
Tài nghệ chế tác một chiếc xe đạp nằm ở sức nặng mà nó chở được, thứ được quyết định hoàn toàn khi kỹ thuật viên làm ra nó…
- Faliero Masi,
người sáng lập ra Masi Bicycles.
Tối đến khi khu kinh doanh dọn hàng đóng cửa, xe đạp là thứ cuối cùng được cất vào trong tiệm. Cha thường dùng chân gạt cái lò xo đỡ khung xe phía sau đánh xạch một tiếng, rồi đạp khung xe về phía trước, con ngựa sắt nặng nề liền chuyển động. Cha sẽ sai tôi thu dọn quần áo treo ở cửa, nhưng không cho tôi giúp dắt xe, vì quả thật là quá nặng.
Xe đạp của cha dùng để đưa hàng, chở hàng, đặc biệt về sau khi nhà chúng tôi bắt đầu thuê cả gian bên cạnh bán quần bò, cha thường đạp xe đến nhà máy nhận hàng. Ông có thể dùng dây cao su cột mấy chục túi quần, chất cao như gò đất trên yên sau, trên ghi-đông còn có thể treo rất nhiều túi nilon.
Chẳng may phải đèo tôi đi khám bệnh, cha thường gắn một cái ghế mây đặc chế lên trên “gióng” làm thành chỗ ngồi dành riêng cho tôi Ngón tay tôi vừa hay có thể tóm lấy khe hở giữa tay cầm và tay thắng, vô cùng vững chắc, tầm nhìn cũng rất ổn.
Lớn thêm một chút, không ngồi được ghế mây nữa, tôi đành đổi sang ngồi yên sau. Yên chở hàng xe đạp của cha cực kỳ rộng, trèo lên ngồi rất không thoải mái, nên dù là con trai nhiều lúc tôi vẫn chọn ngồi xoay ngang. Có điều, nghe anh sáu bảo cái xe trước của cha còn to hơn, nặng hơn, là một chiếc xe võ gióng đôi. Tôi hay nghĩ, nếu có thể ngồi xe võ đi khám bệnh thì oách biết mấy!
Xe vận tải của hãng Fuji, Matsuda, Noritsu đều có mẫu xe võ tạo hình rất hầm hố. Trên thực tế người sử dụng xe võ 28 inch đều là nam giới. Dòng xe này cũng từng được người Nhật dùng để tiến hành các hoạt động quân sự, nhìn từ ảnh chụp có thể thấy, xe đạp quân dụng hình như được thiết kế thêm phần giá sắt để chở đạn dược.
Trọng lượng của bản thân xe võ thường đã trên hai lăm cân, chở thêm vật nặng như thóc lúa có xe thậm chí còn hơn tạ rưỡi, cộng với cân nặng của người điều khiển, tổng trọng lượng lên đến ba tạ không phải chuyện không thể, do đó hệ thống phanh xe tốt xấu thế nào can hệ tới an toàn của người đạp xe. Thời ấy hệ thống phanh xe thường dùng phanh cứng, cũng tức là từng thanh sắt liên động, kéo miếng phanh lại gần vành bánh xe để khống chế chuyển động. Ngoài phanh treo bánh trước và phanh tang trống bánh sau, còn có thiết kế phanh chân, chỉ cần người đi xe hạ chân ra sau, một kết cấu trong moay-ơ sẽ chuyển động đồng thời đẩy miếng phanh chèn vào trục sau. Lúc sửa xe võ đau đầu nhất không gì hơn vấn đề phanh xe. Xe đã qua một giáp không thể có chuyện phanh xe vẫn hoàn hảo như ban đầu, nhưng cả dây phanh treo, phanh chân và phanh tang trống cỡ lớn, giờ đều rất khó tìm được trên thị trường.
Sau chiến tranh xe đạp trở thành công cụ sinh nhai phổ biến, một chiếc xe võ chính là một tiệm tạp hóa di động, người bán rong sẽ chất đầy vật phẩm lên ghi-đông, gióng xe, gác-ba-ga theo những cách sáng tạo nhất, đồng thời tạo ra đủ kiểu quầy hàng phía sau. Có lúc xe “leng keng” xuất hiện, các bác các cô trong phố lại dẫn trẻ con ra chọn đồ trên xe chẳng khác nào dạo phố mua đồ, tiện buôn với nhau mấy câu chuyện nhà.
Tối đến ở khu kinh doanh hay có một người “bán chè”, nhưng ông ta không bán lá chè hay nước chè mà là chè bột mì. Hai bên ghi-đông xe ông ta treo hai ấm nước nóng, trên gác-ba-ga thì đặt một tủ hàng xén bằng gỗ, bên trong có đủ loại bánh ngọt nào đậu đỏ, hạt sen sên, bí đao vv…, còn có cả bánh nướng quẩy rán, bánh xốp mặn và bánh dẻo. Độ khoảng trước nửa đêm, tiếng người bán chè sẽ xuất hiện trước, bạn sẽ nghe thấy từ xa vẳng lại tiếng rao “Chè đây, chè đây”, âm “chè” kéo dài thật dài như dây thả diều, ấm chè khi đun kêu như tiếng còi hơi.

Xe võ gióng đôi hiệu Hạnh Phúc.
Tôi từng tận mắt chứng kiến một ông già thời trẻ bán “gốm sứ Đại Giáp Đông”[1] (vại gốm), lấy một sợi thừng và một cây gậy tre cột tám cái vại gốm cỡ đại lên một chiếc xe võ. Việc này không những đòi hỏi phải cân nhắc tải trọng của xe đạp, mà khi buộc đồ còn phải chú ý cân bằng, lúc dỡ đồ cũng phải làm sao để lần lượt tháo từng vại gốm xuống mà không bị nghiêng đổ. Gọi là kỹ nghệ cũng chẳng sai.
Trên thực tế, “xe văn” và “xe võ” không hề có kiểu dáng cố định, nhưng nói một cách đơn giản thì, xe văn được thiết kế để đi lại những hành trình ngắn thông thường, còn xe võ được thiết kế để kinh doanh, tính công năng này ảnh hưởng đến ngoại hình của hai loại xe. Khung xe võ tương đối lớn, bánh xe tương đối rộng, nặng, dày, cũng sẽ chọn dùng vành nan hoa bằng sợi thép tương đối thô. Trái lại, gióng xe văn nhẹ, yên và gác-ba-ga khá nhỏ, có cái còn thiết kế gióng trên thành gióng lệch, tiện cho phụ nữ mặc váy ngồi lên xe, cũng chính là nguyên mẫu của xe đạp mi-ni sau này. Cũng có mẫu xe lưỡng tính có thể điều chỉnh gióng trên.
Đi xe võ là người bán hàng rong, nông dân chở thóc, và công nhân mang theo “đồ nghề”; còn đi xe văn thường đa phần là tầng lớp tiểu tư sản, bác sĩ, giáo viên, công vụ viên đi làm, hoặc cảnh sát đi tuần tra.
Dựa theo nhu cầu của thị trường, thiết kế xe văn và xe võ đều có một số biến đổi tùy từng khu vực từng thời điểm. Từ miền Trung đổ vào Nam, ngựa sắt đa phần hỗ trợ cuộc sống vùng nông thôn, nên các hãng như Phúc Lộc, Tự Do, Cúc Ưng, Thanh Tú nhằm nâng cao khả năng tải trọng của xe đã thiết kế ra xe võ gióng đôi - tăng thêm một gióng trên, được cánh nông dân gọi bằng cái tên thân mật là “trâu Đài Loan”. Trái lại, hãng Hạnh Phúc với thị trường tiêu thụ chính là miền Bắc và lĩnh vực giải trí tuy cũng sản xuất xe võ gióng đôi song số lượng khá ít, có điều mẫu xe văn phỏng theo xe Phillips và xe đua Hải Âu thời kỳ giữa và sau này của hãng lại là những mẫu thiết kế thời trang và tiên phong đương thời.
Trong tác phẩm Nhật ký trong tù, danh y kiêm nhà văn Lại Hòa có viết về một đêm nọ mình bị cảnh sát đánh thức dẫn đi hỏi chuyện, sau khi đến sở cảnh sát, biết mình sẽ bị câu lưu, thỉnh cầu đầu tiên của ông là “gọi điện về nhà bảo người tới dắt xe đạp về. Chiếc xe được bác sĩ Lại Hòa, khi ấy còn chưa rõ số mệnh của mình ra sao, đạp đến sở cảnh sát, thiết nghĩ là một chiếc xe văn chăng.
Mỗi lần cha đạp xe đèo tôi tới phòng khám nhi ở cầu Đài Bắc khám bệnh, linh hồn tôi lại như thoát xác, quan sát chính mình và cha ngược gió Đài Bắc, từ Tây Môn Đinh đạp tới Thái Bình Đinh. Bất kể ngồi trên ghế mây hay ngồi yên sau, tôi đều là đứa bị ốm, lúc thì đang ho sù sụ, lúc lại đang sốt hầm hập.
Cha thường gạt bàn đạp lên cao ngang bắp chân, sau đó giậm bàn đạp mấy cái mới vắt chân ngồi lên yên. Ngồi trên gác-ba-ga, tôi lúc nào cũng nắm chặt thắt lưng cha bằng những ngón tay ướt lạnh. Tôi không dám dựa vào lưng ông, làm vậy thân mật quá, huống hồ chiếc áo ba lỗ trắng của cha luôn đẫm mồ hôi. Áo ba lỗ luôn dính vào da cha, gần như có thể trông rõ vệt mồ hôi trên lưng ông. Lớn hơn một chút, ngay đến thắt lưng cha tôi cũng ngại không dám nắm, đành ngả trọng tâm cơ thể ra sau giữ lấy chỗ nhô ra của gác-ba-ga, cảm tưởng như khoảng cách giữa hai chúng tôi cứ xa dần theo sự gia tăng của số tuổi.
Trọng lượng cơ thể càng tăng, tôi ở phía sau càng nghe rõ tiếng thở hồng hộc của cha vì gồng sức đạp xe, có lần là do ngược gió, có lần là bởi tuổi tác. Đến giờ tôi vẫn nhớ như in lần cuối ông đèo tôi, đó là hồi cấp hai, thi thử xong tôi lại theo lệ thường lên cơn co giật, cha tới trường đón, đưa thẳng tôi tới phòng khám nhi cầu Đài Bắc.
Suốt dọc đường đi, chúng tôi im lìm không ai nói năng câu gì.
Từ nhỏ tôi đã có tật mỗi khi căng thẳng lại co giật không kiểm soát,, không thể điều khiển nổi các ngón tay, lúc nghiêm trọng đến bắp chân cũng bị chuột rút, thậm chí từng cứ thế ngã uỵch ra đất. Cấp một có lần không được điểm tuyệt đối, cầm tờ bài thi rồi mà tay tôi không tài nào mở ra nổi, về đến chỗ ngồi thì không sao kéo được ghế ra. Giáo viên dìu tôi tới phòng nghỉ của thầy cô giáo đợi cha, tôi vừa trông thấy ông bước vào liền òa lên khóc không dứt. Cha dắt tôi ra khỏi cổng trường, bế tôi đặt lên xe đạp, ngồi lên xe rồi ông mới quay lại bảo tôi ở sau lưng: “Không sao đâu”. Đó cũng là lần duy nhất cha an ủi tôi.
Nguyên tắc dạy dỗ chúng tôi của cha là, thành tích chỉ có thể đứng yên hoặc tăng, không được phép thụt lùi. Làm gì cũng phải đúng giờ, lệch một giây thôi cũng là muộn. Hằng ngày ông quan sát tôi gảy bàn tính, dùng đồng hồ bấm giờ ghi lại tốc độ tôi hoàn thành. Cho dù nhanh hơn một giây cũng tốt. Cha bảo, cho dù nhanh hơn một giây cũng tốt.
Tôi còn nhớ, ngày hôm đó khi giậm bàn đạp cha có vẻ lực bất tòng tâm, ông gắng gượng đèo tôi, bấy giờ đã cao ngang ngửa với mình, tiếng thở nghe hổn hển đến mức làm chính ông ái ngại. Cha móc khăn tay ra lau mồ hôi, song lại không chịu dừng nghỉ, lúc nhét trở vào túi quần còn để lòi một góc khăn, tỏa ra mùi mồ hôi nam giới già yếu. Được nửa đường, cha rẽ xe vào Từ Thánh Cung mua canh móng giò, tôi biết đó là cái cớ để ông nghỉ một lúc, tôi đứng bên cạnh đợi, nhìn tán đa khổng lồ đến mức lạ lùng phía trước sân chùa, ngăn cả mùa hè ở bên trên.
Chiếc xe sau này mất tích theo cha được gác vào thân cây, dựng dưới bóng râm, như một con ngựa già dựa cây mà nghỉ.
❀ ❀ ❀
[1] Một địa danh truyền thống nằm phía Tây quận Ngoại Phố, Đài Trung, Đài Loan, nổi danh với nghề nung gốm sứ.