyện, quan hệ giữa mình và Abbas dường như đã được kéo gần lại đôi chút. Tôi không khỏi nảy ý hỏi anh về nguyên nhân cái chết của Basuya. Vì trong lời anh kể, dường như tồn tại một lớp sương mỏng lờ mờ ẩn hiện. Đúng lúc đó, điện thoại di động của tôi đổ chuông, là Tiểu Ninh gửi bản dịch mấy trang Chiến tranh làm sao giành thắng lợi kia dưới định dạng PDF. Tôi mở điện thoại, tiện thể chuyển tiếp tài liệu tới di động của Abbas.
Mấy thập kỷ gần đây, ở Nhật Bản, chúng ta không đồng ý với việc người châu Âu tự coi mình là chủng tộc thượng đẳng, do đó dẫn đến việc kỳ thị người Trung Quốc và người Đông Nam Á. Những quan điểm này ghê tởm chẳng khác nào bãi nước bọt nhổ thẳng vào mắt chúng ta vậy.
Một khi đặt chân lên lãnh thổ của kẻ địch, bạn sẽ nhận ra bản thân phải chịu tầng tầng áp bức của người da trắng. Từ trên nơi cao nhất của đỉnh núi nhìn xuống, bạn sẽ nhận ra những mái nhà tranh nhỏ hẹp của thổ dân trên sườn núi, chúng cùng khối kiến trúc đẹp đẽ dưới chân núi hình thành nên sự đối lập rõ nét. Đồng tiền xương máu của người châu Á lại được dùng để cung phụng cuộc sống xa xỉ của một bộ phận nhỏ những người da trắng.
Sau khi nếm trải ách áp bức của người châu Âu suốt mấy thế kỷ, những quốc gia này đã gần như hoàn toàn mất đi khả năng giải phóng. Chúng ta hy vọng có thể giúp họ nhanh chóng giành được tự do, nhưng chúng ta cũng không nên kỳ vọng quá cao.
Vũ khí cũng có sinh mệnh, giống như binh lính, súng trường cũng không thích bị hun trong thời tiết nóng nực. Các binh lính nên để súng trường của họ được nghỉ ngơi, không như người cần uống nước, thứ súng trường cần là lượng lớn dầu bôi trơn.
Cẩn thận rắn độc. Những loài động vật ẩn tàng nguy hiểm này thường trốn trong bụi cỏ rậm, hoặc cư trú trên chạc cây; tại nơi dừng chân nếu không chú ý sẽ có khả năng bị tấn công. Nếu phát hiện một con rắn độc nguy hiểm, bắt buộc phải lập tức giết chết nó. Bạn cũng nên ăn một số động vật sau khi nấu chín. Không gì có giá trị dinh dưỡng có khả năng tăng cường thể chất của bạn như những thức này.
Sầu riêng và dừa có tác dụng giải khát, ở vùng núi, bạn sẽ phát hiện các dây mây buông thõng, hút phần ngọn lộ ra sẽ giúp ích cho sức khỏe của bạn.
Sau khi lên bờ, gặp phải kẻ địch, hãy tưởng tượng mình là một kẻ báo thù, đứng trước mặt bạn là hung thủ giết hại phụ thân. Máu trong người bạn sôi sục, lửa giận cháy ngùn ngụt: bắt buộc phải đày kẻ này tới chỗ chết. Nếu không giết chết hắn, bạn sẽ vĩnh viễn không yên lòng.
Trước khi ra sa trường - lần cuối ở trên chiến hạm, bạn nên để lại di ngôn. Bỏ vào một lọn tóc và một mẩu móng tay, làm vậy bất cứ khi nào, bất cứ nơi đâu bạn cũng đều sẵn sàng để hy sinh. Một người lính nên xử lý ổn thỏa sự vụ cá nhân trước khi ra trận, đây chỉ là sự cẩn trọng cần thiết.
Tôi và Abbas mỗi người một chiếc điện thoại, lẳng lặng đọc hết đoạn văn này, đúng lúc một đám mây đen vừa hay bay đi, ánh trăng lại trải xuống sáng rõ từng nóc nhà trong bộ lạc, vườn quả mở rộng xuống triền núi, dần mất hút phía xa. Tôi thầm nghĩ, bản chỉ nam Chiến tranh làm sao dành thắng lợi này viết thật mạnh mẽ, câu chữ mang một cảm giác rùng rợn hoang đường, kỳ dị, nhưng cảm giác đó rốt cuộc được truyền đạt từ não bộ người viết? Hay do điều gì ẩn sâu hơn tạo ra?
Abbas rít sâu một hơi thuốc, ánh lửa đầu điếu thuốc hắt lên mắt anh ánh sáng lập lòe. Tôi bất giác bị hút vào ánh lửa đó.
❀ ❀ ❀
[1] Ái ngọc: Aiyu, một loại quả rừng, hạt sau khi phơi khô có thể trữ rất lâu, đem vò cùng nước sạch sẽ được món thạch giải khát thơm ngon.
[2] Tân Cao Sơn: Tên gọi thời Nhật trị của núi Ngọc, ngọn núi cao nhất Đài Loan.
[3] Mayasvi: Một lễ tế quan trọng của dân tộc Trâu, cử hành với mục đích cầu khẩn Chiến thần che chở dũng sĩ.
[4] Hinomaru: Tên gọi quốc kỳ Nhật Bản, âm Hán Việt là “Nhật chi hoàn”.
[5] Cuộc chiến Biafra: Hay còn được biết tới là Nội chiến Nigeria, diễn ra từ 6/7/1967 đến 15/1/1970.