Abbas’s House
Có lẽ dòng sông chẳng thể nào trở lại làm nước mưa, và đống gạch ngói vỡ cũng không thể xếp lại thành nhà, nhưng sau khi thấy chiếc xe đạp đó, tôi vẫn không khỏi thầm nghĩ thế này: Nếu một chiếc xe đạp có người mua, vậy thì nó nhất định có người bán, có người chủ sau, thì hẳn phải có người chủ trước. Ý nghĩ này giống như ngọn lửa nhỏ, tuy bị gió thổi leo lét nhưng vẫn không lụi tắt.
Hôm đó thử xe xong, tôi hỏi Tiểu Hạ chủ xe muốn bán bao nhiêu.
“Cô ấy không định bán”.
“Không định bán ư?”
“Vâng, tình hình có hơi phức tạp. Chiếc xe này vốn là đồ trưng bày ở một tiệm cà phê, tôi vì ngắm trúng nó mà ngày nào cũng tới tiệm cà phê đó, tính xin ông chủ nhượng lại cho mình. Kết quả ông chủ bảo xe không phải của anh ta. Bạn của bạn gái anh ta cho họ mượn để bày tiệm thôi”. Tiểu Hạ nói.
“Hay cậu thử thuyết phục họ xem thế nào?”, A Bố lên tiếng.
“Ừm. Tôi muốn làm quen với ông chủ tiệm cà phê đó”. Tôi nắm lấy ghi-đông chiếc xe, dùng ngón tay cảm nhận miếng huy hiệu tráng men gắn trên đó: “Cũng muốn làm quen với người chủ đã cho họ mượn xe để bày nữa”.
Người đứng ra trao đổi với Tiểu Hạ là Annie, bạn gái chủ tiệm, cô vốn định trả xe lại cho chủ xe, nhưng người đó đã không còn ở Đài Bắc nữa, chỗ Annie ở lại quá nhỏ, vì vậy mới quyết định gửi nhờ chỗ cậu ta.
“Bấy giờ tôi phải uống cà phê đến gần một năm mới được cô ấy tín nhiệm đấy”. Tiểu Hạ cho tôi số điện thoại và địa chỉ hòm thư điện tử của Annie. “Tôi nghĩ anh tự mình liên lạc thì hay hơn”.
Nhưng tôi không tài nào gọi được cho số điện thoại ấy, gửi mail cũng như ném đá đáy bể, gọi lại thì chỉ nghe máy báo số thuê bao này đã tạm ngừng hoạt động. Tôi còn nghĩ không biết có phải mail mình viết sơ lược quá, khiến đối phương cho rằng người gửi có ý đồ bất minh không muốn trả lời? Hoặc cô đơn thuần cho rằng tôi là hạng quấy rối vô vị cũng chưa biết chừng.
Ý nghĩ do bản thân không đủ chân thành thẳng thắn dẫn đến đối phương không buồn đáp lại cứ đeo bám lấy tôi. Vài ngày sau, tôi quyết định viết tiếp chiếc mail thứ hai, mail lần này thổ lộ lý do tôi muốn tìm chiếc xe đạp ấy. Duy chỉ có một câu tôi vẫn giữ nguyên là, chiếc xe đạp kia giống hệt mẫu xe cha tôi từng sở hữu, chứ không nói đó chính là xe của cha tôi.
Tôi sợ đối phương hiểu nhầm mình là thám tử tư định điều tra kẻ trộm xe đạp hay gì đó.
Kết quả, có thư hồi âm.
Bất ngờ là, người gửi không phải Annie mà là một người ký tên Abbas, cũng chính là bạn trai của Annie, chủ tiệm cà phê mà Tiểu Hạ từng nhắc đến. Từ ngữ trong mail không nhiệt tình cũng không dửng dưng, đại khái nói Annie chuyển thư cho anh ta.
Chào anh Trình,
Như anh đã biết, người sở hữu chiếc xe đó không phải tôi, vốn dĩ chủ xe cũng không phải bạn gái cũ của tôi Annie, nhưng quả thực, có một thời gian chiếc xe được để chỗ chúng tôi, cùng chúng tôi trải qua quãng thời gian hết sức đặc biệt, Theo những gì anh viết trong thư, tôi đoán anh rất mong có thể biết thêm về câu chuyện đằng sau chiếc xe, nhưng tôi lực bất tòng tâm, vì chiếc xe này do Annie mượn của bạn đem làm đồ trưng bày trong tiệm cà phê, nguồn gốc của nó tôi cũng không rõ. Còn về Annie, cô ấy đã không còn liên hệ gì với tôi nữa, tuy thư của anh là do cô ấy chuyển tiếp cho tôi, nhưng cô ấy hoàn toàn không có thêm một lời nào, thế nên tôi nghĩ, chắc cô ấy không muốn tôi làm phiền đến cuộc sống của cô ấy, dưới bất cứ hình thức nào. Dù sao đi nữa, chúc anh sớm tìm lại được xe của cha anh. Thân,
Abbas
Tôi không hề vì bức thư này mà chùn bước, trái lại còn nhen nhóm chút hy vọng. Vì theo như nội dung thư thì Abbas đã chia tay với Annie, giờ đang là lúc ở trong trạng thái yếu đuối. (Từ lời lẽ trong thư có thể thấy anh ta rất để tâm đến chuyện này). Ngoài ra, có cảm giác anh ta là người có thể lay động bởi thành ý. Và tìm gặp Abbas cũng dễ hơn tìm gặp Annie nữa, một mặt do nữ giới có lẽ sẽ cho rằng tôi có ý đồ bất minh, mặt khác, so ra người lấy biệt danh là Abbas ít hơn nhiều so với Annie, tôi hẳn có thể tìm ra chút thông tin về người này.
Vì thế tôi thử gõ cái tên này vào Google tìm kiếm (đương nhiên phần lớn các kết quả trả về là thông tin đạo diễn Abbas Kiarostami), đồng thời đối chiếu từng thông tin, vạch ra những điểm liên quan mà tôi cho rằng thuộc về người tên Abbas từng mở tiệm cà phê. Không có gì bất ngờ, đa phần thông tin tôi tìm được đều liên quan đến tiệm cà phê tên “Nhà Kyoko” từng mở trong một con ngõ nhỏ gần công viên Đại Đạo Trình nọ.
Abbas cũng là một nhiếp ảnh gia, nhìn từ những bức hình được cộng đồng mạng đăng lên thì tiệm cà phê nọ chủ yếu được trang trí bằng tác phẩm của anh ta, bàn ghế đều là đồ gỗ đã ít nhiều lưu dấu thời gian, hơn nữa kiểu dáng không cái nào giống cái nào. Do ánh sáng có hạn đều tập trung hắt vào ảnh trưng bày nên về tổng thể có hơi tù mù. Có vị khách là dân Hipster viết trên blog: “Cà phê Lào của Nhà Kyoko mang mùi vị rừng mưa nhiệt đới rất lôi cuốn, nhưng ảnh treo trên tường lại làm người ta mất hứng uống cà phê”.
Tôi nghĩ nếu vừa hay có triển lãm thì tốt quá, như vậy có thể mượn danh nghĩa đi xem triển lãm để chạm mặt Abbas, nhưng không có.
Tiệm cà phê đó về sau được sang nhượng, ông chủ mới đổi một cái tên khác rồi tiếp tục kinh doanh. Có một dự cảm mách bảo tôi rằng, những người như Abbas là kiểu người thường quay lại quanh quẩn ở vài nơi lưu giữ ký ức nào đó. Vì thế tôi quyết định tới tiệm cà phê giờ đã đổi tên thành “Táo dại” nọ, thử xem có cơ hội gặp được anh ta hay không. Một tuần tôi đến đó độ hai lần, không lâu sau thì bắt thân với A Đạt chủ tiệm Táo dại. A Đạt thay đổi lại toàn bộ bài trí trong tiệm, khiến không gian trở nên sáng sủa thoáng đãng hơn nhiều. Gã từng sang Nhật học trồng táo, là một gã cao gầy, tính cách cởi mở. Vốn dĩ gã mong có thể lên vùng núi miền Trung mua một khoảnh đất trồng táo, kết quả lại mở Táo dại, với món chủ đạo là “sinh tố táo” rất hợp với tên tiệm.
Vào tuần đầu tiên của tháng Sáu, khi trời bắt đầu chuyển nóng, cuối cùng tôi cũng gặp được Abbas.
Hôm đó trước khi tôi tới Táo dại, Abbas đã ngồi đấy rồi. Anh ta mặc một chiếc áo gió nhà binh màu kaki, cầm bảng sáng, dùng kính lúp cắm cúi kiểm tra phim dương bản, tóc không rõ là vuốt keo hay bẩm sinh mà trông khá cứng. Ở thời đại này người không dùng máy tính bảng kiểm tra file kỹ thuật số, còn xem phim dương bản bằng bảng sáng quả thật rất hiếm thấy. Tôi cũng chú ý tới chiếc đồng hồ chống nước có chức năng đo độ cao trên cổ tay anh ta, chỉ người có nhu cầu đặc biệt mới đeo mẫu đồng hồ ấy. A Đạt thấy tôi tới bèn dùng ánh mắt ra hiệu rằng người kia chính là Abbas. Tôi bèn tới bàn anh ta, tự giới thiệu bản thân.
Abbas ngẩng đầu nhìn tôi, vẻ mặt như vừa mất đi người bạn cuối cùng, anh ta có phần bất an, và cả cảnh giác trước sự xuất hiện của tôi. Tôi phán đoán anh ta là người bộc trực không thích vòng vo, nên sau màn tự giới thiệu quyết định thẳng thắn thừa nhận đây không phải cuộc gặp gỡ tình cờ mà là chuyện tôi vẫn hằng trông đợi: “Xin lỗi anh, nhưng tôi không có ý dò la gì anh đâu. Chỉ là muốn thử vận may nên mới thường lui tới đây, cũng làm quen cả A Đạt, xem liệu có cơ hội nói chuyện với anh không, tôi thực sự rất muốn nói về chiếc xe đạp ấy. Đương nhiên, nếu anh không thích, tôi sẽ quay lại chỗ của tôi, không quấy rầy anh nữa”.
Abbas lưỡng lự giây lát, anh ta nhìn tôi, ánh mắt trong một thoáng giống như cây đinh hoen gỉ, sau đó cảm giác sắc nhọn ấy lập tức biến mất. Anh ta ra hiệu mời tôi ngồi xuống.
“Xe là do Annie mượn về, nhưng tôi và cô ấy chia tay rồi cho nên…
“Phải, trong thư anh có viết rồi, thực sự xin lỗi nhưng tôi không định đi sâu vào chuyện đời tư của hai người. Điều tôi thực sự muốn biết là, làm thế nào anh và cô ấy có được chiếc xe đó? Hoặc, quan hệ giữa bọn anh và chiếc xe là thế nào? Ví dụ như, hồi đầu vì sao anh lại đem nó trưng bày ở tiệm?”
“Vì tôi thích đạp xe thôi”.
“Ra là vậy”. Đáp án này đơn giản đến độ có vẻ giống một lời cự tuyệt, làm tôi nhất thời tính chuyện rút lui. Vốn định dẫn tới hỏi xem anh ta thích nhường nào, nhưng với kinh nghiệm phỏng vấn trong quá trình viết lách bao năm qua, tôi biết tự bộc bạch luôn là bước dạo đầu có thể moi chuyện đối phương, vì thế tôi chuyển sang nói về lý do mình tìm chiếc xe này: “Thú thật với anh, chiếc xe đó là xe của cha tôi”.
“Làm sao anh biết?”
“Chuyện này liên quan đến số hiệu thân xe. Thuở nhỏ tuổi còn cao xấp xỉ chiếc xe đó, tôi thích nhất là mân mê chỗ in số hiệu của xe, nhờ vậy mà nhớ như in được dãy số ấy. Mục đích của tôi không phải tìm kẻ trộm hay gì cả, tôi chỉ muốn, nếu may mắn thì có thể thông qua việc lần theo từng người chủ của chiếc xe, biết được nó rốt cuộc đã lưu lạc những đâu trong hai mươi năm qua. Tôi không chắc chuyện này đối với mình có ý nghĩa hay không, cũng không chắc liệu có câu trả lời, chỉ là muốn làm vậy thôi, không phải định truy cứu gì hết. Dù sao cha tôi cũng qua đời rồi”. Tôi nói dối, vì đến tận giờ tôi vẫn không tài nào thản nhiên thốt ra những câu đại loại “Cha tôi không hiểu sao tự dưng mất tích” với người ngoài.
Abbas nghe tôi nói với vẻ mặt nghiêm túc, tôi có thể trông thấy chỗ nước táo chật vật dâng lên từ từ trong chiếc ống hút to, rồi anh ta có vẻ nghiền ngẫm cân nhắc câu từ, ngập ngừng lên tiếng: “Ừm, tôi hiểu ý anh rồi. Nhưng anh có từng nghĩ, chưa biết chừng không còn cách nào truy ngược về hai mươi năm trước nữa? Rất có thể dòng thời gian đã đứt gãy giữa chừng, ví dụ như, một tay chủ xe nào đó thực chất lại là kẻ trộm…”.
“Tôi hiểu, thế nên tôi nói là nếu may mắn”. Tôi mở máy tính bảng, cho anh ta xem tấm ảnh cũ vẽ khu kinh doanh, có thể thấy ánh mắt anh ta dần thả lỏng, trở nên tò mò.
“Ồ, chỗ này hồi trẻ tôi từng đến may đồ. Phải rồi, tôi họ Cam, Cam Thiếu Kỳ, bạn bè đều gọi tôi là Abbas”.
Nghe Abbas đột nhiên tự giới thiệu, đồng thời chìa tay ra, tôi không khỏi thở phào nhẹ nhõm.
Sau đó, tôi và Abbas gặp nhau cách quãng thêm mấy lần.
Năm 1992, Abbas tốt nghiệp đại học, nhập ngũ, trực thuộc đơn vị pháo phòng không Học viện Không quân đóng tại Cương Sơn, doanh trại nằm ngay bên cạnh một thôn nhà binh tên là Nhị Cao. Vì sao gọi là thôn Nhị Cao ư? Nghe nói vì địa điểm đó vốn là nơi đồn trú của “Đội tàu bay số hai Hải quân Cao Hùng”. Thôn nhà binh cải tạo sau chiến tranh này bao gồm các thôn nhỏ như Nhị Cao, Nhân Ái, Tự Lực, song dân thường đều gọi chung nó là thôn Nhị Cao.
Abbas vì học khoa Truyền thông ở đại học, bắt đầu mê chụp ảnh và mơ tưởng trở thành nhiếp ảnh gia vĩ đại, nên cứ ngày nghỉ lại vác máy ảnh loanh quanh trong thôn. Bấy giờ đã không còn mấy người sống ở đó nữa, quá nửa số họ là người già và trẻ nhỏ, nên nơi này khá yên tĩnh.
Nhìn từ bề ngoài, phòng ốc hai bên con đường thôn khá sáng sủa, thoải mái, nhưng có vài nhà được dựng ở nơi rất kỳ quặc, âm u ẩm thấp, không giống nơi người ở mà trái lại cứ như nhà kho. Quả nhiên, Abbas nghe đại đội trưởng nói, một phần thôn Nhị Cao vốn là nhà kho của quân Nhật, chỉ một phần là nhà ở của quân nhân về sau được cải tạo. Những nhà kho cỡ lớn để lại từ thời Nhật trị không được dỡ đi xây lại mà dựng luôn hai dãy nhà ở quay mặt vào nhau bên trong, tạo nên một cảnh quan kiến trúc độc đáo chỉ có ở thôn Nhị Cao. Rất nhiều phòng ốc đều đã không một bóng người, loạt ảnh Abbas chụp được đặt tên là Khung cửa vỡ và những thứ bỏ lại.
Nơi đồn trú của “Đội tàu bay số hai Hải quân Cao Hùng” - sân bay Cương Sơn, cũng chính là sân bay Học viện Không quân nơi đơn vị pháo phòng không của Abbas canh giữ, cách đó không xa là nhà máy Hàng không hải quân 61 nổi tiếng thời chiến, về sau trở thành Học viện Kỹ thuật Hàng không Không quân. Giai đoạn cuối chiến tranh, cả hai nơi này đều là trọng điểm ném bom của máy bay ném bom do Mỹ điều từ Philippines và Trung Quốc tới, nhất là nhà máy Hàng không, bị quân Mỹ xem như mục tiêu quân sự trọng yếu nhất ngoài lãnh thổ Nhật Bản. Bấy giờ nhà máy Hàng không bị dội bom và pháo, các công trình bằng gỗ xung quanh đều cháy rụi, còn sót lại đều là những công trình xi măng tương đối kiên cố, trên tường một số căn nhà vẫn lưu lại vết đạn rõ mồn một. Trong thôn Nhị Cao có một trường tiểu học gọi là Tiểu học Kiển Kiều phân hiệu Nhị Cao, buổi sáng lễ chào cờ không hát bài hát của trường mà hát bài ca không quân, những tiếng hát non nớt sẽ theo gió vẳng tới bên trong doanh trại pháo phòng không nơi Abbas canh gác.
“Vút lên trời cao cưỡi gió, báo quốc tỏ chí lớn. Ngao du trên bầu trời Côn Luân, dõi mắt xuống bờ Thái Bình Dương. Trông cửa ải trọng yếu Ngũ nhạc Tam giang, giang sơn gấm vóc đẹp sao, soi sáng đội phi cơ vô địch…” Ca từ này được cất lên bằng giọng các em nhỏ khiến Abbas đặc biệt cảm thấy lạc quẻ dị thường.
Lối vào thôn Nhị Cao có một cánh cổng sắt hình vòm bán nguyệt, mở ra con đường cái dài độ sáu mét, doanh trại pháo phòng không nằm tận cùng con đường này, rẽ phải vào một trạm gác. Vào đến trạm gác là đã thuộc khu doanh trại Học viện Không quân.
Nội dung huấn luyện chủ yếu của đơn vị pháo phòng không là thao tác pháo thủ và chạy bộ ba cây số mỗi ngày sáng tối. Abbas vô cùng hưởng thụ khoảng thời gian chạy bộ sáng sớm, đặc biệt là khi trung đội trưởng dẫn đơn vị ra khỏi thôn Nhị Cao, chạy thẳng tới thị xã Di Đà, có thể nhìn ngắm phong cảnh thị trấn, nếu may mắn còn có thể trông thấy thứ mỹ cảnh nhân gian là các nữ sinh cấp hai, cấp ba cắp sách đến trường. Trong thôn Nhị Cao cũng có quán mì, quán quà sáng và hàng tạp hóa, lúc chạy trở về, trung đội trưởng tâm trạng vui vẻ sẽ cho anh em đi mua ít đồ uống, uống xong rồi mới về doanh trại.
Abbas thi lại đại học mất hai năm, lúc nhập ngũ tuổi đã hơn hầu hết cánh lính trẻ thông thường, nên có phần không gần gũi nổi các anh em trong đại đội, trái lại do thường loanh quanh trong thôn chụp ảnh mà khá thân với vài người ở đây. Ví dụ bà Trương bán mì bò, bác Điển mở tiệm sữa đậu, có vẻ đều rất thích cậu lính Abbas khi ấy trông bề ngoài nho nhã thư sinh. Sau khi rời thôn Nhị Cao, cả đời này Abbas chưa từng ăn lại ở đâu món bánh nướng vừng và sữa đậu ngon như ở tiệm bác Điền, món sữa đậu đó sánh đặc như thể sữa đậu ở những nơi khác đều không phải từ đậu nành xay ra vậy.
Trong đó người thân nhất với Abbas phải kể đến một ông cụ họ Trâu, không con không cái, nghe nói ông từng tái giá với một cô gái, nhưng về sau người này rút hết tiền trong tài khoản của ông rồi bỏ trốn. Lúc quen Abbas, ông cụ đang sống qua ngày nhờ tiền lương hưu của quân nhân, mọi người đều gọi ông là lão Trâu.
Lão Trâu từng là nhân viên mặt đất trong không quân, phụ trách công tác duy tu P-47, F-86.
Abba quen ông nhờ một chiếc xe đạp.
Chân phải của lão Trâu thời chiến tranh từng bị gãy do lò xo của pháo tự động quệt phải, nghe nói đây là nhân tố quan trọng khiến lão dang dở giấc mơ phi công. Vì kỹ thuật nối xương thời ấy còn lạc hậu, lão đành chịu thọt chân từ đó, đi đứng khập khập khiễng khiễng. Nhà lão Trâu nằm ngay ở góc ẩm thấp tối tăm nhất trong nhà kho, mái tóc lơ thơ bóng dầu của lão lúc nào cũng ép xẹp lép sang hai bên, khuôn mặt xanh xao cớm nắng, trên vai thường đậu một con sáo đá - cái này lạ lùng hết sức, Abbas chưa từng thấy có con sáo đá nào lại đậu trên vai người ta cả.
Bấy giờ Abbas là lính chính trị tác chiến kiêm nhiệm của đại đội, do yêu cầu nghiệp vụ nên thường phải chạy tới Di Đà mua văn phòng phẩm, hoặc tới Phượng Sơn chuyển tin. Có điều chỉ một số ít sĩ quan là có xe máy, cũng rất hiếm lính nghĩa vụ nào lại cất công đem cả xe máy theo, nên nếu phải đi Di Đà, trừ phi gặp đúng lúc đại đội cũng điều xe chạy công vụ có thể đi nhờ, không thì chỉ còn nước cuốc bộ hoặc đạp xe đạp. Abbas đương nhiên không vì vậy mà mua xe đạp, bởi đã được đàn anh dặn sẵn, có thể tới thôn Nhị Cao “mượn” xe.
Phạm vi hoạt động của người già thôn Nhị Cao khi ấy không vượt ra ngoài thôn, xe đạp thuở trẻ dùng để di chuyển đều bỏ xó, cũng không khóa, cứ để ở cửa hoặc trong sân cho hoen gỉ. Đàn anh đùa bảo, để giữ cho xe ở trong tình trạng tốt, chúng ta nên giúp họ đạp mấy vòng, tiện thể bơm lốp, tra dầu.
Người già trong thôn cũng đều biết cánh lính tráng “mượn” xe đạp, nhưng không mấy bận tâm vì thông thường chỉ vài tiếng sau là xe được trả lại chỗ cũ. Abbas hay “mượn” nhất là xe đạp của lão Trâu. Đó là chiếc xe bằng sắt đen, có yên lò xo bọc da bò, tuy nhìn không bắt mắt, nhưng cưỡi lên lại có cảm giác vững chãi. Trên chiếc xe ấy không hề có bất kỳ ký hiệu nào để phân biệt, điểm tương đối đặc biệt là nó được sơn màu xanh lục đậm, lớp sơn tuy đã bong tróc nghiêm trọng, nhưng vẫn có thể cảm nhận đây vốn là chiếc xe được chế tác cẩn thận. Abbas thường đạp con xe này lòng vòng trên đường Di Đà, có lúc thậm chí đạp ra tận bờ biển. Biển ở đó màu xám, rác bị sóng đánh dạt lên bờ cát, mắc lại gần mực thủy triều dâng.
Người già thôn Nhị Cao biết tỏng việc lính tráng “mượn” xe đạp, Abbas có khi “trả” xe còn đụng mặt lão Trâu. Sau này dần quen thân,, lúc trở về Abbas còn tiện thể mua hộ lão rượu, sợi mì trắng, cá măng sữa, hoặc rau xanh coi như phí thuê xe. Nếu lão Trâu không có đó thì cứ treo luôn ở xe.
Nhà Abbas thuộc một bộ lạc nhỏ miền Trung, tên gọi Cửu Mỹ, bấy giờ mẹ Abbas ở nhà làm nông, nên hết kỳ nghỉ phép quay lại đơn vị Abbas đều mang ngô, nho của nhà trồng được biếu lão Trâu. Lão Trâu có lúc hầm cháo cá măng sẽ để phần một bát cho Abbas; cây ổi ta trong vườn chín cành cũng hái một túi dúi cho Abbas.
Mùa hè năm đó trời đặc biệt oi nóng, Abbas đã sắp đến ngày xuất ngũ. Một hôm trước khi xuất ngũ, anh đạp xe của lão Trâu tới Di Đà, làm bữa nhậu với mấy đồng đội quen thân chúc mừng mình trở thành “hồng quân” (chỉ người gần giai đoạn xuất ngũ nhất trong số lính nghĩa vụ) của đơn vị, Abbas uống tí rượu, về đến thôn Nhị Cao thì đã muộn. Lúc trả xe, lão Trâu từ căn nhà chỉ thắp một ngọn đèn lớn tiếng hỏi: “Thằng nhóc này, có phải sắp xuất ngũ rồi không?”.
Abbas đáp: “Vâng, cảm ơn ông đã chiếu cố, cảm ơn cả xe của ông nữa”. Anh đi vào nhà, đưa cho lão Trâu một bọc canh ngao.
Lão Trâu vẫy tay bảo Abbas ngồi xuống, rồi bưng từ trong bếp ra một lồng màn thầu trắng. Miếng màn thầu của lão Trâu không to, nhưng chắc nịch, như thể có niềm tin, Abbas bỏ vào miệng liền nảy sinh khao khát được nhai nó mãi, nhai đến về sau tựa hồ có một khung cảnh đồng lúa mì mở ra trước mắt anh. Nghe nói tay nghề làm màn thầu của lão Trâu học được ở một anh nuôi trong quân đội, lão giữ lại một mẩu men vĩnh cửu của người nọ để tự nuôi, cho nó sinh sôi không ngừng nghỉ.
Lão Trâu hỏi: “Ngon không?”.
Abbas đáp: “Nói thật là, không thể dùng từ ngon để hình dung được nữa lão Trâu ạ”.
Lão Trâu nói: “Chính thế, nói hay lắm. Cục bột với cả cách nhào bột này có công phu tuyệt học cả đấy”.
Abbas nhìn lão Trâu, cảm thấy lão hình như có lời gì muốn nói mà không sao nói trơn tru ra được, nên cố tỏ ra thoải mái cười đùa: “Lão Trâu này, tuy cháu gọi ông như thế thật chẳng có lớn nhỏ gì cả, nhưng ông cũng biết cháu coi ông như ông nội ấy, xuất ngũ rồi có thời gian rảnh rỗi cháu vẫn sẽ tới thăm ông đấy nhé”.
Lão Trâu cười, có vẻ rất vui, con sáo đá trên vai mổ mổ dái tai lão, như thể đang nói thầm gì đó.
Abbas bảo: “Sắp đến giờ cháu phải về doanh trại rồi”.
Lão Trâu nói: “Vẫn còn lúc nữa, chín giờ về kịp điểm danh tối là được, tiên sư mày đã là ma cũ rồi còn sợ gì?”. Lão lấy dưới gầm giường ra một chai “Tửu Quỷ”, đấy là quà Abbas nhờ tay lính liên lạc của trại trưởng trộm chỗ ông cốp ra biếu lão Trâu.
Hai người liền cạn chén dưới ánh đèn leo lét. Nhà lão Trâu khó coi vô cùng, món đồ trông ra hồn một chút ngoài chiếc xe đạp kia chỉ có một chiếc ti-vi mười sáu inch, một cái bàn gỗ cũ. Trong tủ ly phòng khách xếp chật kín cúp thưởng và huy chương kỷ niệm của lão trong quân ngũ (phần lớn là giành giải bóng bàn), còn có một cặp kính phi công đã vỡ vụn.
Abbas hỏi: “Đây là của ai ạ?”.
“Lính Nhật đấy. Kiểu dáng này là của lính Nhật”. Lão Trâu lại rót cho Abbas thêm chén rượu, hỏi: “Cậu có biết chỗ doanh trại các cậu từng là căn cứ của đơn vị hàng không Nhật Bản không?”.
Abbas đáp: “Biết ạ, cháu từng nghe đại đội trưởng nhắc đến”.
“Thế cậu có biết, đơn vị đặc công Nhật Bản cũng từng đóng quân trong Học viện Kỹ thuật Hàng không hiện giờ không?”
Abbas đáp: “Cái này thì cháu không biết”.
Vẻ mặt lão Trâu trở nên nghiêm túc, lão nói: “Ta muốn nói với cậu một chuyện, cậu nghe, đừng sợ”.
“Ông cứ nói đi”.
“Là thế này, trong căn nhà này, trước nay vẫn luôn có một tay lính học viên phi công người Nhật ở cùng ta. Một năm nọ, ta đào đất trồng mướp, đào ra được cặp kính vỡ này, ta cầm cặp kính đi hỏi người ta, nghe bảo đây là kính phi công của phi công Nhật Bản. Tay học viên đó không phải chết trong khi thực thi nhiệm vụ mà bị bom nổ chết tại nơi đồn trú, còn vì sao kính lại rơi trong sân nhà ta thì không biết nữa. Buồn cười là, cây mướp không mọc nổi, mà từ hạt ổi ta vứt trong vườn lại mọc ra một cây ổi chứ”.
Abbas nghe mà ù ù cạc cạc, cũng không thấy sợ mà chỉ hơi buồn, lẽ nào lão Trâu điên rồi ư, hay lão mắc bệnh Alzheimer? Anh thầm nghĩ, nếu mình cũng như lão Trâu, không thân không thích vò võ sống trong căn nhà tối tăm ẩm thấp này ba bốn mươi năm, chắc chắn cũng phát điên. Nhưng ánh mắt lão Trâu lúc nói chuyện cứ sáng lấp lánh, không giống như điên, có lẽ chỉ là xuất hiện ảo giác? Trong cuốn sách của Oliver Sacks mà anh từng đọc có viết, nếu não bộ của người phát sinh bệnh biến, bất luận là sự việc dị thường đến mức nào, nếu não bộ phán đoán đó là sự thật thì đó chính là sự thật. Não bộ bảo với bạn đầu của vợ bạn là một cái mũ, bạn sẽ một mực tin rằng đó chính là cái mũ.
“Mấy năm nay, hắn đều ở cùng ta”. Lão Trâu chỉ con sáo đá trên vai. Lúc này con sáo đá đột nhiên xòe cánh bên phải đánh xoẹt một tiếng, rồi nhấc chân chỉnh đốn lại bộ lông một lượt.
Abbas cảm thấy hoang đường quá đỗi, hỏi lại: “Nó ấy ạ?”.
Lão Trâu nghiêm túc gật đầu: “Ta luôn cho rằng, người Nhật Bản đều là hạng dã man, súc sinh, cầm thú, không có lương tâm, ta căm thù bọn quỷ đó, nghĩ đủ mọi cách đuổi nó đi, nào là mời đạo sĩ, dựng thánh giá, đều vô dụng. Thế nên đành mặc kệ nó, dù gì nó cũng không chiếm chỗ giường, cũng không lải nhải điếc tai, chỉ đứng trên vai ta, hoặc rúc vào cạnh cặp kính kia. Mới đầu ta cũng nghĩ đến chuyện đem vứt cặp kính, chưa biết chừng nó sẽ bỏ đi. Nhưng không hiểu sao, chẳng thể làm nổi.
Abbas quay sang nhìn cái tủ ly, cặp kính phi công và lọ rong biển, đĩa bát trông có vẻ không được lau sạch sẽ, và đống dược thảo lão Trâu tự hái để cùng nhau. Anh quay đầu lại, con sáo đá nọ nghiêng đầu nhìn Abbas, bấy giờ anh mới nhận thấy, ánh mắt con sáo đá long lanh một cách quá bất bình thường, như thể bên trong có một vầng trăng.
“Cây ổi ta mọc mầm, ta nhận ra nhưng không cắt bỏ. Không ngờ nó dần dần mọc cao, trở thành một cái cây còn cao hơn nóc nhà. Một năm có đôi sáo đá bay đến làm tổ trên cây, bị ta phát hiện, ngày nào ta cũng chú ý xem bọn chúng xây tổ thế nào. Không lâu sau chúng ấp nở cả tổ chim non, sau mấy tuần chim con bắt đầu học bay. Chẳng ngờ một hôm sáng ngủ dậy, ta bắt gặp dưới đất nửa cái xác chim và chiếc tô bị lật úp, nhất định là bị mèo hoang trong thôn phá rồi. Ta vốn không quá để tâm đến chuyện này, chẳng ngờ bước vào nhà lại trông thấy một con chim non vẫn chưa biết bay hẳn không biết từ bao giờ đã chui vào tủ ly trốn trong góc để kính. Ta nghĩ bụng, nhất định là con chim non duy nhất còn sống sót của cái tổ sáo đá kia rồi, nghĩ mà xót xa, thế là nuôi nó từ đấy”.
“Nuôi nó từ đấy?”
“Ừ. Lên phố mua đồ ăn cho chim non, ngâm vào nước, dùng ống hút nhựa bón cho nó, rồi cứ thế mà nuôi. Gần như tối nào cũng cái giờ này, ta đều đưa nó ra ngoài đi dạo. Hôm nay đợi cậu nên mới không đi đấy”.
“Nó nói tiếng Nhật ạ?”, Abbas hỏi.
“Hở?”
“Nếu không sao ông biết nó là người Nhật?”
Lão Trâu đáp: “Nó chưa từng mở miệng nói câu nào”.
“Thế ông làm sao biết nó là lính học viên Nhật Bản?”. Đáng lẽ Abbas định hỏi như thế, nhưng anh không hỏi vậy. Anh bắt đầu không biết làm sao để rút lui khỏi chủ đề này, đành liên tục xem đồng hồ đeo tay.
“Nó dẫn ta đi rất nhiều nơi trong thôn Nhị Cao này mà đến ta cũng không biết. Trong đó có một nơi, ta nghĩ nó muốn ta xuống xem, nhưng bao năm nay ta vẫn chưa dám thử”.
“Là nơi thế nào ạ?”, Abbas hỏi.
“Tạm thời ta chưa nói vội”. Lão Trâu hỏi: “Trước khi xuất ngũ cậu còn phép không?”.
“Vẫn còn hai ngày”.
“Thế, một ngày đi với ta có được không?”
“Được. Đi đâu ạ?”
“Thì đến chỗ đó. Nhưng phải chuẩn bị vài thứ”.
“Chuẩn bị gì ạ?”
“Thì bình khí dùng để lặn nước này, cả các thiết bị cần dùng khi lặn nữa. Chắc là thuê được nhỉ?”
“Cái đó… để cháu hỏi thử. Dùng làm gì ạ?”
“Thôi thôi. Cậu tới, ta dẫn cậu đi rồi nói sau. Cậu không tới, nói ra cũng chẳng có ý nghĩa gì”. Con sáo đá nhìn anh đầy ẩn ý, sau đó đột nhiên đập đập cánh bay từ vai lão Trâu tới đậu trên cặp kính phi công trong tủ ly. Bấy giờ anh mới phát hiện, không biết từ lúc nào nó đã ngậm cỏ về làm một cái tổ ở rãnh lõm của cặp kính vỡ kia.
Tôi nhìn Abbas, nghiền ngẫm câu chuyện anh kể. Trong lúc kể chuyện, Abbas lấy ra những tấm ảnh chụp thôn Nhị Cao tự tay tráng rửa, đưa tôi xem từng bức, nhờ vậy khung cảnh hiện lên trong đầu tôi rất rõ rệt. Trong studio của anh có một cái tủ gỗ giống ở hiệu thuốc Đông y, mặt trước mỗi ngăn kéo nhỏ đều có một ký tự khắc gỗ thuộc Thiên can địa chi[1]. Như thể hồ sơ mật đặc biệt, anh lấy từ trong ngăn kéo chữ Canh ra một xấp ảnh đen trắng.
Lúc nhắc đến chợ truyền thống của thôn Nhị Cao, anh đưa tôi xem tấm ảnh chụp một con mèo ngồi ở một nơi như bồn giặt, ánh nắng chênh chếch xiên vào qua lớp mái thủng, cặp mắt mèo lấp lánh; kể chuyện sau khi rất nhiều người chuyển đi hoặc mất đi, thôn Nhị Cao trở thành một đống hoang tàn thì đưa tôi xem ảnh chụp một con chó vàng bước đến gần tấm gương trong gian nhà chỉ còn lại ba mặt tường, vì không đủ thời gian phơi sáng nên nước ảnh hơi mờ; nói về dãy nhà dựng trong nhà kho của thôn, anh đưa tôi xem tấm ảnh bao quát một góc thôn rất có thể là trèo lên cây rồi chụp xuống.
Ảnh chụp chiếc xe đạp kia có tất cả ba tấm, trong đó có một tấm chụp chiếc xe dựng trong góc tối sát cửa một căn nhà, trông như một chú cún xấu hổ. Sâu trong khung cảnh mờ ảo của tấm ảnh, loáng thoáng có thể trông thấy dáng nhìn nghiêng của một ông lão tóc bạc ở trong nhà. Đó hẳn là lão Trâu?
“Phải, chính là lão Trâu”. Abbas trả lời.
Đây đã là lần gặp mặt thứ sáu của tôi và Abbas, cả năm lần trước đó đều ở Táo dại nơi vốn là Nhà Kyoko cũ, riêng hôm nay chúng tôi tới căn hộ của Abbas, cũng là studio chụp ảnh của anh. Trong gian nhà độ sáu, bảy bình[2] hoặc treo hoặc dán các tác phẩm của anh suốt bao năm nay, còn có một phòng vệ sinh cải tạo thành buồng tối.
Abbas dần dần coi tôi là bạn, tôi nghĩ một trong các nguyên nhân là vì tôi tặng anh cuốn tiểu thuyết xuất bản khi trước, anh đọc tiểu thuyết xong, cho rằng cùng là người sáng tác với nhau nên bình đẳng với tôi, vì vậy mà đặc biệt cho tôi bước vào studio, và bảo tôi có thể chọn lấy bất cứ tấm ảnh nào. Nghe nói tôi là người thứ hai, ngoại trừ Annie, đặt chân vào studio này. Abbas bảo anh còn có một tiêu chuẩn đánh giá con người nữa, đó là quan sát giày, anh nói: “Tôi không tin tưởng mấy người đi giày sạch quá, cũng không tin những người gót giày không mòn vẹt”.
Tôi hỏi anh: “Thế, anh đã đi thuê thiết bị lặn thật hả?”.
“Thuê chứ. Thuê hai bộ”. Anh vừa trả lời tôi vừa lên dây cót cho chiếc đồng hồ báo thức cũ, rồi đặt nó trở về bàn, chiếc đồng hồ lại chạy tích tắc tích tắc.
Abbas hoàn toàn không biết lão Trâu cần đồ lặn làm gì, nên lúc ông chủ chỗ cho thuê đồ hỏi dùng vào mục đích gì, có giấy chứng nhận huấn luyện không, anh không trả lời nổi. Ông chủ nọ nói, cho một người không có kinh nghiệm lặn nước thuê đồ ngang với giết người, ông ta từ chối vụ giao dịch này một cách rất có nguyên tắc.
Về sau Abbas thông qua một cậu tân binh tên A Tổ có giấy chứng nhận huấn luyện lặn mới thuê được các thiết bị lặn gồm kính lặn, ống thở, áo giữ nhiệt, chân ếch, gile lặn, bình dưỡng khí, đèn pin cầm tay và máy điều tiết.
Abbas xoay xở xin được đại đội phó nửa ngày phép danh dự, dẫn theo A Tổ và lão Trâu tới bờ biển Di Đà, thuê một con thuyền tam bản đi ven biển, học một lớp lặn cấp tốc ba tiếng đồng hồ. Thần kinh vận động của Abbas vốn không đến nỗi nào nên thành thục rất nhanh, nhưng không ngờ lão Trâu tay chân cũng rất nhanh nhẹn, tuyệt nhiên không giống một người già. Lúc hòa mình vào làn nước, cái tật thọt chân của lão dường như đã biến mất, không hề vướng trở gì.
Hôm nghỉ phép từ sáng sớm Abbas đã đến gõ cửa nhà lão Trâu, vừa trông thấy bộ dạng lụ khụ ngái ngủ của lão, anh liền hối hận. Abbas nhớ lại lời ông chủ tiệm cho thuê đồ lặn mặt mày dữ tợn, tạng người như con gấu nọ. Tuy lão Trâu tự nhận hồi trẻ từng là cao thủ bơi lội, nhưng giờ lão đã già rồi. Dẫn một người già, dù cho người ấy có khoác lên mình cả bộ thiết bị lặn, đi làm gì cũng đồng nghĩa với mưu sát.
Ăn xong màn thầu của lão Trâu, Abbas lẳng lặng thu gom mọi đồ đạc vào trong chiếc túi chống nước, con sáo đá đập cánh phành phạch từ ngoài cửa sổ bay vào, đậu trên vai lão Trâu, mổ dái tai lão như lệ thường, vừa giống rủ rỉ gì đó với lão, lại giống một cái thơm tình cảm, thậm chí trông còn như sắp khoan cả vào hộp sọ lão Trâu.
“Nó cũng muốn đi theo ạ?”, Abbas hỏi.
“Không, nó nói nó không đi được”. Lão Trâu chìa ngón trỏ tới trước bụng nó, con sáo đá nhảy chóc một cái lên đó, lão liền đặt nó lên mặt bàn, cùng với Abbas dắt theo chiếc xe đạp lên đường.
Theo chỉ đạo của lão Trâu, trước tiên Abbas đạp xe tới gần thôn Tự Lực, rồi theo con đường mòn đạp vào một đồng lúa thoạt trông trải dài vô tận. Bấy giờ lúa đang kết đòng đòng, tỏa ra một mùi thơm đặc biệt. Ve kêu ra rả như muốn làm điếc tai người ta, chim sẻ rào rào bay ra bay vào đồng, chẳng hề sợ lục lạc người nông dân buộc. Đằng xa, giữa đồng có một căn nhà mái bằng hai tầng, phía trước đậu một đàn cò trắng, lão Trâu chỉ khối nhà đó nói, chỗ đấy từng là phòng học của trường tiểu học, về sau trở thành viện điều dưỡng cho bệnh nhân lao phổi, giờ thì hoàn toàn bỏ hoang rồi.
“Hôm nay đích đến của chúng ta chính là chỗ đó”. Lão Trâu nói.
“Tới đó lặn ấy ạ?”, Abbas nghĩ, có lẽ hôm nay ông già muốn anh phối hợp diễn một vở kịch chăng.
Căn nhà trừ hai mặt tường ngoài quét nhựa đường chống nước đen sì sì ra thì không có gì đặc biệt. Lão Trâu dẫn Abbas đi vào, bên trong trống trơn chỉ có mấy bức tường, ánh nắng rọi vào qua khung cửa sổ không kính, không hiểu sao vẫn khiến người ta cảm thấy âm u lạnh lẽo. Lão Trâu đi tới một góc phòng, nhờ Abbas dịch chuyển một tấm ván gỗ, để lộ ra một cái hốc hình vuông, bên trên đóng chi chít thanh gỗ. Lão rút trong túi xách ra cây búa sắt và xà cầy nhổ đinh, bảo Abbas dỡ bỏ đống thanh gỗ. Khi dỡ tấm ván gỗ đầu tiên Abbas đã biết đây hẳn là lối đi thông từ căn phòng này xuống căn hầm dưới lòng đất, có điều khoảng từ bậc thứ năm trở đi, đã là nước. Nước ăm ắp, xanh lục, đục ngầu đủ loại rong tảo.
Lão Trâu thò đầu nói: “Mực nước hôm nay cao đấy”. Abbas hỏi lão Trâu: “Ông biết thế này từ trước ạ?”. Lão Trâu nói: “Ừ, không thì dẫn cậu tới làm gì?”. Abbas hỏi: “Chúng ta phải xuống đấy ạ?”.
Lão Trâu đã bắt đầu mặc đồ lặn: “Phải, xem xem chỗ nước này thông tới đâu”.
“Đương nhiên là hầm dưới lòng đất rồi”.
“Không đơn giản vậy đâu, nếu không tay lính người Nhật ấy đã chẳng muốn ta xuống xem sao”.
Đó là một con chim mà. Abbas nhủ thầm trong bụng. “Vâng vâng, kể cả không phải thì vì sao phải biết vũng nước này dẫn tới đâu? Lão Trâu ạ, chuyện này quá nguy hiểm, ông từng xuống đó bao giờ chưa?”
“Chưa, thế nên mới rủ cậu đi cùng chứ”.
“Lão Trâu, ông muốn cháu không xuất ngũ nổi đấy à?”
Lão Trâu chỉ chỉ sau lưng, ra hiệu Abbas giúp lão đeo binh khí nén lên: “Đâu có, không nguy hiểm ta mới dám dẫn cậu theo chứ”.
Abbas vừa lắc đầu vừa nói: “Không nguy hiểm? Ai bảo thế?”
“Tay lính người Nhật đó”.
“Ông bảo nó không biết nói cơ mà? Với cả nó chỉ là một con chim thôi, lão Trâu!”
“Nó không biết nói, nhưng ta hiểu nó muốn nói gì”. Lão Trâu đeo kính lặn, ánh mắt lão thực sự không hề giống của người sáu, bảy mươi tuổi.
“Anh biết vì sao tiệm cà phê tôi và Annie mở lại tên là ‘Nhà Kyoko’ không?”
“Vì tiểu thuyết của Mishima Yukio chăng”.
“Đúng vậy. Annie thích Mishima. Cô ấy nói Nhà Kyoko của Mishima là một tác phẩm rất đặc biệt, cũng là tác phẩm không mấy được lòng các nhà phê bình. Tuy có lúc cuốn sách ấy còn bị đánh giá là tác phẩm thất bại của Mishima, nhưng cá nhân tôi thì lại rất thích, cảm thấy Mishima đã xây dựng nên một vẻ đẹp của tình tiết tâm lý con người”.
“Kyoko là một cái tên nữ tính, rất giống một chất môi giới. Bọn tôi đặt tên tiệm là “Nhà Kyoko”, tôi biết người bình thường sẽ không ai nghĩ tới tiểu thuyết của Mishima. Nhưng như vậy vừa hay, tôi chỉ hy vọng khách đến tiệm trông thấy mấy chữ ấy thôi.
“Nhà Kyoko được trang trí hoàn toàn bằng tác phẩm của tôi, một số tấm ảnh trong đó, nhìn từ thị giác thì không vui vẻ gì, nên không phải ai cũng thích”.
Trong studio của Abbas, những tấm ảnh đóng khung kính treo trên tường vì đều là ảnh đen trắng nên dưới một vài góc độ chiếu sáng nhất định, phần màu đen thường khiến người xem trông thấy hình ảnh lờ mờ của chính mình, giống như mặt gương[3] vậy.
Abbas và lão Trâu mặc xong đồ lặn, ngồi chồm hỗm trước cái cầu thang nọ, mặt nước xanh hiển hiện bóng họ đổ xuống màu xanh. Bóng hình lão Trâu gần như không khác gì Abbas, chỉ sau khi đứng thẳng mới cảm thấy lưng hơi gù, cơ thể đã có tuổi. Hai người mặc đồ lặn ngồi trước cầu thang, trong làn nước xanh trông lại như xấp xỉ tuổi nhau.
Abbas tuyên bố với lão Trâu, nếu như có nguy hiểm sẽ lập tức quay lại, lão Trâu gật đầu, bảo vốn dĩ cũng không tính liều mạng, mà là muốn tạo một kỷ niệm cho chính mình và Abbas nhân dịp xuất ngũ. Abbas nghe vậy thì hừ mũi, bảo mình không cần kỷ niệm kiểu này, anh nhìn qua đồng hồ lặn, xác nhận giờ lặn xuống là 8 giờ 06 phút sáng.
Hai người đi xuống cầu thang, Abbas nhẩm đếm, cầu thang này tổng cộng có hai mươi bảy bậc, cứ cho một bậc là mười lăm xăng-ti- mét thì đây là một căn hầm sâu chừng hơn bốn mét. Nước xanh đục, đặc sệt, lúc quạt nước có cảm giác nằng nặng, âm ấm, khác hẳn với nước biển. Ánh sáng từ đèn đội đầu và đèn pin cầm tay đều không chiếu được bao xa đã bị làn nước xanh lục nuốt chửng, nhưng khi quay đầu lại vẫn trông thấy ánh sáng từ đầu cầu thang rọi tới, giống như một mặt trăng hình vuông. Abbas một tay rờ tường, một mặt để mắt đến lão Trâu.
Abbas vốn chỉ định dạo qua loa một vòng quanh căn hầm này là coi như xong, nào ngờ lúc bơi đến mặt tường thứ ba thì rờ thấy một thứ giống như cái kệ, một luồng sáng yếu ớt như lưỡi dao hắt ra từ mặt sau kệ sách. Lão Trâu vỗ vai anh, ra hiệu hợp lực đẩy cái kệ ra xem, không ngờ Abbas vừa đẩy mạnh một cái, chiếc kệ gỗ liền lạo rạo vụn ra trong nước như một thước phim quay chậm. Trước mắt bọn họ đột nhiên bừng sáng, phía sau kệ mở ra một mặt tường đá, bên trên thấp thoáng có một cánh cửa đá khép hờ.
Abbas giơ tay ướm thử độ dày của cửa đá, khoảng hai gang tay, một cánh cửa vô cùng dày nặng chắc chắn, có thể thấy, nếu không phải nó tự để lộ một khe hở như thế thì không đời nào hai người họ đẩy mở được.
Abbas cảm thấy có một luồng năng lượng tuôn trào từ khe hở cánh cửa tạo ra, hình như là luồng nước không biết chảy từ đâu tới. Bọn họ lách người chui vào mặt trong cửa, có lẽ do nước bẩn bị một lượng lớn nước hòa loãng, tầm nhìn trước mắt tuy vẫn không thể coi là trong veo, song đã có thể trông thấy sự vật trong phạm vi bán kính ba mét Chỗ này trông có vẻ lại là một căn phòng khác. Abbas vừa bơi vừa xác nhận độ lớn của không gian, phát hiện bốn bề đều là các dãy kệ sắt kích thước đều chằn chặn, trên kệ vẫn còn xếp vô số hòm gỗ, dưới đáy nước trông như có lớp bùn đen thui, anh thò tay lần mò, tạm nhận ra một số là quần áo, mũ mão nhà binh đã mục nát. Ở mặt tường cuối cùng lại có một cánh cửa, trông có vẻ như lại dẫn tới một căn phòng khác.
E rằng đây là một nhà kho ngầm quy mô không nhỏ.
Abbas không muốn đi tiếp, anh sợ nếu các căn phòng cứ nối tiếp nhau, cuối cùng rất có thể bọn họ sẽ không bơi về căn phòng ban đầu được. Cứ bơi trong làn nước thế này giống như quan sát căn phòng từ trên trần nhà, cảm giác hết sức kỳ quặc. Đèn đội đầu và đèn pin siêu sáng của hai người chẳng khác nào những sinh vật có sinh mệnh ngọ nguậy tới lui trong nước. Abbas nhìn khắp xung quanh, phát hiện có một chỗ đang lọt ra thứ ánh sáng vàng yếu ớt dài và mảnh. Ánh sáng đó le lói như tỏa ra từ một cây nến, nhưng không rõ vì sao, nó lại có một thứ sức mạnh thần bí lôi cuốn người ta.
Hai người một trước một sau bơi tới chỗ có ánh sáng, Abbas giơ tay lần mò, phát hiện đó là một khe nứt trên tường, khe nứt này cũng lại có một luồng nước tuôn vào. Abbas giơ ngón cái chỉ ra sau lưng, ý hỏi lão Trâu có phải đến lúc quay lại rồi không? Nhưng lão Trâu không biết nhìn nhầm hay làm sao mà trái lại vẫn bơi về phía khe nứt.
Abbas vội giơ tay kéo lão lại, song không kéo nổi, đành phải bơi theo, định tóm chân lão Trâu. Nhưng vừa nhoài người ra, cơ thể liền cảm thấy lực đẩy của luồng nước bỗng dưng biến thành lực hút, đó là thứ sức mạnh cả đời này Abbas không còn có dịp trải nghiệm lại lần nữa, giống như có gã khổng lồ dùng ngón cái và ngón trỏ nhón lấy người mình, sau đó quăng mình về một hướng nào đó.
Mới đầu Abbas còn gắng gượng giữ được tay lão Trâu trong luồng nước mạnh mẽ ấy, nhưng tiếp đó thì đành phó mặc để bị cuốn theo nó về phía trước, cuối cùng tay cũng không giữ được nữa đành buông xuôi. Không biết bao lâu sau, anh mới hơi nắm bắt được cách giữ thăng bằng cơ thể trong luồng nước. Luồng nước sâu thẳm, mãnh liệt này khiến Abbas cảm nhận rõ rệt cảm giác bất lực và hoảng loạn khi không cách nào điều khiển nổi cơ thể. Nhưng chính vào khoảnh khắc ấy, cứ như trục quay thời gian bị thứ gì đó xoay chuyển, anh rơi vào một vùng sương trắng, luồng nước mãnh liệt kia cũng biến mất không để lại vết tích.
Định thần lại, Abbas nhận ra sương trắng có lẽ là vô số các bọt khí li ti. Đám bọt khí ấy và luồng nước phát ra âm thanh òng ọc òng ọc, tựa hồ một cái máy thu thanh khổng lồ, ngồn ngộn tạp âm đặt ngay bên tai. Nhưng kỳ quặc ở chỗ, về sau Abbas lại có thể nhìn rõ từng hạt bọt khí, chúng như thể được mài qua, lấp lánh rực rỡ, khiến anh cơ hồ có thể soi thấy cả mặt mình.
Abbas bất giác đưa tay chùi kính lặn, nhưng chỉ chìm vào lớp sương trắng sâu hơn. Không rõ mất bao lâu, khi màu trắng mờ mịt dần biến mất, theo trực giác Abbas nhìn ngay xuống con số trên đồng hồ đeo tay - 8 giờ 28 phút, điều này rất hợp lý, chứng tỏ ý thức đang vô cùng tỉnh táo, vì thế anh quay đầu nhìn khắp bốn phía tìm lão Trâu. Có điều cảnh tượng tiếp đó lại khiến anh thấy như bản thân đang chìm trong ảo giác, vì anh trông thấy một bầy cá với số lượng vô cùng kinh người.
Hơn nữa đó còn là thứ cá to như người. Vây và đuôi của chúng không ngừng ngọ nguậy, tạo ra vô số bọt khí. (Thì ra bọt khí là do chúng tạo ra, Abbas thầm nghĩ). Nhưng định thần nhìn kỹ, anh lại phát hiện ra đó không phải cá, mà là một bầy người.
Anh hít liền mấy hơi ôxy từ bình dưỡng khí, muốn dằn xuống nhịp tim đập thình thịch. Một lần nữa, anh xác nhận lại cảnh tượng trước mắt và thời gian trên đồng hồ. Vẫn là 8 giờ 28 phút. Abbas ép mình không được nhìn bầy người… cá đó) tập trung chú mục vào thời gian trên đồng hồ mới nhận ra, cái kim giây chết tiệt không nhúc nhích gì hết) như thể bị đông cứng một chỗ, nó nằm im ở vị trí 8 giờ 28 phút 29 giây. Hỏng mẹ nó rồi.
Abbas ngẩng đầu lên, thu hết can đảm nhìn cho rõ cảnh tượng trước mắt. Đó thật là một bầy người ư? Đám “người” này bơi lội như cá, thân hình uốn éo cử động. Bọn họ gần như đều trần truồng, thi thoảng mới thấy một hai kẻ còn sót lại trên thân mình vài manh vải ít đến đáng thương. Đám “người cá” truồng cả và truồng một nửa này (ừm, không thể gọi họ là cá người, gọi người cá được rồi, Abbas nghĩ), trên tay còn cầm đủ loại binh khí.
Chính xác, đó đều là binh khí. Thời đại học, Abbas từng là thành viên câu lạc bộ võ thuật truyền thống, nên nhận ra trong đó có đại đao, đinh ba, móc câu, đao cán dài, đao khiên, song đao, tề mi côn, giới côn, rìu, roi… Nhưng vẫn còn rất nhiều loại binh khí tạo hình độc đáo anh chưa từng trông thấy. Kỳ diệu hơn cả là, còn có người cá cầm nông cụ, như cuốc, liềm, thuổng, bừa… vài kẻ bơi qua bên cạnh anh, gần đến độ chỉ cách một gang tay. Abbas trông thấy da trên người họ nát vụn như thể bị cắt bởi thứ gì, song máu lại không hề chảy ra từ đó, mà chỉ có những lỗ hổng trên da dẻ lõa lồ màu hồng. Có lỗ tương đối lớn, có thể nhìn được cả bắp thịt và xương màu xám trắng.
Abbas ngẩng đầu, nhìn thấy bóng của người cá ở tầng trên cùng, bọn họ có vẻ “rất nhẹ”, những người cá này đều không hoàn chỉnh: kẻ mất tay, chỉ dựa vào chân để đạp nước; hoặc mất chân, chỉ nhờ tay quạt nước. Có kẻ thậm chí còn mỗi nửa bên thân, nên chỉ liên tục bơi vòng tròn. Ánh nắng xuyên qua làn nước, xuyên qua cơ thể họ, thành từng luồng sáng hình trụ, cho đến khi chìm nghỉm nơi đáy nước thăm thẳm. Abbas nhìn xuống theo luồng sáng, có thể trông thấy trong bóng tối dường như có gì đó đang tụ lại, giống lũ cá thờn bơn, dèn dẹt chìm dưới đó.
Không hiểu sao, lúc này Abbas thấy rất bình tĩnh, cảm giác kinh hoàng ban nãy dường như đã rút lui. Anh để mặc mình cuốn theo luồng nước, vì nhận ra cơ thể trôi dạt tới đâu không phải do anh quyết định mà được, nhục thể trong nước chẳng khác nào một cọng lông vũ.
Abbas lại hít sâu mấy hơi, hòng tìm lại lý trí, anh hoài nghi bản thân đã chìm vào một trạng thái nửa hôn mê nào đó nên mới trông thấy những cảnh tượng lạ lùng này, vì vậy anh liếc cả kim chỉ của bình dưỡng khí. Kim chỉ hiển thị vô cùng bình thường, lúc suy nghĩ, ý thức cũng rất sáng tỏ, vô cùng sáng tỏ, hệt như đường bút đỏ vạch từ lối vào đến lối ra của tấm bản đồ mê cung chơi hồi nhỏ. Abbas nhớ ra lão Trâu, anh nhìn khắp xung quanh tìm hình bóng lão.
Lúc này, trong nước truyền tới tiếng ầm ầm lúc gần lúc xa. Âm thanh đó giống như có người lấy hai tay vỗ thẳng vào màng nhĩ, khiến anh bất giác đưa tay bịt tai, mắt cũng nhắm tịt lại vì cơn đau trong tai. Trong lúc ý thức hoạt động cơ thể cũng không đứng yên một chỗ, không rõ bao lâu sau, khi mở mắt ra lần nữa, Abbas nhận thấy nước đã trong hơn ban nãy nhiều, thậm chí còn có thể thấy rõ mồn một tôm cua trên lớp đá cuội dưới đáy nước và cá bơi ngay bên cạnh, còn đám người cá kia thì đã không thấy tăm hơi đâu. Chính vào lúc này, Abbas va phải thứ gì đó, anh bất giác quờ tay chới với, dường như bám được vào một mấu đất chắc chắn.
Đây đã là bãi cạn rồi.
Khoảnh khắc nổi lên mặt nước, Abbas bật khóc, cũng có thể lúc ở trong luồng nước anh đã khóc rồi. Anh quay đầu lại, phát hiện có một người nằm trên bờ cách mình chừng năm mét, lê bước chân như rượu say qua bên đó, anh nhận ra người nằm trên bờ là lão Trâu đã lột bỏ kính lặn, mắt mở trừng trừng. Anh sờ lên ngực trái lão, tim hẵng đập rất mạnh.
Abbas và lão Trâu người ướt như chuột lột đều bị bao bọc bởi thứ mùi tanh tanh của rong tảo, cứ như có bộ phận nào đó trên cơ thể đang bốc mùi, một mùi hôi thối từ trong ra ngoài. Không biết phải bao lâu sau, Abbas mới lặng lẽ cởi đồ lặn, lặng lẽ thay quần áo để sẵn trong túi chống nước, rồi quay sang giúp lão Trâu thay đồ. Abbas nhìn vào mắt lão Trâu, cặp mắt người già hệt như đang nằm mơ.
Đi mãi đi mãi, sắc trời dần ảm đạm, Abbas bấy giờ mới nhớ ra gì đó, lại nhìn đồng hồ. Đồng hồ đeo tay không biết đã hoạt động trở lại từ khi nào, chỉ thời gian 5 giờ 30 phút 20 giây chiều.
Abbas và lão Trâu mang theo bình dưỡng khí inox tiêu chuẩn loại 100, thời gian sử dụng không thể vượt quá một tiếng đồng hồ. Abbas nghĩ, không thể nào, anh ra sức tự nhủ, nhất định có một quãng thời gian mình bị mất ý thức, cả lão Trâu cũng vậy. Lúc bị nước đánh dạt vào bờ bọn họ đã mất đi ý thức, mọi thứ ở giữa đều là ảo giác do đại não tạo ra, Abbas tự thuyết phục mình như vậy.
Về sau Abbas xác định trên bản đồ, nơi bọn họ lên bờ là tả ngạn sông A Công Điếm, cách thôn Nhị Cao độ hai cây số theo đường chim bay. Đây là cơn ảo giác trôi dạt hai cây số dưới đáy sông ư? Bao năm nay Abbas vẫn tự vấn.
Cả Abbas và lão Trâu đều không nói năng gì trên đường về, lão Trâu lấy màn thầu trong túi chống nước, đưa cho anh một cái, cái màn thầu không hề dính một giọt nước. Do cơ thể đã xuất hiện triệu chứng mệt mỏi quá độ, gần như không nhấc nổi chân nữa, Abbas dùng điện thoại gọi tắc-xi, đợi nửa giờ, chiếc tắc-xi mới từ từ xuất hiện ở đầu kia con đường đê. Về đến nhà lão Trâu, vừa mở cửa, con sáo đá kia đã lẳng lặng đập cánh bay tới, hút lấy từng giọt mồ hôi rịn ra trên đầu lão.
Abbas kể đến đây thì như con cá voi nổi lên mặt nước, hít sâu một hơi. Cảm giác không khí xung quanh tôi đều bị hút sạch. Tôi không lên tiếng, không đặt câu hỏi, thậm chí đến vị trí đặt tay trên cốc thủy tinh cũng không đổi.
Anh đứng dậy, đi vào bếp rót một cốc nước nóng, uống ừng ực.
Lúc tôi xuất ngũ, lão Trâu tặng lại tôi chiếc xe đạp đó, tôi hỏi tặng tôi rồi lão đi bằng gì? Lão bảo chân lão càng ngày càng khập khiễng, rồi sẽ đến một ngày không đạp xe nổi nữa, với cả, ở Nhị Cao đầy xe đạp.
Hôm xuất ngũ, tôi quyết định đạp xe về bộ lạc, tổng cộng mất ba ngày đi đường. Trong hành trình ba ngày ấy, cõi lòng tôi đầy ắp chuyện. Basuya là người dân tộc Trâu, ừm, Basuya là cha tôi…, mẹ tôi là người Đài Loan, sau khi kết hôn, hai người họ có dạo cùng tới nhà máy trong thành phố kiếm cơm, độ khoảng khi tôi lên năm lên sáu, tình cảm giữa bọn họ nảy sinh vấn đề nằm ngoài phạm vi lý giải của tôi. Tôi chỉ biết kết quả là mẹ tôi dẫn theo tôi về căn nhà cũ ở bộ lạc làm nông, có lúc gánh rau tới thị trấn gần đó bán, còn Basuya thì ở lại Đài Trung chạy tắc-xi. Tôi không biết hai người họ rốt cuộc vì sao lại đi đến bước đường ấy, cứ như điếu thuốc hút đến đoạn cuối, diễn viên bi kịch diễn tới phút cuối vở kịch vậy.
Mới đầu tôi giúp mẹ chăm lo ruộng vườn, sau đó tới thành phố Đài Trung làm chân trợ lý chụp ảnh cưới được một năm, rồi nhanh chóng trở thành thợ chụp ảnh cưới đắt show. Vì vẫn ôm giấc mộng nhiếp ảnh gia nên tôi cũng thường ra ngoài chụp, muốn lưu lại vài tác phẩm thuộc về mình. Tôi vẫn luôn hoài niệm về quãng thời gian ở Nhị Cao, tưởng tượng nếu như hồi ấy quyết tâm ở lại đó, chụp một thôn nhà binh như thế mười năm, hai mươi năm thì hay. Tôi cũng từng quay lại đó mấy lần, tiện thăm lão Trâu. Lão Trâu về sau bị một vết hoại tử, bác sĩ để nghị lão cắt bỏ một bên chân ngắn hơn, nhưng lão sống chết không chịu. Có lần lão bảo với tôi, cũng may lần đó tôi đi lặn với lão, bằng không chân lão hỏng rồi, giờ chẳng thể nào xuống nước được nữa. Tôi thì lại nghĩ, liệu có phải lần đó xuống nước để lại mầm mống căn bệnh hoại tử ở chân lão không? Lão bảo nếu tôi nhớ, bao giờ lão chết thì nghĩ cách chôn lão dưới căn nhà này, nếu lúc lão chết con sáo đá vẫn còn, thì phiền tôi chăm sóc nó.
Năm tôi hai mươi bảy tuổi, Basuya chết. Làm xong tang lễ tôi trở về thôn Nhị Cao tìm lão Trâu, cửa nhà lão khóa kín, thì ra lão đã qua đời ở bệnh viện quân y. Vì không có người thân nên nhanh chóng được đưa hỏa táng. Lão Trâu qua đời trước Basuya một tuần. Bà Trương hàng xóm bảo, lão Trâu từng thử liên lạc với tôi, nhưng cái máy nhắn tin chết tiệt của tôi bị hỏng, phải đổi số mới, tôi không hề nghĩ đến chuyện có ngày lão lại gọi vào máy nhắn tin tìm mình. Tôi cưỡi con xe máy đi thuê, chạy thẳng tới bờ sông A Công Điếm, tới nơi chúng tôi nổi lên vào ngày hôm đó mới biết chỗ đó đã xây đê bê-tông chắn sóng. Lão Trâu không còn nữa, Basuya cũng không còn nữa, ngay bờ sông khi xưa cũng không còn nữa. Cặp kính phi công không thấy đâu, cây ổi ta bị chặt, con sáo đá kia cũng không biết bay đi đâu rồi.
Abbas cầm cốc của tôi, đứng dậy giúp tôi rót thêm cà phê, nghe nói hạt cà phê này nhập khẩu từ Lào, có mùi chua chua mục nát, giống như ở tầng đáy của rừng rậm. Lào trồng cà phê là do thực dân Pháp mang giống cây tới, sản lượng hằng năm không cao, nhưng mùi vị rất độc đáo.
Tôi cũng nhân cơ hội đứng dậy, dãn gân dãn cốt, thực tế là vì không muốn nhìn vào mắt Abbas. Tôi dựa bậu cửa sổ, bên dưới căn hộ của Abbas là một khu chợ truyền thống, từ cửa sổ nhìn ra dây điện và vải bạt che đến quá nửa tầm mắt, chỉ có thể trông thấy đỉnh đầu và vai người đi bộ, qua lại giữa những khe kẽ không bị che lấp.
Không biết sáng sớm thế này, từng người họ đang bận bịu những gì?
Tôi quay người đứng im trước một mặt tường, đó là tác phẩm lớn nhất trong cả studio này, chắc phải đến hai mươi inch. Ảnh chụp một sườn núi từ trên đỉnh xuống, sát tầm mắt xếp ngay ngắn những vật hình trụ tròn màu trắng to có nhỏ có, nhìn từ xa rất có mỹ cảm hình học, nhìn gần mới nhận ra đó là những gốc cây bị cưa đều tăm tắp. Ống kính máy ảnh của Abbas rất sắc nét, vì vòng tuổi của một số gốc cây đều hiện rõ rành rành. Ở góc trên bên phải bức hình có một con sông tối màu, uốn khúc chảy qua.
Tôi nhìn dán vào bức hình ấy, dần dần cảm thấy hoa mắt chóng mặt.
Abbas nói: “Thực ra người chỉ ngắm ảnh là rất may đấy”.
“Vì sao?”
“Vì có thể lựa chọn không nhìn chứ sao”. Anh nói: “Nhưng người chụp ảnh thì không thể không nhìn”.
“Ừm”. Tôi ngẫm nghĩ câu nói của Abbas.
“Tôi đi tìm lão Trâu sau khi Basuya chết là có nguyên nhân cả”. Tôi hơi nhướng lông mày, chờ đợi anh nói tiếp.
“Khi đó Basuya cứ cách ba, bốn tháng lại quay về bộ lạc, ăn bữa cơm gì đó, có lúc bên bàn ăn, chúng tôi vẫn cứ như người một nhà. Rồi có lần, ông hỏi tôi về chiếc xe đạp của lão Trâu dựng ngoài cửa. Ông hỏi tôi rất nhiều tiểu tiết liên quan đến chiếc xe đạp đó, như thể rất quen thuộc với mẫu xe đó vậy”.
“Thế chiếc xe đó đâu rồi?”. Tôi để ý giờ Abbas đang đi một chiếc Maruishi cổ, nhưng nó không hề giống chiếc xe của lão Trâu mà anh miêu tả.
“Mất trộm rồi, bị mất trộm ở Malaysia”.
“Malaysia?”
Abbas gõ khớp ngón tay lên bàn, nghe như tiết tấu của một bài hát rất quen, nhưng tôi nhất thời không nhớ ra nổi. Anh hỏi: “Anh biết đơn vị Bánh xe bạc không?”.
❀ ❀ ❀
[1] Thiên can địa chi: Hệ thống đánh số thành chu kỳ được dùng tại các nước Á Đông.
[2] Bình: Đơn vị đo diện tích của Đài Loan, Nhật Bản, Hàn Quốc. 1 bình = 3,30578 mét vuông.
[3] Chữ Hán của "Kyoko” là 鏡子 cũng có nghĩa là tấm gương.