My Family’s History of Stolen Bicycles
Câu chuyện tôi muốn kể, dù thế nào cũng phải bắt đầu từ chiếc xe đạp. Hoặc nói cho chính xác hơn, từ chiếc xe đạp bị mất cắp. “Ngựa sắt ảnh hưởng đến vận mệnh cả nhà ta”. Mẹ tôi thường nói thế. Tôi coi mẹ là người theo chủ nghĩa tân duy sử, trong ký ức của mẹ không có nhân vật lớn lao, không có anh hùng, không có vụ oanh tạc Trân Châu cảng, mẹ chỉ nhớ mấy chuyện vặt vãnh như mất ngựa sắt. Mỗi khi bà nói “vận mệnh” bằng tiếng Đài, tôi đều nhớ tới một niềm tin thứ dân mà thứ ngôn ngữ này vẫn còn bảo tồn: Nó đặt “vận” ở trước “mệnh”.
Có lúc tôi tự hỏi không biết mình có được coi là một tín đồ xe đạp? Có lẽ không. Tôi không hẳn rất mê đạp xe, nhưng cũng không ghét. Nghiêm túc mà nói, xe đạp có điểm khiến tôi thích mà cũng có điểm khiến tôi không ưa nổi. Tôi thích tạo hình đơn giản của xe đạp, khung sườn tam giác, trước sau gắn thêm hai vòng tròn. Trên đời còn gì đẹp hơn hình ảnh đôi bánh xe được dây xích dẫn động quay đều quay đều băng qua phố xá, rừng rậm, đường mòn và bờ hồ? Nhưng tôi cũng ghét cảm giác đau ê dưới mông sau chặng đạp xe đường dài, ghét những tay chơi xe đạp đeo kính râm, từ đầu đến chân trang bị đồ chuyên dụng, cứ ngỡ mình bảnh lắm song còn chẳng đạp lên nổi đường Ngưỡng Đức, cố ý dựng con xe đắt đỏ bên vệ đường ưỡn bụng khoe khoang. Mỗi lần trông thấy hạng người này trên đường tôi lại mong cho bọn họ tuột xích, nổ lốp, đứt dây phanh.
Có lúc, tôi nghĩ thứ mình thực sự mê mẩn không phải việc đạp xe mà là cái từ “bicycle” (kết hợp “hai” (bi) trong tiếng Latin với “vòng tròn” (kyklos) trong tiếng Hy Lạp) được Pierre Lallement biến đổi từ cụm “bàn chân thần tốc có bàn đạp” (vélocipède à pédales) do cha con Michaux (Michaux père et fils) đặt ra lúc ban đầu, và cái vật liên quan mà nó nói đến.
Không biết từ bao giờ, hễ gặp người khác ngữ tộc, tôi đều thử nhờ họ nói từ “xe đạp”: Bike, vélo, cykel, スト电孔, велосилед, jízdníkolo… Thế nên tuy chỉ nói được hai thứ tiếng, song riêng với từ xe đạp thì tôi biết đến ba mươi sáu tiếng khác nhau, tôi là người đa ngữ về xe đạp.
Trong môi trường trưởng thành của tôi, xe đạp (腳踏車) là một từ mang tính khu vực, nếu bạn nghe ai đấy gọi xe tự quay (自轉車) thì người ấy nhất định chịu nền giáo dục của Nhật, nếu gọi ngựa sắt hoặc xe Khổng Minh (孔明車) thì tiếng mẹ đẻ của anh ta là tiếng Đài, nếu gọi xe đơn (單車) hay xe tự hành (自行車) thì rất có khả năng người này đến từ miền Nam Trung Quốc. Có điều, giờ những cách dùng từ này đều đã lẫn lộn cả, không còn tính phân biệt nữa.
Tôi vẫn thích nhất cách mẹ tôi phát âm tiếng Đài, gọi xe Khổng Minh với ngựa sắt.
Nhất là cái từ ngựa sắt ấy đẹp quá, nó kết hợp cả tự nhiên lẫn sức người. Bạn có thể tưởng tượng đấng tạo hóa cố ý để lại trong đất thứ đá quặng chứa sắt, con người đào lên rồi đúc thành thép các bon xong lại chế tạo thành hình dáng một con ngựa. Nhưng thế giới này chính là vậy đấy, đôi khi có những điều đẹp đẽ hơn hẳn những điều khác mà vẫn cứ bị những điều khác thay thế. Đổi từ ngựa sắt thành xe đơn, hay xe đạp, đối với tôi là chuyện ngu xuẩn, thụt lùi văn hóa.
Tôi cũng mê mẩn tính độc đáo cá thể của ngựa sắt, tức là con ngựa sắt được chế tạo ở thời đại nào đều chỉ thuộc về thời đại đó. Tôi tin rằng có một ngày ai đó sẽ biên soạn được một cuốn sử ký ngựa sắt, trong đó dùng những mẫu xe tiêu biểu để đánh mốc thời gian, ví dụ như năm Fuji Monarch thứ nhất, năm Kennet thứ nhất, năm Xe đua Hạnh Phúc đùm ba số thứ nhất. Xét từ điểm này, bạn có thể coi tôi là người theo chủ nghĩa duy vật lịch sử: Thế giới có ngựa sắt và thế giới không có ngựa sắt, tất sẽ biến đổi khác nhau.
Vừa rồi tôi đã nói, nếu muốn ôn chuyện gia tộc tôi, cần bắt đầu từ những chiếc xe đạp bị mất trộm. Chuyện này có thể lội ngược về tận năm Minh Trị thứ ba mươi tám, 1905.
Nếu có tìm hiểu sơ qua về lịch sử hẳn bạn sẽ biết, tháng Một năm đó, quân đội Nga sau một trăm năm mươi bảy ngày bị vây khốn tại Lữ Thuận Khẩu đã đầu hàng quân Nhật, một tháng sau chiến dịch cuối cùng của cuộc chiến tranh này, tức trận Phụng Thiên nổ ra, trận thắng này chưa biết chừng là nguồn cơn khiến dã tâm quân sự của Nhật Bản bắt đầu trở nên méo mó. Không lâu sau, Kerala Ấn Độ xảy ra đại địa chấn 8,6 độ richter khiến 19.000 người thiệt mạng, ở Trung Quốc Tôn Trung Sơn thành lập Đồng Minh hội; cũng vào tầm thời gian đó, chiến hạm HMS Dreadnought được trang bị toàn bộ pháo hạng nặng (All- Big-Gun) của đế quốc Anh bắt đầu lắp sống tàu, mở ra thời đại mới cho chiến hạm hiện đại. Còn Fritz Richard Schaudinn thì phát hiện ra mầm bệnh giang mai, căn bệnh đen tối đã giày vò biết bao con người.
Ông ngoại tôi ra đời vào năm ấy.
Việc ông ngoại tôi ra đời không phải sự kiện lịch sử hệ trọng gì, đương nhiên cũng không có báo giấy nào đưa tin, song mẹ tôi lại cột chặt ngày sinh của ông với một trang báo, hay nói cách khác, với một chiếc xe tự quay. Mẹ bảo, ông ngoại từ nhỏ đã nung nấu muốn có một chiếc xe tự quay để chở kê, chở đồ đạc, hoặc xa hơn có thể chở người vợ trở dạ tới bệnh viện trên thị trấn, đây là chí nguyện suốt cuộc đời ông. Mà cái nguyện vọng ngày nay xem ra có vẻ nhỏ nhoi này lại bắt nguồn từ một tờ báo cũ, Đài Loan Nhật Nhật tân báo ra ngày 27 tháng Chín dương lịch năm Minh Trị thứ ba mươi tám.
Nghe nói cụ ngoại tôi là người mù chữ, tờ báo nọ được cụ nhặt về lúc lên thị trấn bán cá, vừa là món quà đánh dấu sự chào đời của đứa con trai, vừa tượng trưng cho kỳ vọng con mình có ngày thoát nông gia nhập vào hàng ngũ kẻ có học. Tờ báo luôn được ông ngoại tôi gấp thành cỡ chiếc khăn mùi soa, rồi bọc lại bằng hai lớp vải thô, cất trong một chiếc hộp sắt thời bấy giờ còn rất hiếm.
Ông thậm chí từng nhờ một người biết chữ trên thị trấn đọc cho nghe tin tức đăng trên tờ báo nọ, nhờ vậy mà ông nắm làu làu chuyện xảy ra vào ngày mình ra đời. Nghe mẹ tôi kể lần đầu bà được thấy tờ báo “xốp giòn, vàng ệch” ấy, ông ngoại chỉ vào mẩu tin nho nhỏ đăng dưới góc phải mà đối với ông là một tin tức cực kỳ quan trọng, mẩu tin có tiêu đề “Xe tự quay quay đâu mất rồi” đưa tin danh y Đài Nam Nhan Chấn Thanh khi ấy đạp xe đi thăm bệnh, đến nơi liền xông xáo vào thẳng nhà người bệnh, người bệnh cho rằng xe dựng ở ngoài không ổn lắm, bèn sai đứa ở ra dắt xe vào trong nhà thì phát hiện xe đã bị người ta đạp đi mất, “như hoàng hạc không biết bay về đâu”.
Người nghiên cứu lịch sử thứ dân thời Nhật trị có lẽ sẽ biết, bấy giờ một chiếc xe tự quay giống như một cỗ Mercedes, không, phải tương đương một căn nhà lầu, bị mất trộm là việc hệ trọng đến mức có thể lên cả báo giấy. Mẩu tin mất trộm này khiến ông ngoại tôi cả đời cứ xuýt xoa: “Năm ông ra đời đã có người có ngựa sắt để mà mất trộm rồi, đúng là đáng ngưỡng mộ”.
Ông ngoại tôi mất năm 1945, năm kết thúc chiến tranh thế giới, lúc ấy ông đang độ tráng niên… Nguyên nhân cũng là vì một chiếc xe tự quay mất trộm, có điều vẫn không phải xe của ông, bởi cả đời ông tôi chưa từng sở hữu chiếc xe tự quay nào, ông chưa kịp hoàn thành chí nguyện của mình thì đã nhắm mắt. Bà ngoại tôi sinh chín người con đều do một tay bà đỡ trong tiểu trấn đỡ đẻ, đứa nào đứa nấy đều lớn khỏe… Chuyện này quả là nỗi bất hạnh đối với một hộ nông thanh bần lại đã mất đi trụ cột gia đình.
Đương nhiên, nếu hầu chuyện mẹ tôi đủ lâu, bạn sẽ được bà kể cho nghe về con ngựa sắt bị mất trộm thứ ba của nhà chúng tôi, cùng chuyện chị năm tôi. Con ngựa sắt này thì thuộc về cha tôi thật, đó cũng là con ngựa sắt đầu tiên của ông, hãng xe, mẫu xe đều không rõ.
Cha tôi là người “may com-lê”, về sau còn kiêm thêm bán quần bò. Mẹ tôi bảo “may com-lê” tương đối hợp với tính cách cha, vì ông là người “miệng hến”, chỉ cần cầm trên tay cây kéo, giấy rập, kim chỉ là cả ngày ông không nói năng gì, chúng tôi chỉ nghe thấy tiếng kéo xoèn xoẹt lướt qua mặt vải, hoặc tiếng máy may như tàu chở quặng chạy trên đường ray. Mẹ tôi thì được huấn luyện thành nữ công nhân bên máy khâu, cặp mắt đẹp của mẹ vì nhìn dán vào một điểm cố định trong thời gian dài mà lúc nào cũng như đang ngủ mơ.
Bấy giờ mẹ tôi đã sinh cho cha được bốn con vịt giời, cái nghèo còn không làm ông tuyệt vọng bằng không có thằng con nối dõi. Có lúc làm việc đến canh khuya, cha lại bảo mẹ hay gửi phắt chị năm về quê ở nhà một người họ hàng xa: “Còn sướng hơn cho nó”. Hồi đầu sinh liền bốn cô con gái, đôi vợ chồng đã đặt cược vào cái thai thứ năm, nếu là con trai thì giữ lại, không đẻ nữa, nếu là con gái thì cho đi, tiếp tục đẻ. Khi ấy mẹ tôi vì nghĩ “vận mệnh” không thể nào đùa giỡn mình như vậy nên mới đồng ý. Nào ngờ đứa thứ năm kết quả vẫn là con gái. Người trước nay luôn cam chịu thuận theo số phận như mẹ tôi duy chỉ có lần này là khăng khăng chống đối, cha tôi cũng vì nỗi bất an trong lòng mà không kiên quyết đến cùng.
Ban ngày hai người họ vì vậy càng nai lưng, ra sức làm việc, nhưng một ngày may bao chiếc sơ-mi, com-lê không phải chuyện nhanh mà được, thời ấy dù có là một bộ com lê bình dân, từ lấy số đo đến dựng mẫu mặc thử rồi chỉnh sửa, phải mất mấy tuần mới có thể hoàn thành, vì thế mẹ tôi bèn nhận việc của xưởng may gia công về làm tại nhà. Nghe chị cả nói có bận mẹ chuyên may túi, trong nhà vì thế chất đống cả nghìn cả vạn cái túi cùng một kiểu dáng. Ban đêm hai người vẫn không hề từ bỏ hy vọng sinh quý tử, nhằm trông đợi đứa tiếp theo không còn là gái, tên chị năm tôi được đặt là Mãn, ý là đủ, đã đủ rồi.
Có điều ý nghĩa của “vận mệnh” nằm ở chính chỗ không thể bảo đảm cũng như nó luôn có thể chứng minh mọi hứa hẹn của con người đều không đáng tin.
Một năm sau mẹ tôi sinh hạ anh sáu. Nhà thêm một miệng ăn, tình hình kinh tế đương nhiên đâm đầu vào ngõ cụt, đứa thứ sáu đã là con trai, có nghĩa trong số phận “dư ra” một đứa con gái.
Sáng sớm hôm đó cha bế chị năm, lẳng lặng cuốc bộ tới ga Đài Bắc, định bắt chuyến tàu đầu tiên xuống quê gửi chị cho một người họ hàng xa không con cái. Chị năm nửa đêm mới uống một cữ sữa gạo loãng, đang say giấc nồng trong làn mây. Mặt trời đầu hạ đã lên cao, trong thành bắt đầu nhộn nhịp, mẹ tôi từ tinh mơ đã cõng anh sáu đi chợ mua thức ăn, trong ví chỉ vẻn vẹn vài đồng khiến mẹ có đi rã cẳng cũng chẳng mua được mấy thứ, đành ôm tâm trạng chán chường về nhà sớm. Bấy giờ chị cả cõng theo chị tư đã bắt đầu đun nước, chị hai đang vo gạo, chị ba thì giúp lau tủ kính. Anh sáu ở sau lưng mẹ cứ quấy khóc suốt, hệt như cuộc đời sau này của anh, khiến người xung quanh hết sức phiền lòng.
Với trực giác của người làm mẹ, mẹ mau chóng phát hiện ra sự biến mất của A Mãn. Hỏi chị cả thì được biết cha tôi đã mang em đi rồi. Những lời rủ rỉ hết đêm này đến đêm khác đột nhiên tái hiện, mẹ hét lên một tiếng “Chết rồi!”, đoạn chạy khỏi nhà, vì còn cõng theo anh sáu, bước chạy của mẹ không thể nào bắt kịp bánh tàu hỏa, mẹ lại vòng về, giao anh sáu cho chị cả rồi quả quyết lấy ra một chiếc chìa khóa từ ngăn bí mật của ngăn kéo, mở khóa con ngựa sắt cha ngày nào cũng lau dầu. Không ai biết vì sao hôm đó cha tôi lại không dùng ngựa sắt chở chị năm ra ga mà chọn cách bế chị đi, có lẽ việc này cũng ngầm ám chỉ sự do dự của ông chăng?
Nghe mẹ tôi kể, đó là lần đầu tiên trong đời bà cưỡi ngựa sắt, cũng là lần cuối cùng. (Nhưng chắc chắn bà nhớ nhầm rồi, hoặc tôi ngờ rằng bà cố ý không nhắc đến cái lần đầu tiên thực sự đó). Thần kỳ thay, mẹ nhanh chóng lĩnh ngộ được cách cưỡi ngựa sắt chỉ trong vòng vài giây ngắn ngủi, như thể hiểu cách kéo sụp mũ gieo mạ ngược chiều gió khi trời mưa, hiểu cách cho con bú, cả làm thế nào cắn chặt răng chịu đựng đau khổ. Mẹ cưỡi ngựa sắt, xuyên qua tòa Ái, tòa Nhân, tòa Hiếu, tòa Trung, chạy qua Bắc Môn, rẽ phải ở Cục Bưu chính vào đường Đông Trung Hiếu, đạp thẳng đến “đầu xe lửa”. Nếu bấy giờ bạn có vừa hay đi qua ga tàu, thể nào cũng sẽ trông thấy chiếc áo vét vải hoa nhí dính lấy tấm lưng ướt đẫm, chiếc váy màu trắng tung bay trong gió như đóa hoa (chiếc vét đó cũng là do cha tôi may) của mẹ. Người mẹ không biết chữ của tôi lao thẳng tới quầy bán vé, gạt phăng biển người đang chầu chực mua vé như thể chạy nạn, hỏi nhân viên bán vé chuyến tàu đi qua thị trấn Y bao giờ chạy, đón khách sân ga số mấy?
Nghe bảo lúc cha tôi gặp mẹ, đầu tiên là kinh ngạc, tiếp đó ánh mắt ngập đầy ân hận, rồi chuyển sang tức giận, thở dài một tiếng, giao chị năm tôi - bấy giờ như sực phát giác số phận mình vừa xoay một vòng nên bắt đầu òa khóc - lại cho mẹ. Rồi vẫn như mọi khi, ông im lìm chắp tay sau lưng rời khỏi nhà ga, còn mẹ tôi lặng lẽ bước líu ríu theo sau. Cha bực bội sải dài bước chân, mẹ sợ không theo kịp cũng chuyển sang chạy bước nhỏ, do vậy mà quên luôn chuyện còn con ngựa sắt. Kết quả là, con ngựa sắt giá trị tương đương với vài tháng thu nhập của tiệm may vì thế mà mất cắp.
Không ai biết suy nghĩ của cha tôi về chuyện này, vì cả đời ông chưa từng bày tỏ bất cứ ý kiến gì. Ông đọc báo song không bình luận thời sự, không kể lể chuyện cũ cũng không họa theo mẹ tôi kể lể chuyện cũ, tựa hồ ông đã bán đứt cái việc ngẫm lại đời mình cho ai đó, mọi chuyện đều chẳng liên quan gì tới ông.
Đến tận giờ, chuyện này vẫn là tư liệu để tôi suy ngẫm về tính cụ thể và trừu tượng của thời gian. Xét theo thời gian tuyến tính, tàu hỏa muộn mất một phút, mẹ tôi cưỡi ngựa sắt nhanh hơn chạy bộ hai mươi phút, hai mươi mốt phút này đã giúp cho chị năm được ở lại cái gia đình này, đây là sự thực cụ thể trong lịch sử gia đình tôi. Nhưng xét theo khái niệm trừu tượng của thời gian, hai mươi mốt phút ấy chưa từng trôi qua. Nó trở thành một trong những đề tài để mẹ tôi suốt mấy chục năm nay hết lần này tới lần khác than phiền với chị năm, cũng như kể lể, kể khổ với cả nhà tôi, hòng tìm kiếm sự an ủi. Hai mươi mốt phút ấy cùng ánh mắt của cha tôi, đều sẽ trở thành minh chứng cho mức độ nghèo khó và bi thương của cái gia đình này thuở ấy, nghiễm nhiên cũng là minh chứng cho tình yêu.
Còn anh sáu - nam đinh đầu tiên trong nhà tôi, nhân vật suýt chút nữa hất cẳng chị năm, từ đầu chí cuối ngủ say trong làn mây hoàn toàn không hay biết đã xảy ra chuyện gì, lại là người khiến cha tôi mất con ngựa sắt thứ hai. Có điều, đấy là chuyện của mười sáu năm sau.
Con ngựa sắt thứ ba cha tôi làm mất thì liên quan đến tôi.
Tôi là con út trong nhà, hơn nữa còn cách xa tuổi các anh chị, tôi là “thằng út” vỡ kế hoạch sau mười bốn năm mẹ quyết không sinh đẻ gì nữa, vì thế mọi chuyện tôi kể đều không phải do tôi đích thân trải qua mà là nghe nói lại. Phần lớn do mẹ tôi kể chính, phần nhỏ nhờ các chị tôi bổ sung.
Tôi ra đời sau thời đại của mọi người quá lâu, tôi tụt xa khỏi thời đại của cha mẹ (hai người đều quá bốn mươi mới sinh hạ tôi), thậm chí cũng cách anh chị tôi cả một thời, chỉ biết đứng đó nhìn thời gian gạt mình ra ngoài. Mọi người ưa bảo tôi, “Thời bọn tao ngày xưa” khu kinh doanh thế lọ thế chai, rồi kết lại bằng câu “Mày không hiểu (pat) đâu”, “Số mày sướng”. Mỗi lần như thế tôi lại hậm hực, dựa vào đâu mà tôi không được trải qua cái thời đại hào hùng ấy của cha mẹ? Dựa vào đâu mà tôi không được cùng anh chị sống trong quãng thời gian nghèo khó nhất, nhảy dây chun trên nóc khu kinh doanh? Dựa vào đâu mà tôi phải gánh cái danh ô “số sướng”?
Lớn lên, tôi tìm ra một cách, ấy chính là lắng nghe chuyện mọi người kể lại, rồi dùng câu chữ dựng lại cái “ngày xưa” đó, nhờ đó cùng trưởng thành (trên câu chữ tôi vừa trưởng thành cùng mẹ, vừa lớn lên cùng anh chị), cùng chịu khổ, cùng cười vui với họ. Đáng tiếc là, tôi vẫn không tài nào cùng đồng hành với cha, ông nói về mình quá ít, cuộc đời ông trước khi kết hôn với mẹ tôi là một mảng trắng xóa như lịch sử bộ lạc người da đen Đài Loan nhỏ bí ẩn.
Bất ngờ thay, nhờ thế mà tôi trở thành người viết bài cho đủ loại tạp chí, thi thoảng còn được gọi là nhà văn. Đương nhiên mẹ tôi mới đầu khá coi thường nghề nghiệp này (mẹ từng rất hy vọng tôi có thể làm luật sư), giờ thì bà nghi ngờ. (Đối với mẹ, những người không tạo ra sản phẩm gì cụ thể mà vẫn lĩnh được tiền, quả thực rất khả nghi). Có lúc tôi nghĩ, viết lách rốt cuộc là một nghề thế nào, xã hội làm sao cho phép một nhóm người sử dụng hệ thống ký hiệu do nhân loại tự tạo, đi biên soạn câu chuyện, rồi trục lợi từ đó? Và những người làm nghề này làm sao nhào nặn, nêm nếm, hun đúc ý nghĩa của từ ngữ, để khiến người khác khi đọc được cảm thấy xao động, bồi hồi, thậm chí như chịu trừng phạt?
Tôi phải thành thật thừa nhận, năng lực cảm thụ từ ngữ cơ bản nhất của một người viết văn tôi có được phần lớn nhờ mẹ. Từ mẹ, tôi bắt đầu biết được sức mạnh của ngôn ngữ, mẹ giúp tôi thực sự nằm lòng đống từ trừu tượng ấy. Ví dụ, về từ “yêu”, tôi đã học được từ mẹ một cách dùng không có trong tự điển. Mỗi khi nhắc đến câu chuyện về cuộc sống nghèo khổ năm xưa bên cha, mẹ thường chú thêm một câu: “Các anh chị (tín) đều không biết, sự hy sinh của tôi lớn nhường nào (guā-nī)”. Trong số những người tôi quen biết, mẹ là người hay tự bình phẩm nhất, và nhận định chủ đạo của mẹ về cuộc đời mình chính là - Mẹ đã “hy sinh” cực lớn vì cái gia đình này. Câu cầu khiến ẩn sau đó là, chúng tôi buộc phải yêu mẹ, quan tâm mẹ nhiều như nhau.
Rất lâu về sau tôi mới lờ mờ hiểu ra, trong lời mẹ “hy sinh = yêu”, đây là đẳng thức sâu sắc nhất, nghiêm túc nhất, và cũng mù mờ khó hiểu nhất mẹ dùng cả đời để dạy tôi. Khiến khi lớn lên tôi phát hiện ra mình rất sợ nói ra, hoặc nghe thấy từ “yêu”. Bởi khi “yêu” xuất hiện, thứ tương đương với nó là “hy sinh” cũng xuất hiện theo. Nếu có người hy sinh vì bạn không hề khiến bạn cảm thấy phấn khởi, thì khi bạn hy sinh vì người khác, cũng thường không phải vì chuyện gì đáng để vui mừng. Hy sinh là minh chứng cho tình yêu, còn tình yêu là kết quả của hy sinh, và ngược lại. Tôi đang nghĩ, liệu đây có phải nguyên do khiến tôi trước nay vẫn khó lòng mở miệng thốt ra ba tiếng “Anh yêu em”?
Quay lại với thằng tôi năm tám tuổi vậy.
Mẹ tôi kể trước tám tuổi tôi “thực sự khó nuôi”: trớ sữa kén ăn, nổi ngọc (nổi thủy đậu), sinh rắn (cách gọi chính thức có lẽ là zona thần kinh), hậu đậu hay ngã; nhưng sau tám tuổi thì lại khỏe như “cây phân chùn” (một loài cây vả đỏ mọc hoang khắp vùng thôn quê).
Năm tôi tám tuổi xảy ra hai chuyện, có lẽ là ranh giới quan trọng trong quá trình tôi hoàn toàn trở thành một đứa trẻ khác từ sinh lý, thể chất cho đến tâm lý. Chuyện thứ nhất liên quan đến cái chết, chuyện thứ hai liên quan đến sự sống. Không, có lẽ nên nói đó là cùng một chuyện khó lòng phân tách thì chính xác hơn.
Độ khoảng năm lên bảy, vì vào cấp một nên tôi buộc phải tập đi vệ sinh một mình. Trong khu kinh doanh không tiệm nào có nhà vệ sinh riêng, chúng tôi đều phải dùng chung hai buồng vệ sinh công cộng, buồng nam một đầu, buồng nữ một đầu.
Không rõ mới đầu ai là người quy hoạch buồng vệ sinh nam của khu kinh doanh? Cửa buồng chỉ cao một mét tư, hơn nữa còn không kín, mà được đóng bằng mấy thanh gỗ. Vì vậy ngồi bên trong có thể nhìn hé ra bên ngoài, ngồi bên ngoài ở một góc độ nào đó, cũng có thể nhìn hé vào bên trong. Về sau tôi mới biết, thiết kế như vậy là để tránh việc có người trốn trong đó hút keo.
Hôm sinh nhật tôi lên tám, mẹ đặc biệt mua cho tôi một cái đùi gà, lại còn tới tiệm bánh mì bánh ngọt gần nhà mua một miếng bánh ga-tô sô-cô-la từ một ổ bánh chia 12 miếng, kèm một chai Yakult để chúc mừng. Tuy không có nến, nhưng sau màn đồng ca của các anh chị, tôi vẫn hết sức hài lòng chén sạch đống đồ đó, rồi chẳng bao lâu sau thì đau quặn bụng. Đương nhiên tôi buộc phải một mình đến nhà vệ sinh nam. Lúc tôi mới vào cấp một, mẹ đã bảo nếu lớn tướng thế rồi mà vẫn theo mẹ vào nhà vệ sinh nữ sẽ bị cười là “thằng không chim” (không có bộ phận sinh dục nam).
“Thằng không chim” đương nhiên làm tôi xấu hổ, nhưng một chuyện khác còn làm tôi lo sợ hơn. Trước sau tôi vẫn không dám thú thật với cha mẹ một nguyên nhân quan trọng khiến mình không dám đi vệ sinh một mình, ấy là lần đầu tiên một mình tới nhà vệ sinh, tôi đã chứng kiến một chuyện bấy giờ không tài nào lý giải nổi. Chuyện đó làm tôi từ nhỏ đã tập thành thói quen nhịn đại tiện, kỷ lục nhất là từng bảy ngày liền không đi nặng.
Mới đầu mỗi lúc “tập” đi vệ sinh sẽ có chị tôi đứng ngoài cửa thay tôi canh chừng, dần dần chị nghe theo chỉ đạo của mẹ, để tôi đi một mình. Hôm tôi thu hết can đảm tự cầm giấy vệ sinh đi đến nhà vệ sinh công cộng, theo thói quen tôi chọn lấy một buồng ít bẩn nhất - vừa khéo lại nằm tít trong cùng nhà vệ sinh. Tôi vừa ngồi xổm xuống không bao lâu thì có một bác trung niên dáng dấp lạ hoắc, mặc sơ-mi hoa từ ngoài bước vào, đứng trước bồn tiểu ngay phía đối diện mà tôi có thể trông thấy. Tôi nhìn cặp mông của bác ta, nhìn bác ta làm động tác kéo phéc-mơ-tuya xuống. Không lâu sau đó, một người mặc áo khoác xanh lá bước vào, bọn họ hình như nhìn nhau một lát (tôi không trông thấy đầu họ vì bị một thanh gỗ chắn mất), rồi người áo xanh ngồi thụp xuống, mút lấy cái dương vật đen sì lông mu mà một thằng nhóc khó lòng tưởng tượng, như cây gậy dựng lên căng tràn sinh lực, thò ra từ chiếc quần đã mở phéc-mơ-tuya.
Cái thằng tôi khi đó mới bảy tuổi hoặc bảy tuổi rưỡi, không thể không dán mắt vào nó, nhất thời không biết phải làm thế nào. Vừa không dám đứng dậy dội nước đi ra, cũng quên mất có thể nhắm mắt lại. Hôm đó sau khi về nhà, tôi phát ốm, đang yên đang lành sốt liền hai ngày, táo bón cả tuần lễ.
Vốn dĩ tôi cho rằng đó là sự cố, không thể lần nào cũng xảy ra. Nhưng liên tiếp mấy lần tôi đều gặp phải cùng một “sự cơ, về sau hồi tưởng lại chuyện này, có lẽ bọn họ vốn rắp tâm đợi tôi đi vào mới bắt đầu biểu diễn. Đúng vậy, bọn họ cố tình biểu diễn cho đứa trẻ mới bảy tuổi bảy tuổi rưỡi như tôi xem, vì tôi dường như cảm thấy, khuôn mặt bị chắn sau thanh gỗ đó, tựa hồ có liếc về phía tôi mấy lần. Trong tưởng tượng của tôi, trên khuôn mặt hai gã đàn ông đó đều mang nụ cười dâm ô.
Từ đó về sau, việc vào nhà vệ sinh nam với tôi chính là cực hình. Mẹ tôi ngày nào cũng nhất định phải thúc tôi đi vệ sinh, nhưng tôi toàn cầm giấy vệ sinh, chạy lên cầu vượt đi bộ, tính toán thời gian đủ để đi nặng xong thì vứt giấy vệ sinh vào thùng rác trên cầu vượt, rồi chạy trở về.
Hôm sinh nhật tôi chén bay một chiếc đùi gà với 1/12 chiếc bánh ga-tô sô-cô-la, một chai Yakult rồi bị đau bụng ấy, người bước vào là một gã lạ mặt tôi chưa thấy bao giờ. Gã mặc quần ống vẩy (kiểu quần đùi hẹp, ống loe rộng rất thịnh hành thời bấy giờ), cùng áo sơ-mi hoa dâm bụt khá mốt vào thời ấy. Thấy gã đã tè xong mà vẫn chưa rời đi, tôi đã tự nhủ chẳng lành rồi. Nhưng bất ngờ là, không hề có ai nữa bước vào. Gã đàn ông mặc sơ-mi hoa dâm bụt quay người lại, đối diện với buồng vệ sinh tôi đang ngồi. Vì thanh gỗ trên cửa buồng chỉ che chắn cục bộ nên tôi vẫn không thấy được mặt mũi gã, chỉ trông cái dương vật bị thanh gỗ trước mắt chia làm hai phần, tiến lại phía mình.
Rồi gã đàn ông mặc sơ-mi hoa dâm bụt ngồi xổm xuống, cặp mắt mảnh dài đến độ hơi bất thường với bọng mắt sưng húp nhìn tôi, nói: “Mày chỉ sống được đến bốn mươi lăm tuổi”. Lời lẽ điềm đạm, dịu dàng, cứ như thể xoa đầu tôi bảo “Chào buổi sáng anh bạn nhỏ”.
Hôm đó sau khi về nhà tôi cứ mê man, lại lần nữa sốt cao. Đối với tôi hồi ấy, tuy tuổi bốn mươi lăm xa vời chẳng khác nào sao Hỏa, nhưng ánh mắt cùng nụ cười của gã đàn ông đó thực sự khiến tôi cảm thấy một nỗi buồn chưa từng có, giống như ở đâu đó dưới da, có một cây kim lạnh buốt, trôi theo huyết quản, chạy thẳng vào tim. Tôi sốt cao ba ngày, mê man ba ngày, đồng thời không ngừng nói sảng. Nhiều năm về sau mẹ tôi vẫn cứ nhắc mãi chuyện này, bà hay bảo đời này tôi có hai ân nhân cứu mạng: một là Khai Chương Thánh Vương, một là bác sĩ Lâm.
Hai hôm đầu tôi sốt, cha mẹ không đưa tôi đi khám ngay, nguyên nhân là vì phí khám bệnh thực tình quá tốn kém, đầu tiên cha tôi tới hiệu thuốc ở tòa Tín mua thuốc theo liều cho tôi, thử xem có thể “đẩy lui” bệnh ngay bước đầu được không, còn mẹ thì tới chỗ Thánh Vương Công xin bùa cho tôi uống.
Tôi vẫn còn nhớ hiệu thuốc chật hẹp chỉ đủ một người chui lọt, thuốc thang ngồn ngộn như tiệm tạp hóa ấy, chỉ cần nói triệu chứng, ông chủ đeo cặp đít chai dày cộp, chỉ còn tóc ở hai bên da đầu sẽ chế thuốc cho mình. Cư dân khu kinh doanh chưa từng yêu cầu ông phải có bằng dược sĩ gì, ông cứ tự tin, từ tốn mà cầm lọ thuốc lên, lọc cọc đổ ra mấy viên con nhộng, nhanh nhẹn gói ghém liều thuốc, thế là đã đủ khiến chúng tôi tin phục rằng ông hẳn phải có một thứ y thuật không cần kiểm định nào đó.
Bấy giờ, muốn tìm “thầy thuốc” khám bệnh thật sự phải “ra khỏi thành”. Cha tôi phải cưỡi con ngựa sắt của ông, đèo tôi qua tòa Nhân, tòa Hiếu, tòa Trung (ông sẽ ngoái đầu lại bảo tôi, tới Bản Đinh rồi), Bắc Môn (tới đây thì tách khỏi đoạn đường năm xưa mẹ tôi đuổi theo chị năm), vòng qua vòng xuyến, đạp vào Vĩnh Lạc Đinh, Thái Bình Đinh, thẳng tới cầu Đài Bắc, lúc này áo may-ô của cha đã gần như dính chặt vào người, còn tôi ngồi trên ghế mây đằng trước thì cảm thấy hơi nóng hầm hập.
Không phải vì Tây Môn Đinh không có phòng khám nào, mà là cha tôi chỉ tin tưởng một vị bác sĩ Nhi khoa. Vị bác sĩ này bắt đầu khám từ chị cả tôi, cho đến tôi - đứa con thứ bảy trong gia đình. Thậm chí con trai con gái của các chị, phần lớn đều qua tay ông từ khi lọt lòng đến khi trưởng thành, ông chẳng khác nào bác sĩ gia đình của nhà tôi vậy. Đến tận bây giờ, nếu không phải bệnh thuốc cảm cúm có thể chữa được thì mẹ tôi đều kiên quyết chỉ đến phòng khám Nhi này.
Cách bày biện trong phòng khám Nhi này bao nhiêu năm nay vẫn không thay đổi. Cửa kính kiểu Mosaic đẩy mở ra là hành lang chờ khám, với dãy ghế dài xếp dựa tường, cửa phát phiếu và lấy thuốc là một tấm kính mờ khoét hình vòng cung. Hồi đầu, y tá là một ông bác trung niên gầy gò u sầu. Tôi cực kỳ thích trông bác ta pha nước thuốc, đầu tiên bác sẽ đổ bột thuốc vào chai nhựa nhỏ, rồi sau đó rót nước ấm. Tiếp đến bác sẽ giơ cái lọ lên bên tai lắc thật nhanh, như thể vừa lắc thuốc trong lọ vừa nghe một thứ âm nhạc gì đó, cho đến khi nước thuốc có màu đỏ nhàn nhạt.
Sau đó bác sẽ viết tên tôi lên một tờ giấy gạo nếp, con chữ rất đẹp, đẹp y như một cây cầu (thực lòng xin lỗi khi đó tôi quả tình chỉ nghĩ ra lối so sánh này, vì phòng khám đó nằm ngay trên con đường cạnh một cây cầu). Bác còn viết: Ngày ba lần, sau ăn. Rồi bằng một động tác nhanh đến độ tôi căn bản không thể nhìn rõ, bác dùng một cây cán bút chấm hồ dán, đính tờ giấy gạo nếp mỏng tang lên cái lọ nhựa. Bên trên in dòng chữ Khải rõ nét:
台北橋小兒科
Phòng khám Nhi cầu Đài Bắc.
Nghe mẹ tôi kể, chỉ có tới phòng khám ấy tôi mới không quấy khóc, để yên cho vị bác sĩ họ Lâm nhét thuốc hạ sốt vào hậu môn.
Nửa đêm ngày thứ ba, cha lấy từ trong miệng tôi ra cây cặp nhiệt độ thủy ngân hiển thị bốn mươi mốt độ, đây đã là mức vô cùng nguy hiểm. Cha tôi quyết định không màng phí khám bệnh, dắt con ngựa sắt của ông ra, lắp chắc ghế mây, rồi bế tôi đặt lên trên. Mẹ thì tiếp tục lấy nước nóng hòa “lệnh bùa” của Khai Chương Thánh Vương, bắt tôi uống vào, rồi mới ngồi lên yên chở hàng phía sau. Con ngựa sắt ấy đã chở ba người chúng tôi tổng cộng một trăm ba mươi cân tới phòng khám Nhi cầu Đài Bắc. Phòng khám đương nhiên đã đóng cửa, cha sốt ruột ấn chuông căn hộ bên trên phòng khám, cho đến khi người y tá nam ánh mắt u buồn mở cửa. Không nhiều lời, bác sĩ Lâm bị đánh thức song vẫn mỉm cười đeo ống nghe, đoạn bế tôi lên giường cho ngồi ngay ngắn như ngồi thiền.
“Tiêm sẽ nhanh khỏi”. Bác sĩ Lâm nói bằng thứ tiếng Đài với khẩu âm khác hẳn cha mẹ tôi.
Tiếp đó bác dùng bông tẩm cồn, ra sức lau phần da trên cánh tay và trước ngực tôi, theo mẹ tôi kể, khi ấy da tôi đỏ au như tôm luộc.
“Có đi nặng không?”
“Không biết nữa, ba ngày nay thì không”.
Thế là bác sĩ Lâm bèn thụt đít cho tôi. Lúc thụt đít, cảm giác như có luồng khí lạnh từ hậu môn ấm nóng chảy thẳng vào bụng, sau đó tôi vừa khóc vừa được mẹ dìu tới buồng vệ sinh, thoắt chốc đã xả sạch đám uế vật đen đúa, thối hoắc, bầy nhầy như nội tạng trong bụng cá ra khỏi người. Bác sĩ đề nghị để tôi ngủ lại phòng khám tiện quan sát xem có chuyển biến gì không. Mẹ vì thế mà ngồi trên chiếc ghế đẩu tròn cạnh giường bệnh trông tôi cả đêm, còn cha thì ngủ trên chiếc ghế đẩu dài của phòng khám. Trời vừa sáng, cơn sốt của tôi đã hạ, bác sĩ Lâm tỉnh dậy một lần nữa dùng đèn pin nhỏ cầm tay soi cổ họng và mắt tôi, bảo về nhà uống thuốc đúng giờ rồi theo dõi tiếp.
“Cháu có thể xịt cái kia không ạ?” Tôi yêu cầu bác sĩ Lâm xịt cho lọ thuốc xịt họng ngòn ngọt, cái đó vốn khi nào ho mới được dùng, nhưng bác sĩ cười hiền xịt cho tôi một nhát, làm tôi thấy hài lòng vô cùng, cảm giác ốm trận này đúng là đáng lắm.
Chúng tôi rời phòng khám đúng lúc trời sáng, nhưng ngựa sắt thì không thấy đâu nữa.
Cha đùng đùng tự tát mình một phát, cái tát vang đến nỗi khiến bác sĩ Lâm cũng phải ra ngoài xem đã xảy ra chuyện gì. Tôi nhớ cha cứ đi đi lại lại trên con đường đó mười mấy lượt, như thể thứ bị mất là một bên chân của chính ông.
Mẹ trước sau đều tin rằng, tôi khỏi bệnh, một nửa công lao là nhờ bác sĩ Lâm, nửa còn lại do “lệnh bùa” Khai Chương Thánh Vương đóng góp: “Vừa cần người, cũng cần thần”. chiều hôm đó mẹ lại dắt tôi tới ban thờ Khai Chương Thánh Vương gần chợ Song Liên, một mặt tạ thần một mặt thỉnh thần, hỏi Khai Chương Thánh Vương xem tìm xe ở đâu? Thánh Vương gia nói chính con ngựa sắt ấy đã đổi lại mạng sống của tôi, dù không tìm lại được cũng là số phận. Nhưng ngài vẫn vẽ hai đạo bùa cho mẹ tôi, một đạo để cha tôi uống, còn một đạo cho cả nhà uống.
Có lẽ Thánh Vương gia xót thương cho cảnh nghèo nhà chúng tôi, chỉ sau hai tuần đã cho ngựa sắt trở lại nhà tôi một cách thần kỳ. Con ngựa sắt cũ cha tôi hạ quyết tâm mua sau khi mất xe dịp anh sáu thi lên cấp ba này, chính là chiếc xe đạp hiệu Hạnh Phúc[1] mà trong một cuốn tiểu thuyết tôi đã nhắc đến, sau khi khu kinh doanh bị dỡ bỏ, đem dựng ở Trung Sơn Đường rồi không còn thấy tăm hơi đâu nữa.
❀ ❀ ❀
[1] Xe đạp Hạnh Phúc: Hãng xe nội địa Đài Loan, thường được biết tới với tên tiếng Anh là LUCKY.