
Vì thế xe đạp không chỉ là xe đạp.
- Nhà thiết kế xe đạp người Nhật
Kiyohara Shinji
Năm Minh Trị thứ năm (1872), Fukuhara Arinobu - một chàng trai trẻ có hứng thú sâu sắc với Lan y (y học Tây phương) đồng thời từng đảm nhận chức vụ được sĩ trưởng trong viện quân y Hải quân Nhật Bản, đã mở một nhà thuốc Tây đầu tiên ở Ginza[1]. Điều thú vị là, tên nhà thuốc rất có phong vị Trung Quốc - Tư Sinh Đường (Shiseido). Cái tên này bắt nguồn từ một câu truyền từ thuộc “Thoán truyền” của quẻ Khôn trong Chu Dịch: “Chí tại Khôn nguyên, vạn vật tư sinh”[2]. Khôn trong Dịch tượng trưng cho địa (đất), địa tải vạn vật, tư dục chúng sinh, một hiệu buôn dược phẩm, lấy cái tên này quả thật vừa thích đáng lại vừa mang hàm ý sâu xa.
Trong một cuốn sách nhan đề Ginza và Shiseido (銀座と資生堂 —日本を「モダ ーンJにした会社), lần đầu tiên tôi biết được lĩnh vực kinh doanh khi ấy của Shiseido không hoàn toàn giống với nhận thức từ nhỏ của bản thân, rằng “Shiseido là một thương hiệu mỹ phẩm”. Shiseido nhảy sang lĩnh vực mỹ phẩm vào năm 1897, cũng tức hai năm sau cuộc chiến Ất Mùi cắt Đài Loan cho Nhật Bản. Bấy giờ Shiseido tung ra một loại toner (nước dưỡng da) có tên オイデルミ ン (Eudermine, nghĩa gốc ban đầu là làn da tuyệt đẹp, giờ đổi thành “Monroe đỏ”), được các chị em phụ nữ thời thượng vô cùng yêu thích.
Năm 1902, Fukuhara lại nhập máy hơi nước từ châu Âu, rồi mở nhà hàng Âu, quán cà phê, cũng khiến dân tình được phen nô nức. Cuộc sống của người dân Nhật Bản dần thay đổi vì những sự việc nho nhỏ này, và họ hài lòng với những biến đổi ấy. Từ thuốc men, mỹ phẩm, đến ẩm thực, Shiseido không chỉ là một hiệu buôn thuốc nữa, mà nó còn cung cấp cho người Nhật Bản những trải nghiệm văn hóa đại chúng hoàn toàn mới.
Tôi mơ hồ cảm thấy, Shiseido từ mặt hàng thuốc Tây tiến tới kinh doanh nhập khẩu và nghiên cứu sáng chế mỹ phẩm, có thể nói là một hình thức ngưỡng vọng của Nhật Bản đối với phương Tây khi ấy, về y được, khoa học kỹ thuật, thậm chí là phong cách sống.
Năm 1915, người con trai của ông là nhà nghệ thuật Fukuhara Roso trở về Nhật Bản. Tiếp thu nền giáo dục Tây phương, ông nhìn thấy xu thế của thế giới và quyết tâm chuyển trọng tâm sự nghiệp của cha từ dược phẩm sang mỹ phẩm. Một năm sau đó, nhân vật quan trọng trong lịch sử nhiếp ảnh Nhật Bản này đã vận dụng khái niệm thị giác của Tân nghệ thuật (Art Nouveau) để thiết kế cho Shiseido hình ảnh đóa hoa sơn trà với đường nét mạnh mẽ, đậm tính trang trí, mà về nội hàm lại càng nhấn mạnh tính hiện đại của sản phẩm. Từ đó về sau, chúng ta hầu như chỉ biết “mỹ phẩm Shiseido” mà thôi.
Mỗi lần nghe đến Shiseido, tôi lại nhớ tới hộp phấn dèn dẹt sặc mùi bụi phấn, mở nắp ra bên trong có kèm miếng bọt biển, nắp trên lật lên là một mảnh gương con, lúc nào cũng bị dùng mòn vẹt không còn cả phấn thừa trong góc. Mẹ bảo đây là món quà đáng giá nhất và cũng là duy nhất bà nhận được từ cha tôi, do ông đạp xe tới cửa hàng Shiseido trên đường Nhân Ái mua.
Năm 1949, một thương nhân Đài Loan thông minh tên Lý Tiến Chi đã giành quyền độc quyền phát triển nghiệp vụ của Shiseido tại Đài Loan. Có điều kế hoạch phát triển mới đầu không hề thuận lợi, do giao dịch thương mại xuất nhập khẩu giữa Đài Loan và Nhật Bản sau chiến tranh có rất nhiều vấn đề về pháp lệnh cần chờ giải quyết. Quá trình triển khai quả thực bị kéo dài quá lâu khiến Lý Tiến Chi vô cùng lo lắng. Nghe nói ông ta trông thấy người đi xe đạp trên phố thời ấy thường bị quân nhân vô duyên vô cớ gọi lại, rồi lấy xe đi chẳng vì lý do gì, cộng thêm chuyện chiếc Fuji Monarch của một phú thương hàng xóm dựng trong sân bị lấy cắp (đây đã là chiếc xe thứ hai người này bị mất trộm), thì bèn nghĩ: “Đồ bị cướp hoặc bị trộm chắc chắn phải có giá trị, hơn nữa rồi có ngày, Đài Loan nhất định sẽ trở thành một xã hội mà người người đều có thể sở hữu xe đạp”. Thế là ông ta cùng người anh sáu là Lý A Hoài và người em cùng mẹ khác cha Lý A Thanh trước tiên chia nhau thành lập “Công ty thương mại Thành Trung” và “Công ty xe Thành Trung”. Công ty thương mại phụ trách xúc tiến vụ Shiseido, một mặt cũng xuất khẩu một số mặt hàng dân sinh như ngô đồng, măng khô, tinh dầu sả, nghệ sang Nhật Bản, rồi chuyển lợi nhuận thu được sang cho công ty xe Thành Trung, nhập khẩu xe tự quay và kỹ thuật sản xuất của Nhật Bản. Sau 1954, nhằm giúp đỡ ngành công nghiệp xe đạp, chính phủ kiểm soát toàn diện việc nhập khẩu linh kiện xe đạp, các nhà máy lắp ráp xe và chế tạo linh kiện trong nước nhờ thế dần ngẩng được đầu lên, công ty xe Thành Trung cũng bắt đầu lắp ráp xe đạp mang nhãn hiệu của riêng mình.
Xưởng lắp ráp xe tọa lạc tại Tam Trùng Phố này sau khi kinh qua loạt xe lắp ráp đời đầu, bắt đầu thiết kế và sản xuất mẫu xe của riêng mình, tên gọi hoàn chỉnh của mẫu xe này có lẽ là “xe đạp Hạnh Phúc Thành Trung”.
Bấy giờ nhà họ Lý không hề biết rằng, nhiều năm về sau, Hạnh Phúc sẽ trở thành nhãn hiệu xe đạp Đài Loan có tỷ lệ mất trộm cao nhất. Và rất nhiều người lập nghiệp, kết hôn, làm giàu… đều bắt đầu từ chiếc xe đạp với khẩu hiệu quảng cáo Chạy xe đạp Hạnh Phúc, đi trên con đường hạnh phúc này. Trong đó có cả cha tôi.
Giai đoạn từ thời Minh Trị đến thời Chiêu Hòa, một trong những mẫu xe nổi tiếng nhất Nhật Bản chính là “Fuji Monarch” sau này ảnh hưởng đến cả một thời đại công nghiệp sản xuất xe của Đài Loan. Nơi chế tạo Fuji Monarch là Công ty cổ phần Nichibei Shoten, giống như Shiseido, đây cũng là công ty thương mại xuất nhập khẩu đồ dùng sinh hoạt. Fuji Monarch vốn được gọi là “ラーヂ Monarch” trong đó ラーヂ là Rudge, cũng chính là “xe đạp Rudge-Whitworth” của Anh.

Fuji Monarch.

Logo các hãng xe: Hạnh Phúc Thành Trung - Kennet liên doanh Đài-Nhật - Kennet Nhật Bản.
Năm Chiêu Hòa thứ ba, ラーヂ Monarch đổi tên thành Fuji Monarch, trở thành cột mốc của việc nội địa hóa công nghệ sản xuất xe tự quay Nhật Bản. Thân xe vững chãi đen bóng, gác-ba-ga cỡ lớn, yên xe bọc da bò phóng khoáng chắc chắn, cùng những chi tiết kỹ thuật tinh xảo, Fuji Monarch thực sự có khí thế của một con “ngựa sắt”, tại Nhật Bản, đây là mẫu xe được hoàng thất yêu thích, đương nhiên tại Đài Loan thời bấy giờ, chỉ nhóm người quyền quý hoặc các chuyên gia cực thiểu số mới có khả năng sở hữu chiếc xe này.
Tôi đọc được trong một văn bản, rằng năm Đại Chính thứ tư, theo thống kê chính thức số xe tự quay của sở Đài Bắc mới là 253 chiếc, trong đó Fuji Monarch lại càng hiếm. Vì chiếc xe danh tiếng này mà sau chiến tranh, vào thời kỳ ngành công nghiệp xe đạp của Đài Loan cất cánh, các xưởng lắp ráp xe đều hay gọi mẫu xe của mình là “Monarch”.
Giống như sự phát triển từ dược phẩm sang mỹ phẩm ẩn chứa niềm ngưỡng vọng đối với đời sống phương Tây, sự hưng thịnh của ngành công nghiệp xe tự quay Nhật Bản cũng mang ý nghĩa Tây hóa sâu sắc. Từ thời Minh Trị, rất nhiều công ty thương mại xuất nhập khẩu đã bắt đầu nhập xe đạp của các hãng xe châu Âu như Rudge-Whitworth, BSA, Raleigh vv…, rồi dần dần mới từ mô phỏng bước vào giai đoạn tự chế tạo. Đài Loan thì thông qua ảnh hưởng của Nhật Bản trong thời kỳ Nhật trị, từ mô phỏng quy trình sản xuất xe đạp của nhà máy Nhật, đồng thời học hỏi kỹ thuật từ nhà máy châu Âu, sau chiến tranh lại cũng trải qua quá trình trước tiên nhập khẩu linh kiện lắp ráp, tiến tới mô phỏng, rồi cuối cùng phát triển ra mẫu xe nội địa của riêng mình.
Xe đạp Hạnh Phúc, tiền thân là mẫu Kennet liên doanh, thiết kế yên lò xo da bò cỡ lớn, chỉ có một tay phanh trước ở bên phải, kèm “phanh chân”, đều vô cùng giống với Fuji Monarch. Trên thực tế, do có quan hệ mật thiết với công ty Nhật Bản nên quả thực công ty thương mại Thành Trung đã tiếp nhận luôn công nghệ được chuyển giao từ phía Nhật. Cũng vì vậy, chất lượng xe đạp Hạnh Phúc rất được người dân tin tưởng.
Những năm 50, 60, sở hữu một chiếc xe đạp đối với rất nhiều gia đình vẫn là khoản chi đắt đỏ, thành thử các hãng xe nổi tiếng thường chú trọng cả mặt kỹ thuật lẫn thẩm mỹ trong thiết kế. Ví dụ trên cọc ghi-đông xe Hạnh Phúc đều đính logo bằng đồng tráng men nung, gương phản quang phía sau được bọc khung đồng, rồi dùng thứ nguyên liệu thời thượng bấy giờ là nhựa celluloid để chế tạo nắp xích kín, thân xe có hình vẽ hoa cỏ bằng sơn nhũ vàng, huy hiệu trên tấm chắn bùn giờ nhìn lại mới thấy mang thiết kế cổ điển đậm phong cách Baroque. Ở mẫu xe đắt tiền, mỗi linh kiện trên xe còn đều có logo riêng của hãng, thậm chí đến cái đinh ốc cũng khắc nổi tỉ mỉ chữ “Hạnh” hoặc chữ “Phúc”.
Giai đoạn 1960 là thời kỳ cao trào đầu tiên của ngành công nghiệp xe đạp Đài Loan, nhờ dây chuyền sản xuất đi vào quỹ đạo, các hãng xe và nhà máy lắp ráp thi nhau tung ra nhãn hàng của riêng mình, xe đạp do Đài Loan tự sản xuất lên đến hơn hai trăm nghìn chiếc, số xe đang lưu hành còn lên tới hơn một triệu ba trăm nghìn chiếc. Không rõ xe Hạnh Phúc chiếm bao nhiêu phần trăm thị trường, nhưng có thể thấy rõ rằng, dưới sự nỗ lực của Lý Tiến Chi, Hạnh Phúc khi ấy gần như là thương hiệu số một trong giới xe đạp.
Tôi từng nghĩ, thành công của xe Hạnh Phúc, chưa biết chừng lại liên quan mật thiết tới tên gọi của nhãn hiệu này. Hòn đảo nhỏ vừa thoát ly khỏi chiến tranh đã khao khát biết bao câu slogan ấy.
Có lần tôi lẩm bẩm trước mặt Tiểu Hạ: “Cưỡi con xe này, thực sự sẽ hạnh phúc sao?”. Tiểu Hạ nhìn tôi, như nhìn một kẻ theo chủ nghĩa nhạy cảm không thể tìm kiếm niềm vui.
Lý Tiến Chi là một người rất có đầu óc kinh doanh, ông ta cho đăng quảng cáo ở bến xe trên khắp Đài Loan, hợp tác với đài phát thanh hỗ trợ tuyên truyền, còn sáng tác bài nhạc chủ đề cho nhãn hiệu. Đi trước đón đầu hơn cả là, ông ta thậm chí tổ chức một “Hội Hạnh Phúc”, khởi xướng hoạt động đạp xe dã ngoại hằng tuần, do đích thân mình làm trưởng đoàn. Chiêu này được dùng sớm hơn hẳn sáu mươi năm so với chủ tịch của Giant[3].
Hễ là người tham dự hoạt động đạp xe dã ngoại của hội Hạnh Phúc đều được hãng xe cung cấp miễn phí hoa quả và cơm hộp, còn tặng cả mũ, áo phông vv… in logo hãng. Đây chính là chiến lược bán hàng coi xe đạp như công cụ của cuộc sống giải trí. Chiến lược thành công đã thúc đẩy thị trường, nhờ đó lượng bán ra rất tốt, Hạnh Phúc cũng trở thành nhãn hiệu xe đạp có tỷ lệ mất trộm cao nhất toàn Đài Loan.
Còn chiếc xe đạp cuối cùng của cha tôi, cũng là chiếc xe giờ đây đã trở về trong tay tôi, chính là một mẫu xe lưỡng tính ở giai đoạn sau của xe đạp Hạnh Phúc (cũng có người gọi là “xe văn võ”[4]). Cha đã mua nó từ chợ đồ nhảy Mãnh Giá - khu chợ đồ ăn cắp bạt ngàn như cây trong rừng, với tỷ lệ lưu động cao nhất miền Bắc Đài Loan.
Cũng có nghĩa, chiếc xe Hạnh Phúc sau này mất tích, rất có thể vốn được một tên trộm nào đó tháo phụ tùng từ những chiếc xe ăn trộm, lắp lại, rồi bán cho cha tôi.
❀ ❀ ❀
[1] Ginza: Khu thương nghiệp trọng yếu nằm ngay tại trung tâm Tokyo.
[2] “Chí tại Khôn nguyên, vạn vật tư sinh” - dịch nghĩa: “Tột cùng thay cái đức đầu cả của Khôn, muôn vật nhờ nó mà sinh ra”, theo Kinh Dịch trọn bộ, Ngô Tất Tố.
[3] Giant: Một thương hiệu xe đạp được thành lập từ 27/10/1972 bởi King Liu tại quận Đại Giáp, thành phố Đài Trung của Đài Loan - (BTV).
[4] Xe văn võ: Xe đạp thời kỳ này được chia làm xe văn và xe võ, xe văn tức xe dành cho nữ, xe võ tức xe chở hàng dành cho nam.