The Tree
Mẹ bảo tôi các cậu đã quyết định bán căn nhà của ông ngoại. Căn nhà vốn dĩ ồn ào náo nhiệt với hơn chục người sống bên trong, sau khi các con trai liên tục cưới dâu về rồi lần lượt lên Đài Bắc, các con gái lần lượt được gả đi, bà ngoại thì qua đời cách đây mười mấy năm, nó dần dần bị quên lãng, hoang phế nằm đó. Nhà cửa dưới quê bán chẳng được bao nhiêu tiền, hơn nữa đây lại là tài sản đồng thừa kế của mấy người con trai, nên hễ muốn bán phải có sự đồng ý của tất cả các cậu mới bán được, chuyện thành thử cứ dây dưa mãi.
Mẹ nằm trên giường bệnh báo với tôi tin này, thân là chị cả, bà muốn tôi đi cùng cậu hai một chuyến, quét tước cửa nhà.
Bà bảo nếu còn khỏe, bản thân rất muốn về lại đó một chuyến.
Tôi hỏi bà con trai các cậu đi đâu cả rồi? Bà nằm trên giường bệnh liệt kê cho tôi nghe. Hai đứa con trai cậu cả đều đang ở nước ngoài, cậu hai thì không có con trai, cả nhà cậu ba đã di dân sang Canada, cậu tư vì bệnh thận mà quanh năm đau ốm, cậu năm đã mất vì tai nạn cách đây mấy năm, con trai cậu đồng ý đóng dấu nhưng không muốn động tay vào.
Tôi còn nhớ căn nhà gần cảng cá nhỏ vùng Trung bộ đó, đó là một ngôi nhà hai tầng rất “sâu”, phía sau có một gian bếp lớn, để đến mùa gặt nấu nồi to cho người làm công ăn. Phía sau gian bếp là một khoảnh đất trống, rồi đến chuồng lợn. Hồi nhỏ về quê đón tết, tôi từng trông thấy bà ngoại mời người tới nhà mổ lợn, tiếng kêu của con lợn đó rất cao rất vang, nghe lại như đang reo hò vì một chuyện gì đó đáng vui mừng. Lợn bị đến mấy người đàn ông lực lưỡng cột vào gậy nhấc đi, sau đó bị cộp dấu đỏ như thể bầm tím khắp người, nghe nói là dấu chứng nhận đã đóng thuế.
Do tôi không có xe nên chúng tôi đi bằng con Toyota của cậu hai, trên đường cậu rất nhiệt tình tìm chủ đề nói chuyện, nhưng tôi thực sự không có gì để nói với cậu, không khí dần trở nên có phần gượng gạo. Tính khí tôi với ai cũng không hòa hợp, nhất là với họ hàng.
Thi thoảng tôi hay nghĩ, nếu mẹ cũng giống cha, không qua lại với họ hàng thì tốt quá, nhiệm vụ kiểu này đối với tôi đúng là tra tấn, từ tận đáy lòng tôi mong sao nó sớm kết thúc.
Bữa trưa hai cậu cháu ăn xúp cá thu vạch ở một quán lâu đời đối diện miếu Ma Tổ, sau đó mới lái xe tới cảng cá tiêu điều, bầu trời sáng như thủy tinh. Cảng cá nhỏ giờ vắng lặng buồn tẻ, chỉ còn lại một dãy phố dài chừng trăm mét, do sát biển gió lớn, hướng cửa tất cả các nhà đều vuông góc với biển. Sau khi tới nhà ông ngoại, chúng tôi đập bỏ luôn sợi xích sắt đã hoen gỉ dùng để khóa cửa, chẳng ngờ vừa đẩy mở cửa đã thấy phòng khách trống hơ trống hoác. Thì ra ô cửa sổ mở ra sân sau đã bị dỡ từ đời nào, đồ đạc trong phòng không biết đã bị ai chuyển đi gần như không chừa thứ gì.
Tôi cầm chổi quét vỏ lon bia và bụi bặm dầy ứ trong phòng thành một đống, còn cậu hai vừa chửi tên trộm vừa đi đi lại lại như thể rất rầu rĩ.
Theo tôi thấy, thiết kế căn nhà này có hơi kỳ quặc, về lý mà nói nhà khi xưa đều thiết kế khoảng phơi thóc ngay trong sân từ cửa chính bước vào, nhưng cửa chính căn nhà này nằm ngay mặt đường, sân vườn trái lại được đặt phía sau. Đối diện bên kia đường vốn có một cái ao to nuôi cá, về sau bị lấp bỏ xây thành một dãy nhà nguyên căn, song có thể thấy không có mấy người thực sự ở trong đó.
Góc tường gạch ở sân sau mọc một cây nhãn, trước kia tôi hầu như không có ấn tượng gì. Đang là mùa hoa nhãn kết quả, nhãn rơi vương vãi khắp nơi, thu hút rất nhiều ruồi nhặng.
“Cái cây này mọc ở đây từ bao giờ nhỉ?”
“Chắc là vài năm trước khi bà mất”. Cậu rung gốc cây, làm rụng thêm càng nhiều nhãn. “Trước kia ông thường phơi thóc ở đây”. Cậu chỉ khoảng sân sau nhãn rụng kín đất.
“Ồ! Trước kia ruộng của ông ngoại rộng lắm ạ?”
“Gần ba mẫu[1] ấy chứ. Hồi nhỏ bọn cậu hay bị sai đi ra đồng làm người rơm”.
“Bó người rơm?”
“Không, cái cậu bảo là làm (tsuè) người rơm cơ”. Cậu hai không giải thích được bằng tiếng Quốc ngữ, bèn chuyển sang tiếng Đài. “Hồi đó trẻ con tuổi còn nhỏ quá, không đỡ đần (tàu-sann-kāng) được, nhưng từ khi lúa trổ đòng cho đến trước mùa thu hoạch, bọn cậu sẽ được người lớn sai đi ‘xua chim sẻ’. Chính là ngồi chồm hỗm (khu) trong ruộng, giơ tay giữ (lak) chắc người rơm, đung đưa nhè nhẹ”.
“Chim sẻ không sợ người rơm không cử động (tín-tāng) được phải không ạ?”
“Ừ, bọn sẻ khôn ranh thật, không cử động thì không sợ. Hàng xóm láng giềng, nhà nào cũng sai trẻ con đi xua chim sẻ. Thông thường người làng ngoài đi qua đúng lúc ấy, không trông thấy ai, chỉ thấy người rơm lắc la lắc lư, cộng thêm tiếng trẻ con nói chuyện qua lại, có khi còn sợ mất vía ấy”.
“Hình như cháu cũng từng nghe mẹ kể”.
“Phải rồi, thú vị thật”. Cậu hai nghĩ ra gì đó, thở dài đánh sượt: “Nhưng mà có một bận, xảy ra sự cố?”
“Sự cố gì thế ạ?”
“Có một bận mẹ cháu đi ra ruộng xua chim sẻ thì gặp phải (suah tñg-tiòh) không kích”.
“Gặp phải không kích?”
“Ừ. Thực ra tàu bay (hue-lîng-kí) của bọn Mỹ không định ném bom làng mình đâu. Nhưng cháu biết đấy, bom đạn thời ấy đâu thể ném chuẩn thế (hiah-nī-á), một chiếc tàu bay không những ném (tàn) bom xuống đồng ruộng cạnh làng, mà chính nó cũng rơi (puàh-lòh) luôn theo xuống. Kết quả trong làng có ba đứa trẻ được sai đi coi lúa đều chết vì bom nổ. Cậu châm điếu thuốc, đưa lên miệng hút. “May mắn làm sao, mẹ cháu không chết. Chị ấy chắc ngủ quên trong ruộng, thành ra khi bom nổ cứ thế lịm đi, đến khi tỉnh lại đã không thấy bạn bè đâu, chị ấy bò dậy, trông thấy một chiếc xe Khổng Minh bên bờ ruộng, cũng không rõ là của ai, lòng chỉ mong mau chóng quay về làng, bèn leo luôn lên chiếc xe ấy. Kể ra mới thấy lạ, vì mẹ cháu hồi ấy hẳn chưa biết đạp xe, hơn nữa chiếc xe cao lớn như thế, cũng không biết là linh cảm từ đâu tới, bảo biết đạp là biết đạp liền. Chị ấy vừa đạp xe vừa khóc, về đến nửa đường thì trong làng cũng cử người đi tìm bọn trẻ. Nào ngờ tìm về lại là ba cái xác”.
Tôi gặng hỏi: “Về sau thế nào ạ?”.
“Ông cháu đội ơn Ma Tổ linh thiêng, định dắt mẹ cháu đi lễ tạ. Ai ngờ cái xe Khổng Minh mà mẹ cháu đạp về làng lại là của một cảnh sát Nhật. Tay cảnh sát này lúc bị không kích đã ngã xuống ruộng chết. Một cảnh sát Nhật chết, đương nhiên phải tiến hành điều tra, chẳng bao lâu đã tra tới nhà chúng ta, chiếc xe Khổng Minh ấy vừa hay vẫn dựng trước cửa. Cháu nghĩ mà xem, có trăm cái miệng cũng chẳng tranh biện được phải không nào? Quả nhiên, cảnh sát Nhật vu cho mẹ cháu tội ăn cắp xe Khổng Minh. Ông cháu giải thích rằng, đúng là trẻ nhỏ vì chạy tháo thân, trông thấy xe Khổng Minh bèn tùy tiện lấy đạp về nhà, nhưng, nó không hề biết cái xe Khổng Minh đó là của cảnh sát Nhật! Thêm cả trong làng vừa chết ba đứa trẻ, ai nấy đều quá đau buồn nên mới không lập tức (suî) dắt (liàh) đi trình báo. Ông cháu bày tỏ, sẵn sàng nộp hết lúa gạo năm nay cho quan lớn cảnh sát để chuộc tội. Nhưng ông cụ lại từng đắc tội với một cảnh sát họ のだ (Noda), vì có một bận ông lén giấu bớt thóc bị hắn bắt được, hắn nhân cơ hội này kiếm chuyện gây khó dễ, bắt ông đi động nước[2], ông cháu bị người Nhật trói gô như lợn, dốc nước bắt uống đến hôn mê bất tỉnh, bà mới dắt theo bọn cậu đi nhận ông về.
“Hồi ấy cũng làm gì có tiền mời bác sĩ tới khám, tự uống lấy vài thang thuốc trị thương rồi thôi (niā-niā). Thực ra, sau khi quay về, trông tinh thần ông cháu còn khá hơn lên. Ông càng dốc công dốc sức làm đồng, như thể không biết mệt (thiám). Chẳng qua có lúc đau bụng thì uống thuốc của thầy lang Mông Cổ là hết đau. Năm ấy chiến tranh kết thúc, ông đi gặt lúa vụ hai, như thể hoàn thành chuyện gì trọng đại, đang ăn cơm trên bờ ruộng thì ngất lịm đi, hàng xóm đưa về đến nhà thì đã qua đời. Mẹ cháu cứ tự trách mình mãi. Nhưng chuyện này nói sao nhỉ, đó là vận mệnh rồi”.
Cứ thế mà qua đời sao?
Cứ thế mà qua đời đấy. Cái thời đại ấy, người chết cũng giống như ngọn lửa tắt lịm.
Lửa tắt lịm rồi.
Khói thuốc bị làn gió vô hình thổi vào mặt cậu hai, cặp mắt cậu hơi nheo lại. Cậu đã già thật rồi, sự già nua thể hiện qua tiếng nói phều phào. Tôi chưa từng gặp ông ngoại, chỉ mới thấy tranh chân dung ông - vốn được treo trong phòng khách - giờ không rõ đã đi đằng nào. Nghĩ lại, cậu trông cũng hơi giống bức chân dung đó.
Và tôi lại lần nữa nghe thấy cái từ “vận mệnh”, “vận” được đặt trước “mệnh”. Mẹ chưa bao giờ kể chuyện này với chúng tôi, chuyện ông ngoại vì sao mà chết. Tôi cứ ngỡ, cha là người trầm mặc nhất trong gia đình, ông chẳng bao giờ kể chuyện gì. Tôi cũng cứ ngỡ, mẹ là người ưa than vãn nhất trong gia đình, chuyện gì mẹ cũng nói được, hơn nữa còn nói hết lần này đến lần khác, lặp đi lặp lại, lải nhà lải nhải.
Nhưng sự thực không phải vậy, đời người có lúc như chim, có lúc lại giống như trai.
“Về sau cậu theo mẹ cháu tới Đài Bắc, tính mua lấy một cửa tiệm để làm ăn, bán phứt ba mẫu ruộng của ông”. Cậu nói như để an ủi người không có mặt ở đó là mẹ tôi. “Kể ra, đám em trai em gái bọn cậu, đều do mẹ cháu với ông bà nhịn ăn nhịn mặc nuôi lớn cả”.
“À phải, cậu này, chắc cậu biết ông ngoại có một cái hộp sắt, bên trong cất một tờ báo, chính là số báo ra ngày ông chào đời chứ?”
“Biết, nhưng không rõ cất (khǹg) đâu rồi nữa”.
Lại không biết đi đằng nào rồi.
Tôi để ý thấy dạo gần đây bên tai mình cứ văng vẳng thứ âm thanh nhỏ xíu kỳ quặc, âm thanh đó mảnh hơn cả tiếng mưa mùa mưa dầm, song lại rất ngoan cường có thể xuất hiện bất cứ lúc nào. Tôi lắc lắc đầu, nhận ra cơ thể mình chất chứa cảm giác mỏi mệt như khi thả mình chìm xuống đáy nước sau lần cuối cùng ngoi đầu lên khỏi mặt nước trong một chặng bơi dài. Lẽ nào đi bộ trong ý thức cũng gây ra mệt mỏi cụ thể sao?
Tôi nhớ lại lời bác Phúc nói về chiếc ghế chân voi. Tôi hỏi bác Phúc sao lại nói vậy? Chiếc ghế chân voi đó liệu có bí mật gì chăng? Bác Phúc bảo không có bí mật gì, làm gì có bí mật gì, quan điểm của bác xuất phát từ kinh nghiệm. Bác Phúc bảo đã bán hầm bà lằng các món đồ cũ cả nửa đời rồi, do đó tin rằng một số chuyện từng xảy ra sẽ lưu lại ở đâu đó trong món đồ, giống như hạt giống vậy.
Tôi bảo bác, những thứ có thể nhìn thấy bằng mắt một ngày nào đó rồi cũng sẽ hỏng, bị vứt bỏ, rồi biến mất.
Bác Phúc bảo: Kể cả những thứ không nhìn thấy được cũng vậy. Rồi một ngày sẽ hỏng, bị vứt bỏ, rồi biến mất.
Nói như bác thì giữ lại những thứ này có ý nghĩa gì?
Điểm quan trọng không phải “hỏng”, cũng không phải “rỗng”. Bác Phúc đáp.
Nơi mái hiên trước nhà, có đôi chim én đang quay về làm tổ, bay tới rồi lại bay lui, lướt xẹt qua cành cây nhãn nọ, nhanh thoăn thoắt như được lắp thiết bị cảm biến gì đó. Tôi ngẩng đầu nhìn như mất hồn. Quỹ đạo bay của chim én dẫn dắt tôi phát hiện ra một thứ quen thuộc đóng đinh trên tường, đó là đế hương làm thứ tấm sắt dùng để cắm hương.
Hồi mẹ vẫn còn đưa chúng tôi về quê ăn tết, mùng chín cúng Trời, bà ngoại sẽ lần lượt để từng người vái xong, rồi mới đến lượt trưởng nam đem hương ra cắm lên cái đế hương ngoài cửa nọ. Do khói hương tích tụ năm này qua năm khác, trần nhà chỗ đó có một khoảng khói hun đen sì, giống như đám mây đen. Khói hương đều bị khoảng trần nhà ấy chặn lại chăng?
Tôi hỏi cậu hai liệu có thể để mình gỡ tấm sắt cắm hương đó xuống mang về không? Cậu bảo không thành vấn đề, chắc chẳng ai cần cái đó.
Sau khi trở về từ làng chài, tôi nhắn tin báo với các chị nhiệm vụ đã hoàn thành, nhờ các chị báo lại mẹ trước, đợi đến mai tôi sẽ vào thay ca. Chị cả nhắn lại rằng: “Qua kiểm tra, tuyến tụy và cột sống của mẹ dường như đều có vấn đề. Cột sống thì có thể hiểu được, nhưng về tuyến tụy, bác sĩ còn vài nghi ngờ, sẽ sắp xếp chụp cộng hưởng từ ống tụy chính để kiểm tra lại” Nghi ngờ gì chứ? Tình trạng mập mờ mông lung này thật đáng ghét.
Tôi về căn hộ, nằm ra giường, song không tài nào ngủ được. Hình dạng dạ dày, lá gan, ruột non hiện lên vô cùng rõ ràng trong trí não tôi, nhưng tụy trông như thế nào thì tôi nghĩ mãi không ra. Tuyến tụy trong khoang bụng đã mang nặng rồi đẻ đau tôi, khiến người ta còn vài nghi ngờ ư? Tôi nhớ ra chuyện mẹ bảo chị đi hỏi Thánh Vương Công, không biết chị đã đi chưa? Thánh Vương Công có thể trông thấy tuyến tụy già yếu đang xảy ra bệnh biến gì kỳ lạ trong bụng bà không?
Hôm sau tôi dậy sớm cạo râu, rồi lau chùi một lượt chiếc xe đạp hiệu Hạnh Phúc đã sửa sang hoàn chỉnh nọ, tôi vỗ vỗ lên cái yên da bò chắc chắn của nó, đạp xe ra khỏi nhà.
Trên đường phố xe cộ phóng vun vút như mắc cửi, âm thanh trầm đục, trôi tuột, xe nào xe nấy lướt qua nhau một cách đầy mạo hiểm. Cơ thể tôi cảm nhận nhịp điệu trên mặt đường, dọc theo đường Bắc Trung Sơn, đạp qua sông Cơ Long, tới trước một căn hộ nằm trong ngõ gần trạm Tân Bắc Đầu. Sau khi xác nhận lại địa chỉ, tôi ấn chuông. Người mở cửa là Sabina, Thành Thành, và một cô gái tôi mới gặp lần đầu.
Tối hôm trước Sabina có nhắn tin, nói cô và Thành Thành đã lên Đài Bắc, đang ở tại căn hộ của Annie. Vì thế tôi quyết định đạp xe đến cho cô xem trước. Cô gái còn lại hẳn là Annie rồi.
Cô mặc trang phục màu linen rộng rãi với đường cắt may đơn giản, mộc mạc không son phấn. Song tôi nghĩ không ít người lần đầu tiên gặp mặt hẳn đều bị thu hút bởi khuôn mặt nhìn nghiêng của cô. Nên nói thế nào nhỉ, hết sức giống bức họa “Thiếu nữ đeo hoa tai ngọc trai” của Vermeer. Tôi không bảo cô đẹp, nhưng cô sẽ thu hút sự chú ý của bạn, đồng thời khiến bạn muốn tìm cơ hội nhìn cô lần nữa. Đứng sau lưng cô, Sabina mỉm cười với tôi, biểu cảm trên khuôn mặt có vẻ còn xa lạ, e lệ, dè dặt hơn so với lần trước tôi gặp cô.
Tôi đẩy chiếc xe sau lưng ra khoe với họ, Sabina ngồi thụp xuống, vuốt ve miếng huy hiệu tráng men đã hơi bạc màu trên khung xe, bảo:
“Cứ như biến thành một chiếc xe khác ấy”.
Annie nói với tôi: “Xin lỗi vì khi đó không trực tiếp trả lời thư anh”.
“Không sao. Có con đường nào thẳng đâu”. Tôi đáp.
Tôi giới thiệu với các cô xe đã thay linh kiện ở những chỗ nào, và đặc điểm nhận diện của dòng xe này. Thành Thành nghe từ đầu đến cuối với vẻ không mấy tò mò, ở những năm tháng đầu đời thằng bé đang sắp sửa bắt đầu hình thành tình cảm với một thứ gì đó, ví dụ như người máy kim cương biến hình, hoặc đồ chơi tàu hỏa mô hình, nhưng không thể là chiếc xe đạp này. Tôi bế nó đặt lên yên sau, bảo với Annie và Sabina: “Tôi đèo thằng bé đi loanh quanh”.
Tôi đạp xe đi lên men theo sông Bắc Đầu, mùi lưu huỳnh dọc đường đầy hoài niệm. Hồi tôi còn nhỏ, cha từng dẫn cả nhà tới một nơi gọi là Địa Ngục Cốc (chúng tôi biết tên nó là Địa Nhiệt Cốc, nhưng cố tình gọi như thế) ở đây luộc trứng gà dưới suối nước nóng. Do đường rất dốc, chiếc xe Hạnh Phúc này lại là xe số cố định, tôi nhanh chóng chảy mồ hôi đẫm lưng. Tôi quay đầu xe, bắt đầu thả dốc. Thành Thành bám chặt lấy eo tôi, phấn khích cười khì khì, không hiểu sao, bàn tay nhỏ xíu cùng luồng hơi thằng bé phả vào lưng làm tôi thấy ấm áp.
Khoảnh khắc đó nhắc tôi nhớ ra, cảm giác làm một người cha là thế nào? Đáp ứng đòi hỏi của một đứa trẻ khác gì với suốt ngày đòi hỏi người khác như trẻ con?
Lúc đạp xe tới quán cà phê ngoài trời nơi Sabina và Annie đang đợi, tôi đột nhiên nghĩ thông một chuyện. Có lẽ anh sáu, Abbas, hoặc người như tôi, đều quá giống trẻ con. Tôi ngồi xuống uống một tách cà phê không ngon lắm, chậm rãi thuật lại một lượt chuyện Shizuko nói với mình cho Sabina và Annie nghe.
“Mã tiểu thư, ý tôi là… không biết quãng thời gian đó rốt cuộc đã có chuyện gì xảy ra với nó?”
Annie lên tiếng, ánh mắt âu sầu.
“Lát nữa tôi định đi gặp Shizuko, nhân tiện sẽ hỏi bà ấy”.
Lúc tôi rời đi, Sabina đưa tôi một chiếc phong bì.
“Đây là gì?”, tôi hỏi.
“Đoạn cuối của tiểu thuyết”. Sabina cười, “Chắc đợi anh có thời gian hẵng đọc”.
Tôi vòng vèo trong thành phố, cảm giác mình dường như không còn nhận ra nó nữa. Nó đổi mới rồi tiếp tục đổi mới, như thể gấp gáp trút bỏ xác thịt nào đó, những quá khứ đau thương, quái gở, chẳng lấy gì làm vẻ vang. Thành phố sau khi đổi mới, những thứ từng tỏa hào quang kỳ lạ trong ký ức biết bao người, đã không biết biến đi đằng nào. Tôi cảm thấy có phần hối tiếc, có phần trống vắng, “ừm, cái đó và cái đó đã biến mất rồi”, câu này dường như có thể thốt lên ở bất cứ con đường nào.
Tôi đạp xe đến Đại Đạo Trình, theo địa chỉ trên mảnh giấy, tiến vào một con hẻm nhỏ, dừng lại trước một tòa kiến trúc ba tầng vẫn còn giữ được mặt tiền xưa cũ. Từ trong các kẽ gạch mọc ra đủ loài dương xỉ, cây cối trên ban công vươn ra từ cửa sổ sắt uốn, trên tường dây leo bò kín. Nếu không phải vì cánh cửa gỗ màu đỏ dưới tầng một được sơn mới tinh, dễ khiến người ta cho rằng bên trong không còn ai ở.
Tôi ấn chuông, tiếng chim kêu lanh lảnh vẳng xuống từ trên gác, không lâu sau Mina mở cửa cho tôi. Thời gian như đứng im tại nơi đây, trên cầu thang vẫn còn giữ đèn tường thủy tinh màu trắng sữa xa xưa, ở rìa mỗi bậc thang đều dán một hàng gạch men làm vạch chống trượt. Thứ duy nhất mang hơi thở hiện đại là chiếc ghế thang máy chạy đường ray được lắp đặt trên lan can. Tôi vác xe đạp lên tầng hai, Shizuko mặt mày tươi cười ngồi trên ghế lưng cao, vẫy tay bảo tôi dựng xe ngay bên cạnh bà.
Tôi nhìn quanh gian phòng khách nhà Shizuko, ánh nắng chiếu vào từ ô cửa sổ hướng còn chưa xây nhà cao tầng, sàn gạch lau sáng loáng như mặt nước phản chiếu tất cả khung cảnh trong phòng. Căn hộ này có thiết kế hẹp dài, hoàn toàn phù hợp với phong thủy nhà ở “sảnh sáng phòng tối” theo lời mẹ tôi. Xung quanh phòng khách đều trồng cây cảnh trong nhà, tivi vẫn là loại CRT, lịch ngày được xé vô cùng thẳng thớm, như thể hằng ngày đều đè thước xé từng trang.
Trên mặt tường không được nắng chiếu thì treo kín tranh hẳn do Shizuko vẽ. Nội dung tranh vẽ đều là động vật, nhưng không phải động vật bình thường. Ví dụ, một con hổ vằn vện lộng lẫy, song chân sau lại vẽ thành kiểu đồ chơi bằng nhựa có thể tháo rời; hay một con cú mèo đậu trên cây, thiếu mất một bên cánh, được bắt vít thay bằng tấm gỗ hình cánh chim. Rồi một loài nai sừng to, một bên sừng được thay bằng cành cây quấn dây sắt, chẳng khác nào chiếc sừng giả. Mắt loài săn mồi nhìn thẳng về phía trước, mắt động vật ăn cỏ thì mọc hai bên, người ngắm tranh có thể cảm thấy chúng đang nhìn mình. Ánh mắt chúng đều hết sức sáng rỡ, như thể chúng không phải hình ảnh trong mặt phẳng mà là vật sống với đầy đủ những cảm xúc phẫn nộ, thương tâm, cảnh giác, hoảng sợ.
Khoảng cách giữa các bức tranh rõ ràng đều đã được đo lường chuẩn xác, từ đó có thể thấy sự cẩn trọng và nâng niu của bà.
Chỉ có bức tranh nằm ngoài cùng không phải vẽ động vật mà là một người đàn ông đạp xe đạp đang leo lên một cây cầu sắt. Người đàn ông còng lưng, gập eo, bàn tọa nhấc hẳn khỏi yên xe, bất động trong khoảnh khắc dồn lực vào chân phải. Gió hẳn phải rất to, áo khoác của người đàn ông phồng lên như cánh buồm, khiến người xem cũng đồng cảm được với sự vất vả của ông khi đạp xe.
Bên cạnh bức tranh này lại là một bức tranh nhìn xa trông như cánh rừng, nhìn gần mới biết là do cánh bướm ghép thành. Thân cây và cành cây trong tranh đan cài vào nhau, có một con suối róc rách chảy qua chính giữa. Tôi ướm thử một lát, chỉ cần đứng xa trên hai mét là hầu như không thể nhận ra đó là tranh ghép từ cánh bướm. Đây nhất định là bức tranh bướm Sabina dùng để đổi cho ngài Mục lấy chiếc xe đạp, do chính tay mẹ cô làm.
Lúc tôi định thần lại, Shizuko vẫn đang ngắm nghía chiếc xe đạp kia, khuôn mặt mang một vẻ hiền hòa thỏa mãn chỉ có khi say ngủ. Bà nói:
“Trước kia đội trưởng Mục đã đèo tôi ra bờ sông bằng chính chiếc xe này này”. Rồi bà lại im lặng hồi lâu. Tôi giải thích với bà, mình may mắn tìm được một chiếc yên da bò cùng thời kỳ, có điều chiếc yên cũ đã để mất vẫn thật đáng tiếc, vì yên da sẽ thay đổi hình dáng để chỉ thuộc về bàn tọa người ngồi lên nó, sự thay đổi này ở mỗi chiếc yên da bò chỉ xảy ra đúng một lần.
“Ra là vậy. Hồi đó tôi toàn ngồi ở giá để hàng phía sau, đội trưởng Mục giúp tôi cột một miếng đệm mút. Chính là cái giá này đây sao?”, Shizuko nói.
“Giá để hàng chưa hề thay đâu ạ”.
Bà đặt bàn tay thời con gái hẳn phải tuyệt đẹp lên trên đó.
Tôi đặt câu hỏi đã nhẩm đi nhẩm lại mấy lần trong thâm tâm: “Phải rồi, cháu nhớ bác từng kể, cha bác cũng đạp xe chở bác tới vườn thú, về sau cha bác mất tích, còn chiếc xe thì sao?”.
“Có lần tôi đạp xe tới Tây Môn Đinh thì bị một người lính gọi lại. Người đó bảo tôi xuống xe rồi leo lên xe đạp đi mất”.
“Rồi leo lên xe đạp đi mất ấy ạ?”
“Phải. Đạp đi mất. Như thể đấy là xe của anh ta”.
Mina pha một ấm trà hoa nhài, tôi rót trà cho mình và Shizuko, Shizuko nhấp một ngụm.
“Với cả, bác cũng từng bảo cháu, đội trưởng Mục là người đi khắp nơi trèo cây?”
Shizuko gật đầu. “Phải rồi”.
“Vì sao ạ?”
“Tôi kể từ đầu được không?”
“Đương nhiên ạ”.
“Đội trưởng Mục là trẻ mồ côi, thuở thiếu thời từng lang bạt ăn xin ở một dải Tứ Xuyên, về sau thấy thông báo tuyển binh bèn gia nhập binh đoàn quân Trung Quốc đồn trú tại Ấn Độ. Đối với ông ấy, tòng quân là một con đường sống. Lúc nhập ngũ, ông ấy chẳng biết mình bao tuổi, cũng không rõ ngày tháng năm sinh. Quân đội cho một ngày sinh thì ông ấy dùng thôi. Đội trưởng Mục bảo với tôi, không cha không mẹ cũng đành, nhưng đến sinh nhật chính mình cũng không biết thì thật bất lực. Ông ấy chỉ nhớ quê nhà ở dốc Sừng Trâu, nhưng dốc Sừng Trâu ở đâu thì không có chút manh mối nào.
“Tôi từng đưa ông ấy đi gặp một bậc thầy tử vi đẩu số, định dùng cách suy ngược, giúp đội trưởng Mục tính ra ngày tháng năm sinh. Phương pháp suy ngược tức là, thầy tử vi sẽ hỏi ông ấy một số “câu hỏi đã biết đáp án”, xen kẽ với “câu hỏi không biết đáp án”, dựa vào những câu trả lời mà từng bước lần lại ngày sinh của ông ấy. Nhưng với đa số các câu hỏi đội trưởng Mục đều không biết hoặc không nhớ câu trả lời, cộng thêm ông ấy không thể nhẫn nại trả lời cặn kẽ từng câu, nên cách này cũng không có kết quả. Ông ấy không biết mình còn có anh chị em hay không, cũng không biết lúc mình nhập ngũ rốt cuộc là bao tuổi. Lúc trở ra ông ấy phàn nàn với tôi, đời người bắt đầu từ ngày sinh, làm gì có cái lý dựa vào những chuyện xảy ra sau này để tìm lại ngày sinh? Ông ấy bảo, nếu thật sự phải tính ngày sinh, thiết nghĩ một chiến dịch ông ấy từng tham gia mới được tính là ngày sinh của ông ấy.
“Chiến dịch này, liên quan đến một cái cây”.
Đầu mùa đông năm 1943, trung đoàn 112 quân Trung Quốc đồn trú tại Ấn Độ cùng sư đoàn 18 tinh nhuệ của quân Nhật Bản, hay còn gọi là quân đoàn Hoa Cúc, có trận đánh giáp lá cà ở thung lũng Hukawng. Trước đó, nhánh quân viễn chinh này từng giúp quân Anh-Ấn chống cự với quân Nhật, quân Nhật khi đó còn đang thịnh thế, không lâu sau Rangoon bị chiếm đóng, quân Anh tháo chạy. Dưới sự truy kích của quân Nhật, một nhánh quân Anh bị bao vây. Lúc bấy giờ sư đoàn trưởng sư đoàn 38 mới là Tôn Lập Nhân, chỉ dựa vào một nhánh quân nhân số ít ỏi mà giải cứu được hơn bảy nghìn lính Anh, đây cũng chính là chiến dịch “Yenangyaung” chấn động một thời.
Nhưng sau khi quân Nhật liên tiếp đánh chiếm Taunggyi, Lashio, kế hoạch hội chiến Mandalay của liên quân Trung-Anh tan thành bọt biển, mất đi mục tiêu chiến lược, quân chủ lực Trung Quốc do tướng quân Đỗ Duật Minh chỉ huy muốn đi đường thẳng vượt núi Kachin (núi Dã Nhân) rút về Vân Nam. Nhưng quyết định này đã dẫn cả đoàn quân vào địa ngục. Núi Kachin cao và hiểm trở, đâu đâu cũng thấy chướng khí không những khiến đoàn quân quanh quẩn bên trong mất hàng tháng mà còn đoạt đi tính mạng hơn ba mươi nghìn binh lính, khu rừng ấy có bảo được tưới bằng máu người cũng không quá.
Nhưng có một nhánh quân không tuân quân lệnh mà đi về phía Tây rút sang Ấn Độ, đó chính là sư đoàn 38 mới do Tôn Lập Nhân dẫn đầu được Đỗ Duật Minh chỉ đạo đoạn hậu. Một số sử gia chiến tranh nhận định, sư đoàn 38 mới do không phải bộ đội chính quy trường Hoàng Phố nên mới bị sai chấp hành nhiệm vụ đoạn hậu có khả năng bị diệt toàn quân. Nhưng Tôn Lập Nhân quân kỷ nghiêm minh, sức chiến đấu kinh người, không những bảo vệ cho quân chủ lực yên ổn rút lui, mà bản thân cũng không chịu tổn thất nghiêm trọng. Khi tới chân núi Kachin, tướng Tôn thầm nghĩ, hàng chục nghìn binh sĩ đã vào núi Kachin, đừng nói là động vật biết chạy, e rằng ngay đến cây cỏ ăn được cũng bị họ vét đến cùng kiệt mất thôi, còn đưa quân của mình vào đấy chẳng khác nào tự tìm đường chết. Vì thế ông bèn kháng lệnh, dẫn quân rút sang Ấn Độ. Nhánh quân này vì thế đã trở thành quân chủ lực phản công Myanmar trong năm đó.
Trung đoàn 112 trước tiên cử một nhánh quân tiền trạm, tách ra giữa cánh rừng nhiệt đới ngay giao điểm của các chi lưu trên thượng du sông Chindwin. Thế nước chảy xiết khiến những nơi đoàn quân có thể vượt sông cực kỳ ít. Trung đoàn trưởng tạm cử một nhánh quân dùng đao phạt mở một con đường rộng nửa mét trong khu rừng rậm nọ, dẫn đến một bến đò không người gọi là “Yupong”.
Cánh quân tiền trạm trên đụng độ quân Nhật tại một nơi “rừng trọc”. Rừng trọc là một khu vực trong rừng, do thổ nhưỡng tương đối cằn cỗi, lượng nước ít ỏi, chỉ mọc toàn cây bụi thấp và cỏ dài mà không cách nào sinh trưởng cây gỗ lớn, do đó đặc biệt dễ bị lộ hành tung.
Quân Nhật dùng súng máy hạng nặng 92 và súng máy hạng nhẹ 96 bắn quét khoảng rừng trọc nọ, ép quân Trung Quốc tiến thoái đều không xong. Đạn tành tạch cắt đứt cọng cỏ, có lúc phụp một tiếng găm vào đất, nếu bắn trúng người thì dấy lên một màn khói bụi.
Hai loại súng máy khác tốc độ bắn này tạo ra âm thanh khác hẳn nhau, lính già sẽ dựa vào đôi tai nhận biết vị trí khai hỏa rồi ra ám hiệu chỉ huy cánh lính trẻ di chuyển theo hướng an toàn. Dựa vào kinh nghiệm đối đầu với sinh tử của họ, nhánh quân này đã kiên cường đột, phá vòng vây lẩn vào rừng sâu. Không may là, chẳng bao lâu sau họ lại bị quân Nhật binh lực dồi dào vây đánh gần sông Tarung.
Sau đó vài hôm, đội tăng cường tiểu đoàn số 1 thuộc trung đoàn 112 của đội trưởng Mục lên đường tiếp viện. Kế hoạch của họ là trong ứng ngoài hợp tiêu diệt quân Nhật, nhưng tiếc là thực lực không đủ, đôi bên nhanh chóng rơi vào thế giằng co ở bến đò nọ. Hằng đêm, quân Nhật đều nhân lúc tối trời mù quáng vượt sông, hòng hợp hai toán quân lại làm một. Quân phòng thủ bờ sông bên này thì nghe tiếng định vị trong bóng tối xả súng máy, ngăn quân Nhật vượt sông. Sáng ra trên mặt sông hôm nào cũng thấy xác chết dập dềnh. Nhưng vẫn luôn có dăm ba tên lính Nhật may mắn sống sót lẩn vào trong rừng, dần dần, cán cân sức mạnh lại nghiêng về phía quân Nhật.
Cũng trong thời gian này, tổng bộ sư đoàn 38 kiếm được công văn mật từ một cái xác sĩ quan Nhật, công văn báo tin pháo binh của quân Nhật sẽ tới Yupong tăng viện. Nhưng tham mưu trưởng người Anh nắm quyền chỉ huy chính quyết không tin, Tôn Lập Nhân sau cuộc tranh cãi kịch liệt thiếu điều trở mặt với ông ta, quyết ý đưa chủ lực sư đoàn 38 mới dồn lên. Nhưng ước tính muốn vượt núi Naga phải mất đến ba tuần trăng. Trung đoàn 112 nếu muốn tìm đường sống vẫn phải cố gắng cầm cự thêm hai mươi ngày nghìn cân treo sợi tóc.
Trong khi đó, nhánh quân tăng cường cố thủ bến đò kia đã chỉ còn lại hơn một trăm ba mươi người.
Khu vực dài hai trăm mét rộng một trăm mét mà liên đội này cố thủ bao gồm hai khoảng rừng trọc một lớn một nhỏ, bên cạnh rừng trọc có một cây đa khổng lồ, vừa hay có thể trở thành điểm cao để quan sát xung quanh. Cây đa cổ thụ nọ có rễ khí rủ khắp xung quanh, có những rễ khí còn to hơn cả gốc đại thụ. Cây đa dựa vào đám rễ chống này, xòe tán rộng hàng chục mét. Sĩ quan chỉ huy Lý Khắc Kỷ ra lệnh cho binh lính dựng ụ súng máy và điểm bắn pháo cối giữa các chạc cây, kết hợp với ụ súng máy trên mặt đất hình thành lưới lửa đan cài sin sít. Cánh lính do đó gọi đùa cái cây này là “trại Lý gia”.
Quân Nhật liên tục thử phát động tấn công với cây đa này. Có lúc còn phái một toán quân nhỏ chia nhau lặn ngụp trong biển cỏ tiếp cận cây, song lần nào cũng bị đòn phản kích của trận địa cây đẩy lùi. Khoảng thời gian này, cư dân trong trại Lý gia đều vật lộn cầm cự dựa vào số lương thực và đạn dược ít ỏi được quân Mỹ tiếp tế theo đường không khá thiếu chính xác.
Vì gặp đúng mùa khô, binh lính chỉ có cách gom góp củ chuối và thân tre lấy nước. Hằng sáng, công việc đầu tiên của cư dân trại Lý gia chính là lấy vải dù thu thập từng giọt sương đọng trên lá cây. Nhưng họ không uống ngay chỗ nước này mà hẵng uống nước tiểu của mình trước.
Bọn họ còn chặt một loại dây mây, đục lấy một lỗ trên mặt cắt, dẫn từng giọt từng giọt nước vào bi-đông, một sợi dây mây có thể lấy được hai, ba lít nước. Nhưng phần lớn thời gian, cổ họng họ vẫn khó chịu như bị dao khứa, da dẻ nứt toác vì cháy nắng và thiếu nước, rớm cả máu mủ.
Dây mây trên cây, các loại thực vật ăn được xung quanh, ốc sên rồi cả chim chóc đều trở thành hậu cần của trại Lý gia, cánh binh lính cắn răng cắn lợi, vậy mà cũng cầm cự được khoảng thời gian dài gấp đôi ba tuần, quân chủ lực sư đoàn 38 mới rốt cuộc cũng tới. Từ đây cục thế xoay chuyển, nhóm tàn quân gồm mấy chục người vẫn sống nhưng thể trọng đã giảm bớt một phần tư ấy quả thực đã được cứu.
Khi họ định phản công, quân Nhật bấy giờ đã ở trong tình cảnh bất lợi cũng bám lấy cây đa vũ trang toàn diện kia hòng cố thủ. Nhưng sư đoàn 38 mới được trang bị súng máy và sơn pháo của quân Mỹ lần lượt bắn hạ từng đài quan sát, từng tay bắn tỉa lẫn tay súng máy trên cây, nhổ phứt cái răng ấy không hề nương tay, mặc nó khô máu. Quân Nhật tan tác bị lùa xuống sông Tarung, phần lớn đều không lên nổi bờ bên kia.
Trong khu rừng Bắc Burma đó, số phận bao trùm sự tàn nhẫn công bằng lên những chàng trai trẻ của cả hai bên giao chiến.
“Trong “chiến dịch cây” nọ, đội trưởng Mục được cây che chở may mắn sống sót, để về sau mới có cơ hội gặp đàn voi của Lâm Vượng. Suốt cuộc đời, đội trưởng Mục coi chiến dịch đó là ngày sinh của mình, còn đàn voi kia là anh chị em của ông, khiến con người một thân một mình thiếu ý chí quy hương như ông có thể gắng gượng trong suốt cuộc chiến tranh gian khổ.
Tôi tưởng tượng cây đa khổng lồ kỳ diệu nọ, làm sao chịu tải được một trại lính tương đương cả thôn làng nhỏ bên trên cành lá. Các cư dân ở trên đó ngủ nghê, chảy máu, mất đi bàn tay, tim đập thình thịch, chịu đựng ánh mặt trời và bầy muỗi vặn phủ kín như sương, cái cây đó bị chặt đứt từng khúc, từng khúc, lại từng khúc. Còn máu và mảnh xác, nội tạng người thì cứ vậy hóa thành một phần của cây.
“Đây là nguyên nhân đội trưởng Mục trèo cây ạ?”
Shizuko nghiêng đầu sang một bên, như thể đang lắng nghe âm thanh gì. “Ông ấy không nói mình đi trèo cây mà bảo là đi ‘trốn’ lên cây. Khi quãng thời gian ấy tìm tới, khi đau khổ không rõ từ đâu tới gõ cửa, ông ấy lại lẳng lặng trốn lên cây. Chắc cậu thấy kỳ quặc lắm, cây chẳng phải tượng trưng cho quãng thời gian khổ sở nhất của ông ấy sao? Ông ấy bảo trái lại. Nếu không có cây, thì cả liên đội, bao gồm cả ông ấy, đã không còn một ai sống sót.
“Trong thời gian giằng co với quân Nhật ấy, mỗi khi có thể chợp mắt chốc lát, cảm giác hễ mở mắt ra, trông thấy cái cây ấy vẫn mọc lá mới, vẫn có tia nắng xuyên qua những kẽ lá rơi xuống, là trải nghiệm đẹp nhất suốt cuộc đời ông ấy. Ông ấy biết mình vẫn còn sống, cây cũng còn sống, ông ấy bảo, đau khổ vào khoảnh khắc ấy sẽ bước vào nhầm phòng”.
Tôi nghiền ngẫm lời Shizuko, đoạn bảo: “Cháu nghĩ chắc ông ấy cũng kể chuyện này với cha cháu”.
“Tôi cho là vậy. Đêm hôm đó cha cậu cùng ông ấy, ngồi trên băng ghế ngoài bến cảng, nghe nhau kể về quãng thời gian còn mãi đeo đẳng của mỗi người. Thiết nghĩ, đây cũng là nguyên nhân khiến cha cậu cố ý để xe đạp lại cho ông ấy. Ừm… Tôi cho là cha cậu cố tình để xe lại cho ông ấy”.
“Tôi không rõ cha cậu đã đi đâu, ông ấy hẳn nhiên cũng không muốn đội trưởng Mục biết nên mới lựa chọn không giải thích mà lẳng lặng để lại xe đạp. Tôi đoán, ông ấy cũng không muốn các cậu biết. Tuy tôi không quen biết cha cậu, nhưng khi nghe đội trưởng Mục kể lại chuyện ông ấy bảo hồi chiến tranh từng sang Nhật Bản, tôi có cảm giác cá tính hai người họ rất gần gũi. Tôi dường như có thể thấu hiểu một số quyết định họ đưa ra. Phải rồi, cha cậu nghiêm khắc với cậu lắm phải không?”
Tôi im lặng không đáp lời.
“Thiết nghĩ, người như bọn họ, có vẻ một khi sơ sẩy sẽ đem một số thứ còn giữ bên mình, gá sang cho người khác. Nhưng tôi cho rằng, dù cha cậu cuối cùng có lựa chọn thế nào, ông ấy cũng sẽ chọn cắt bỏ những thứ khác khỏi người mình”.
Tôi lắng nghe giọng nói ôn hòa của Shizuko, trước mắt dần hiện lên hình ảnh đội trưởng Mục trốn trên cây. Khuôn mặt trẻ trung cương nghị, khép mắt lại nghe tiếng giọt sương rơi từ phiến lá, một tay ông bám vào thân cây, cảm nhận lớp vỏ cây thô ráp được tôi luyện dưới bão táp mưa sa, đợi khi mở mắt ra, phát hiện trên mu bàn tay mình xuất hiện vết đồi mồi, bao tinh hoàn mềm nhão chảy xệ, da bụng toàn nếp gấp. Còn bên dưới gốc cây, bầy voi câm lặng đang từ đường voi đi ngang qua. Bầy voi tiến về phía trước trông có vẻ rất vững vàng, không rõ vì nguyên do gì mà thình lình con này rồi con kia đổ rầm xuống đất, nhưng lũ voi còn lại vẫn cất những bước vững chãi, trang nghiêm, bước về trước.
“Chắc tôi chưa kể cho cậu, đội trưởng Mục qua đời thế nào nhỉ?”
Tôi lắc đầu.
“Ông ấy ngã từ một cái cây trên núi Ô Lai, mấy ngày sau lúc được người ta phát hiện ra thì đã chết rồi”.
“Ừm, cháu rất tiếc”. Tôi nhất thời không biết nói gì.
“Chuyện này không phải lỗi của ai hết, tôi vẫn còn giữ tờ báo đưa tin về vụ tai nạn, cất cùng tờ báo ông ấy đăng tin tìm chủ nhân chiếc xe đạp. Có thời gian tôi không tài nào tha thứ cho ông ấy, vì tôi thậm chí còn không biết ông ấy đi Ô Lai, dù nếu biết, tôi cũng chẳng hay ông ấy ở trên cái cây nào.
“Ông ấy từng bảo tôi, cây cối ở Đài Loan quá đẹp, hồi trẻ, ông ấy từng dùng thừng leo núi trèo lên một cây bách đỏ ở núi Bắc Tháp Thiên, ông ấy kể ở trên cây có thể trông thấy sương mù bảng lảng lướt qua người, thấy lũ côn trùng lạ hoắc giao phối trên lá cây, trong không khí là mùi hương đa số loài người cả đời chẳng thể ngửi thấy”.
“Nhưng, dù cho không giận ông ấy nữa, tôi vẫn không khỏi nghĩ, lẽ nào ông ấy không biết một thân một mình đi trèo cây là việc nguy hiểm ư? Vì sao ông ấy còn giấu tôi đi làm cái việc nguy hiểm như thế. Lẽ nào ông ấy không thể vì tôi mà sống cuộc sống yên ổn, an toàn?”
Tôi cảm giác như lồng ngực bị thứ gì đó bóp nghẹt.
“Nhưng giờ tôi đã không còn nghĩ vậy nữa rồi”. Shizuko đặt tách trà xuống, rót đầy chiếc tách rỗng, rồi đặt nó vào lòng bàn tay vân vê.
Tôi đứng dậy, đi tới trước bức tranh vẽ voi. Voi vươn dài cái vòi, từ bên trong thò ra một dây mây chi chít lá, bò lên đầu, lên da và cả chân voi.
“Phải rồi, cháu muốn hỏi, hôm đó trong vườn thú, hình như mình vẫn chưa nhắc đến, về sau bác có còn gặp lại ngài Katsunuma hay không?”
Shizuko quay đầu đi, ra hiệu cho Mina đang ngồi bên cạnh lướt điện thoại đi vào phòng bà lấy gì đó. Mina đem ra một cuốn album bìa cứng dùng để dán ảnh từ thời xưa. Bên ngoài album còn có một chiếc khóa. Shizuko móc trong túi áo ra một cái chìa khóa mini cắm vào lỗ khóa cuốn album, chậm rãi, chăm chú, mở nó ra như thể mở một chiếc két bảo hiểm, rồi lật tới một trang bên trong.
Trong đó có vài bức Shizuko thời trẻ chụp cùng với voi, Shizuko thời trẻ cười rất rạng rỡ. Một bức khác là hình chụp chung của thiếu nữ Shizuko với hai người đàn ông trung niên, hiển nhiên là chụp trong hiệu ảnh, vì phông nền là tranh vẽ cầu vòm và dương liễu. Một trong hai người chắc hẳn là Katsunuma, người còn lại có lẽ là cha của Shizuko.
“Người to béo đứng bên phải là ngài Katsunuma. Ngài Katsunuma coi tôi như con gái là vì ở quê nhà Mino tỉnh Gifu, ông ấy quả thật cũng có một cô con gái trạc tuổi tôi. Hồi nghỉ phép quay về Nhật, ông từng đem ảnh tôi giới thiệu với con gái, rồi khi quay lại Đài Loan, cũng đem ảnh con gái cho tôi xem”. Shizuko lật sang một trang khác, lấy ra một phong thư bằng giấy thủ công màu ngà kẹp bên trong.
“Sau khi chiến tranh kết thúc còn cha tôi mất tích, tôi từng thử tới vườn thú hỏi thăm được địa chỉ ở Mino của ngài Katsunuma và viết thư cho ông ấy. Tôi nghĩ, dù ngài Katsunuma không còn trên cõi đời này nữa thì con gái ông hẳn cũng sẽ nhận được thư. Nhưng ngày lại ngày trôi qua, tôi cứ ngỡ không thể có tin tức gì của ngài Katsunuma nữa, mãi tới về sau mới đột nhiên nhận được phong thư này. Trong thư viết về tung tích dự đoán của ngài Katsunuma, và giải thích vì sao Mã tiểu thư từng biến mất một thời gian”. Bà lấy trong phong thư ra tờ giấy viết thư mỏng manh, giống giấy dầu đưa cho tôi. Tôi thận trọng nhận lấy. Thư được viết bằng bút lông, nét chữ trên giấy khá thanh tú, xen lẫn chữ Hán. Cuối thư ký tên là “Katsunuma Mio”.
“Tôi đọc cho cậu nghe nhé?”. Shizuko nhận ra tôi không thể đọc lưu loát tiếng Nhật, lên tiếng đề nghị. Tôi gật gật đầu.
Gửi Shizuko:
Cảm ơn cô đã có lòng quan tâm đến gia phụ, từ tận đáy lòng tôi cũng cầu chúc cho cha cô trở về bình an, Trước đây gia phụ thường nhắc tới cô trong thư, đối với tôi, cô chẳng khác nào người chị em sống ở nước Nam vậy.
Như cô đã biết, gia phụ đã mất tích, sau chiến tranh ông không hề quay về Mino, Gifu, đồng liêu cũng không mang về bất cứ tin tức gì, Tôi và gia mẫu ngày nào cũng chỉ biết khóc than, đợi ông xuất hiện như kỳ tích. Mấy bức thư trước cô viết, chúng tôi đều đã nhận được, nhưng do buồn thương nhất thời không biết nên trả lời thư cô thế nào.
Có điều gần đây có ngài Hamasaki Isamu, cất công từ Osaka tới tìm gia mẫu và tôi, mang theo tin tức về gia phụ. Tôi vì nghĩ cô có thể muốn biết chuyện này nên cầm bút viết thư cho cô.
Ngài Hamasaki Isamu là một trong những bác sĩ thú y của vườn thú Viên Sơn khi đó, ông và gia phụ, cùng một nhân viên chăm nuôi khác, ngài Tani Jirō, là hảo hữu. Giống như trong thư cô có nói, lần cuối cùng cô gặp gia phụ là sau khi vườn thú tiến hành “xử quyết động vật”. Đối tượng xử quyết lần đó là những động vật được vườn thú liệt vào hàng nguy hiểm cấp độ một, tức sư tử, hổ và gấu vv… Nhưng trên thực tế, về sau còn diễn ra đợt xử quyết động vật nguy hiểm cấp độ hai, chính là tinh tinh lông đỏ Ichirō-kun và cô voi Mã tiểu thư.
Nhân viên quản lý đều gần gũi như bạn bè với các con thú suốt thời gian dài, sau khi trải qua đợt xử quyết đầu tiên, không ai đồng ý tiến hành đợt thứ hai nữa, chuyện đó quá đau đớn, chẳng khác nào chính tay hành quyết người thân của mình. Nhằm chứng tỏ với phía quân đội rằng hoàn toàn không cần lo ngại việc Ichirō-kun sẽ trốn khỏi chuồng, mọi người còn gia cố thêm một lớp song sắt và tăng cường chống cháy nổ cho bề mặt tường.
Nhưng những nỗ lực đó không hề được phía quân đội chấp nhận. Mệnh lệnh vẫn giữ nguyên, ngày hành quyết cũng dần tới gần, nhân viên quản lý buộc phải dùng cách hạ thuốc, giết chết Ichirō-kun vốn rất thân thiết với mọi người. Rất nhiều người đã khóc.
Do không còn lâu nữa là đến hạn xử lý Mã tiểu thư, cha tôi bèn đưa ra một đề nghị to gan với ngài Hamasaki và ngài Tani. Đó chính là “đem giấu” Mã tiểu thư đi.
Tuy mọi người đều tán thành việc bảo vệ Mã tiểu thư, nhưng làm sao có nơi nào giấu được một sinh vật khổng lồ như Mã tiểu thư cơ chứ?
Ngài Hamasaki nói, năm Đại Chính thứ mười hai, hoàng thái tử Hirohito sang thăm Đài Loan, từ Cơ Long đáp “tàu Omeshi”[3] tới Đài Bắc, rồi theo đại lộ Chokushi và cầu Minh Trị tới thần xã cúng bái. Khi đó những nơi như Thái Bình Đinh, Nhược Trúc Đinh, Tân Khởi Đinh, Lão Tùng Đinh và Bát Giáp Đinh đều dựng cổng chào hoặc trang trí nghênh đón, nhưng ngoài những công trình bề nổi này, để bảo đảm an toàn cho hoàng thái tử, người ta còn thực hiện một công trình ngầm bí mật nhằm ứng phó các tình huống khẩn cấp thông từ Viên Sơn qua sông đến tận thần xã Đài Loan. Về sau nơi này trở thành không gian cất trữ vật tư, chuyện rất hiếm người biết. Trong đó có một không gian nằm dưới đáy sông, bị đóng kín không còn sử dụng. Ngài Hamasaki là người có thâm niên từng tham gia việc xây dựng công trình ngầm đó, biết một lối đi thuộc công trình này nằm ngay gần Viên Sơn. Ông nhận định, có thể tạm giấu Mã tiểu thư ở đó, những người tự nguyện tham gia sẽ phụ trách lo liệu đồ ăn. Cha tôi và ngài Tani lập tức xung phong thay phiên nhau ở lại trong địa đạo đó coi sóc Mã tiểu thư.
Một đề án không thể tưởng tượng nổi là thế, nhận được sự ủng hộ của một số nhân viên vườn thú, đã thực sự được xúc tiến. Bọn họ giao hẹn, tuyệt đối không được để tin tức lọt ra ngoài. Cha tôi vì thế chui xuống lòng đất cùng Mã tiểu thư, đợi khi nguy cơ từ các cuộc oanh tạc của quân Mỹ qua đi hoặc chiến tranh kết thúc thì lại đưa Mã tiểu thư về vườn thú.
Bọn họ đương nhiên không biết phải chờ bao lâu, cũng do cảm xúc bốc đồng mà chẳng cân nhắc gì nhiều.
Thế nên, dưới lòng đất bí mật, có một con voi nơi đáy sông, cùng chờ đợi chiến tranh lùi xa với con người trên mặt đất. Nhân viên vườn thú có liên quan hằng ngày đều đẩy xe kéo chuyển khoai lang, cỏ gia súc, cỏ đuôi chồn vào lòng đất tối tăm không rõ ngày tháng, chỉ có vài ngọn đèn khí axetylen cầm tay. Bên cạnh đó, họ đem thịt ngựa và bò rừng đã chết, giả làm thịt voi, gửi cho một số người liên quan bên phía quân đội và tòa thị chính, để bọn họ tin rằng Mã tiểu thư đã bị xử quyết.
Ngày ba mươi mốt tháng Năm năm Chiêu Hòa thứ hai mươi, xảy ra cuộc tổng không kích Đài Bắc. Quân Mỹ cất cánh từ Philippines, tiến hành oanh tạc Đài Bắc liên tiếp trong nhiều giờ đồng hồ, mục tiêu ném bom tập trung trong nội thành Đài Bắc, nơi cô Shizuko ở là Đại Đạo Trình hẳn cũng cảm nhận rõ uy lực của cuộc oanh tạc ấy. Nghe nói đến cả phủ Tổng đốc cũng bị đánh sập không thương tiếc. Tôi biết có rất nhiều bom chưa nổ đã găm sâu xuống đất đai Đài Bắc, nghe nói có tận mấy quả bom phải hàng chục năm sau mới được đào lên.
Sau cuộc không kích đó, ngài Hamasaki và ngài Tani có tới lối vào đường hầm bí mật nọ, định đi xem Mã tiểu thư và cha tôi thế nào, chẳng ngờ đất đá xung quanh bị bom xới vụn, đã lấp kín lối vào.
Ngài Hamasaki và ngài Tani tập hợp những nhân viên vườn thú có can dự, tính đào một thông đạo từ lối vào nọ cứu cha tôi và Mã tiểu thư. Sau vài ngày, những người hùng hục đào bới tưởng chừng đã sắp bỏ cuộc thì phát hiện sâu trong đống đá nọ đang có sự tự chuyển dịch, mấy khối đá khổng lồ bị thứ sức mạnh kỳ diệu nào đó đẩy ra. Bọn họ khẽ gọi với vào: “Ngài Katsunuma! Mã tiểu thư! Ngài Katsunuma! Mã tiểu thư!”.
Ngay khi màn đêm vừa buông xuống dưới ánh đèn chiếu rọi, một chiếc vòi voi thò ra từ khe đất đá, khiến ai nấy thêm phần phấn chấn, ra sức đào tiếp. Rốt cuộc vào đêm khuya hôm ấy, Mã tiểu thư thân hình gầy sọp cũng thoát khỏi lối đi ngầm kia.
Có điều bọn họ không hề tìm thấy thi thể cha tôi. Có lẽ ông đã bị vùi trong lớp đá rơi tận sâu bên trong, cứ thế im lìm nằm dưới đáy con sông đó. Ngài Hamasaki buộc phải đưa ra suy đoán hợp lý mà đau lòng này, với bọn họ cũng không lấy đâu ra nhân lực mà đào sâu thêm nữa. Ngài Hamasaki vì chuyện ấy đã cất công đến xin lỗi mẹ và tôi, ông ấy nói mình đã hy vọng biết nhường nào, người bị vùi lại đó là bản thân ông ấy.
Bất kể sự thật ra sao, tôi vẫn luôn tin rằng nếu cha tôi chết trong lối đi ngầm đó, ông cũng nhất định đã dốc hết sức mình để chỉ cho Mã tiểu thư lối ra.
Cô Shizuko thân mến, đây là một phần chân tướng của sự việc mà tôi nghe được từ ngài Hamasaki. Ông ấy nói ngài Tani sau chiến tranh đã qua đời vì bệnh tật, những nhân viên quản lý còn lại của vườn thú cũng đều coi chuyện này là bí mật tuyệt đối, không thể nhắc đến với người đời. Ông ấy phải tới báo tin cho tôi, bằng không sẽ không thể yên lòng.
Cô Shizuko, có thể vài năm nữa, sau khi tôi và mẹ đã bình tâm trở lại, chúng tôi sẽ tới Đài Loan một chuyến, thăm vườn thú nơi cha tôi từng công tác, và cũng để thăm cô. Có lẽ khi ấy, cô đã biết được tin tức về cha mình rồi cũng nên. Đây có lẽ là mối nhân duyên mà cô voi Mã tiểu thư đã mang đến cho chúng ta chăng.
Tôi nghe Shizuko đọc thư, hít vào một hơi thật sâu sâu sâu sâu. Câu chuyện vẫn luôn tồn tại trong lúc ta không tài nào biết được mình đã đi từ quá khứ đến khoảnh khắc này của hiện tại thế nào, chúng ta mới đầu thường không hiểu vì sao dưới sự mài mòn của thời gian mà chúng vẫn tồn tại như thể ngủ đông ở một nơi nào đó, nhưng khi lắng nghe, cảm giác sau khi bị đánh thức, chúng liền theo hơi thở đi vào cơ thể ta, tựa cây kim chạy dọc sống lưng chui vào đầu ta, rồi lại thoắt nóng thoắt lạnh đâm vào tim.
“Những thứ có thể nhìn thấy bằng mắt một ngày nào đó cũng sẽ biến mất thôi”. Tôi đã nói với bác Phúc như thế.
Bác Phúc vừa lau chùi cái chân nến mối hun vừa đáp lại tôi, mắt trái của bác vẫn đang đi tìm mắt phải: “Cậu chẳng hiểu gì, điểm quan trọng không phải là ‘rỗng’”.
Tôi rời khỏi căn hộ của Shizuko, trên người dường như vẫn còn vương mùi hương cây cỏ ngập tràn khắp căn phòng. Tôi cảm giác bản thân nhất thời không thể nào bình tĩnh, phải tìm một nơi lấy lại hơi. Tôi đạp xe tới quán cà phê vốn tên “Nhà Kyoko” nhưng giờ gọi là “Táo dại”, kêu A Đạt làm cho một cốc sinh tố táo.
Sau đó tôi lấy từng món đồ trong ba lô ra, xếp lần lượt lên bàn, rồi lại lần lượt cất đi từng món. Tôi dùng cách này để điều chỉnh lại tâm trạng mình. Tôi nhớ lại đợt hạn hán mấy năm trước, khi cả Đài Loan đều mải thảo luận làm cách nào tiết kiệm nước thì Cát lại lôi tôi chạy xe tới một khu rừng hiếm người lai vãng đi “đào mối”. Đó là khu rừng đất bằng mà Cát vốn hay tới quan sát thực vật, nhưng bấy giờ những bụi cây vốn xanh tươi đều đã xám xịt cả vạt. Sau khi tìm thấy tổ mối trong một gốc cây khô mà anh đã đánh dấu từ trước, Cát lần theo đầu thông đạo ngang mặt nước lũ kiến thợ dựng nên, bắt đầu đào xuống dưới.
“Ra là kéo tôi theo làm khổ sai”. Tôi than vãn.
Cát cắm xuống một cây thước đo, chúng tôi men theo lối đi của lũ mối đào xuống tiếp, lối đi của mối dần dần lộ ra không thẳng tuột hướng xuống như gieo quả nặng mà có rất nhiều đường uốn khúc không cần thiết. Kiến thợ và kiến càng nối đuôi xếp hàng một cách lộn xộn mà lại như có quy luật gì đó, qua qua lại lại giữa lối đi. Lũ kiến thợ bò từ dưới lòng đất lên, con nào con nấy đều ngậm một ít viên đất trong cái hàm to.
Một tiếng đồng hồ, hai tiếng đồng hồ, ba tiếng đồng hồ trôi qua, dần dần thành ra Cát ở phía dưới đào, tôi ở bên trên chuyển đất, hoặc tôi ở bên dưới đào, Cát ở phía trên chuyển đất. Cái hố đã sâu quá chiều cao một người, rồi hai người chúng tôi. Chuyện này sớm đã trong dự liệu của Cát, anh thậm chí còn mang một bộ thang dây thừng rất dài, và đồ nghề cắm trại.
Hôm đó chúng tôi ngủ giữa rừng, rồi ngày hôm sau thức dậy lại tiếp tục đào, đến tận hoàng hôn ngày thứ hai, một đường hầm mối dài gần mười hai mét mới hiện ra trước mắt chúng tôi. Cát chỉ một số cái hang khá rộng trong đó, bảo tôi đó chính là “kho dưỡng chất” của lũ mối. Mối sẽ giữ không gian này luôn ẩm thấp, nhờ đó chân khuẩn sẽ tự nhiên sinh sôi trong đây, trở thành nguồn thức ăn cho chúng đem nuôi ấu trùng. Nhưng vì hạn hán, giờ trong kho dưỡng chất khô khan trống rỗng. Cát bảo tôi cởi găng tay ra sờ thử kho dưỡng chất ở sâu cùng cái hang, quả nhiên vẫn còn chút dấu vết ẩm ướt, lũ mối tảng lờ ngón tay tôi, tiếp tục theo lối đi nọ chui xuống sâu hơn nữa.
“Xuống tiếp thể nào cũng có nguồn nước”. Trông mặt Cát chẳng có vẻ gì là mệt, trái lại còn ánh lên vẻ hưng phấn.
“Bọn chúng phải đào bao lâu nữa?”
“Không biết. Nói về độ sâu thì, tôi cho là phải vài mét nữa mới thấy được nước”.
“Chỉ vì nước?”
“Chỉ vì nước. Khả năng chịu mất nước của mối rất thấp, bọn chúng nhất định phải có nước, nên dù cho chết bao nhiêu mạng mối, bỏ ra bao nhiêu thời gian, bọn chúng chắc chắn sẽ đào xuống tiếp bằng bất kể giá nào, đấy là trời định, là bản năng. Không có kẻ địch khủng khiếp nào có thể ngăn được bọn chúng”. Trong hố sâu tối tăm tôi không trông thấy vẻ mặt Cát. Tôi hồi tưởng lại lúc cầm đèn pin soi từ trên xuống dưới con đường lấy nước của lũ mối trắng khi ấy, đột nhiên có một khung cảnh hoàn toàn mới trải ra trước mắt. Tôi sực nhớ ra, cái nhánh lấy nước chính đâm xuống từ mặt đất, cùng cái hang đa số đào đến một nửa thì bỏ hoang, hỗn loạn mà lại có mục tiêu ấy, sao mà giống một cái chân nến hướng về tâm trái đất. Kho dưỡng chất ẩm ướt kia, chính là ngọn lửa leo lét nơi đầu mút chân nến.
Lúc nghĩ đến đây, máy tính bảng của tôi vang lên tiếng chuông báo tin nhắn mới. Tôi mở máy tính, là thư của Abbas.
Tiểu Trình:
Cảm ơn bức ảnh chiếc xe đạp Hạnh Phúc sau khi phục hồi mà anh gửi, tôi gần như không nhận ra đó là chiếc xe từng bày trong tiệm mình, nó như thể quay lại một thời điểm nào đó, được sắp đặt lại vậy. Xe xem như đã trở về nơi nó nên về, bên cạnh anh rồi, đúng là chuyện vui. Phải nói luôn, thời gian này không phải tôi không trả lời tin nhắn của anh, mà là muốn đợi tâm trạng và mọi chuyện ổn thỏa rồi mới trả lời anh cho tử tế.
Anh hẳn rất lấy làm khó hiểu, tôi rốt cuộc biến đi đằng nào? Lúc anh nhận được tin này, có lẽ tôi vừa rời khỏi một thôn làng gần Lashio, cũng chính là thôn làng trong băng ghi âm Basuya từng nhắc tôi, nơi ông cùng binh đoàn tạm thời dừng chân sau khi chiến tranh kết thúc.
Đây là một ngôi làng dân tộc Shan rất điển hình, trong làng có một ngôi chùa thờ Phật, một trường tiểu học. Chuông trong chùa, nghe nói được làm từ chính quả bom điếc thời Thế chiến hai. Tiếng chuông ấy nghe rất vang, sáng sớm hòa thượng sẽ gõ chuông truyền đi thứ âm thanh xuyên thấu như có thể vẳng tới tận rừng rậm xa xôi.
Ở nơi thôn làng rất giống quê hương này, tôi nghĩ đến chuyện cha tôi, Basuya; cũng nghĩ đến câu chuyện về cha anh mà anh từng kể. Nghĩ tới cả điều anh nhắc đến trong thư, chuyện đội trưởng Mục lần đầu và cũng là lần cuối trông thấy cha anh, theo lời Shizuko. Đương nhiên, tôi cũng phỏng đoán, suy đoán, chuyện anh và Sabina… với cả Annie. Tôi sẽ không hỏi anh Annie trông thế nào đâu, anh yên tâm.
Chỉ là tôi muốn nói với anh vài điều, những điều khi nói chuyện trực tiếp, tôi tuyệt nhiên không có cách nào nói với anh.
Một hôm, sau khi tôi xuất ngũ được vài năm, cảnh sát khu vực tới nhà tôi, nói Basuya chết rồi. Ông ấy lái xe tắc-xi tới vùng ngoại ô, dùng ống nhựa dẫn khí thải từ ống xả vào trong xe, rồi chết vì ngộ độc khí thải. Chúng tôi đi nhận xác, cũng nhận luôn xe, các khe hở trên xe đều được bít giẻ kín mít, hệt con người cố chấp ấy. Basuya đầu ngoẹo sang bên ngồi trên ghế lái, hệt lúc ngủ gật trên tàu hỏa hồi đưa tôi tới Đài Bắc thăm vườn thú Đài Bắc.
Nhớ lại thì, Basuya rất thương tôi. Chuyến đi chơi đó là khi tôi bốn, năm tuổi, chúng tôi tới ga Đài Bắc rồi bắt xe buýt tới Viên Sơn. Đầu tiên ông và mẹ đưa tôi đi công viên vui chơi thiếu nhi, chơi tách cà phê xoay với đu quay khổng lồ, rồi mới dẫn tôi vào trong vườn thú. Tôi còn nhớ khi đó chúng tôi trông thấy báo đen, hổ và sư tử, có một con gấu, ở trong lồng đi từ bên trái sang bên phải, rồi lại đi từ bên phải qua bên trái, lông trên đầu vì thế bị mài trọc lốc.
Về sau lúc đi tới chuồng voi, có một chuyện kỳ lạ đã xảy ra. Basuya và chúng tôi đứng trước chuồng voi, tôi trông thấy ông chu miệng trong im lặng, mắt sáng lấp lánh. Như thể nghe thấy tiếng ai gọi mình, con voi chậm rãi bước ra, từ trong bóng râm bước tới trước chấn song, sau đó vươn cái vòi dài của nó, gác lên vai Basuya, cặp mắt xét tương quan với đầu thì bé tin hỉn, sáng lấp lánh. Bàn tay Basuya dắt tay tôi nóng hổi ướt dính, bàn tay còn lại của ông thì đặt lên vòi voi, giống như hai người bạn cũ đang chào hỏi nhau. Tiếp đó mẹ chụp cho chúng tôi và con voi tận mấy tấm ảnh. Một trong số đó chính là bức hình anh từng trông thấy. Còn một tấm thì do Basuya giao chiếc máy ảnh quý giá cho tôi, bảo tôi chụp lại, cảnh Basuya, mẹ và voi. Nhiều năm về sau, tôi mới biết đó không những là tác phẩm đầu tiên của tôi, mà còn là tác phẩm đẹp nhất.
Khi đó con voi đã đổi tên thành Lâm Vượng rồi. Basuya hiển nhiên mới đầu không hề biết Lâm Vượng chính là Ah Mei của mình, ông không biết sau khi chia tay đường ai nấy đi trong khu rừng Bắc Burma đã chôn cất vô số người và động vật, còn có một ngày, đôi bên gặp lại nhau trong một thành phố lớn thế này. Đó là lần duy nhất trong đời này, tôi bắt gặp Basuya để lộ cảm xúc.
Basuya cũng sau năm đó, dần thưa về nhà. Mẹ tôi lờ mờ biết được, ông ấy dường như đã có người đàn bà khác bên ngoài. Sau đó bà từng cãi nhau một trận với Basuya, có lần Basuya uống rượu, bọn họ lại vì chuyện đó mà cãi vã, Basuya điên tiết, cầm đũa, đâm vào tai phải mình.
Có lẽ tôi chưa kể với anh, trong cuộc chiến đó, Basuya gần như đã mất đi thính giác tai trái. Cái tai đó chỉ còn nghe được những âm thanh nhỏ như kiến, như có tảng đá chặn lại dòng chảy âm thanh. Tôi từng nghe mẹ kể, Basuya đêm đêm đều khổ sở vì tiếng ù ù trong bên tai còn lại, tối hôm đó, ông ấy đã chọc điếc luôn bên tai vẫn có thể nghe được âm thanh, song đầy tạp âm ù ù ấy.
Từ đó về sau mẹ tôi không còn cãi nhau với Basuya nữa. Hai người họ trở nên rất yên tĩnh, yên tĩnh đến độ căn nhà thành ra có vẻ rất rộng. Tôi ở trong căn nhà như thế, cảm tưởng hành lý trong lòng, không biết bị ai đến từ đâu, lần lượt chuyển đi, để lại căn phòng trống.
Như anh biết đấy, về sau tôi rất hiếm khi gọi ông ấy là cha, ông ấy là Basuya thôi. Basuya về sau một mình vào thành phố lái tắc-xi, ông dùng mánh lới khiến người ta không biết rằng ông đã điếc tai, lấy được chứng chỉ tài xế. Vì ông biết đọc khẩu hình, nghe thấy một số âm thanh người thường không nghe thấy được, như tiếng lòng của con người. Giống loài voi.
Sau khi lão Trâu chết, thôn Nhị Cao cũng bị giải tỏa, tôi có đi tra về lịch sử vùng đất Cương Sơn. Rất kỳ lạ là, trong hai năm sống trên đó, tôi hoàn toàn không có tình cảm gì với mảnh đất này, cũng không muốn tìm hiểu về nó. Nhưng sau khi lão Trâu chết, tôi đột nhiên rất muốn hiểu thay phần ông ấy, xem nơi ông ấy an táng rốt cuộc ra làm sao.
Thì ra vùng đất đó từng xảy ra hai đợt, không hiểu sao rất nhiều người cùng bị chôn xác tập thể.
Thời kỳ đầu thực dân, người Nhật nhằm dẹp yên các vụ nổi dậy chống Nhật đã tàn sát hàng loạt nam giới trẻ trong các thôn làng tại đây với cùng một phương thức. Thanh niên trên mười sáu tuổi bị tập hợp lại, bị đâm chết hoặc chém đầu, sau đó hỏa thiêu. Người chống đối vì thiếu vũ khí nên đành vào chùa lấy pháp khí của các gia tướng nhảy trận đầu[4] làm vũ khí, đương nhiên đó chỉ là hành vi chống đối yếu ớt, một tiếng kêu tuyệt vọng mà thôi.
Năm 1944, quân Mỹ tiến hành không kích Cương Sơn, nơi tập trung nhà máy công binh và đơn vị không quân của Nhật. B-29 nhằm vào mục tiêu chủ yếu là “Nhà máy hàng không 61 của hải quân Nhật Bản”, dội xuống sáu trăm năm mươi tấn thuốc nổ, biến cả vùng Cương Sơn gần như thành đống đổ nát. Cặp kính phi công của tay lính phi công người Nhật mà lão Trâu nhặt được, có lẽ đã bị nổ bay tới nơi vốn là căn cứ của đơn vị không quân số 2 - mà sau này là vườn nhà lão Trâu, trong chính trận không kích đó. Nó bị đất cát xới tung và tường gạch đổ nát vùi lấp dưới lòng đất, sau đó vì lão Trâu trồng dây mướp mới đào được nó lên.
Đây là suy đoán của cá nhân tôi, có thể, có lẽ, đoán chừng vậy Nhưng tôi vẫn nhớ mãi, trải nghiệm như thực như ảo mặc đồ lặn, đeo bình khí, từ căn hầm trong tòa nhà bị bỏ hoang giữa cánh đồng đó, theo dòng nước tiến vào dòng chảy ngầm của sông A Công Điếm. Tôi như đi trên một sợi cáp thép nối hai thế giới, tuy khác với những trải nghiệm nơi rừng núi Malaysia, nhưng cảm giác mồ hôi rịn ra trong lòng bàn tay thì giống hệt. Tôi cũng nhớ đến con chim ấy, con sáo đá ấy, mãi về sau tôi cũng khó lòng quên được, nó đã đậu trên vai lão Trâu, chớp đôi mắt như sao nhìn tôi, rồi ghé vào tai lão, như thể đang thì thầm điều gì.
Thời gian đó tôi nghĩ, cha anh, Basuya, hoặc lão Trâu, đều như có một thứ gì giống gai nhọn trên người. Họ cần mẫn trong suốt thời gian dài để lần lượt nhổ bỏ chúng, nhưng đến khi chỉ còn sót cái cuối cùng thì lại cắm ngược nó vào da thịt mình.
Tôi từng tới Afghanistan và Chechnya, mong hoàn thành mộng tưởng của một phóng viên ảnh chiến trường, một anh hùng nhiếp ảnh, nhưng đều chỉ quanh quẩn ở ngoại vi vài tháng rồi bỏ cuộc. Ngoại vi mà tôi nói không phải chưa tiến vào biên giới quốc gia, mà là cảm thấy mình không cách nào tiến vào trung tâm của vấn đề, trung tâm của cảm xúc. Tôi từng bắt xe buýt tới Moscow, từ Bắc Ossetia tiến vào Grozny, trên chiếc xe buýt được cải trang từ xe tải, nhìn thấy giếng dầu đốt cháy, cánh đồng bỏ hoang, nhà cửa đổ nát, cùng máy cày nằm thẳng cẳng nơi cuối con mương, tôi giơ máy ảnh lên, ngỡ mình đã chụp được gì đó, nhưng cùng lắm cũng chỉ có vậy, ảnh tôi chụp cùng lắm chỉ có vậy. Tôi không có cách nào tiến được vào thứ tinh thần bản xứ nào đó, không cách nào khiến những bức ảnh ấy sản sinh ra sức mạnh đè nén lòng người, không cách nào nảy sinh một thế giới quan độc đáo.
Nhiếp ảnh gia chiến trường đích thực chắc chắn biết, những câu chuyện kể về chiến tranh hay ảnh chụp chiến trường hoàn toàn không thể ngăn cản cái việc loài người đã làm mãi này. Nhưng ảnh của họ, sẽ khiến người xem cảm nhận được gì đó phức tạp hơn, khiến người xem bị đốn ngã, cảm giác lên thiên đường rồi xuống địa ngục. Nhưng tôi không đạt được đến trình độ đó.
Quãng thời gian này tôi đã hơi hiểu thông rồi. Người ngay đến lời lão Trâu hay Basuya đều không nghiêm túc muốn lắng nghe như tôi, căn bản không xứng làm một nhiếp ảnh gia có thể quan sát tận bản chất con người. Tôi chỉ coi tao ngộ với họ như đọc một cuốn sách giáo khoa lịch sử, chỉ chụp ảnh qua ống kính ngắm, tôi chỉ sắm vai là nhiếp ảnh gia, một thứ hàng giả.
Thiết nghĩ vào thời đại đó chắc chắn có rất nhiều người đã chọn học theo cách cá phổi chống chọi qua mùa hạn, để chống chọi qua một thời khắc nào đó. Nếu là tôi bây giờ, có lẽ tôi sẽ cầm một cái cuốc chim, đứng bên cạnh họ, lẳng lặng cùng họ, dưới ánh trăng thử đào cái thứ mà chúng tôi cũng không rõ, được chôn ở nơi nào đó ấy lên. Không, có lẽ không nhằm mục đích đào được gì, mà chỉ là cùng họ bổ xuống từng nhát cuốc.
Nhưng không kịp mất rồi, phải không?
Trở lại với thôn làng hiện tôi đang ở vậy, nói anh nghe, tôi đã lần theo tấm bản đồ trong hộp giấy Basuya để lại, tìm được thôn làng mà ông ấy nhắc đến trong băng ghi âm. Dân làng đều đã không còn là thế hệ trải qua cuộc chiến xưa kia nữa, ngoài cư dân gốc, còn có một số ít người là con lai lẫn dòng máu Nhật Bản, Trung Quốc sống ở đây. Người trong thôn chủ yếu canh nông, nhà cửa lấy mưa bụi làm màn, vài con đường không lấy gì làm bắt mắt đan cài ở giữa. Ánh nắng chiều chiếu xuống những căn nhà nông này, khi đám cỏ và nông cụ lấp loáng phát sáng, các mái nhà thư thái ung dung, từ ống khói nhả ra bảng lảng khói bếp.
Tôi ở tại một căn phòng trống của một hộ gia đình trong thôn, hễ rảnh rỗi lại tới những nơi có khả năng trên bản đồ, dùng cuốc chim cứ thế đào, đào không rõ lý do. Có mấy đứa trẻ trong thôn thấy thú vị, cũng theo tôi đi đào, tôi đem bánh kẹp mang từ Đài Loan chia cho chúng, chia cả cho chúng mì gói mang theo, còn chúng đi mót quả dại mời tôi, hoặc rủ tôi tới nhà chúng ăn cơm.
Anh chồng của hộ nông tôi ở trọ thử dùng thứ tiếng Anh ngắc ngứ hỏi tôi muốn tìm gì, tôi quả thực không cách nào giải thích câu chuyện đồ sộ phức tạp là thế cho anh ta hiểu chỉ trong một lần. Nhưng không biết sao, anh ta nghe hiểu hai từ tiếng Anh là “cây” và “xe đạp”, nên đã biết tôi muốn tìm gì. Sáng sớm ngày hôm sau, anh ta và bọn trẻ dẫn tôi tới rìa một khu rừng phía Tây ngoài làng.
Sau gần một tiếng đồng hồ đi bộ ra khỏi làng, chúng tôi tới được rìa một khu rừng, từ xa đã trông thấy một cây đa khổng lồ. Cành cây tựa phần xương hông trần trụi, đan cài vào nhau, bên trên giăng kín đủ loài dương xỉ và dây mây. Anh chàng kia nói tiếng Anh bằng giọng không mấy lưu loát nhưng đầy tự tin, cái cây này biết “bắt những linh hồn đang bay lên thiên đường” (đại khái là ý đó).
Anh ta chỉ cho tôi, trong đám cành lá ken sít che kín cả bầu trời, có một chiếc khung xe đạp, treo lơ lửng tại đó.
Ra là vậy.
Tôi cứ ngỡ chiếc xe đạp Basuya chôn hẳn vẫn còn nằm dưới lòng đất. Nhưng một chú chim nhỏ ăn quả, đã từ trên không thải phân rơi vào kẽ đất. Có lẽ khi Basuya đào đất chôn xe đạp, đã đồng thời xới những hạt giống ấy lên. Mùa mưa đến, mùa mưa đi, hạt giống nảy mầm, một số chết, một số sống sót. Cái cây khỏe mạnh nhất đã dùng thân và cành nhánh mọc ra từ đất đẩy cái xe đạp chôn trong lòng đất lên. Một năm nọ xe bị đẩy toác bề mặt đất, một năm khác bị đẩy lên cao ngang đầu người, rồi mười năm sau, cành lá của cây đã quấn kín khung xe, tựa hồ hợp thành một thể với thân sắt của xe. Rồi sau cái cây tiếp tục đưa chiếc xe cách xa khỏi mặt đất, tiếp tục bao phủ nó, để trở thành hình dạng thế này.
Anh chàng kia bảo tôi, mới đầu người trong làng không ai chú ý tới cái cày này, vì từ sau khi chiến tranh kết thúc dân làng đã chuyển sang khai khẩn bên phía Đông mà bỏ bẵng phía này. Đến tận mấy năm trước, có người phát hiện ra “cây ôm xe đạp”, dân làng cho rằng đây vừa là một kỳ tích vừa là một chuyện đáng sợ, do đó anh ta không khuyến khích tôi tới đây vào buổi tối.
Trông thấy cái cây này, cái xe này, tôi tưởng tượng tình cảnh khi xưa Basuya chôn xe đạp, cũng nghĩ đến lão Trâu, chiếc xe đạp kia của ông ấy, có lẽ lại là một chiếc xe khác mà Basuya chôn chăng.
Thời gian đã lấy đi rất nhiều thứ, cũng phóng thích rất nhiều thứ, chẳng phải sao?
Abbas, đang chuẩn bị tới rừng Bắc Burma buồn rầu mà thảm khốc.
Tôi mở tập tin hình ảnh đính kèm, chính là cái cây ôm xe đạp nọ, cành lá rậm rạp của nó cứ như một thành phố. Chiếc xe đạp kia rất nhỏ và bị che lấp gần những thân cành chính giữa, nếu không nhìn kỹ rất dễ cho rằng đó là một phần của cây.
Tôi ngẩn ra nhìn bức hình, bao nhiêu sự việc trôi qua trong đầu. “Táo dại” lúc này loáng thoáng xuất hiện tiếng nhạc mang tạp âm rè rè lạ lùng, tôi không khỏi quay đầu về phía quầy bar, phát hiện ở đó đã có thêm một cái loa to oành.
“Đang nghĩ không biết có phải ông anh mất hồn rồi không, thứ to lù lù thế này cũng không để ý thấy”.
“Gì đây?”
“Máy quay đĩa 78, bản Vọng xuân phong do Thuần Thuần, nữ ca sĩ nhạc Pop đầu tiên của Đài Loan hát, đĩa cánh kiến”.
“Cậu kiếm đâu ra được thứ này?”.
“Chính là mua chỗ anh bạn anh giới thiệu đấy, A Bố. À không, phải là mượn, hay nói cách khác là thuê tạm. Anh ấy bảo nếu tiệm của em sập thì phải trả anh ấy, anh ấy sẽ mua lại nguyên giá. Anh ấy bảo người thường đều nghĩ đĩa hát này cả Đài Loan chỉ còn lại ba bản, nhưng chỗ anh ấy lại giấu được bản thứ tư này”.
A Đạt vô cùng hào hứng khoe với tôi, khi gã chậm rãi xoay tay cầm, đầu kim đọc đĩa như thể vận động viên trượt băng xoay tròn trên mặt sông đóng băng, rãnh ghi âm thanh, thông qua đầu kim bằng thép, từ loa khôi phục thành âm thanh. Chất giọng hơi chói tai của Thuần Thuần bằng một thứ sức mạnh thẩm thấu lạ lùng bao trùm lấy cả quán ăn, không khí xung quanh đều truyền đi một thứ rung động tinh tế.
“Loại đĩa nhạc này được làm từ chất bài tiết của một loài côn trùng gọi là cánh kiến đỏ, dính cùng nhựa thông, tinh than, trộn với hoàng thổ, cũng có người gọi là đĩa than. Thật không ngờ nhỉ, âm thanh lại bị một thứ như này lưu lại. Mà không, có lẽ nên nói là, con người lại nghĩ được ra cách thức này để lưu giữ âm thanh”.
Tuy chúng tôi không nghe thấy chính xác, nhưng âm thanh có lẽ đã được lưu giữ dưới đủ mọi hình thức. Tôi ngồi đó yên lặng nghe hết bài Vọng xuân phong, bài hát tôi không biết đã nghe mẹ hát bao nhiêu lần. Mỗi lúc nấu nướng, tắm táp cho tôi dưới mái hiên bà đều hát bài này. “Đêm quạnh quẽ mòn mỏi bên ánh đèn, gió lạnh phả vào mặt”. Tôi từng cười cợt giọng mẹ the thé, rất không ăn nhập gì với bàn tay to bè và bộ tóc uốn lô của bà. Bà không đếm xỉa đến tôi, vẫn tiếp tục hát the thé.
Lúc này tôi nhận ra, sắc trời bên ngoài đã thấm thoát ngả tối.
Lúc tôi đạp xe rời “Táo dại”, bầu không đã lất phất mưa bay. Tôi đạp loanh quanh thành phố hết vòng này tới vòng khác, vòng này tới vòng khác, vòng này tới vòng khác, xe nào cũng nhanh hơn chiếc xe này, do đó tôi có thể nhìn ngắm phong cảnh rớt lại sau đa số mọi người. Mưa vẫn rơi lâm thâm, khoảng nửa đêm, tôi đạp tới cổng sau bệnh viện, len lén mở cửa hành lang vốn để nhân viên căng-tin ra vào, dắt xe đạp vào trong. Tôi biết giờ này hành lang sẽ được mở để chuẩn bị đổ rác. Sau khi vào được bệnh viện, tôi vòng vèo trái phải, men theo lối đi của các nhân viên hộ lý đã ghi chép lại trong mấy ngày nay, thành công dắt được xe vào cầu thang sau cửa thoát hiểm mà không bị ai trông thấy.
Chiếc xe này không như các dòng xe hiện giờ, lấy độ nhẹ làm mục tiêu thiết kế, do vậy mỗi lần vác nó lên đều thấy vô cùng nặng. Một tay vác xe, một tay vịn lan can, tôi bước từng bước lên tầng mười hai nơi có phòng bệnh của mẹ. Căn phòng là gian đầu tiên ngay bên phải cửa thoát hiểm, leo lên đến nơi thì tôi đã ướt đẫm từ đồ lót ra áo ngoài.
Vừa mở cửa ra, đập vào mắt tôi là anh sáu đang ngồi dựa bàn ngủ, cuối cùng anh cũng đã về. Ánh đèn chiếu trên khuôn mặt nghiêng của anh, không hiểu sao khiến tôi nhớ đến một chuyện cũ.
Vì cách nhau đến mười mấy tuổi, anh sáu thường thích cà khịa trêu tôi, có lần đang đùa nhau, bị tôi bám riết không buông, đánh đấm dần dần hăng lên, anh thình lình tung cho tôi một cú vào ngực. Tôi vừa tức vừa đau, bèn khóc váng lên, dọa đi mách mẹ. Anh bảo có mách cũng vô dụng, vì cú đấm vừa rồi của anh là “thất thương quyền”, tôi đã trúng thất thương quyền thì chỉ nội trong bảy ngày là chết.
Nghe thấy thế, tôi trái lại không đem chuyện này mách với cha mẹ, mà chỉ tự rầu trong lòng. Tôi sắp chết rồi mà mọi người không ai hay. Ý nghĩ ấy khiến tôi có một khoái cảm đau thương, tự xót xa thân mình. Có điều cảm giác tuyệt vọng ấy đến giờ tôi vẫn nhớ như in. Sắp chết rồi, chân đã bước hụt rơi xuống vực dốc, giờ chỉ còn đợi đập xuống đất nữa thôi.
Khi ấy gia đình tôi đã thuê thêm một căn phòng trên tầng ba khu kinh doanh để chúng tôi ngủ nghê học hành, tối đến lúc anh sáu dựa bàn học ngủ quên, tôi rón rén tới chỗ ngăn kéo đựng đồ nghề của cha lấy ra cây kéo ông dùng để cắt vải, định đâm vào cổ anh sáu kẻ đã hại chết tôi. Cây kéo đó là món đồ nghề cha yêu quý nhất.
Khi đi tới trước mặt anh, tôi nghe thấy tiếng anh sáu ngáy khe khẽ, khuôn mặt nghiêng trẻ măng của anh mang đến cho tôi một sự hoang mang, dịu dàng khó tả, và cả cảm giác hiện hữu của sinh mệnh. Rồi một ngày tôi cũng sẽ có khuôn mặt nhìn nghiêng như thế, cũng say ngủ trong tư thế như thế. Không rõ bao lâu trôi qua, tôi mới lẳng lặng đặt cây kéo lại ngăn đựng đồ nghề.
Bảy ngày sau tôi đương nhiên không chết, anh sáu cũng không. Tôi bảo anh sáu anh dám lừa em, anh sáu bảo mấy lời đó chỉ có đồ ngốc mới tin. Đúng là chỉ đồ ngốc mới tin.
Lúc này mẹ đang nằm trên giường, ở khoảng giữa giấc ngủ sâu và ngủ nông, trên người mẹ không hiểu sao có mùi thơm của trẻ sơ sinh, nhưng tôi biết bà đã già yếu tới mức cứ đi một bước lại đau một bước. Đầu gối bà đã không thể chống đỡ trọng lượng cơ thể, phải vịn tay vào tường, hoặc dùng dụng cụ hỗ trợ, mới có thể khó nhọc nhích từng bước. Tôi nhớ lại mấy hôm trước từ ngoài rèm, thoáng thấy cảnh chị giúp bà mang tất - đầu tiên xỏ tất len vào chân trái, sau đó đến chân phải. Hệt thói quen mẹ mang tất cho chúng tôi hồi nhỏ. Hồi đó bà còn giúp chúng tôi buộc dây giày, cũng buộc chân trái trước rồi buộc chân phải, hệt vậy. Giờ bàn chân mẹ lộ ra ngoài lớp chăn bông bệnh viện sưng phù như chân voi, chỗ gần mắt cá có vết tất hằn sâu.
Tôi cũng nhớ lại trước khi khu kinh doanh bị giải tỏa, người thợ may com-lê trong ấn tượng của tôi mãi không có lấy bộ com-lê cho mình, cha tôi, đột nhiên muốn tôi lấy số đo cho ông. Ông lấy ra một tờ giấy đo, hướng dẫn tôi cầm thước dây, đo dài áo, dài tay, đường vai cho ông… sau đó viết lên trên. Ông dặn tay tôi phải vững, giữ nguyên thăng bằng, có vậy độ dài đo ra mới chuẩn. Lần đầu tiên tôi biết hai vai cha bên trái cao bên phải thấp, giữa xương cổ và xương thắt lưng có đến mấy đốt xương sống lồi ra. Rồi khi tôi định vòng thước dây từ sau lưng qua eo cha, ông cầm lại thước, bảo: “Được rồi, còn lại (tshun-ê) để cha tự làm”.
Ông nhìn tôi rồi bảo: “Tiếc là con không thích học công phu”.
Tôi dựng chân chống sau của xe, tiếng lò xo kêu đánh tách làm anh sáu sực tỉnh. Anh mơ mơ màng màng, còn không lý giải nổi vì sao tôi lại mang một chiếc xe đạp vào phòng bệnh.
Tôi mặc anh, ngồi lên yên xe, đạp xành xạch.
Hồi nhỏ tôi thích nhất được ngồi lên xe của cha, dựng chân chống đạp tít như thế này dưới mái hiên khu kinh doanh. Vì hồi đó còn nhỏ, chân quá ngắn không đạp đến cùng được nên tôi phải cố ý đạp thật mạnh, để bàn đạp sẽ tự quay qua nửa vòng dưới, mình đạp được, sau đó mượn đà giậm cật lực, để nó lại xoay tiếp một vòng. Với cách đạp này, bánh răng, dây xích và moay-ơ sẽ phát ra âm thanh lạch cạch vô cùng trơn tru, khiến người ta vui sướng.
Đương nhiên trong tình trạng dựng chân chống thì chẳng đi đâu được cả.
Nhưng đầu óc tôi sẽ tưởng tượng mình đang đạp xe trên đường, trước mặt xuất hiện cảnh phố xá chuyển động như thật, rồi đạp xe trên núi, sẽ xuất hiện cây lớn, chim muông và thú dữ; đạp xe trên trời, sẽ xuyên qua mây, trăng và sao. Mỗi khi tôi nói mình lại đạp xe đến đâu đâu, thể nào cũng bị anh chị cười nhạo, nhưng giống như tôi luôn tin rằng, anh sáu nhất định đã nhân lúc tôi ngủ, dùng cách thức gì đó không rõ, giải tử huyệt bị thất thương quyền phong bế trên người tôi, tôi cũng cố chấp tin rằng dù là đạp chay, xe đạp vẫn có thể đi tới nơi nào đó. Nhất định là thế, không thể sai được.
Tôi nắm tay phanh cứng hình dáng rất vừa tay, thi thoảng lại bóp nhẹ phanh, để tiếng sàn sạt vang lên với một tiết tấu kỳ diệu, lạch xạch lạch xạch - xạch - xạch - lạch xạch. A, cái thân xe loang lổ vết gỉ sét, chiếc chắn bùn sắt đen Tiểu Hạ nhượng lại cho tôi, cái yên da bò bề mặt đen bóng đã bong tróc, tấm cản gió sau khi được tra dầu lại bóng loáng lúc phanh xe sẽ kêu lạch cạch, cả miếng cắt gió chắn bùn hiệu Hạnh Phúc bắt mắt nọ. Tôi càng đạp càng nhanh, càng đạp càng nhanh.
Tôi lượn một vòng từ tòa Trung đến tòa Hiếu của khu kinh doanh, lại một vòng nữa, một vòng nữa, sau đó để trọng tâm cơ thể ngả về một bên, vẽ nên một đường cua hoàn mỹ, Tiểu Nam Môn, Tây Môn Đinh, Trung Sơn Đường, phố Hán Khẩu, phố Khai Phong, bưu điện Bắc Môn, ga Đài Bắc, Cha - lão Lý - Dẻ Sườn “Ấm Trà - Di bé - Tiểu Phụng - Mẹ - Tom - Mark - Quạ - A Trạch - Teresa - A Ca - Các chị tôi - rồi Anh sáu tôi bị bỏ lại ở vòng thứ ba, tôi đạp ra khỏi thành. Tôi xuyên qua cổng thành và tường thành, băng qua bách hóa Đại Thiên, vòng qua Cảng Đinh phố Thiên Thu Vĩnh Lạc Đinh Thái Bình Đinh, tới cầu sắt Đài Bắc ngày xưa, là cầu sắt chứ không phải cầu bê-tông, tàu hỏa từng chạy trên đó vắt qua dòng sông. Tôi đạp lên cầu Shizuko, nhìn những xác người từ xa trông giống vây cá mập lừ đừ trôi tới từ đầu kia sông Đạm Thủy, lũ trẻ vẽ một hình cán ô trên bầu không nhảy ùm xuống nước; trên núi Quan Âm cách đó không xa, bác sĩ Lâm của phòng khám Nhi cầu Đài Bắc vẫn còn là một anh pháo binh trẻ, đang nhìn thành phố bị quân Mỹ ném bom chìm trong khói đen, anh nghiêng tai nghe tiếng mái ngói nứt vỡ, tiếng gạch và thạch cao hóa thành bụi, cũng giống như áp ống nghe nghe nhịp tim của trăm nghìn đứa trẻ sau khi chiến tranh kết thúc.
Tôi đạp lòng vòng trong sương mù.
Tôi đạp lên đường núi, dốc hết sức lực toàn thân từ ngọn tóc đến móng chân để lên đỉnh núi, a-xít lac-tic khiến đùi tôi kháng nghị, đầu gối đau nhức, phổi gần như vỡ tung. Ở đó có thể trông thấy Thái Bình Dương đằng xa, giáp giới giữa thành phố và thôn quê. Tôi đạp xe giữa triền núi này với triền núi kia, băng qua rừng rậm, đầu nguồn sông suối, nơi mây vừa hình thành cùng nơi không khí loãng chỉ loài chim mới hít thở nổi. Tôi hét lớn, rồi âm thanh ấy bị gió thổi bạt ra sau, bị mưa đá dập xuống mặt đất, xới lên từng vết lõm nông. Từ trong rừng rậm hàn đới ấy tôi phì phò đạp xuống, cây cối hai bên lủng lẳng hạt băng, gió thổi rát mặt và tim. Đôi lốp xe được làm từ mủ chảy ra từ rừng cao su nhiệt đới của tôi xuyên qua rừng rậm ôn đới, rừng rậm á nhiệt đới, rốt cuộc tới được rừng rậm nhiệt đới khiến người ta mồ hôi nhễ nhại. Đó là quê hương của Ah Mei và Mã tiểu thư, đó là vùng đất từng bị ngọn lửa thiêu đốt, mọi loài sinh vật đều đã hành quân qua đó, sông suối và rừng rậm ở đó sẽ cưa đứt chân và hy vọng của con người.
Đuôi của Ah Mei và Mã tiểu thư bị quân lính châm lửa đốt, tai bị chọc dao, chúng chỉ có thể tiến về phía trước, tiến về phía trước, bốn cẳng chân to như cột đình không ngờ lại lồng vào nhau chạy băng băng như ngựa.
Tôi đạp xuống đáy con sông, mọi sông suối trên thế gian này đều thông với nhau, dưới đáy mỗi con sông đều có vô số người hóa thành cá bơi lội, quanh quẩn, nhả ra những bong bóng li ti bằng tổng số không khí cả đời hít vào, đó là địa ngục Lâm Bô của bọn họ. Tôi ướt lướt thướt đạp ra khỏi dòng sông, nơi Teresa đang rửa mặt. Đó là lần đầu tiên chúng tôi hẹn hò dã ngoại, nàng mang theo sự trông đợi mê muội, ngờ vực, và bị động. Tôi hôn nàng giữa khoảng “rừng trọc” nọ, đạn rít lên sượt qua bên tai và bên cạnh chúng tôi. Dương vật nóng bỏng của tôi tiến vào trong nàng, nhưng cơ thể nàng lại dần dần trở nên lạnh băng, vì tôi chỉ là đứa trẻ.
Bỏ lại nàng, chân tôi vẫn đang trong guồng đạp, cứ thế chui vào bên trong vách đá dãy núi đầy Hornblend. Tôi nghe thấy một giọng nói nói tất cả cội nguồn sông suối đều ở cả đây, tất cả các hũ tro cốt đều ở cả đây. Tôi đọc trong tiểu thuyết của Sabina viết thế này, mỗi lần bóp chết một con bướm, cắt lấy cánh bướm, A Vân lại hà một hơi vào chiếc cánh đó, cánh bướm đã mất đi cơ thể liền trở nên có hồn, màu sắc cánh thêm phần tươi thắm, sau đó cô đem dán chúng lên tường nhà, đến khi cả gian phòng trở thành một bức tranh cánh bướm. Bức tranh đó chính là khu rừng đã biến mất trên thượng du sông Mi Khê. Tôi theo dấu bướm bay, bọn chúng bay ra biển lớn một cách vô định, tất cả các con tàu đắm ở đó đều từ đáy biển nổi lên, ở một con tàu tôi trông thấy cậu thiếu niên Saburō đang nôn thốc nôn tháo trên sàn tàu, đó là số thức ăn nơi quê nhà còn sót lại vẻn vẹn trong dạ dày cậu.
Tôi theo dòng hải lưu Chishima đạp về hướng Nam, xe xoay tròn xoay tròn trong vòng xoáy của hải lưu rồi tiến vào một dòng hải lưu khác, tôi đạp lên một hòn đảo giống như cá Tiktaalik, một hòn đảo mọc kín cây, men theo thân cây đạp tới tim hòn đảo, ở đó tinh tinh lông đỏ Ichirō được mẹ ôm trong lòng, chúng từ cái cây khác chuyền sang cái cây này, mang nụ cười khó hiểu đi qua trước mặt tôi. Tôi bị một cái cây bắt lấy, nó đâm cành nhánh vào kẽ hở bánh răng moay-ơ, giữa ốc vít và đai ốc, trong ống nối giữa, sau khi cuốn một vòng từ van hơi tới tận săm men theo một thanh nan hoa đầm ra chồi lá. Binh lính bắc súng máy lên người và giá chở hàng sau lưng tôi, họ cắt ngón tay tôi lấy nước, đến sáng sớm thì tưới nước tiểu nóng hôi hổi lên người tôi. Đạn súng đủ loại kích cỡ liên tiếp xuyên qua cơ thể tôi, bắn lõm bắn vẹo bắn xuyên ống thép xe đạp, thi thoảng khi tiếng súng tạm ngưng lại có người ở đâu đó trong vòm lá thủ dâm, vẩy luồng tinh dịch đau khổ xuống cành cây thân cây và mặt đất.
Còn tôi cứ ngồi trên xe đạp, mọi thứ đằng xa đều đang xáp gần, mọi vật ở gần đang lùi ra xa. Tiếng động cơ máy bay nổ đùng đoàng luẩn quẩn trên bầu trời, gã đàn ông xa lạ đứng ngoài buồng vệ sinh nhìn chòng chọc vào mắt tôi nói: “Nói cho mày biết, mày chỉ sống được đến năm bốn mươi lăm tuổi”.
Tôi nhìn thấy bờ biển của một hòn đảo khác phía đằng xa, một cậu thiếu niên đạp xe đạp xuất hiện từ trong bóng tối, từ trong màn sương. Cậu xuống xe, ném về phía tôi cái nhìn đầy ẩn ý trong bóng đêm, ánh mắt đó vì cách quá xa, phải đến hai mươi năm sau tôi mới nhận được. Cậu chậm rãi đi xuống cầu cảng tối om, bến cảng tối, nước biển tối, ánh mắt cũng tối. Cậu quay đầu nhìn chiếc xe đạp bị mình đặt nằm xuống, như thể trông một con chó già nghe lời, sau đó từ từ đi vào dòng nước cùng bộ quần áo không mấy vừa vặn, như thể tin rằng mình có thể bơi qua biển, hoặc bước vào dòng nước như đang định về nhà, tôi ngồi trên chiếc xe đạp bị cây bế bổng, nhìn nước biển dập dờn những vân nước tối đen khảm viền màu bạc.
Có người ghé tai tôi hỏi: Chiếc xe đạp đó rốt cuộc đi đằng nào rồi?
Tiếng tôi đạp xe đạp rốt cuộc cũng đánh thức mẹ, mẹ nghe thấy âm thanh đó nên mở mắt. Trước tiên mẹ nhìn anh sáu, rồi kinh ngạc nhìn tôi mồ hôi mồ kê ngồi trên xe đạp. Có người từ bên ngoài đẩy cửa vào, hẳn là một chị nào đó tới thay ca, có lẽ là chị cả, hoặc có thể chị hai, chị ba, chị tư, hoặc chị năm người được đặt tên là Mân.
Mẹ nói với căn phòng, với tôi hoặc một ai đó: “Ai đây? Cái dáng đạp xe sao mà giống cha con quá?”. Tôi nghe thấy thế bèn quay đầu lại. Thủy triều trong mắt mẹ dâng lên, rồi lại lặng lẽ rút xuống.
❀ ❀ ❀
[1] Gần ba mẫu: Tương đương một héc-ta đất.
[2] Dộng nước: Một hình thức tra tấn, bằng cách liên tục trút nước vào mũi miệng người bị tra tấn.
[3] Tàu Omeshi: Tàu hỏa chuyên dụng của hoàng thất Nhật Bản.
[4] Trận đầu - Din Tao: Là hình thức bày trận biểu diễn vào các dịp thờ cúng dân gian - một nét văn hóa đặc sắc của người Đài Loan, thường phân làm văn trận và võ trận với nhiều nhánh nhỏ bên dưới.