
Chúng tôi làm ra xe đạp để đưa mọi người đi xa hơn, đến những nơi có nhiều hoa tươi, có những khu rừng được mưa gội rửa, và không khí trong lành làm chim chóc cất tiếng ca.
- Nhà thiết kế xe đạp người Anh
Ray Tomlinson.
Đơn vị vũ trang sử dụng xe đạp tham gia chiến sự đầu tiên, có lẽ là trong vụ Mỹ đàn áp bạo động ở Havana sau chiến tranh Mỹ - Tây Ban Nha năm 1898. Nếu xét tới chức năng quân sự có lẽ còn sớm hơn, ví dụ vào năm 1875, người Ý đã sử dụng xe đạp trên chiến trường làm phương tiện truyền tin. Trong cuốn Xe đạp trong chiến tranh (Bicycles in War), có nhắc tới một số ưu điểm của sử dụng xe đạp trong quân sự. Đầu tiên, xe đạp di chuyển nhanh như kỵ binh, lại không cần ăn uống bài tiết ngủ nghỉ như ngựa, cũng không cắn hoặc đá người, quan trọng hơn là, nó còn không tốn nhiên liệu đốt như các đơn vị xe máy hay xe tăng. Và đạp xe so với cưỡi ngựa hay lái xe đều ít gây tiếng ồn hơn hẳn.
Ngoài tác chiến, đơn vị xe đạp thường xuyên được sử dụng trong công tác vận chuyển quân nhu và trang thiết bị hạng nhẹ, nó cũng là công cụ tuần tra và trinh sát rất đắc lực. Xe đạp xếp cũng được phát minh nhờ nhu cầu chiến tranh, để tiện giấu xe khi đi trinh sát, hoặc để binh lính mang vác trên chiến trường, có một số quốc gia thậm chí còn dùng xe đạp làm trang thiết bị di chuyển cấp tốc cho lính nhảy dù sau khi tiếp đất. Tôi từng xem một tờ áp-phích, vẽ quân đội Áo năm 1896, một người lính đang giương súng ngắm, trên vai anh cõng theo một chiếc xe đạp xếp nặng hai mươi tư cân Anh[1].
Trong trận Anglo-Boer nổi tiếng, quân Anh từng sử dụng một loại xe đạp rất giống xe hợp lực[2] tại chiến trường Nam Phi, được thiết kế di chuyển trên đường ray tàu hỏa, cùng lúc có thể chở đến tám lính, chuyên chở binh lính hoặc vũ khí. Bánh loại xe đạp này giống như bánh tàu hỏa, là một vòng sắt chính giữa có rãnh lõm, có thể gọi là hệ thống giao thông đường sắt hạng nhẹ chạy bằng sức người. Tuy nó không có lốp nhưng vẫn có thể vận hành trên đường bộ bình thường, chỉ rất xóc thôi.
Xe đạp thời ấy vẫn chưa thay thế hoàn toàn kỵ binh, nguyên nhân quan trọng là so với ngựa, xe đạp vẫn hơi kém về khả năng thích ứng địa hình. Ngoài ra, binh lính đạp xe tiêu hao thể lực của bản thân, khiến cho họ khi gặp phải địa hình hiểm trở sẽ càng vất vả. Ví dụ rất dễ bị kẹt trong bãi bùn trơn ướt, cõng xe đạp vượt sông cũng là chuyện vô cùng nguy hiểm, hễ mất trọng tâm sẽ bị dòng nước cuốn đi ngay.
Trước Thế chiến thứ nhất, các nước Anh, Đức, Nga, Mỹ, Thụy Điển… đều đã sử dụng xe đạp trong quân sự, điều thú vị là, một nước trung lập như Thụy Sỹ lại là quốc gia sở hữu đội quân xe đạp nổi tiếng nhất. Địa hình nhiều núi của Thụy Sỹ giúp xe đạp có không gian phát huy, bắt đầu từ 1905, bọn họ đã phát triển hàng loạt dòng xe quân dụng leo núi nhảy số, thành lập lữ đoàn xe đạp, thời gian phục vụ kéo dài cả thế kỷ. Dòng xe đạp quân dụng Thụy Sỹ với tên gọi MO-05 và MO-93 áp dụng sơn phủ bóng mờ, có thể lắp thêm túi cọc yên, túi yên ngựa, hoặc hai giá kim loại dùng để mang theo súng đạn và đạn pháo cối. Khi đối mặt với quân địch, binh lính tức tốc nhảy từ xe xuống tìm chỗ nấp, còn bản thân chiếc xe đạp thì trở thành kho quân hỏa tiếp tế.
Trong lịch sử, trận đánh sử dụng xe đạp nổi tiếng nhất có lẽ vẫn là trận quân Nhật đi đường bán đảo Mã Lai đánh chiếm Singapore trong Thế chiến thứ hai. Đây là một phần trong chiến tranh Nam tiến của Nhật, gần như diễn ra cùng lúc với vụ tập kích Trân Châu cảng.
Nguyên nhân phát động là do Mỹ cấm vận chuyển các vật tư quân dụng như dầu mỏ cho Nhật, phe chủ chiến của Nhật một mặt hy vọng thâu tóm được nguồn tài nguyên rừng, dầu mỏ, cao su phong phú của Đông Nam Á, một mặt hy vọng chặn đứng thế lực của quân Mỹ ở một đầu Thái Bình Dương, nên đã xúc tiến “Khối thịnh vượng chung Đại Đông Á”.
Chiến sự Nam tiến lần lượt gồm Homma Masaharu chỉ huy quân đoàn số 14 nghênh chiến MacArthur tại Philippines, quân đoàn số 16 của Imamura Hitoshi tấn công quần đảo Indonesia thuộc địa của Hà Lan, còn Yamashita Tomoyuki thì dẫn quân đoàn số 25 đánh quân Anh Ấn ở Malaysia và Singapore.

Swiss Army Bicycle MO-05: Xe đạp quân dụng Thụy Sỹ.
Bấy giờ Yamashita Tomoyuki dẫn theo đội quân gần sáu mươi nghìn người, cùng mười nghìn chiếc xe đạp lên bờ ở biên giới Thái Lan, Mã Lai, chia quân hai nhánh tiến hành tấn công chớp nhoáng.
“Đơn vị Bánh xe bạc” của Nhật đóng vai trò quan trọng trong đợt chiến dịch này. Lượng lương thực và hỏa dược một người lính đi xe đạp có thể mang theo lên tới xấp xỉ bảy mươi lăm cân Anh, hơn gấp đôi có dư so với quân Anh-Ấn chỉ mang được ba mươi lăm cân Anh quân tư trang. Đội quân xe đạp đột ngột từ rừng nhiệt đới xông ra cũng gây uy hiếp tinh thần mạnh mẽ cho đối phương.
Có điều không ngờ khí hậu ở bán đảo Mã Lai quá oi bức, xe đạp thường xuyên nổ lốp, lại khó nhận được tiếp viện nên rất nhiều binh lính đều quyết định tháo quách lốp ra, đi luôn bằng vành. Một chiếc xe đạp độc có vành sắt chạy trên mặt đất đá dăm chỉ tạo ra tiếng ồn khó chịu, nhưng hàng trăm chiếc, hàng nghìn chiếc thì sẽ phát ra tiếng lọc cọc lạch cạch inh tai. Âm thanh khủng khiếp không biết từ đâu truyền tới này thường khiến quân Anh-Ấn sĩ khí đã sa sút tưởng nhầm rằng đơn vị xe tăng của quân Nhật đang kéo đến, chưa bị đánh đã cuống cuồng rút lui.
Nhánh quân sở hữu tốc độ này của quân Nhật nhờ đó trong vòng vẻn vẹn chưa đầy hai tháng đã đã thông được chiến tuyến mấy trăm dặm.
Không bao lâu quân Nhật đã vượt qua eo biển Johor, hai tuần sau quân Anh đầu hàng trong nhục nhã, tám mươi nghìn quân Anh, Ấn, Mã Lai bao gồm trung tướng Arthur Ernest Percival trở thành phu phen cho quân đội Nhật đến tận khi chiến tranh kết thúc, chỉ có một số ít còn sống sót. Còn Singapore thì bắt đầu “Thời đại Shōnan” vô cùng tàn khốc.
Trong số bạn của tôi có người sở hữu xe quân dụng MO-93 của Thụy Sỹ, BSA của Anh, nhưng không ai có xe của đơn vị Bánh xe bạc Nhật Bản. Tôi chỉ có thể quan sát chiếc xe qua những bức ảnh Abbas chụp ở thôn Nhị Cao nhà lão Trâu, và trong chuyến đạp xe xuyên Malaysia của anh.
Tôi cho A Bố và Tiểu Hạ xem ảnh, bọn họ đều thấy chiếc xe đạp phi dân dụng do quân đội Nhật chế tạo, từng tham gia chiến dịch bán đảo Mã Lai này, nếu còn giữ được nhất định sẽ rất có giá trên thị trường. Có điều những chiếc xe “sống sót” từ chiến dịch này, hẳn đã bị bỏ cả lại tại bán đảo Mã Lai khi quân Nhật chiến bại rồi.
Câu hỏi đặt ra là, vì sao tại Đài Loan vẫn còn chiếc xe như này? Chiếc Hinomaru của lão Trâu rốt cuộc là từ đâu ra?
A Bố suy đoán, bấy giờ đơn vị Bánh xe bạc tập huấn ở Đài Loan, có chiếc xe hỏng bị vứt lại, hoặc một số xe (hoặc chỉ riêng chiếc xe đó) bị âm thầm đem giấu ở đâu đó, rồi tình cờ rơi vào tay lão Trâu.
Hai suy đoán này đều rất hợp lý, Tiểu Hạ cho rằng khả năng thứ hai cao hơn khả năng thứ nhất một chút. Vì trong thời chiến vật tư thiếu thốn, đơn vị Bánh xe bạc có một số xe được trưng dụng từ dân gian. Xe đạp quân dụng do quân đội chế tạo dù có hỏng hóc hẳn cũng sẽ được tích cực tìm phụ tùng thay thế sửa chữa, để phát huy công năng trên chiến trường mới đúng.
Nhất định là có người đã ăn trộm một chiếc xe, nhất định có người đã giấu nó.
Hôm đó chúng tôi tiễn A Bố cưỡi con Yamaha cũ ra về, nhìn theo cái ống pô khó nhọc nhả khói phành phạch, Tiểu Hạ đứng bên đột nhiên quay lại bảo tôi: Nếu vào thời đó, tôi có một chiếc xe đạp, có lẽ tôi sẽ đạp vào trốn trong núi sâu.
Tôi hỏi cậu ta trốn để làm gì, nếu để bị bắt được thì lại thảm?
Bị bắt được đương nhiên là chịu rồi. Nhưng ra chiến trường thì may mắn hơn chắc? Tôi sẽ trốn vào núi, kiếm một cô Malaysia, đêm đêm làm tình với cô ấy, rồi đạp xe đi khắp nơi ăn trộm, làm đủ mọi cách để sống sót.
❀ ❀ ❀
[1] Cân Anh: Tức pound, 1 pound = 453,6 gram.
[2] Loại xe đạp rất giống xe hợp lực: Xe đạp đôi hoặc xe đạp có nhiều người cùng vận hành.