Ah-Bu’s Cave
Sau hai mươi năm dài đằng đẵng, chiếc xe trở lại trước mặt tôi.
Thông tin về chiếc xe có được từ A Bố. A Bố là một người bán tôi gặp trong lúc tìm mua linh kiện ngựa sắt cũ, dần dần trở thành bằng hữu. Tuổi gã nhỏ hơn tôi chút đỉnh, nhưng nhỏ hơn bao nhiêu thì tôi không biết chính xác, chỉ là phán đoán dựa vào mức độ căng nhão của các cơ trên mặt. Có nói chuyện với gã bạn cũng rất khó biết được tuổi thật của gã từ nội dung trò chuyện, ký ức của gã về năm tháng thảy đều bị xáo trộn bởi số lượng khổng lồ những món đồ không cùng niên đại… những thứ vứt đi mà gã sưu tập từ bãi rác, nhà người chết, trung tâm thu gom rác tái chế, trên đường phố.
Lúc nào gã cũng đầu bù tóc rối, tay đút túi quần bò, khoác cái bộ dạng hôm nay cũng chẳng có việc gì đặc biệt phải làm. Trên thực tế, vốn hiểu biết về đồ cổ của gã vượt xa tuổi tác, và càng không ăn nhập gì với ngoại hình gã.
Có lần tôi hỏi A Bố gã bắt đầu sưu tầm đồ vật từ bao giờ? Gã ngẫm nghĩ một thoáng, đáp: “Sau khi tốt nghiệp trường cao đẳng dạy nghề, thằng em thấy mình chẳng còn động lực đâu mà học thêm nữa, nên là đi nhập ngũ. Xuất ngũ rồi, kiếm được một chân bảo vệ chợ, làm ca đêm suốt. Một hôm buổi sáng trên đường về nhà, thằng em trông thấy đầu ngõ có bà cụ đang nhặt nhạnh phế liệu, trên cái xe ba bánh ngoài thùng giấy bìa các-tông với ít đồ tái chế hầm bà lằng ra, còn có một cái máy hát. Vào cái giờ ấy thông thường thằng em đã mệt lử ra rồi, nên lên nhà luôn. Nhưng chẳng hiểu sao, lòng cứ canh cánh việc gì, không ngủ nổi”.
Có lẽ là nghĩ đến cái máy hát vỡ nắp, có vân gỗ nhẹ nhàng, giống như con bọ hung đậu trên chiếc xe ba bánh kia chăng. Thế là A Bố lại xuống dưới nhà, không hỏi máy hát có chạy được không, chỉ hỏi bà cụ có chịu bán máy hát cho gã hay không. Đối với bà cụ, giá tiền A Bố đưa ra cao hơn nhiều so với đem tới trung tâm thu gom rác tái chế, nên đương nhiên cụ không có lý do nào để từ chối.
“Kết quả có chạy được không?”
“Đương nhiên, nếu không chạy được thì chắc đã không có chuyện tiếp theo rồi. Cái máy hát đó có một ngăn chứa dạng gấp, bên trong đựng tận mấy cái đĩa than, thời ấy rất nhiều máy hát đều có thiết kế như vậy. Thằng em đi mua kim đọc đĩa, gắn thêm bộ loa thùng gỗ sẵn có không biết còn dùng được không, sau đó lắp đĩa vào nghe thử”.
A Bố bảo mình không hay nghe nhạc, thời trẻ có nghe cũng chỉ là mấy bài của Đặng Lệ Quân, Trần Thục Hoa, Hoàng Oanh Oanh phát trên radio ở nhà, vì nhà gã bán hoa quả, mẹ gã thường để radio ở một góc nhà bật suốt ngày.
Có tổng cộng bốn đĩa hát, một cái là của Đặng Lệ Quân, ba cái còn lại là nhạc tiếng Anh. Gã không hề trông chờ mình sẽ thích ba cái đĩa còn lại, vì trình độ tiếng Anh của gã có lẽ đã dừng lại ở khoảng bài một cấp độ hai chương trình tiếng Anh quốc gia. Thế nhưng khi âm thanh từ cây kim nhấp nhô theo rãnh đĩa truyền tới bộ loa vốn dĩ gã không đặt nhiều hy vọng, phát ra ngoài, gã đột nhiên nổi cả da gà. Dần dần, gã có thói quen sáng sớm ăn xong sữa đậu quẩy nóng, trước khi chuẩn bị đi ngủ thì phát tất cả các đĩa hát đang có bằng cái máy hát REALISTIC LAB-59 ấy. Gã nói số chữ tiếng Anh gã biết đại khái là tập hợp tên mấy cái đĩa hát nọ, lần lượt là Something Stupid của Frank Sinatra và Nancy Sinatra, With My Eyes Wide open I’m Dreaming của Patti Page, với một trăm bản nhạc tập đàn dương cầm của Carl Czerny.
A Bố nói tiếng Anh, rồi tự mình bật cười, có lẽ do thấy phát âm của mình kỳ kỳ chăng? Tiếng cười của gã lẫn cả ngại ngùng, song lại khiến tôi cảm thấy gã là người đơn thuần, khoảng cách giữa hai con người bỗng chốc được kéo xích lại.
Gã bảo: “Để đọc được mấy cái đĩa ấy, thằng em còn nhờ bạn học cũ dạy cho đấy”.
Tôi hỏi: “Đĩa hát còn không?”.
“Còn chứ, đương nhiên, mấy cái đĩa ấy cả đời này thằng em cũng không bán đâu, nói nghe có vẻ khoa trương, nhưng chúng rất giống một dạng chìa khóa, mở ra thứ gì đó. Kể ra đã là chuyện của mười lăm năm trước rồi, ngày ấy mấy cái đĩa hát ấy còn chưa cổ đến thế”.
Từ đó trở đi, A Bố trở thành một gã mang theo ra-đa đồ cũ trong người, khi gã đi trên đường, không còn là di chuyển thông thường nữa, mà lúc nào cũng chú ý xung quanh có thứ gì hay ho không. Gã phát hiện ra một chuyện rất thú, ấy là khi bạn bày tỏ muốn có món đồ đó bị xem như rác rến, người vốn dĩ định đem vứt nó sẽ nhanh chóng biến thành bên bán tính toán chi li, bọn họ như thể đột nhiên nhận ra món đồ của mình có giá trị, và bắt đầu tiếc của. Nhưng tất cả chỉ là cảm xúc nhất thời mà thôi, chỉ cần ra một cái giá làm hài lòng chút cảm xúc hư vinh của họ, đa số mọi người đều không thực sự bận tâm món đồ trong tay họ quý giá nhường nào.
A Bố vốn chỉ đơn thuần là mua lại thứ mình thích, nhưng gã nhanh chóng nhận ra bản thân không đủ tiềm lực kinh tế để làm vậy trong thời gian dài, không chỉ tiền tiêu loáng cái là hết, mà nhà cửa chất ngồn ngộn chẳng khác nào bãi rác. Sau khoảng sáu, bảy năm, gã nảy ra ý mở một cửa tiệm, thế là đem hết vốn liếng tích cóp được từ việc làm bảo vệ, làm công nhật, gã thuê mặt bằng tiệm ở Vĩnh Hòa. Có điều tiền thuê cửa hàng gần chợ đêm không hề rẻ, cộng thêm mặt hàng đồ cũ người xem thì nhiều người mua thì ít, hết hạn hợp đồng gã đành chịu lỗ dẹp tiệm, đồng thời chuyển trọng tâm sang loại hình bán hàng qua mạng mới manh nha thời bấy giờ. Sau mấy năm, A Bố giờ đã là chủ một shop online được hàng nghìn người đảm bảo uy tín, không còn là tay sưu tầm đồ cũ đơn thuần nữa, còn tôi cũng vì vậy, trở thành khách hàng của “Tiệm đồ cổ A Bố”.
Nhớ lại lần đầu chạm mặt, là vì tôi mua của gã một chiếc đèn điện dynamo hiệu Hoàn Cầu (loại đèn xe đạp này lợi dụng một đầu cao su, tiếp xúc với bánh xe đang chuyển động, dẫn động máy phát điện từ tính phát điện), và hẹn gã gặp mặt giao dịch. Gã cho tôi địa chỉ nằm ở một khu công nghiệp cũ của Đài Bắc, Tam Trọng. Tôi đến điểm hẹn rồi gọi điện cho gã, A Bố cưỡi một con xe Yamaha cũ bô nẹt trầm đục tao nhã xuất hiện, không đội mũ bảo hiểm mà đội mũ bóng chày màu xanh lam thêu chữ LA của đội Dodgers, mặc quần bò bạc phếch và áo phông trơn màu lá cây, nói chuyện có hơi lắp, đầu cứ cúi xuống đất như thể tìm tiền xu, không khác lắm với hình tượng con buôn mà tôi trông đợi.
Mới đầu chỉ đơn thuần là chuyện trò tào lao giữa người mua và người bán, không ngờ sở thích với ngựa sắt cũ của tôi lại khơi dậy nhiệt tình của gã, gã trả lời tôi vài câu hỏi liên quan đến chuyện sửa chữa ngựa sắt cũ. Còn tôi cũng bắt đầu nảy sinh hiếu kỳ với tay con buôn có kiến thức vô cùng phong phú về mọi mặt này, nên hỏi có thể tới chỗ gã cất đồ sưu tập xem không. A Bố do dự một thoáng rồi đồng ý.
A Bố đèo tôi trên con xe Yamaha cũ tới một căn hộ nằm tận cùng một con ngõ cụt. Trước cánh cửa sắt của căn hộ chất đầy thùng giấy, chỉ chừa một lối đi gần như sắp bị nuốt chửng, cùng một ô cửa nhỏ để mở một nửa. Phía trước mái hiên dựng một chiếc xe đạp hiệu Phi Hổ không khóa, một chiếc xe đạp hiệu Ngũ Thuận, và vô số linh kiện cùng xác xe rời rạc. Gã mở bộ bàn ghế gấp bên trên viết bảng cửu chương và các chữ cái tiếng Anh vẫn hay thấy trong các hộ gia đình cùng thời tôi ra mời tôi ngồi, còn mình đứng dựa con Yamaha, châm điếu thuốc. Ngay cuối con ngõ cụt ấy, chúng tôi tán hươu tán vượn về thiết kế kinh điển của mấy chiếc xe đạp này, chẳng khác nào dân mê văn học nói về Milan Kundera với Italo Calvino, dân mê nghệ thuật đương đại bàn về Jasper Johns với Andy Warhol.
Không biết chuyện gẫu bao lâu, gã ra 7-11 mua hai cốc latte và cà phê cỡ vừa uống xong mới kéo cửa cuốn lên, mở “xưởng” của mình cho tôi ngó qua.
Tôi thò đầu vào, giống như vào một cái động.
Đến giờ tôi vẫn không tài nào biết chính xác xưởng của A Bố rộng chừng nào, vì toàn bộ không gian đều chất đống đồ đạc. Trên trần nhà treo mấy chiếc đèn chùm thủy tinh kiểu dáng khác nhau, đủ loại bàn ghế gỗ xưa cũ chất chồng cao đến tận trần bằng phương thức hết sức đặc biệt. Trong đống bàn ghế gỗ ấy có một món tạo hình rất nổi bật, nhìn kỹ thì ra là một con ngựa gỗ cũ sơn họa tiết ngựa vằn cho trẻ con cưỡi. Nhất định từng có một đứa bé trai không chỉ coi nó là khúc gỗ sơn màu ngựa vằn mà cho rằng nó là loài sinh vật tuyệt đẹp thực sự chạy băng băng trên thảo nguyên châu Phi.
Trong chạn bếp bên tay phải cất vô thiên lủng đủ loại bát đĩa cốc chén không cùng niên đại. Tôi lục xem còn bất ngờ tìm được bát và thìa chuyên dụng của quán Xúp mực Cảm ơn. Bên tay trái dưới cùng mấy tủ quần áo chất đống loạt quạt điện Đại đồng, loại quạt này dường như có thể quay mãi quay mãi cùng trời đất vậy. Phía trên quạt treo mấy ngọn đèn tàu đánh cá, trong chiếc thùng sắt một mặt in chữ Sở Giáo dục tỉnh Đài Loan xếp mấy lọ kẹo bằng thủy tinh bọt khí. Hồi trước tôi toàn tới tiệm tạp hóa ông già trên tầng hai khu kinh doanh mua mấy món bánh kẹo đóng gói lẻ bỏ trong những cái lọ kiểu này.
Tôi mượn gã dùng tạm nhà vệ sinh, kết quả đó lại là một cái động trong động. Đèn nhà vệ sinh là một cái chụp đèn sắt tây đầy hoài niệm, tròng dây điện hai màu trắng đỏ đan xen, đoạn cuối dây treo một thứ gọi là “công tắc quả nhót”, chính giữa có một cái chốt linh động, gạt sang trái để lộ màu trắng là bật, gạt sang phải để lộ màu đỏ là tắt Tôi hết sức e ngại nhấc nắp hố xí lên, vì ngay cả trên đó cũng chất đống nào hộp là hộp, mở mấy cái hộp đó ra xem, bên trong phần lớn đều là đồ chơi của thế hệ tôi hồi lớp năm lớp sáu: có siêu nhân vũ trụ bằng nhựa dẻo, thẻ bài tròn nhân vật hoạt hình, đủ kiểu xe hơi mô hình bằng hợp kim. Trong bồn tắm bốn bề treo kín đủ loại vé cào trúng đồ chơi, chính giữa cái bồn còn kê một máy gắp trứng đời đầu, trước khi trông thấy cái máy này, ấn tượng về máy gắp trứng trong đầu tôi đã bị những chiếc máy lắp đèn LED nhấp nháy bày trong siêu thị hiện đại thay thế. Trông thấy nó tôi mới nhớ lại máy gắp trứng thuở ấy đều là hình oval như tàn vũ trụ, đồng thời có một cái chân sắt. Loài quái thú một chân này quả thực đã nuốt mất quá nhiều tiền của tôi ở cái tuổi ấy.
Tôi cầm lấy cây súng pháo đồ chơi trên bậu rửa tay, tạo dáng trước gương. Đáng tiếc không có vỉ đạn, bằng không cũng muốn bắn một phát. Đưa súng lên sát mũi vẫn còn ngửi thấy mùi thuốc pháo, thứ mùi này có thể lưu lâu như vậy sao? Hay là do tôi tưởng tượng? Hoặc do đang ở trong động của A Bố chăng? Ở trong này, tôi cảm giác như không cách nào hít thở đều được, cảm giác thời gian cùng bầu không khí trong căn hộ này khác hẳn với thế giới bên ngoài.
Chúng tôi trở ra ngoài nhà ngồi, tôi hỏi A Bố: “Những món đó kiếm đâu ra vậy?”.
Gã đáp: “Có tận mấy kênh. Thằng em cưỡi xe máy loanh quanh phố lớn ngõ nhỏ, cũng có khi tới tận miền Trung miền Nam, thấy món nào hợp gu thì hỏi xem người ta có bán không. Thấy bên đường dựng con xe đạp cũ, hay kê tạm cái chạn bát định vứt thì cứ đến ấn chuông thôi. Cách thứ hai là đánh hơi được cửa hiệu lâu đời nào sắp đóng cửa thì cất công đến tận nơi, nghe nói thôn nhà binh[1] nào sắp cải tạo thì ăn dầm nằm dề ở đó cả tháng, canh xem hộ nào đem vứt món gì”.
“Làm gì có chuyện cửa hiệu lâu đời nào dẹp tiệm cậu đều biết? Chắc có ai mách cho chứ gì”.
“Đương nhiên trước tiên ông anh cần xây dựng quan hệ. Chủ mấy cửa hiệu lâu đời đều mang tình cảm rất sâu nặng với món đồ bọn họ bán. Thế nên yếu quyết nằm ở chỗ, đừng khiến họ cảm thấy anh mua đồ của họ là để đem bán, mà là vì anh muốn giúp họ lưu giữ những món đồ ấy… Có lúc bọn họ sẽ không đồng ý ngay, mà vào một thời điểm nào đó ngay bản thân cũng không hiểu nguyên do, gọi điện cho anh. Tóm lại, anh phải khiến họ cảm thấy, giao những món đồ đó cho anh khác với việc giao cho đội xử lý vệ sinh hay đem bán đấu giá”. A Bố tổng kết bằng một câu đầy sâu sắc: “Mua đồ phải trả bằng tình cảm”. Tôi phải thừa nhận lúc nói câu này, từ gã toát ra một sức hút khó diễn tả, dáng vẻ gã vừa hút thuốc vừa nói chuyện hơi giống tay cao bồi in trên áp phích quảng cáo thuốc lá Marlboro thời tôi còn trẻ. Tôi hỏi gã thu nhập có ổn không? Gã đáp mình vẫn phải đi làm công nhật, nhưng mấy năm nay tính riêng thu nhập bán đồ cũ dần dần đã đủ chi phí sinh hoạt rồi.
“Một người muốn sống không cần bao nhiêu tiền đâu, thật đấy”.
“Cậu làm công nhật là làm việc gì?”
“Điện nước, phụ hồ (thôo-tsuí) thằng em cũng biết (bat) đôi chút (tsit-kuá-á)”. Gã vừa trả lời bằng tiếng Đài vừa rút từ trong quần bò ra cái ví da, móc lấy một tấm danh thiếp: “Ông anh chiếu cố’. Tôi nhìn qua chức danh trên danh thiếp đề: “Đặc phái viên sưu tầm đồ cổ dân gian” bên dưới cách hai ô “Chuyên sửa điện nước”.
Chính vào lúc này, tôi trông thấy một sinh vật như thể loài kỳ nhông xanh, bò ra từ sau chiếc chạn bát bằng gỗ bách, rồi leo lên trụ đèn trông như cánh tay robot của một cây đèn sàn công nghiệp. Tôi ngỡ rằng mình nhìn nhầm, nhưng ngay sau đó A Bố liền nhặt một cọng rau ngâm trong chậu nhôm cũ, đưa tới trước mặt con kỳ nhông xanh. Đó quả thực là một con kỳ nhông xanh sống sờ sờ.
Gã quay đầu lại bảo tôi: “Còn một kênh nữa là kênh người chết, người chết đi sẽ để lại đủ thể loại đồ đạc, nếu vừa hay thân bằng quyến thuộc của họ không còn lấy một ai thì đến tên nhóc này anh cũng phải chăm sóc luôn”.
Từ quãng đại học đến khi xuất ngũ, có một thời gian tôi cũng mê đồ cũ. Mẹ tôi toàn bảo tôi là đồng nát nhặt nhạnh nhôm đồng sắt vụn, trong mắt mẹ, loại người này “không được tích sự gì”. Do đó so với người bình thường tôi thấu hiểu hơn, thậm chí có phần ngưỡng mộ việc A Bố thu thập ti-vi, quạt máy, kéo cũ, đĩa hát cũ, chai lọ, cốc tách. Nghĩ lại thì, tôi đã không còn nhớ rõ bắt đầu từ thời điểm nào những món đồ cũ nhặt nhạnh, mua lại đó không còn có sức hút với mình nữa. Tôi giống như bao người trên thế giới này, trở thành tù binh của 3C[2] hay những món đồ khác, trở nên quen với việc mua những món đồ nhanh hỏng mà bản thân thì chẳng có khả năng sửa. Có điều tôi cũng không đem bán những thứ thuở trẻ sưu tầm, mà cất chúng trong phòng để đồ căn nhà cũ ở khu Trung Hoa, không ngó ngàng gì đến nữa.
Tôi dần nhận ra, A Bố dường như là một kẻ ở giữa ba vai trò, người giám định, người sưu tầm và thương nhân. Lúc nói tới món sưu tầm mà gã thích, mắt gã tự nhiên bừng lên một ngọn đuốc. Nhưng đấy không hoàn toàn chỉ là nhiệt huyết, gã cũng đồng thời đang ước tính giá trị thị trường của những món đồ này. Ví dụ trong động của A Bố, tôi bắt gặp đến mấy khung cửa sổ sắt cũ, là loại cửa sổ bắt đinh tán có song sắt uốn hoa thời kỳ đầu. Gã giải thích với tôi rằng cửa sổ sắt trước kia tượng trưng cho tay nghề của các bác thợ, bảo tôi chú ý đến nét độc đáo của từng khung cửa, nhìn kỹ mới thấy, một số song hoa được uốn hình hoa anh đào, có cái thì là núi Phú Sĩ, thậm chí có khung cửa còn loáng thoáng trông ra chữ Lâm trong tên họ ẩn giữa các đường nét. Bấy giờ A Bố hệt như hướng dẫn viên bảo tàng mỹ thuật: “Như mẫu này chính là phong cách của một số bác thợ gần Đại Đạo Trình, vì bọn họ đều là học trò của một ông thợ già họ Lưu, quen đi đường cong kiểu này ở đường giáp giới, lâu dần trở thành điểm đặc trưng. Thằng em cho rằng, bác thợ nào đi điều chỉnh những tiểu tiết kiểu ấy chứng tỏ rất để tâm đến tay nghề của bản thân, cũng quan tâm khung cửa sắt lắp trong phòng trông sẽ ra làm sao, lại càng hy vọng người ta biết khung cửa ấy là do mình làm ra”. Gã cười bảo: “Đương nhiên, vì hiếm thấy nên thường thì thằng em cũng sẽ bán đắt một tí”.
“Bao nhiêu?”
A Bố mang ánh mắt khác ngay: “Một đôi hai mươi tám nghìn, ông anh với thằng em giờ coi như bạn bè rồi, nếu anh lấy em giảm cho hai mươi phần trăm”.
Tôi nhớ mẹ từng nói: “Buôn bán không tinh nhanh, khác nào làm mối bù tiền lễ”. Người không có khái niệm gì về vốn với lời thì không thể làm ăn buôn bán được.
Tuy nhiên có những món mà tôi không tài nào nghĩ ra có ai lại muốn mua ví như bơm tiêm vắc xin cho lợn thời xưa - “kim tiêm lợn”, mua về rồi làm gì được cơ chứ?
A Bố điềm nhiên bảo: “rồi có ngày người cần đến nó sẽ xuất hiện, không thể vội, cũng tuyệt đối không nên nhượng lại giá bèo, anh phải có lòng kiên nhẫn gấp nghìn lần so với làm bánh mì mới được”.
Gã cũng nói thu mua đồ cũ cần phải tích lũy kiến thức cả đấy. Cái ngành này vừa làm vừa học, phải qua tay một món đồ mới biết mình từng có thứ gì, người mua phải xuất hiện một lần mới nghĩ ra những người nào có thể sẽ cần đến nó. Gã tiện tay rút trên tủ sách gỗ sam ra một cái đĩa than cũ, bìa là truyện tranh do họa sĩ truyện tranh nổi tiếng Ngưu Ca vẽ, đây là vở “kịch nói tiếu lâm tiếng Mân Nam” nhan đề Thợ vá nồi. Tên những diễn viên kịch nói đề ngoài vỏ đĩa tôi đều chưa nghe qua bao giờ, công ty phát hành là hãng Đĩa hát Vương Miện, địa chỉ tại Đài Trung. A Bố bảo: “Ngày trước kịch nói tiếu lâm hay thu thành đĩa hát, thằng em không ngờ luôn, nhưng lúc có được thì bắt đầu tò mò) đây là đồ thịnh hành vào năm nào? Những diễn viên thu âm này ngày ấy có nổi tiếng không? Mấy chuyện đại loại vậy Rồi, đến một ngày sẽ phát hiện thì ra có người đang đợi những món đồ này tái xuất, bọn họ có khi sẽ quay đầu lại bảo cho anh biết, giá trị thực sự của món đồ”.
“Ví dụ như…?”
“Ví dụ người nghiên cứu tiếng Đài này, người nghiên cứu lịch sử này, người mở nhà hàng vintage này, người thừa tiền này…”. A Bố bật cười. “Những người này thì không cần tiết kiệm hộ bọn họ làm gì”.
Tôi nói: “Cậu có vẻ rất say nghề nhỉ”.
“Phải, hay hơn làm bảo vệ nhiều chứ. Hằng ngày thằng em sắp xếp lại đống đồ đạc này, thường phải đến canh ba nửa đêm, nhưng người nhà đều không hiểu em đang làm gì, nên em chuyển quách ra ở riêng luôn. Hàng xóm quanh đây cũng nghĩ em là thằng lập dị”. Tôi thầm nghĩ, người nhà tôi cũng không hiểu tôi đang làm gì, nhưng chúng ta thật sự hiểu các thành viên khác trong gia đình đang làm gì sao?
Sau lần đó tôi lại tiếp tục mua của A Bố thêm mấy món con con, ví dụ như bộ ly thủy tinh bách hóa Nhân Nhân tặng nhân dịp kỷ niệm sinh nhật, khóa bốn góc xe đơn hiệu Fuji thời Nhật trị, đồng hồ dây cót báo thức vv… Lần nào tôi cũng chọn hẹn gặp giao dịch, vì như vậy có thể cùng gã ngồi trên chiếc ghế gấp tán gẫu, giữa chúng tôi dần dần xuất hiện một thứ tình bạn khó cắt nghĩa. Có đợt tôi hỏi gã thu mua đồ cũ có gặp chuyện gì thú vị hay không? Gã cắn cây bút nguyên tử Thỏ Ngọc[3] (nắp bút đã bị gã gặm nham nhở) nghĩ ngợi rồi đáp: “Nhiều không đếm xuể, cũng không biết nên kể từ đâu”.
Thế rồi gã bèn kể chuyện thu mua linh kiện xe đạp hiệu Hạnh Phúc của một nhà nọ.
Trong mắt dân mê xe đạp cổ, có vài hãng xe mang một thứ sức hút đặc biệt, ví dụ như xe đạp Fuji Nhật Bản nhập khẩu thời kỳ đầu, xe Raleigh Anh Quốc, xe Hạnh Phúc hàng nội địa Đài vv… Logo chim bồ câu của hãng Hạnh Phúc và câu slogan Chạy xe đạp Hạnh Phúc, đi trên con đường hạnh phúc đối với đám dân mê xe đạp cổ mang ý nghĩa cả một thời đại. Cùng với sự bùng phát của thời đại xe hơi, các cửa hàng phân phối xe đạp Hạnh Phúc nổi như cồn một thời đa số đều đã đóng cửa. Vì thế cửa hàng lâu đời vẫn treo biển Hạnh Phúc chính hãng tự nhiên trở thành tiêu điểm chú ý của những nhà sưu tầm muốn có linh kiện xe Hạnh Phúc. Đặc biệt là cửa hàng này. Đây là một trong những cửa hàng hợp tác kỹ thuật giữa hãng Hạnh Phúc và xe đạp Nhật Bản, thời bấy giờ thường có kỹ sư Nhật Bản tới giao lưu, vì vậy còn lưu trữ rất nhiều linh kiện đặc thù tồn kho. Có điều con trai ông chủ đã trưởng thành, có thể chèo chống gia đình, nên ông chủ tuổi đã cao không thường xuyên mở tiệm.
Cửa hàng nằm ở giữa một dãy nhà cấp bốn liền kề, xung quanh đều đã xây thành nhà tầng, chỉ chừa có nó là khăng khăng cự tuyệt bị nhà thầu nâng cấp cải tạo. Mặt bằng tiệm để lại bên trái mở tiệm xe đạp, bên phải thì ngăn thành gian chính bày bài vị tổ tiên. Nhưng cứ nhìn mấy hòm gạo trong phòng là biết, chủ tiệm đời trước mới đầu bán đồ khô tạp hóa, còn bán xe đạp là chuyện về sau, giữ lại bài vị thờ cúng của tiệm cũ là tấm lòng ông chủ không quên nguồn cội.
A Bố phát hiện, bà chủ sáng nào cũng ra mở cửa gian chính trước tiên, thắp nén hương cho thổ địa và bài vị tổ tiên. Thi thoảng gặp may, sẽ trông thấy ông cụ mở cửa buôn bán. Lúc này gã bèn dắt xe đạp tới, lấy cớ bơm lốp hoặc sửa những chỗ nhỏ nhặt, để có thể bắt chuyện tán phét với ông cụ. Ông cụ đã đến cái tuổi bị cô đơn khống chế cổ họng, hễ có người ngồi xuống bên cạnh là tự động đem chia đời mình thành mấy đoạn, phát đi phát lại.
A Bố không nề hà nghe lại lượt nữa. Trong quá trình ông cụ kể chuyện, gã tuyệt đối không như mấy vị khách thông thường nôn nóng hỏi ông có chịu bán món linh kiện nào không, mà chỉ yên lặng lắng nghe, thi thoảng đáp lời vào thời điểm thích hợp. Có lần bà cụ chủ hàng cũng tham gia vào cuộc trò chuyện, hỏi A Bố đang làm gì? A Bố mới chìa ra tấm danh thiếp “Đặc phái viên sưu tầm đồ cổ dân gian” nọ, đồng thời có lời, nếu hai ông bà muốn đóng cửa hàng, gã sẵn lòng đưa ra một cái giá tốt mua lại tất cả linh kiện xe đạp cũ trong tiệm. Bấy giờ ông cụ bà cụ không nói không rằng, lục tục đóng tiệm, ý tứ tống cổ A Bố ra ngoài.
Thì ra ông chủ vô cùng phản cảm khi nghe mấy lời kiểu muốn mua linh kiện cũ trong tiệm, đối với ông, mỗi món đồ trong tiệm đều đang chờ đợi người khách thích hợp xuất hiện. Ông cũng rất kỵ người ta bảo, “Nếu một ngày ông dẹp tiệm”. Gặp phải những khách mua hàng thô lỗ, không được ông đồng ý đã lục tìm linh kiện trên giá gỗ, ông chủ sẽ lập tức đứng dậy, đóng cửa gỗ, dọn hàng, đuổi khách.
Sau lần đó A Bố vẫn tiếp tục vác mặt đến cửa hàng, có điều không còn nhắc nhỏm chuyện thu mua nữa. Gã chỉ nói chuyện xe đạp với ông cụ, đồng thời đổi sang gọi ông là “thầy” (lāu-sai). Vì A Bố cảm thấy, ông có vẻ thích được gọi là “sư phụ” hơn là “ông chủ”. Gã biết ông cụ tám mươi mấy tuổi thực ra đã không còn lo chuyện cơm ăn áo mặc, khăng khăng mở tiệm nguyên nhân là vì thích sửa xe đạp đấy thôi.
Mùa hè năm sau đó, suốt khoảng một tháng trời, A Bố không hề có may mắn đợi được ông cụ mở hàng, gã đợi lúc bà cụ thắp hương bắt chuyện hỏi thăm, mới hay ông cụ đổ bệnh rồi. A Bố từ đó cứ cách một thời gian lại đem hoa quả tới tán chuyện ông cụ thời trẻ với bà cụ, vẫn tuyệt nhiên không nhắc nhỏm bất cứ chuyện gì liên quan tới thu mua.
Một ngày, bà cụ thở dài thườn thượt bảo: “Cái tiệm này không mở được nữa rồi, cậu có dám một lời mua tất thì bán tất cho cậu đấy. Tất đấy nhé, không có nhặt (king) này bỏ kia đâu”. A Bố quả thực rất vui, nhưng một mặt khác, gã lại không hí hửng cho nổi, vì đoán ông cụ chắc phải bệnh nặng lắm, bằng không đã chẳng đời nào bán sạch mặt hàng trong tiệm đi như thế. A Bố nhớ lại những lúc trò chuyện với ông cụ, thi thoảng có người dắt xe đạp đến sửa, đa phần là mấy tật lặt vặt dạng thủng săm. Vá một lỗ thủng săm chẳng qua thu sáu mươi đồng, ông cụ còn lau chùi sạch sẽ cả vành xe rồi khung trong (vì chỉ cần có một viên sỏi bé tí là săm cũng có thể rách thêm lần nữa), rồi tiện tay bảo dưỡng một lượt moay-ơ bánh trước bánh sau bằng khăn lau và dầu bôi trơn. Công việc sáu mươi đồng này, ông cụ làm “nghiêm túc” (tíng-tsin) hơn bất kỳ ai A Bố từng gặp trong cuộc đời này. Ông cụ bảo gã, so với bán xe đạp thì sửa xe có ý nghĩa gấp mười lần.
“Vì theo lý mà nói (kóng) thì, một chiếc xe Khổng Minh có thể (ē-sái) chạy được năm mươi mùa đông, thậm chí lâu hơn (koh-khah). Chưa kể, vào (tī-leh) thời tôi, tài sản quý báu nhất với nhiều người chính là chiếc xe Khổng Minh, cả đời mới có một cái”.
Ông cụ sửa xe đạp cho những người như thế.
Hôm đó A Bố lái chiếc xe tải nhỏ đi mượn, đến tiệm sửa xe song không vội định giá chuyển đồ mà lên căn phòng ở trong cùng tầng hai thăm ông cụ vừa xuất viện về nhà. Chỉ trong vài tuần ngắn ngủi, ông cụ như thể bị tước mất thứ gì đó khỏi cơ thể, cả người co rúm nhỏ xíu, trở nên rất mờ nhạt Chắc chắn ông đã bàn bạc với bà cụ về chuyện “bán đứt toàn bộ linh kiện còn lại trong tiệm”, có điều ánh mắt ông vẫn lộ vẻ không đành, ông trông thấy A Bố, chỉ bộ đồ nghề sửa xe còn lại trên bàn, bảo: “Có bộ này là không bán thôi, còn đâu cậu ra một cái giá đi, hợp lý là được”.
Đó là bộ đồ nghề sửa xe ông giữ từ thời còn đi học nghề, bao gồm 両口 スパナ (cờ-lê), スポークレンチ (dụng cụ chỉnh nan hoa), レンチ (cờ-lê đầu tròn), ペダルスパナ (cờ-lê pê-đan), チェーン切り (dụng cụ cắt nối xích)… Những đồ nghề này đã theo ông cụ suốt mấy chục năm, thương tích đầy mình song lại mang hào quang độc đáo. Ông cụ bảo bộ đồ nghề này ông dùng quen tay nhất, về sau nhà máy tặng cho bộ mới dùng cũng không quen, nên vẫn dùng mãi bộ cũ cho đến nay. A Bố cầm chiếc cờ-lê bằng sắt đúc, cán cầm in số hiệu lên, có thể mường tượng khi mới vào tay ông cụ thuở trẻ nó đã mới tinh sáng bóng nhường nào, linh hoạt tự tin như thể không có con ốc vít nào mà nó không vặn nổi.
A Bố nghe bà cụ nói, quãng thời gian ông cụ nằm trên giường bệnh, cứ ăn xong bữa sáng, dù không thể xuống khỏi giường ông cũng phải cầm nắm mấy món đồ nghề. Chịu thôi, bàn tay và vết chai trên tay ông cụ đã gắn bó với những đồ nghề đó đến nỗi không cách nào tách rời, năm này qua năm khác cầm chúng làm việc, khiến xương ngón tay và xương bàn tay ông gần như hòa hợp hoàn toàn với những đường lồi lõm trên thanh cờ-lê, đấy là bộ đồ nghề tin tưởng bàn tay ông, và cũng được bàn tay ông tín nhiệm. Giống như cây mọc nhánh mới, như cây bị thương nổi bướu.
A Bố không phải người giỏi bày tỏ tình cảm, gã chỉ nói: “Cháu không mua cái này, không mua đâu. Bác cứ giữ lấy”. Người không biết A Bố, chỉ nghe tiếng thể nào cũng cho rằng gã đang nói lẫy.
Ngày hôm sau A Bố mới bắt đầu “động thủ”. Khi chở đi hết xe này đến xe khác chỗ hàng tồn trong tiệm, lòng gã không hiểu sao cứ bị một điều gì đó đè nặng, bầu không âm u. Cửa tiệm đó vẫn còn, ngay bảng hiệu cũng được giữ nguyên, gã không định gỡ luôn cả bảng hiệu của người ta, cứ để nó ở lại phía trên khuôn cửa.
“Thế nên bộ bảo hộ càng trước hiệu Hạnh Phúc mà tôi mua của cậu cũng từ cửa tiệm ấy hả?”
“Chính xác”.
“Chắn bùn cũng thế?”
“Đúng vậy”.
“Cả hộp dụng cụ?”
“Phải”.
Nhưng chiếc xe đạp Hạnh Phúc kia thì không phải từ cửa tiệm đó, cũng không phải A Bố kiếm được trên đường.
Theo như gã kể, gã thấy ảnh chụp chiếc xe này chỗ một nhà sưu tầm xe Hạnh Phúc họ Hạ, nguyên nhân là vì, anh ta chia sẻ bức ảnh món “hàng không bán” này lên trang mạng của một nhóm chơi ngựa sắt cũ. Gã vừa trông thấy tấm hình liền nghĩ ngay đến việc báo cho tôi, vì gã biết tôi đang “lùng” mẫu xe này của Hạnh Phúc. Tôi hỏi gã có thể giúp tôi liên lạc với nhà sưu tầm kia, để tôi tới gặp anh ta được không?
Không lâu sau gã nhắn tin không thành vấn đề, để gã đi cùng tôi tới xưởng của Tiểu Hạ.
Tôi nôn nóng không đợi nổi, hỏi giờ đi luôn được không, lát sau điện thoại báo có tin nhắn đến: “Em đợi ông anh ở bến xe”. Tôi ngồi trên tàu điện, nhìn từng khuôn mặt người mệt mỏi cúi gằm vào điện thoại hoặc máy tính bảng, có một cảm giác như thực như ảo. Chiếc xe tôi lùng hai mươi năm nay, thực sự có thể lần nữa xuất hiện trước mắt tôi sao?
Hai mươi năm trước sau khi cha mất tích, có lần tôi lật xem tập ảnh của gia đình thì bắt gặp một tấm ảnh hút lấy mắt mình. Trong ảnh có ba người lớn một trẻ con, đứng trước một hiệu giày chật hẹp. Đối với tôi, khung cửa kính trưng bày giày da ấy có phần lạ lẫm, hơn nữa người trong ảnh tôi chẳng biết một ai. Tôi cầm tấm ảnh hỏi người mẹ bị đục thủy tinh thể nặng, đây là ai? Không hiểu sao mẹ cũng không nhận ra ai cả. Nhưng bà nhận ra hiệu giày nọ, đấy là tiệm nhà A Mễ, khi xưa nằm sát vách tiệm nhà tôi.
Trong ảnh có một người đàn ông mặc áo vét, quần tây rộng thùng thình, quàng khăn dài màu trắng, gác khuỷu tay phải lên vai một người đàn ông khác mặc bộ com-lê kẻ sọc đứng bên cạnh. Người mặc com-lê kẻ không hề nhìn vào ống kính, anh ta nhìn sang bên trái, như thể đằng xa có gì đó. Bên cạnh anh ta là một thằng bé mũm mĩm với vẻ mặt khá dè dặt, mặc áo có lẽ là màu kaki và quần cùng màu. Người còn lại đứng phía sau thằng bé, vì không đủ sáng nên sắc mặt tối tăm mờ mịt. Điều thu hút sự chú ý của tôi là, hai người đàn ông phía trước đều đi giày da bóng lộn, còn thằng bé thì đi một đôi giày nhà binh rất oách. Vì là cách ăn vận vào mùa đông, làm tôi liên tưởng không biết có phải dịp năm mới âm lịch hay đám cưới nào đó nên ai nấy mới đều đóng bộ ra dáng hoàn toàn không ăn nhập với gian tiệm xấu xí kia.
Bộ com-lê hai người đàn ông đó mặc có vẻ giống tác phẩm của cha tôi. Tấm ảnh này cũng khiến tôi lần nữa nhớ lại con ngựa sắt của cha. Năm đó khi đột nhiên nhớ ra, biết đâu tìm thấy ngựa sắt của cha thì cũng có thể tìm thấy cha, chúng tôi mới phát hiện con ngựa sắt cũng đã theo cha rời xa chúng tôi.
Tôi hỏi mẹ có nhớ con ngựa sắt của cha là nhãn hiệu gì không? Bà bảo bà quên rồi. Tôi nghĩ ra một cách gợi lại ký ức của mẹ, tôi đi tìm các nhãn hiệu xe đạp của Đài Loan giai đoạn từ 1950 đến 1980, nhất là những hãng xung quanh Đài Bắc, lần lượt đọc cho mẹ nghe.
“Là Thắng Luân ạ?”
“Không phải đâu”.
“Xuyên Khẩu ạ?”
“Không phải”.
“Thố Tử ạ?”
“Cũng không phải”.
“Tam Giác?”
“Không đâu”.
“Hạnh Phúc ạ?”
“Ấy, đúng đấy, hình như là Hạnh Phúc đấy”.
Ra là vậy. Chiếc xe đạp cuối cùng của cha là hiệu Hạnh Phúc. Điểm đặc sắc duy nhất tôi nhớ được của mẫu xe đó là, cái gióng cao của nó có thể hạ xuống thành gióng nghiêng, là một chiếc xe nam nữ đều có thể đi. Từ đó trở đi, hầu như ở đâu có bóng dáng mẫu xe Hạnh Phúc lưỡng tính thời kỳ đầu ấy, tôi đều tìm đến xem. Đây cũng là khởi đầu cho việc tôi nảy sinh hứng thú với lịch sử và mọi thông tin liên quan đến ngựa sắt. Niềm yêu thích ngựa sắt của tôi, bắt nguồn từ người cha mất tích.
Năm 1993, khu kinh doanh cả chín người nhà tôi trông vào để duy trì kế sinh nhai, không thể tránh khỏi bị dỡ bỏ trong quá trình phát triển của thành phố muốn tự chặt đầu chặt đuôi đổi sang một diện mạo mới. Song điều khiến chúng tôi sốc nhất lại là việc cha hoàn toàn bặt vô âm tín một ngày sau khi khu nhà bị tháo dỡ. Chúng tôi báo cảnh sát, hỏi thánh thần, tìm kiếm cha qua mọi kênh có thể, nhưng như thể có thứ sức mạnh nào đó cố ý lau chùi sạch sẽ dấu tích của ông trên thế gian này, cha không xuất hiện thêm lần nào nữa, một chút manh mối cũng không có.
“Kể cả có chết thì cũng phải thấy xác chứ (honnh)?”. Mẹ tôi chỉ nói vậy một lần, bà sợ lời nói như con dao, nói ra rồi sẽ đâm thủng gì đó. Mà mẹ cũng như bị cán dao dần nát xương khớp thật, cả người sụp xuống, suốt mấy ngày liền không sao ngồi dậy nổi. Mẹ ốm nặng, từ đó sức khỏe kém hẳn.
Khi cha biến mất, cả nhà tôi đều không biết làm thế nào, ông vẫn luôn là trụ cột của cái gia đình này, tuy rằng khó gần gũi. Một thời gian rất dài, tôi không biết phải đối diện với tình trạng này bằng cách nào, lòng tôi không còn bình lặng, dễ cuộn sóng, rối như bòng bong, không thể dùng lý trí phán đoán bất cứ chuyện gì.
Nhiều năm về sau, tôi viết một cuốn tiểu thuyết nhan đề Đường bay say ngủ, kể chuyện một thiếu niên Đài Loan tình nguyện tới Nhật Bản chế tạo máy bay chiến đấu, trở thành một trong hơn tám nghìn nhân công thiếu niên. Sau chiến tranh, nhân vật chính trở về Đài Loan, cưới vợ sinh con, song tuyệt nhiên giữ kín chuyện này với con trai. Nhiều năm sau, cửa hàng điện máy ông dốc hết tâm huyết cả đời mở ở khu kinh doanh Tây Môn Đinh bị dỡ bỏ trong một đợt cải tạo đô thị, từ đó ông cũng mất tích. Con trai ông sau biến cố gia đình này mắc phải chứng bệnh rối loạn thời gian ngủ, thường đột nhiên chìm vào giấc ngủ và những cơn mơ lạ lùng, bất kể giờ giấc. Nhằm tìm hiểu cuộc đời của cha mình, anh quyết định dựa vào ảnh chụp, sách vở và ghi chép do ông để lại, tới Nhật Bản tiến hành một chuyến du lịch tìm kiếm dấu chân thời trai trẻ của cha. Cuốn tiểu thuyết này đúng như dự đoán của nhà xuất bản, bất kể trên phương diện thị trường hay phê bình đều chỉ thu được phản ứng trung bình, nó giống một cuốn tiểu thuyết hẳn sẽ bị quên lãng, lặng lẽ lên kệ, lặng lẽ được xếp lên giá sách của một số người. Thi thoảng thảng hoặc, sẽ có độc giả nhắc đến với tôi.
Sau khi tiểu thuyết xuất bản một thời gian, trong hòm thư của tôi xuất hiện một bức thư từ độc giả lạ. Đây không phải chuyện tầm thường, vì khi ấy không có mấy độc giả viết thư cho tôi. Bức thư ký tên Meme này hỏi tôi một câu hỏi tôi chưa từng nghĩ tới: “Đoạn cuối tiểu thuyết, Tam Lang - cha nhân vật chính sau khi đạp xe đến Trung Sơn Đường thì bỏ đi, từ đó không còn quay lại khu kinh doanh nữa, cũng không về với gia đình, cứ vậy biến mất không dấu vết. Sự sắp xếp này không được hợp lý cho lắm. Cứ coi như tôi miễn cưỡng chấp nhận đi, nhưng điều khiến tôi băn khoăn hơn cả là, chiếc xe đạp đó thì sao? Đối với tôi, chiếc xe đạp đó hẳn là một biểu tượng trong tiểu thuyết, nó chắc chắn là một biểu tượng. Nhưng, về sau xe đạp đi đâu mất rồi?”.
Là một tác giả, đặc biệt tác giả tiểu thuyết không ai không biết, dạng thư này chỉ cần ra bộ thành khẩn hồi âm qua loa kiểu “Cảm ơn quý vị đã gửi thư, nhưng quý vị đang đọc một cuốn tiểu thuyết, tác giả không tiện bày tỏ ý kiến” là có thể kết thúc được rồi. Nhưng tôi lại không tài nào yên tâm hồi đáp như thế, tôi không thể chỉ coi nó là bức thư được gửi tới từ một độc giả vạch lá tìm sâu.
“Về sau xe đạp đi đâu mất rồi?”. Câu hỏi đó như tấm lưới đánh cá quấn lấy tôi.
Trong quá trình viết tiểu thuyết, từ lâu tôi đã hiểu rõ chuyện hư cấu và cuộc đời phi hư cấu thể nào cũng đan xen trộn lẫn với nhau, do đó mọi thành phần văn tự văn kiện đều có chỗ đáng ngờ. Coi bất cứ chuyện gì trong tiểu thuyết là hiện thực đều hết sức nguy hiểm. Ví dụ “trong cuốn tiểu thuyết đó tôi để thân phận người kể chuyện “tôi” là con trai một ông chủ cửa hàng điện máy, nhưng trên thực tế nhà tôi mở tiệm may đo com-lê, về sau cũng kiêm cả bán quần bò. Sự thực trong tiểu thuyết không hề được thành lập dựa trên sự thực, đây là điều mọi tiểu thuyết gia đều hiểu. Song trong tiểu thuyết đôi khi cũng sẽ xuất hiện “cây cột sự thật”, ví như “chiếc xe đạp bị đánh mất” mà Meme nhắc tới trong thư, đối với tôi, vừa khéo lại chính là “cây cột sự thật” trong cuốn tiểu thuyết đó.
Tôi nhớ tiểu thuyết gia Umberto Eco từng nói, nguyên tắc cơ bản khi đọc tiểu thuyết là, độc giả bắt buộc phải ngầm tiếp nhận một giao ước hư cấu, anh cần thu lại hoài nghi, tin tưởng vào kiến trúc tiểu thuyết gia dựng lên. Độc giả buộc phải hiểu, câu chuyện thuật lại trong sách là một câu chuyện tưởng tượng, nhưng lại cũng không thể vì thế mà cho rằng tác giả đang bịa đặt, phải vờ như mọi điều được nhắc đến trong sách đều từng thực sự xảy ra.
Vị độc giả này đã tuân thủ chính xác nguyên tắc trên, anh (hay cô) có lẽ sau khi gập sách lại vẫn đắm chìm vào nguyên tắc ấy. Chỉ có điều, thứ anh (hay cô) chú ý tới, chiếc xe đạp trong thế giới tôi hư cấu nên, quả thực cũng là một cây kim cắm trong lòng tôi ở đời thực, là một sự tồn tại che lấp những gì tốt đẹp và giống như cái bẫy sâu hoắm trong cuộc đời tôi. Tôi thường cho rằng, tác giả tiểu thuyết sử dụng ba cây cột sự thực, dẫn dắt người đọc tin vào bảy cây cột giả, để họ bước vào tòa thành nguy nga, tồi tàn, kỳ ảo hoặc phi hiện thực được tạo nên từ câu chữ. Trong cuốn tiểu thuyết đó, khu kinh doanh là thật, thời Nhật trị có một nhóm nhân công thiếu niên được chiêu mộ đi chế tạo máy bay chiến đấu là thật, cha tôi quả thực từng có một chiếc xe đạp biến mất sau khi ông mất tích, đây cũng là thật. Nhưng tôi buộc phải thừa nhận, rất nhiều chi tiết trong tiểu thuyết là do tôi hư cấu. Ví dụ như, “tôi” trong thực tế không hề có trải nghiệm chiến tranh trong mơ, không mắc bệnh rối loạn giấc ngủ, cũng không có cô bạn gái nào tên là Alice, khi ấy bạn gái tôi tên Teresa, và tôi căn bản đâu biết cha mình cuối cùng có dựng xe ở Trung Sơn Đường hay không.
Vị độc giả tiểu thuyết này lại vô tình đặt ra cho cuộc đời tôi một câu hỏi: Chiếc xe đạp và cha tôi cùng biến mất, vậy nó rốt cuộc đi đằng nào? Đi theo cha? Hay bị tên trộm nào đó cuỗm mất? Lẽ nào anh hoàn toàn không quan tâm, không hề muốn tìm hiểu?
Tôi còn nhớ sau khi cha mất tích, một quãng thời gian dài tôi không dám quay lại đường Trung Hoa nơi có khu kinh doanh đã bị dỡ bỏ. Đến tận sau khi nhận được thư của Meme, tôi mới thu hết can đảm quay về Trung Sơn Đường - nơi chiếc xe đạp hư cấu của tôi bị mất. Còn trên thực tế, bấy giờ mái hiên ở đó đã bị dỡ đi san lại rồi, tôi còn đi kiểm tra sự bịa đặt mình tạo ra nữa thì cũng thật quá hoang đường.
Tôi ngẩng đầu nhìn bầu không màu báng, hết lần này đến lần khác tôi tự thuyết phục mình chấp nhận sự thật rằng cha đã không còn. Ông không còn nữa, sẽ không quay về, song chúng tôi vẫn phải tiếp tục sống, hãy quên ông và chiếc xe đạp của ông đi. Hôm ấy tôi về nhà, gửi lại Meme một bức thư thế này:
Chào Meme,
Vô cùng cảm ơn bạn đã gửi thư đến cho tôi, cũng cảm ơn bạn đã đọc tiểu thuyết của tôi một cách nghiêm túc và kỹ lưỡng như vậy. Thẳng thắn mà nói, thứ bạn đọc là một cuốn tiểu thuyết, vì vậy tôi không hề biết chiếc xe đạp đã đi đằng nào. Nhưng nếu tương lai tôi vẫn viết tiểu thuyết, những năm tháng còn lại trong cuộc đời này, tôi sẽ viết một cuốn tiểu thuyết khác để trả lời câu hỏi của bạn.
Mong bạn bình an.
Tôi không làm trái nguyên tắc của một tiểu thuyết gia, nói với Meme anh (cô) ấy đã chạm đến “cây cột sự thật”, tôi không muốn để độc giả thâm nhập vào cuộc sống của mình, thậm chí chỉ là thò vào ngăn kéo ký ức. Bảo vệ tính độc lập của việc viết tiểu thuyết, ít nhất cũng giúp cuộc đời tôi có một không gian để xoay chuyển, tôi có thể nói với chính mình hay bất kỳ ai rằng: Tất cả đều chỉ là tiểu thuyết mà thôi, là giả, là hư cấu, là không thật, chẳng qua là một biểu tượng hoặc phép ẩn dụ.
Nhưng tôi phải thừa nhận, tấm ảnh chụp bốn người đàn ông lạ mặt và chiếc xe đạp đó, cùng bức thư của Meme, có lẽ chính là khởi điểm khiến tôi muốn tìm lại chiếc xe đạp hiệu Hạnh Phúc kia.
Mới đầu tôi chỉ tập trung vào mẫu xe cùng loại với chiếc cha tôi từng đi, dần dà về sau, mua xe về sửa sang sao cho có thể chạy trên đường đã trở thành thú vui của tôi. Tính ra mấy năm nay tổng cộng tôi đã mua hai mươi ba chiếc xe Hạnh Phúc, trong đó bao gồm một chiếc rất hiếm gặp, là xe chuyên dụng của phòng quản lý núi Dương Minh, còn cả một chiếc “Bà má Yakult”[4] được quét sơn trang trí đặc biệt, và xe bưu tá màu xanh lá. Những mẫu tương đối thường thấy, tôi đều sửa sang xong là chuyển nhượng cho người cùng sở thích. Tôi là người mua cũng là người bán, vì như vậy có thể tiếp xúc được nhiều nhất đủ kiểu đủ dạng người qua tay xe đạp Hạnh Phúc. Nhờ vậy mà tôi biết, trên hòn đảo nhỏ giữa thế kỷ thứ 21 vẫn còn bị dầu mỡ trong thức ăn gia súc, bão lũ, lở đất, chấn động chính trị và thị trường cổ phiếu hết lần này đến lần khác dộng cho những cú đau này, quả thực có một nhóm người, giống như một tổ chức ngầm, liên kết nhau lại dựa trên niềm si mê xe đạp Hạnh Phúc.
Những chiếc xe đến tay tôi phần nhiều đã không còn dùng từ “tã” để hình dung được nữa, chúng hoàn toàn mất khả năng và dũng khí lên đường: cái thì gãy tay phanh, cái thì vòng thép đã gỉ hoen gỉ hoét, cái lại bi thép trong moay-ơ không thể quay trơn tru… Vì thế tôi đã mua cả bộ dụng cụ sửa xe, thử tự mình sửa đám xe đạp tàn phế này. Hễ kiếm được cái xe nào tôi đều hết sức hào hứng, mấy ngày liền không sao ngủ yên giấc, chìm đắm trong việc vệ sinh, tháo dỡ, tra lại dầu cho khung xe đen sì nặng trịch. Để chiếc xe có thể chạy lần nữa trên đường, tôi mua số lượng lớn đủ loại linh kiện xe đạp trên mạng, hoặc trao đổi với bạn bè cùng sở thích, kết quả là, căn hộ hai buồng một phòng khách đi thuê trở thành phòng phẫu thuật xe đạp. Bấy giờ tôi đã nghỉ việc ở công ty quảng cáo, trở thành chân quay phim hợp đồng cho một công ty chế tác phim, kiêm tay viết tự do. Có lúc, nếu đoạn phim quảng cáo hay MV cần đến, tôi cũng sẽ cung cấp xe đạp mình sưu tầm làm đạo cụ quay phim. Thời gian ngoài công việc, tôi thường mở loa vừa nghe Morricone 60, vừa tháo xe lắp xe. Quá trình này cảm giác rất giống một liệu trình mát-xa, loại bỏ những mệt mỏi trong cuộc sống. Rồi khi sửa sang được một chiếc xe đến mức độ nào đó, xe trông còn mới hơn chút đỉnh so với thời gian sử dụng thực tế, tôi sẽ ảo tưởng rằng mình vừa giúp chúng chống chọi lại thời gian.
Bạn gái cũ của tôi, Teresa vô cùng căm ghét cái thú vui này. Nàng bảo làm tình trong một căn phòng toàn mùi dầu mỡ với mùi nấm mốc của xe đạp cũ làm nàng cảm thấy quan hệ của chúng tôi dường như chỉ có thể dẫn thẳng tới tuyệt vọng.
“Nhưng, bỏ tiền đi motel thì lãng phí quá, không phải sao?”, tôi nói.
“Anh chỉ giỏi bóp méo ý em thôi”. Teresa đưa ngón tay thon dài run rẩy vuốt ve má tôi, nói như không có chuyện gì.
Không lâu sau Teresa lẳng lặng rời xa, để lại mình tôi cùng căn hộ đi thuê và xe đạp.
Những năm trở lại đây, nói thực lòng tôi đã không còn chăm chắm muốn gặp lại chiếc xe đạp ấy nữa, dòng chảy trong lòng trở nên bình lặng. Thiết nghĩ, khi xưa hẳn cũng không phải cha tôi đạp xe đạp đi, mà nó chỉ đơn giản bị tên kẻ trộm nào đó dắt mất thôi. Hắn đem bán cái xe đi, để rồi hai mươi năm sau, nó bị thu gom như sắt vụn, giờ đã trở thành những thứ trời ơi đất hỡi như lan can, song cửa, mặt thắt lưng, hay biển báo giao thông gì rồi. Nhưng khi nhận được tin của A Bố, trông thấy tấm ảnh xe đạp gã gửi cho, tim tôi lại bắt đầu đập bình bịch không dứt.
Tôi và A Bố đáp tàu hỏa đi xuống phía Nam, Tiểu Hạ đã ở sẵn sân ga đợi chúng tôi. Khác hẳn với bộ dạng tùy hứng của A Bố, Tiểu Hạ dáng người cao gầy, mặc bộ com-lê giá rẻ chất liệu phổ thông, đeo cặp kính màu đồi mồi, đi trên đường thể nào tôi cũng cho rằng cậu ta là cò bảo hiểm. Có điều cũng như A Bố, hễ nói về xe đạp là sợi Vonfram trong mắt cậu ta bừng sáng. “Tình trạng cái xe đó ổn lắm, hy vọng đúng là xe ông cụ nhà anh”. Cậu ta nói.
Nơi Tiểu Hạ cất xe hoàn toàn nằm ngoài dự liệu của tôi, cậu ta thuê một suất trong bãi đỗ dưới hầm, sau đó dồn đống cả mười chiếc xe sưu tầm vào một khoanh đỗ xe hơi. Để chống trộm, ngoài tròng khóa, mỗi chiếc xe cậu ta đều tháo mất nửa linh kiện đem cất trong nhà. Vì biết tôi tới xem xe, cậu ta đã cất công dắt cái xe đó ra trước. Bãi đỗ xe cũ kỹ hệt tòa nhà, đa số đèn huỳnh quang đều đã cháy bóng, xe cũng không đỗ kín, mang cảm giác tiêu điều. Chỗ đỗ Tiểu Hạ thuê nằm tít trong cùng, cậu ta dùng một sợi xích sắt tây thô kệch xâu tất cả đống xe lại khóa vào, giống lão Lý trông xe ở mái hiên khu kinh doanh của chúng tôi hồi trước.
“Con xe này là người ta để tạm chỗ tôi nên tôi đặc biệt cẩn thận, bình thường đều dựng trong nhà”.
“Xe nào của tôi cũng dựng trong nhà cả”. Tôi cười bảo.
Tôi đứng trước mặt nó, giơ tay về phía cọc yên, căng thẳng như thể lần đầu nắm tay con gái, vì tôi biết, số hiệu thân xe của hãng Hạnh Phúc đều được in ở đó.
Nói thực lòng, tôi không tin vào số mệnh, tôi cho rằng cuộc đời chính là con số ngẫu nhiên và lựa chọn tương ứng, cũng tức là chỉ có vận mà không có mệnh, mẹ vì thế hay bảo tôi là đồ “răng sắt” (cứng đầu). Nhưng khoảnh khắc chạm vào dãy số hiệu, quả thực khiến tôi yếu đuối cho rằng hẳn phải có một thứ sức mạnh nào đó cố ý an bài cho nó trở về. Những vết lồi lõm tựa hồ đồi núi thung lũng nhấp nhô ấy, chính là số hiệu thân xe chiếc xe đạp Hạnh Phúc của cha tôi: “04886”. Từ chiếc huy hiệu tráng men trải qua mấy chục năm chỉ hơi bạc màu, tỏa ra một cảm giác ôn hòa mà mạnh mẽ. Chỉ hoen gỉ đôi chỗ, nó chưa hề bị mất, chưa hề thất lạc.
Sau khi đã bớt căng thẳng, tôi đề nghị Tiểu Hạ cho mình chạy thử. Cậu ta gật đầu. Tôi bắt chước cách đi xe của cha trước kia, hai tay nắm ghi-đông (cần nắm hờ, để lại một chút không gian chuyển động tự nhiên cho ghi-đông), người nghiêng về một bên, chân trái giậm bàn đạp mấy cái, đợi sau khi có đà thì vắt chân phải qua phía sau ngồi lên xe, giống như vận động viên nhảy xà nhảy vắt qua thanh xà cao. Khoảnh khắc mông tiếp xúc với phần yên lò xo, tôi gần như kích động đến độ không sao nắm chắc được ghi-đông. Tôi vừa thử đạp xe vừa cảm nhận, tính cách chiếc xe đã thay đổi thế nào trong hai mươi năm nay. Trong khoảng thời gian tiếp xúc ngắn ngủi, tôi biết vành xe, lốp ngoài, yên sau, một phần hệ thống phanh, bàn đạp, yên, cả mút bọc ghi-đông đều đã bị thay. Có lẽ còn cả những chỗ tôi tạm thời không nhìn ra, nhưng đây đích xác là chiếc xe của cha, chiếc xe hiệu Hạnh Phúc đã được sửa sang, biến đổi, lắp ráp lại. Hai mươi năm nay, chiếc xe này đã đi những đâu? Một chiếc chân của cha đã đi những đâu? Ai đã thay những linh kiện ấy cho nó? Và vì sao lại thay?
Tôi quăng xuống chiếc mỏ neo ký ức rồi lại kéo lên, nhất thời không tìm được điểm thả neo, chỉ tạo ra một chuỗi âm thanh lạch cạch hư trương thanh thế, công cốc vét từ dưới đáy sông một đống bùn đất. Không hiểu sao, tôi chìm vào một cơn chạm đáy buồn bã và nhão nhoét. Tôi mơ màng đạp hết vòng này đến vòng khác trong bãi để xe dưới tầng hầm, hoàn toàn quên mất mình chỉ đang thử xe.
❀ ❀ ❀
[1] Thôn nhà binh: Sau Nội chiến Trung Quốc, từ năm 1949 -1960, các binh lính Quốc dân Đảng cùng thân quyến theo chính quyền Quốc dân di cư đến Đài Loan được sắp xếp nhà cửa theo mô hình thôn xóm riêng biệt, mô hình này tập trung chủ yếu tại các thành phố Đài Bắc, Tân Trúc, Tân Bắc, Cao Hùng.
[2] 3C: Cách gọi chung của các sản phẩm đồ điện gia dụng, gồm máy tính (Computer), thiết bị thông tin liên lạc (Communication, chủ yếu là điện thoại) và điện tử tiêu dùng (Consumer electronics).
[3] Bút nguyên tử ra đời đúng vào thời điểm chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, nguyên tử là danh từ có sức hút nhất thời ấy cũng như nano bây giờ, vì vậy chiếc bút bi hiện đại thay thế cho bút máy đương nhiên cũng được đặt cho một cái tên thời thượng là bút nguyên tử. Bút nguyên tử Thỏ Ngọc (Rabbit) với hình ảnh nhận diện là một chú thỏ trắng trên nền đỏ đã chứng kiến sự thay đổi lớn của thời đại, gắn bó với năm tháng trưởng thành của biết bao con người Đài Loan.
[4] Bà má Yakult: Xe đạp có thùng giữ nhiệt ở yên sau, chuyên bán sữa chua uống Yakult.
Everything about him was old except his eyes and they were the same color as the sea and were cheerful and underfeated.[1]
❀ ❀ ❀
[1] Tiếng Anh trong nguyên bản, trích từ truyện Ông già và Biển cả của Emest Hemingway, tạm dịch: Mọi thứ trên cơ thể lão đều toát lên vẻ già nua, trừ đôi mắt; chúng có cùng màu với nước biển, vui tươi và bất khả chiến bại.