Chiếc Xe Đạp Mất Cắp

Lượt đọc: 191 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Hậu Ký
Thời Đại Không Thể Thương Tiếc Cho Đủ

❊ ❊ ❊

Postscript: Time Beyond Mourning

 

Hồi năm 2006, tôi đặt bút viết một tập tiểu thuyết về thiếu niên Đài Loan sang Nhật chế tạo máy bay chiến đấu - Đường bay say ngủ. Để cảm nhận bối cảnh lịch sử trong truyện, tôi đã đi Nhật hai chuyến, trong đó một chuyến quanh quẩn ở hai thành phố nhỏ là Yamato và Kōza ở tỉnh Kanagawa. Một hôm tôi và M đi tới trước một khu rừng, lối vào có một tấm bia nhỏ đánh dấu “Rừng chim”, bên cạnh dựng một chiếc xe đạp niên đại xa xưa, giống như thể chủ nhân của nó sau khi vào rừng thì không còn trở ra dắt nó đi nữa vậy. Khu rừng đó tĩnh mịch, thâm u, mỗi một bước đặt xuống lại khiến người ta sa vào một chút.

Một năm sau tiểu thuyết được xuất bản, tôi nhận được thư của một vị độc giả, hỏi tôi đoạn cuối tiểu thuyết viết rằng cha của nhân vật chính dựng xe đạp trước Trung Sơn Đường, “rồi sao nữa?”.

Tôi chưa từng nghĩ đến vấn đề này. Nhưng khoảnh khắc đó, tôi cảm thấy mình giống như người dựng xe trước rừng chim, rồi một mình đi vào rừng.

Thế là con đường mở ra, và tiểu thuyết bắt đầu.

Tôi lần lượt đọc các tài liệu về lịch sử xe đạp Đài Loan, một thời gian sau, tôi cảm thấy làm vậy có phần quá mê muội hiện thực, hơn nữa quá là lười biếng. Vô số tài liệu trên mạng đều bị cắt dán sao chép, bạn cơ hồ không thể phân định nổi tài liệu nào đáng tin hơn tài liệu nào.

Vì thế tôi bắt đầu mua linh kiện ngựa sắt cũ trên mạng, đầu tiên mua mấy miếng huy hiệu tráng men ở gióng trước xe, tiếp đến mua một chiếc đèn đồng dynamo, sau đó là hai chiếc săm hiệu Hạnh Phúc vẫn còn dán tem thuế in hoa… tiếp đến, tôi sở hữu chiếc xe văn võ hiệu Hạnh Phúc đầu tiên, chiếc xe võ hiệu Thắng Luân thứ hai, chiếc Raleigh Đài Loan thứ ba, chiếc xe đua nam nữ hiệu Hạnh Phúc thứ tư, rồi chiếc thứ năm… Tôi bắt đầu quen biết vài người bán, người sưu tầm, tự mình cũng bắt đầu đi săn ngựa sắt cũ “nguyên sinh” trên đường phố, tiếp xúc với những chủ xe tôi hoàn toàn không quen biết, cũng như thỉnh giáo các bác thợ già kiến thức và kỹ thuật liên quan đến ngựa sắt cũ, thử sửa chữa phục hồi những con ngựa sắt này.

Đi trong thành phố, cặp mắt tôi lúc nào cũng tìm kiếm xe đạp bị bỏ lại ven đường, như thể một đoạn đời quan trọng của mình bị bỏ quên ở đâu vậy.

Rồi vào một lúc nào đó, chiếc xe đạp hư cấu, vô chủ ấy trở mình động đậy, dẫn tôi tới những nơi vĩnh viễn không thể nào đi tới.

 

Với một số tiểu thuyết gia, những tao ngộ trong đời người là lý do họ không thể không đặt bút viết văn; còn tôi, lại tranh thủ viết tiểu thuyết để làm quen, suy ngẫm về sự tồn tại của con người. Tôi là một người bình phàm, nhờ viết văn mà phần nào hiểu được những điều trước đây tôi không đủ hiểu, lĩnh hội nhân tính và tình cảm trước đây khó lòng lĩnh hội; tôi viết tiểu thuyết vì không thể nhìn rõ thế giới này, viết tiểu thuyết vì nỗi bất an và vô tri trong nội tại.

Đúng như nhà sử học Hy Lạp cổ Polybius đã nói: “Việc có ý nghĩa giáo huấn nhất không gì bằng hồi tưởng tai họa của người khác. Muốn học cách làm sao nghiêm trang chịu đựng sự xoay vần của số mệnh, thì đây là cách duy nhất”. Tôi mượn viết tiểu thuyết để thử học cách “làm sao nghiêm trang chịu đựng sự xoay vần của số mệnh”.

Cuốn tiểu thuyết này liên quan đến lịch sử chiến tranh thế giới thứ hai, lịch sử Đài Loan, lịch sử phát triển xe đạp Đài Loan, lịch sử vườn thú, lịch sử ngành thủ công mỹ nghệ bươm bướm vv..trong quá trình chọn viết, tôi nhận ra đề tài này thực sự nằm ngoài năng lực kiến thức của mình quá nhiều, do vậy ngoài đọc tài liệu, tôi còn viện đến sự trợ giúp của rất nhiều đơn vị và những người vốn không quen biết. Cuốn tiểu thuyết này có thể tạm thời “toàn”, tôi chịu ơn mọi người rất nhiều.

Cảm ơn Vườn thú thành phố Đài Bắc, Bảo tàng Khoa học Quốc gia Đài Trung khi tôi đưa ra câu hỏi đã hết sức chuyên nghiệp và nhiệt tình giải đáp; cảm ơn bác sĩ Lâm Ngạn Khanh của phòng khám nhi Đại Kiều từ nhỏ đã chăm sóc sức khỏe cho tôi, đồng thời cung cấp một góc nhìn khác của thế hệ cùng thời cha tôi. Cảm ơn trưởng ban Đàm Mỹ Phương của Ban Giáo dục Bảo tàng Khoa học, tiến sĩ Chiêm Mỹ Linh chuyên viên Ban Sinh vật học, cô Trác Bội Vấn Ban Địa chất đã cung cấp tài liệu quý báu về ngành gia công bươm bướm Đài Loan, cùng thông tin về những chiếc ghế chân voi thần bí; cảm ơn anh Thái Dục Lâm văn phòng Truyền thông Chân Trời, anh Ngô Bách Tuyên nhà sưu tầm văn vật dân gian, anh Thái Vượng Phong nhà sưu tầm xe đạp Hạnh Phúc, nhà sưu tầm ông Trương Ngọc Thụ, anh Trương Khải Minh chủ “Cửa hàng xe đạp Hạnh Phúc 63”, đã hào phóng cho tôi chiêm ngưỡng các món sưu tầm mình yêu quý, đồng thời chỉ bảo cho tôi rất nhiều kiến thức liên quan đến xe đạp. Bác Hoàng của tiệm linh kiện xe Thuận Phát ở Tam Trùng, bác Trang của tiệm sửa xe không tên ở Bắc Đầu thì đã phục hồi cho tôi những chiếc xe tôi không thể phục hồi, và trong quá trình đó còn kể cho tôi những kinh nghiệm cuộc đời khó quên. Cảm ơn giáo sư Tưởng Trúc Sơn khoa Lịch sử đại học Đông Hoa đã chỉ dẫn cho tôi hướng thu thập tài liệu, nhà động vật học Trương Đông Quân đã cùng tôi thảo luận về lịch sử vườn thú, giúp tôi có thể giải quyết rất nhiều vấn đề.

Cuốn sách này sẽ được nhà xuất bản Mạch Điền (Ryefield) xuất bản, phải cảm ơn nhiều năm về trước phó tổng biên tập Lâm Tú Mai đã truyền đạt lại lời mời của giáo sư Vương Đức Uy, lời mời này trải qua năm năm, sau nhiều lần tiếp xúc mới được chốt lại. Thầy Vương Đức Uy đã dành sự khoan dung đại lượng và ấm áp nhất cho những ý kiến biên tập của tôi. Tú Mai trong quá trình biên tập đã tận tâm tận lực, phó tổng giám đốc Trần Oánh Như hao tâm sắp xếp tầng tầng tiểu tiết, và cả người trước kia từng là học trò của tôi, giờ là nhà thiết kế tài năng Ngô Hân Vĩ đã đặt dấu chấm đẹp để cho cuốn sách này.

Chính mọi người đã khiến cuốn sách này được hoàn thành.

Có một điểm cần phải giải thích là, trong cuốn tiểu thuyết này có rất nhiều chỗ được thể hiện bằng nhiều loại ngôn ngữ. Trong khi viết, tôi một mặt phải cân nhắc nên biểu đạt thế nào, mới có thể khiến người đọc dễ dàng nhập vào câu chuyện; một mặt lại hy vọng người đọc có thể cảm thấy sức lôi cuốn của bản chất ngôn ngữ. Cuối cùng quyết định dùng dấu ngoặc để thể hiện những câu đặc biệt hoặc không dễ đọc, làm vậy, người đọc vừa có thể nghiền ngẫm ý vị khi văn tự thể hiện các ngôn ngữ khác nhau, nếu thực sự muốn cảm nhận âm vận, cũng có thể đọc to chúng lên. Tôi luôn cho rằng, ngôn ngữ không chỉ là công cụ kết nối, bản thân nó đã mang bản chất “thơ”. Tùy tiện đem tất cả ngôn ngữ đánh đồng là một chuyện đáng sợ và cũng đáng tiếc. Tôi cũng tin rằng, chỉ có thông qua viết lách và thuật lại liên tục, những nguyên tố đẹp đẽ ấy trong ngôn ngữ mới được phát hiện lại, rồi sống lại.

Sau khi hoàn thành bản thảo sơ lược, vì trong đó có rất nhiều thông tin tôi hy vọng có thể xác thực chính xác hơn, tôi có yêu cầu nhà xuất bản cung cấp quá trình thẩm duyệt bản thảo khá hiếm gặp trong quy trình xuất bản tiểu thuyết Đài Loan. Chúng tôi bàn bạc mời tới ngài Cao Đức Sinh, trưởng lão người Trâu bộ lạc Tfuya cho ý kiến về văn hóa và ngôn ngữ dân tộc Trâu trong tiểu thuyết nhắc tới, phó giáo sư Dương Doãn Ngôn, sinh viên Lý Tư Huệ khoa tiếng Đài đại học Giáo dục Đài Trung giúp đỡ chỉnh sửa vần tiếng Đài trong tiểu thuyết, nghiên cứu sinh sau tiến sĩ Nhâm Thiên Hào thuộc Phòng nghiên cứu Lịch sử cận đại Viện nghiên cứu Trung ương thì tư vấn về các chi tiết trong lịch sử thời Nhật trị, anh Christopher Rea hỗ trợ hiệu đính tiêu đề tiếng Anh của mỗi chương. Ngoài ra tôi cũng gửi bản thảo cho anh Đàm Quang Lỗi phụ trách bản quyền của tôi (anh luôn giúp tôi sắp xếp ổn thỏa mọi công việc liên quan đến xuất bản), và một số dịch giả từng dịch tác phẩm của tôi trước đây đọc thẩm định: tiến sĩ Gwennael Gafiric thuộc Đại học Lyon 3, giáo sư Darryl Sterk thạc sĩ chuyên ngành phiên dịch Đại học Quốc gia Đài Loan, và ngài Amano Kentarō cũng đã cho tôi những ý kiến chuyên nghiệp từ góc độ độc giả. Nếu còn có điểm nào sơ suất thì đó nhất định thuộc về trách nhiệm của tôi.

Đương nhiên, các đồng nghiệp khoa Hoa văn Đại học Đông Hoa cũng đã luôn ủng hộ tôi nhiều nhất. Và bà Trịnh Tú Ngọc mẹ tôi, trước nay luôn là kho báu chuyện kể của tôi. Cùng M, người ngoài chăm lo cho cuộc sống của tôi, khoan dung với những thói tùy hứng của tôi, đã luôn cho tôi ý kiến với một thái độ tỉ mẩn nghiêm cẩn nhất quán. Nàng lúc nào cũng đi sâu vào tác phẩm của tôi, rồi nhẹ nhàng đưa ra ý kiến khiến tôi phải cân nhắc rất lung.

 

Trong quá trình viết văn, tôi đồng thời cũng viết lời tựa cho bản dịch của các tiểu thuyết gia Hemingway, Kazuo Ishiguro, Jonathan Franzen. Do vậy cùng lúc, tôi cũng đọc một lượng lớn các tiểu thuyết đủ mọi thể loại. Trong Sao để sống đơn độc (How to Be Alone) của Jonathan Franzen, ông nêu ra tiểu thuyết nên “là đem cặn nổi của kinh nghiệm chuyển biến thành vàng ròng của ngôn ngữ. Tiểu thuyết có nghĩa là nhặt rác bị thế giới vứt bỏ bên đường, rồi biến chúng thành thứ đẹp đẽ”. Câu nói này thường hiện lên mỗi khi tôi đạp xe loanh quanh thành phố, vì cuốn tiểu thuyết này, quả thực chính là bắt đầu từ việc “nhặt đồng nát”. Những chiếc xe đạp bị vứt ngoài đường, nơi bãi thu hồi phế liệu, trong đống đổ nát của ký ức, đưa tôi đến một nơi nào đó của sự vật và linh hồn. Khiến tôi nhớ lại một câu hình như từng đọc trong tác phẩm nào đó: “Đó là một thời đại bạn không thể nào yêu một người cho đủ, thương tiếc một người cho đủ”.

Còn giờ, tôi đạp chiếc xe chắp ghép cổ lỗ, tầm thường, xấu xí, nhặt đồng nát được này, tới trước mặt bạn. Tôi vốn chỉ là tay kỵ sĩ cô độc một mình lên đường trong chuyến đi của câu chuyện này, nhưng khi bạn mở cuốn tiểu thuyết này ra, và chấp nhận đọc tiếp, chúng ta sẽ giống như những người đạp xe trên vô số các con đường lạ, đôi bên không thấy được nhau, bị một thứ sức mạnh vô hình, tập hợp lại trong dòng chảy lịch sử vĩ đại mà thần bí.

Tôi viết cuốn tiểu thuyết này không bắt nguồn từ nỗi niềm thương cảm hoài cổ, mà xuất phát từ sự tôn trọng dành cho thời đại tôi chưa từng trải qua, và tấm lòng dành cho những trải nghiệm không thể lặp lại trong cuộc đời. Thông qua câu chuyện bắt đầu từ việc tìm xe đạp, vô tình bước vào dòng chảy của một quãng thời gian nào đó này, tôi hy vọng người đọc và nhân vật trong sách có thể cảm nhận được tình cảm, nhịp độ khi nhấn bàn đạp, mùi mồ hôi và hơi thở hổn hển, nỗi đau rơi nước mắt và không rơi nước mắt của nhau.

Nhưng không ai dừng lại, đôi bên không cần gọi hay hôn nhau, mà chỉ cần im lặng, khó nhọc, đói khát song cũng lại bình tĩnh tiếp tục đạp.

Nguyễn Tú Uyên (dịch)
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 6 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.