Forests of Northern Burma
Phòng bệnh của mẹ là một phòng đôi sáng sủa yên tĩnh, phải nhờ đến bạn thân của anh rể mới sắp xếp được. Giường mẹ gần cửa sổ, có thể trông ra sân giữa bệnh viện, ngoài đó trồng cả hàng dừa, với long não khá sum sê tươi tốt. Mưa lất phất rơi, cửa kính mờ mịt nước, trông ra bên ngoài đôi phần giống đứng trên đỉnh núi nhìn ra cả cánh rừng.
“Bác sĩ bảo sau khi có tuổi, tốc độ hồi phục sức khỏe sẽ ngày một chậm dần, nửa đêm mẹ tỉnh dậy đi vệ sinh gặp lạnh, có hiện tượng tai biến nhẹ. Em tưởng tượng được không, mẹ ngã ngay trong cái phòng tắm đó! Cộng thêm các bệnh thoái hóa cột sống với tiểu đường sẵn có, bác sĩ đề nghị làm kiểm tra tổng thể triệt để một lần. Chị nghĩ, sau này cứ đập thông hai phòng trong nhà là hơn, chị ngủ với mẹ cho an toàn. Phòng tắm nhà mình trơn quá, nhất định phải nghĩ cách, bỏ ít tiền sửa sang lại, em thấy thế nào?”. Chị cả sau khi ly hôn, ban đầu vẫn duy trì công việc ở công ty ngoại thương, nhưng sau quyết tâm bỏ việc về kinh doanh đồ may sẵn trên mạng, trở thành cây gậy chống của nhà chúng tôi. Nếu không có chị chăm sóc mẹ, thiết nghĩ chúng tôi đều không biết xoay xở thế nào.
“Vâng”. Tôi hưởng ứng, mang theo cả lòng biết ơn. Tôi và anh sáu đều là người không thể ở bên mẹ trường kỳ, có dịp cả nhà tụ họp ăn uống, chị năm - người suýt chút nữa đã bị cho đi làm con nuôi - nói thẳng: “Đấy là vì hai người các cậu đều thuộc cung Khí, thiếu tinh thần trách nhiệm”.
Thiếu tinh thần trách nhiệm? Có lẽ vậy. Tôi thò đầu sang nhìn người bệnh nằm giường bên cạnh, là một bác gái gầy đến trơ cả xương, bác nằm nghiêng trên giường, người giúp việc ở bên cạnh đang lướt điện thoại, còn bác cứ giương hai mắt nhìn thẳng về phía trước.
Mẹ vừa uống thuốc nên đang ngủ. Tôi nghĩ đến cái tử cung trong cơ thể ốm o tàn tạ ấy từng mang nặng đẻ đau bảy đứa trẻ, bệnh tật đau đớn bây giờ hẳn là hậu di chứng để lại vì người ta đã lấy đi quá nhiều thứ từ cơ thể ấy. Tôi bảo chị cả hẵng về nhà nghỉ ngơi, rồi ngồi xuống bên giường mẹ, kéo tấm rèm vải cách ly, ngồi trước chiếc bàn viết chỉ rộng sáu mươi xen-ti-mét, tiếp tục sắp xếp đoạn tài liệu Tiểu Ninh gửi, và phần ghi chép cuộn băng thứ hai đã chỉnh lý trên núi, Rừng Bắc Burma.
Năm Chiêu Hòa thứ mười bảy, tôi đi tham gia kỳ thi lính lục quân đặc biệt, kiểm tra sức khỏe, thi vấn đáp đều thông qua, nhưng đến thi viết thì trượt. Có điều, tôi vẫn được tuyển làm lính, sau đó ra biển, lên thuyền thẳng tiến đảo Hải Nam.
Thầy Ogamo lúc đứng lớp thường hào hứng nhắc đến nguyện vọng “đánh Mỹ diệt Anh” với chúng tôi, tối đến có hôm còn kéo theo mấy học sinh thân thiết bọn tôi tới trường quốc dân gần bộ lạc ngồi uống rượu.
Thầy bị gãy một bên chân do tham gia chương trình huấn luyện của đơn vị Bánh xe bạc, thành thử tạm thời không được gọi lính, chuyện này khiến thầy buồn bực mãi.
“Chiến tranh Thái Bình Dương đã mở màn, đại chiếu chí tôn vừa hạ, hải quân đã tiêu diệt quân chủ lực hạm đội Mỹ-Anh, hai tuần đánh chiếm Hồng Kông, ba tuần chiếm đóng Manila, chưa đến bảy tuần đã tấn công Singapore. Các cứ điểm xâm lược của đế quốc Anh-Mỹ ở Đông Á bao lâu nay đều bị Hoàng quân chiếm lĩnh, đây là điềm báo hình thành khối thịnh vượng chung vĩ đại”. Ogamo nói vậy khiến tôi vô cùng mong ngóng được trở thành một thành viên của Hoàng quân. Có lúc tôi còn cố ý đi ngang qua doanh trại bộ đội đang tạm thời đóng tại trường học, trông thấy có người trạc tuổi mặc quân phục khiến tôi càng muốn trở thành một trong số “trăm triệu quả cầu lửa”[1]. Hơn nữa những người bị gọi là dân tộc Cao Sa[2] chúng tôi chỉ có một cách duy nhất để không bị kỳ thị đó là tòng quân.
Có điều lúc đó tôi không hề biết nỗi bi ai của cầu lửa.
Tôi bị phân luôn vào quân điều động phía Nam, từng có thời gian ở cả bán đảo Mã Lai và Đông Dương thuộc địa của Pháp, đảm nhiệm công tác vận tải, sau đó bị thuyên chuyển sang đơn vị tiếp tế đạn dược của cánh quân phía Myanmar, theo tàu chở lính tới Mawlamyine.
Myanmar là một quốc gia đẹp, hầu hết các thành phố đều có sông ngòi chảy quanh, khi quân đội tiến vào thành, rất nhiều người dân Myanmar đổ ra hai bên đường chào đón nhiệt liệt, hét vang: “Dubama! Dubama!”, Dubama có nghĩa là “Myanmar của người Myanmar”, chúng tôi cũng hô to đáp trả “Dubama! Dubama!”, tình cảnh đó không hiểu sao khiến người ta hết sức kích động. Đa số người Myanmar tin rằng chúng tôi đến giúp họ thoát ly đế quốc Đại Anh giành lại độc lập, nỗ lực vì khối thịnh vượng chung Đại Đông Á.
Khi chúng tôi dùng cơm, trẻ con bản địa thường muốn đổi đồ với chúng tôi để lấy muối, là do trong nội địa Myanmar thiếu muối. Tôi nhớ ở quê nhà, thợ săn đi rừng thường cạo lấy vỏ một loài cây dùng thay muối, chưa biết chừng trên núi ở Myanmar cũng có loài cây này.
Bản thân Myanmar cũng có quân đội chống Anh, gọi là “Quân nghĩa dũng Myanmar”. Quân nghĩa dũng Myanmar vì thiếu vật tư nên thường hành quân bằng xe bò. Có lúc hàng trâm cỗ xe bò cùng lên đường, khói bụi cuồn cuộn trên con đường đất, nhìn từ xa rất giống đơn vị thiết giáp đang hành quân. Về sau xe cơ giới càng lúc càng khan hiếm, tình trạng đường sá Myanmar cũng rất bất cập, do đó đơn vị vận tải của quân đội Nhật cũng thường huy động xe bò của người dân.
Binh đoàn chúng tôi về sau dừng chân chỉnh đốn tại Mawlamyine và thành cổ Bago, ở đó có một bức tượng Phật Thích Ca Mâu Ni nằm, rất nhiều nạn dân dựng lều lán tránh nạn ngay dưới bức tượng này, đa số là phụ nữ, người già và trẻ nhỏ. Ánh mắt ai nấy đều vô cùng âu sầu, cơ thể gầy yếu, họ sở dĩ tụ tập lại bên dưới tượng Phật là vì khi đánh bom liên quân sẽ tránh bức tượng này ra.
Bọn họ tin rằng tượng Phật có năng lực bảo vệ mình.
Trong thành có một cái hồ, cạnh bờ hồ có một vườn thú, khi tháo chạy quân Anh đã bắn chết đám thú dữ ở đây, động vật ăn cỏ thì bị chén sạch.
Chúng tôi nhận lệnh tới dọn dẹp đống xác đã thối rữa. Đó là lần đầu tiên tôi trông thấy hổ và báo, lũ giòi bắt đầu ăn từ nhãn cầu của bọn chúng, rồi rỉa đến bắp thịt, có con chết sớm chỉ còn lại đống da lông đẹp đẽ chi chít vết đạn bắn.
Năm Chiêu Hòa thứ mười chín, cánh quân do trung tướng Muta Kuyaaya chỉ huy vượt qua dãy núi Arakan, chuẩn bị tiến hành “chiến dịch ウ”[3] không lâu sau, quân Anh-Ấn và quân Trung Quốc cũng bắt đầu phản công từ Bắc Burma[4]. Mới đầu tôi bị phân tới đơn vị vận tải ở cửa sông Mandalay, rồi tiếp đó lại bị điều sang trạm tiếp tế lương thảo dã chiến Nam Mẫu Tử, cuối cùng là tham gia đơn vị vận tải trực thuộc binh đoàn 18 được mệnh danh là quân đoàn Hoa Cúc.
Đó đã là nơi tiền tuyến nhất của cuộc chiến.
Myanmar ngoài một số ít thành phố, còn đâu chỉ là một dải sông núi và rừng rậm tít tắp như biển, đó là một nơi còn đầy hoang dã hệt quê hương tôi. Mà không, nó là tâm điểm hoang dã của châu Á, rộng lớn hơn, gần như không có giới hạn. Người Myanmar nói, ở Myanmar buổi sáng tối mù, buổi trưa tối mù, buổi tối cũng tối mù mù, chính là chỉ rừng rậm nơi đây
Ngoài rừng rậm, đối thủ lớn nhất của chúng tôi là mùa mưa. Mưa ở Myanmar bắt đầu từ sáng sớm, hết sức dai dẳng không có hồi kết; buổi trưa mưa sẽ tạm tạnh, nhưng không khí nóng nực khiến quần áo còn chưa khô nổi trên người càng thêm dấp dính. Ban đêm nhiệt độ vừa hạ thấp, người đã như khoác giáp sắt.
Mùa mưa còn biến đường thành sông, rất nhiều “rừng trọc” đều bị hết đợt bom này đến đợt bom khác cày nát, hễ ngập nước là biến thành bãi lầy. Những bãi lầy như vậy giống như tay của mặt đất, hễ bị nó tóm được thì rất khó thoát nổi.
Mưa to còn âm thầm làm lở núi, tạo thành lũ đất đá, có lúc thậm chí nghe uỳnh một tiếng cả mảng núi sụp xuống làm cả nhánh quân mất tin tức, không tìm thấy dẫu chỉ một đôi giày.
Đường vận tải hầu hết đều xây trên vách đá cheo leo, binh lính chỉ có cách trèo qua mỏm núi, một ngày có khi chỉ tiến được một, hai trăm mét, khó khăn gian khổ hơn bất kỳ con đường rừng nào tôi từng đi săn. Mặt khác, vì các thiết bị cơ động hầu như đều vô dụng trong rừng rậm tối tăm, cộng thêm xăng dầu ngày một giảm thiểu, động vật bao gồm ngựa, la, bò, voi bèn trở thành công cụ quan trọng để vận chuyển quân nhu, vũ khí cho sư đoàn. Khi di chuyển trong rừng bọn chúng kín đáo hơn, thức ăn là cỏ cây sẵn đấy không cần chuẩn bị, còn có thể đem lèn bụng khi đói, lúc thật sự phải trốn chạy cũng có thể thoải mái bỏ lại.
Lần đầu tiên trông thấy voi, tôi gần như chết đứng. Trên thế giới này không ngờ lại có một sinh vật rắn chắc như núi đá, mạnh mẽ như bão lũ, cái vòi đó vừa có thể khéo léo nhặt hoa quả, vừa có thể đẩy ngã đánh rầm một thân cây lớn. Tôi không khỏi sinh lòng tôn kính trước sinh vật khổng lồ này.
Voi không sợ rừng, mưa hay chớp giật, chúng đã quá quen với những thứ này. Voi có thể đi trong rừng rậm không có nhân công nào mở đường, cũng có thể cõng vật nặng lội qua sông. Nhưng để cho chúng kéo sơn pháo, công binh lắm lúc phải dọn sạch đám cây bụi có gai ở nền rừng, mở “đường voi”. Con đường này được mở ra nhờ dao đi rừng và công cụ nhẹ, chỉ đủ cho một con voi đi qua, hơn nữa phải cố ý giữ lại tầng tán cây để tránh máy bay của Mỹ phát hiện dấu vết di chuyển của đoàn quân.
Đường voi mở giữa lưng chừng vách núi, nài voi ngồi trên lưng voi, chòng chành đung qua đưa lại trên không như bị người khổng lồ xách cổ áo.
Bầy voi chỉ sợ mỗi ném bom, có lần tiếng nổ trầm thấp cũng khiến chúng mất kiểm soát. Hễ kích động, bầy voi không chỉ có khả năng rơi xuống khe núi mà còn sẽ giẫm người dẹp lép như lá rụng dưới nền rừng.
Trong đội quân tiếp viện binh trạm của quân đoàn Hoa Cúc, tôi chăm sóc và quen biết khoảng năm mươi con voi, cả đánh bạn cùng anh chàng nài voi người dân tộc Karen tên là K’nyaw.
K’nyaw là một thanh niên tráng kiện, thông minh, mắt phải cậu bị mù do mảnh vỡ lựu đạn bắn trúng, thánh thử cả nhãn câu đều bị lấy ra. K’nyaw hận người Nhật, hận cả người Myanmar, nhưng để có đường sống cậu giúp người Nhật quản lý đội nài voi. Tiếng Nhật của K’nyaw rất tốt, có lần cậu bảo tôi: “Tôi sống để có ngày chứng kiến quân đội Nhật bị núi quỷ ăn thịt”. Không rõ lúc nói câu này K’nyaw có gộp cả tôi trong đó hay không, nhưng chúng tôi nhanh chóng trở thành những người bạn có thể tin cậy, vì cậu nói trên người tôi có mùi của linh hồn, hơn nữa tôi không phải người Nhật, người Hán, cũng không phải người Thái. Người mới đầu mang ảo tưởng vinh quang về chiến tranh là tôi, vì đói khát khổ sở và sợ hãi trước cái chết, đã sớm không còn chút gì lưu luyến với cuộc chiến này nữa.
Ở điểm này tôi và K’nyaw đều có tâm tình giống nhau.
Dân tộc Karen cũng giống dân tộc chúng tôi, tin rằng vạn vật đều có linh hồn, K’nyaw nói trong khu rừng này, có một số cây là linh hồn người, nhưng anh không thể biết là cây nào, vì cây nhiều hơn cả người. Giờ bom cháy đốt cháy tất cả các cây, khó tránh đốt phải linh hồn dân làng. Linh hồn dân làng bị đốt rồi, trông bề ngoài có vẻ không sao, nhưng kỳ thực đã bị thương từ bên trong, con người sẽ chết dần.
“Dù không tham gia cuộc chiến, trốn tránh chiến tranh, người bộ lạc chúng tôi cũng có thể do đó mà chết sạch. Đợi khi rừng bị đốt trụi, ngày đó sẽ đến thôi”. K’nyaw nói vậy.
Gia tộc K’nyaw làm nghề nài voi truyền thừa đã mấy đời, nắm vững các kỹ thuật đặt bẫy trong rừng để bắt voi và huấn luyện voi. Trên đường voi bắt buộc đi qua, họ đào hố hình vuông bốn mặt thẳng góc, bên trên phủ bằng cây cỏ để voi không nhận ra trong bóng tối. Do cấu tạo phần chân đặc thù, voi không có cách nào tự sức mình bò lên khỏi bẫy. Hễ phát hiện có con voi nào rơi xuống bẫy, nài voi sẽ xua lũ voi còn lại đi chỗ khác, đồng thời bỏ đói con voi sa bẫy kia một thời gian. Nài voi cho rằng voi nghe hiểu tiếng người, chẳng qua bình thường cố ý lờ đi, nhưng một khi đứng giữa sự sống và cái chết, chúng sẽ không che giấu sự thực rằng mình nghe hiểu tiếng người nữa. Lúc này nài voi sẽ nói với chúng: Nếu mày chịu nghe lời tao, tao có thể đào sườn dốc cho cái hố này, cứu mày ra. Nếu voi chịu đáp lời, nài voi sẽ trèo lên lưng voi, vuốt ve đỉnh đầu nó, quan sát kỹ động tác phe phẩy tai của chúng. Cảm xúc của voi thường sẽ biểu lộ trước tiên qua động tác tai. Sau đó hằng ngày nài voi sẽ cung cấp một lượng nhỏ thức ăn, trò chuyện với voi và đào hố rộng thêm tí chút. Cứ thế một đến hai tháng, voi có thể thoát thân, đồng thời cả đời sẽ không làm hại đến nài voi thu phục mình. Lúc này đã có thể dùng thức ăn và gậy gộc để khiển voi.
Có điều voi dẫu sao vẫn là loài động vật sở hữu sức mạnh to lớn, nài voi một khi không chú ý, vô tình khơi dậy dã tính của voi sẽ bị giẫm nát dưới cái chân to như cột đá, hoặc bị cái vòi bẻ gãy cả cây cổ thụ quật chết tươi, thậm chí bị voi dùng đầu dúi lên cây, nghiền nát nội tạng. Voi từng giết người sẽ ghi nhớ mùi tanh máu, và tự tin với sức mạnh của mình, trở thành thứ ác linh rừng rậm khủng khiếp.
Voi có thể chịu đói chịu lạnh chịu nóng, cũng không hề hấn gì trước súng đạn. Theo lời chỉ huy Yamazawa Shōsa của chúng tôi thì, ông từng nổ ba mươi phát súng vào một con voi rừng mà nó vẫn phe phẩy đôi tai to, bước uỳnh uỳnh mất hút vào rừng sâu.
Nài voi K’nyaw là người thực lòng yêu voi, tôi cũng yêu voi. Tôi gần như mê mẩn loài sinh vật này. Để theo Khyaw học các mánh huấn luyện voi, tôi tích cực tìm cơ hội học tiếng Karen. Voi trông có vẻ da dày thịt cứng, nhưng thực ra lông trên da thịt phản ứng rất nhạy, K’nyaw dùng ngón tay đập vào đầu gối voi là nó hiểu ngay chỉ lệnh của cậu. K’nyaw bảo tôi, nhất định phải nói chuyện với voi thường xuyên, dốc bầu tâm sự, voi có thể đọc thấu bụng dạ anh nếu anh không chân thành, chúng có thể dùng tai quạt bay những lời dối trá. Voi không thích người nói dối.
Trong bầy voi, có vài con đặc biệt thông minh, gồm voi cái đầu đàn Ah Mong, voi cái trưởng thành Ah Pei và một con voi đực trẻ nhất tên Ah Mei. K’nyaw nói, ba con voi này thậm chí có thể đoán trúng tâm ý anh trước cả khi anh ra mệnh lệnh. Con voi tôi thích nhất là Mei, nó cũng rất thân thiết với tôi, có lúc còn dùng vòi gắp trộm mũ tôi, giấu lên trên cây.
Tôi học K’nyaw khẩu lệnh điều khiển voi, khẩu lệnh có hai kiểu, một là tiếng hô lớn, hoặc âm thanh thổi bằng lá cây. Một kiểu khác là dấu tay, ánh mắt của nài voi, cả âm thanh người thường không nghe thấy được phát ra từ cổ họng và bụng.
Voi có thể nghe thấy âm thanh con người không nghe thấy, cũng có thể phát ra âm thanh con người không nghe thấy.
K’nyaw nói, không thể dạy tôi kiểu thứ hai. Vì voi đầu đàn từng vào trong giấc mơ của tổ tiên nài voi dân tộc Karen, bảo họ rằng: Chúng tôi tiết lộ ngôn ngữ loài voi cho anh, không phải để anh bảo cho người khác. Voi tuy đồng ý tạm thời nghe mệnh lệnh của con người, nhưng nếu người Karen phản bội lại rừng rậm và đàn voi, voi sẽ đối đầu với người Karen. Do vậy, tất cả nài voi tộc Karen đều được dạy rằng, nhất thiết phải bảo vệ bí mật. Rất nhiều nài voi chỉ hiểu một phần khẩu lệnh, họ không thể dùng cộng hưởng của cơ thể phát ra âm thanh khiến voi cảm nhận được mà con người không nghe nổi. K’nyaw nói, đó chỉ là các nài voi thứ cấp, không có giao lưu tình cảm với voi, chỉ có thể ở trong thành phố diễn xiếc.
Mỗi khi trời sáng, K’nyaw lại phát ra thứ khẩu lệnh chỉ có voi nghe được, bầy voi sau khi nghe thấy cũng đáp lại bằng cách phát ra âm thanh thấp trầm, mang theo tiếng rừ rừ run run mà người thường không thể nghe thấy. Âm thanh đó tuy không nghe được bằng tai, nhưng lại có thể thông qua không khí, thu nhận bằng da thịt. Khi bầy voi rống thấp, lá cây trong rừng cũng rung rinh, giọt sương rơi xuống từ những chiếc lá đầu cành, rào rào như đổ mưa to, lũ kiến đều dựng nửa thân trên đợi âm thanh ấy ngừng lại, những hòn cuội nhỏ cũng khẽ lay động. Còn cả đoàn quân thì từ từ bị đánh thức như có khăn mặt ướt quét qua, tiếng sấm vãng vẳng trong không khí.
Năm Chiêu Hòa thứ mười chín, khi mùa mưa bắt đầu, quân Trung Quốc, quân Anh-Ấn và không quân Mỹ bắt đầu liên thủ tấn công từ thung lũng Hukawng. Năm đó sông ngòi bị mưa chọc giận, chúng tôi lần đầu triển khai tác chiến trong rừng Bắc Burma rộng lớn tựa biển cả. Khác với tình huống lần trước người Trung Quốc bị dồn vào núi Dã Nhân tiêu diệt gần như toàn quân, cánh quân Trung Quốc kéo tới từ Ấn Độ lần này đầu đội mũ sắt kiểu Anh, tay mang súng trường, súng máy của Mỹ, lái xe thiết giáp, là đội quân kiên cường đã được tái sinh một lần. Chiến sự vô cùng căng thẳng, binh lính ở tiền tuyến liên tục bị thương đưa về hậu phương, tôi chưa từng thấy nhiều người nát bươm như vậy. Có người lính tên Ōno hay dúi cho tôi điếu thuốc mỗi lần tôi đưa đồ tiếp viện ra tiền tuyến, bị nổ bay nửa bên não, một bên con ngươi không thấy đâu, nhưng vẫn có thể chuyển động con ngươi còn lại. Anh nắm chặt tay tôi không buông, như thể nắm chặt cây rìu, nước mắt lăn ra từ con mắt vẫn có thể đảo qua đảo lại.
Khi chuyển vật tư tới bộ chỉ huy tiền tuyến, tôi bắt đầu cảm thấy trong quân đang bị một bầu không khí hoảng sợ và không cam tâm bao phủ.
Bầu không khí này với tôi không có gì xa lạ, đó là thứ loài dã thú phả ra khi rơi vào cạm bẫy.
Vật tư từ hậu phương tựa hồ con sông bị đá sỏi chặn dòng, dần dần thu hẹp, khó mà kiếm được “bột dinh dưỡng”, “lương khô dạng nén” nữa, xăng dầu và đạn dược cũng thiếu hụt nghiêm trọng, ai nấy đều cảm thấy đây là một cuộc chiến tuyệt vọng. Chúng tôi gần như đã sắp không còn vật tư để mà tiếp tế, một khi bị kẹt trong thung lũng này, rừng Myanmar có một thứ ma lực, có thể biến một cái xác thành xương trắng chỉ trong vài ngày.
Mùa mưa bước vào giai đoạn đỉnh điểm, máy bay ném bom của quân Đồng minh vẫn ngày ngày thả bom từ trên trời, xác người và cành cây, bùn đất cùng đá sỏi bay lên cao, rồi rơi xuống khắp nơi. Bộ chỉ huy và đơn vị quân nhu bị đánh bom dày đặc, bom đạn cày xới triệt để đến độ hất tung năm, sáu tầng đất đai xung quanh. Sau mỗi đợt ném bom, mưa trút xuống đều có màu đen.
Do chiến sự bất lợi, đạn dược thiếu thốn, quân đoàn Hoa Cúc đành tiến hành chiến thuật du kích. Binh lính được chọn làm lính du kích đều phải trải qua huấn luyện nghiêm ngặt, bọn họ được yêu cầu bắn trúng mục tiêu tĩnh ngoài phạm vi bốn trăm mét, hoặc chim sẻ đang bay nhảy trong phạm vi trên một trăm mét. Để tăng cường tính ổn định, lính du kích phải dùng dây thừng buộc mình cố định trên thân cây. Nhưng làm vậy ngang với tự sát, vì một khi bị đối phương phát hiện họ sẽ giống như chiếc bia sống buộc trên cây, không có cách nào tháo chạy. Chưa đến vài tuần, lính du kích của quân đoàn Hoa Cúc đã chết vinh hết thảy.
Quân đoàn Hoa Cúc bắt đầu dao động, giống như con gấu đuối sức chiến đấu lùi dần từng bước. Binh lính người Nhật không chịu vứt lại xác đồng đội để rút lui, mới đầu đều giao cho bọn tôi chuyển xác, nhưng nỗ lực ấy mau chóng thất bại, thay vì vận chuyển xác chết, thà chuyển số lương thực và đạn dược ít ỏi sót lại còn hơn. Chúng tôi cắt lấy bàn tay hoặc ngón tay của những binh lính đã chết, buộc cùng mảnh tên, rồi bỏ vào túi vải gai, chất trên lưng la và voi, nhanh chóng lui về phòng tuyến còn khả năng chống đỡ tiếp theo.
Một tối nọ, trong lúc đi tiểu tôi cảm thấy cánh rừng phía trước ồn ào lạ thường rón rén trườn tới nghe ngóng thì ra là một đám xương cốt bị nhốt trong rừng sâu đang nói chuyện với nhau, bọn chúng thảo luận con đường nào mới là đường đúng để Piepiya (hồn phách) trở về cố hương.
Tôi thấy tuyệt vọng thay cho những linh hồn ấy, bởi rừng Bắc Burma là một dãy núi đầy ác ý, mọi linh hồn còn sống hay đã chết ở đây đều bị đẩy tới một hang động sâu hun hút, tôi không tin linh hồn nào có thể yên lành rời khỏi đó. Khi “trốn về màn trời” (nói cho đúng là chiếc lều dựng bằng một tấm vải), trước mắt tôi hiện ra yuafeofeo ta apihana (núi Vọng Hương), yoyohu (vùng đầm lầy mọc đầy lau sậy) và bãi săn của cha. Tôi cảm thấy trước mắt là một dải sương mù dày đặc, hoàn toàn không hiểu thứ mình đối diện rốt cuộc là cái gì?.
Năm Chiêu Hòa thứ hai mươi, dịp năm mới tôi và K’nyaw cùng các nài voi khác dẫn theo đội voi vận tải tới Namhkam chỉnh đốn bổ sung vật tư, lúc dừng chân nghỉ trong rừng trúc gặp phải một toán quân Trung Quốc cải trang thành lính Nhật. Nhưng ban đầu chúng tôi không hề biết đó là quân Trung Quốc.
Một tên lính Nhật giả bảo chúng tôi: “Đại tá lệnh cho các ngươi lùa voi qua sông, bên đó có một lô vật tư cần vận chuyển”. Vì thế chúng tôi lùa voi đi theo bọn họ. Nhưng giữa đường, K’nyaw chỉ cho tôi khẩu súng một tên lính trong bọn đang cầm không phải “súng trường 99”. Tôi và K’nyaw nhanh nhẹn chạy trốn ở một ngã rẽ, song chúng tôi không hề biết, sự “chạy trốn” đó có ý nghĩa gì.
Bởi rừng rậm Myanmar là nơi tử địa tuyệt vọng, rất nhiều cánh quân sau khi bị địch đánh tan tác đã biến mất trong rừng, không còn đi ra được nữa. Chúng tôi không bị quân Trung Quốc bắt làm tù binh, nhưng lại trở thành tù binh của rừng già.
K’nyaw vỗ ngực nói, không thành vấn đề, cánh rừng này quen cậu. Người Karen bị người Thái, người Myanmar chèn ép đã lâu, thành thử học được kỹ năng bí mật sinh sống lâu dài trong núi, cậu bảo: “Tộc nhân chúng tôi được gọi là u linh cao nguyên, anh mà thấy cha tôi đi lại trong rừng có khi còn tưởng chân ông ấy không cần chạm đất nữa cơ. Một số tộc nhân nhằm khai khẩn đất rừng thành đất ruộng thường bắt một loài chim mỏ tù. Loài chim này sau khi ăn các loại hạt cốc sẽ giữ lại trong một cái túi, dùng dao tre rạch cái túi này ra là có thể tìm thấy hạt giống có thể gieo trồng. Chúng tôi cũng biết loại gỗ cây nào khi nhóm lửa không hề bốc khói, loại dây mây nào có thể dốc được cả bình nước”.
K’nyaw cũng khâm phục những kiến thức của tôi về một ngọn núi khác. Tôi bảo cậu, tộc nhân chúng tôi có câu: na’no mani’e isi pa’mam’za no yosk (trông rêu xanh trong nước có thể biết cá nhiều ít), mamtan ‘e pa’mam’za no yoska’a1 (từ dấu vết trên rêu có thể hay cá to nhỏ). Chúng tôi đều là những người biết quan sát rêu.
Vì sợ quân Trung Quốc phát hiện, chúng tôi không dám đi theo đường voi, ban ngày tiếng pháo cối và tiếng súng máy vang dội khắp khu rừng già, ban đêm pháo dạ quang và sấm chớp làm đêm đen sáng như ban ngày. Kiến trong rừng cứ to như châu chấu, cặp hàm một khi găm vào da thịt sẽ khiến vết cắn như có lửa đốt, kim châm. Lũ chuột gì cũng ăn, quân phục, sơ mi, tất, dây giày, thắt lưng da, và cả tai người, thiết nghĩ dù có là thuốc độc chắc bọn chúng cũng nuốt gọn không chút do dự.
Gián thì đợi người ngủ rồi là bò lên khóe miệng hút nước dãi, trốn trong ủng gặm móng chân với vết thương và vết lở loét. Do cơ thể đã mệt mỏi đến cực hạn, chỉ sợ ngủ say quá bị kiến, chuột bu lại cắn chết, hoặc mơ quá sâu không tỉnh lại được, chúng tôi đều luân phiên bắt chước loài voi ngủ đứng. Dưới ánh trăng Myanmar chiếu rọi, chúng tôi không có bóng, cũng không có giấc mơ.
Tôi và K’nyaw khăng khăng muốn tìm hướng thoát khỏi chiến trường, mọi con sông chúng tôi đi qua đều lềnh bềnh xác chết, mọi con đường có thể tìm ra đều ngùn ngụt lửa cháy, cây bị thiêu rụi thành than gặp mưa xối trở nên xám trắng như xương người, chĩa lên trời. Để qua sông chúng tôi đem áo mưa, vải che mưa, mũ sắt, bình nước, túi lương khô và cành cây chế thành bè, đợi khi hoàng hôn sắc trời ngả tối mới dám di chuyển ra bìa rừng đào củ chuối ăn. Đây là một khu rừng màu mỡ mà đói khát.
Có lần chúng tôi tình cờ bắt được một con khỉ bị thương, nó bị trúng mảnh bom, không leo trèo được. K’nyaw kiếm được trong rừng loại gỗ không tỏa khói nọ, chúng tôi dùng gỗ này nấu con khỉ kia lên ăn. Lúc bị chúng tôi cầm đá đập vỡ đầu, con khỉ nhắm nghiền mắt, siết chặt nắm tay, như thể hạ quyết tâm mặc cho chúng tôi giết nó.
Trước khi giết con khỉ, K’nyaw và tôi mỗi người dùng ngôn ngữ của dân tộc mình cầu nguyện cho nó và linh hồn chết đi, K’nyaw bảo người tộc cậu tin rằng con người và rất nhiều loài động vật đều có hơn ba chục hồn vía, khi tất cả hồn vía lìa xác mới thực sự là chết. Con khỉ chết vì chúng tôi, rồi một ngày chúng tôi cũng sẽ chết vì con khỉ.
Chính vào hôm đó, qua kẽ lá nơi vòm cây, chúng tôi trông thấy vô số máy bay của quân Mỹ bay ngay trên tầng không của cánh rừng, âm thanh đó khiến người ta hoàn toàn vỡ vụn, vậy mà trên trời đến một chiếc máy bay Nhật Bản cũng không có. Chúng tôi đều hiểu rõ, quân đoàn Hoa Cúc đã không thể nào giành thắng lợi ở cuộc chiến này.
Tôi và K’nyaw ở trong rừng như thế có lẽ dăm ba ngày, cũng có thể bảy tám ngày, cảm giác thời gian ở trong tình cảnh đó dần trở nên mơ hồ.
Đúng lúc K’nyaw cho rằng đã sắp đến bìa rừng, từ khoảng rừng trước mặt, bên cánh phải có một loạt đạn thình lình bắn tới, cậu như bị tròng một sợi thừng vào cổ kéo đi, hự một tiếng ngã vật ra sau.
Tôi co giò bỏ chạy theo phản xạ, mãi đến khi kiệt sức bổ nhào ra đất. Sau khi quan sát không thấy động tĩnh gì, tôi ngoảnh đầu lại tìm K’nyaw, cậu vẫn nằm nguyên chỗ cũ, máu nhuốm đỏ cả vạt cỏ. Một viên đạn bắn vỡ đầu gối K’nyaw, một viên xuyên qua dạ dày trống rỗng. Cũng tức là, K’nyaw không thể tiếp tục cùng tôi di chuyển trong rừng được nữa.
“Giết tôi đi, rồi giúp chôn tôi tại đây, nếu tôi rên rỉ quá to rồi chết đi sẽ thu hút lũ quạ tới ăn mất não tôi, làm vậy linh hồn sẽ quanh quẩn giữa ranh giới âm giới và dương giới, không biết đi đường nào”. K’nyaw yêu cầu tôi.
Cơn mưa rào nhiệt đới bất chợt đổ xuống làm tôi vội vàng cầm máu cho vết thương của K’nyaw, tìm một hốc cây bế cậu vào nghỉ, cả đem màn trời ra che mưa. Tôi không có can đảm làm như cậu yêu cầu, cầm dao đâm vào tim cậu, chỉ có thể run run hai cẳng chân co ro dưới màn trời, cuối cùng kiệt sức ngủ thiếp đi.
Lúc tỉnh lại trên người K’nyaw đã chi chít lũ kiến to bằng hạt lạc và lũ đỉa chẳng khác nào dải nước mũi, cùng một con bọ cánh cứng to cỡ bàn tay đàn ông. Ngoài hốc cây tiếng mưa như tiếng sấm, vậy mà tôi vẫn có thể nghe thấy tiếng đám côn trùng đó đang gặm nhấm da thịt K’nyaw.
Tôi khóc rống lên, giúp cậu phủi sạch đám ác linh, một mực tin rằng cậu nhất định vẫn còn vài phần hồn vía lưu lại trên cơ thể. Kiến bò lên người tôi, bọn chúng bắt đầu cắn tôi, gặm tôi, đòi tôi để hồn vía K’nyaw ra đi, khi tất cả các con kiến cùng nói một lúc sẽ giống như có người lấy kim châm vào tai bạn, bọn chúng nói: “Đâm đi đâm đi, để hắn được ngủ yên”. Tôi nghe theo lời bọn chúng cầm lấy con dao găm, đâm xuống ngực trái K’nyaw.
Hồn vía K’nyaw đã đi cả rồi, chúng lần lượt bay ra từ cái lỗ đó hệt những dải sương khói. Tôi cảm giác mình như đứng dưới cái rãnh sâu nhất trên thế giới này, nước mưa đều tập trung cả lại đây.
Cả ngày tôi bắt chước âm thanh K’nyaw gọi đàn voi để tiễn đưa cậu.
Trời về đêm, cảm giác toàn thân sởn hết gai ốc, có một thứ sức mạnh vuốt ve tôi và cái xác K’nyaw, tôi ngẩng đầu lên thấy lá cây khẽ rung rinh, biết đó là bầy voi bị quân Trung Quốc bắt làm tù binh, nghe tin K’nyaw đã qua đời gửi lời từ xa.
Hai ngày sau rốt cuộc tôi cũng gặp được một nhánh nhỏ quân Nhật bị tan tác, sau khi xác nhận thân phận của tôi, bọn họ cho tôi nhập nhóm, giao tôi một cây súng trường tình trạng lởm khởm, rồi coi luôn tôi như bộ đội chiến đấu. Tôi nhìn vào nòng súng, muốn tìm ra ý nghĩa trong đó. Nhưng chẳng có gì hết, nó chỉ là một đường hầm mảnh dài nhỏ hẹp dẫn tới tăm tối.
Từ sau cuộc chiến đó, quân Nhật đã không còn cách nào tìm được chỗ đứng, liên tục rút lui, sau mỗi trận thua tan tác là một vòng lặp đói khát, tháo chạy tán loạn, rồi lại tập hợp, chẳng khác nào địa ngục luân hồi trong lời người Myanmar.
Vào lúc quân Nhật tan tác toàn diện tại rừng Bắc Burma, chúng tôi thậm chí nghe nói vị tham mưu như loài sói nọ đã đến nước tháo quân hàm chôn xuống đất, sợ trong đêm quân hàm phản chiếu ánh trăng rồi trở thành mục tiêu bị đánh úp, và cả lo rơi vào tay địch bị nhận ra thân phận. Khi chiến bại, sĩ quan và binh lính chẳng còn phân biệt gì nữa, chúng tôi đều chỉ là những con thú lo trốn chạy.
Chúng tôi vót tre nhọn, cắm xiên xuống đất, cản trở tốc độ hành quân của quân địch; đội trưởng phái đi đội cảm tử quân đầu cột dải vải “Thất sinh báo quốc”, mang theo lựu đạn đi mở nắp xe bọc thép của quân địch. Cứ liên tục đánh như thế, cuối cùng thể nào cũng đến phiên mình chăng? Trong cơn tuyệt vọng ấy, chúng tôi nhận được mệnh lệnh toàn quân chia thành toán nhỏ vượt dãy núi rồi tái tập kết. Đúng lúc mọi người đang chuẩn bị tâm lý bi tráng, không còn đường ra khỏi rừng, thì một buổi sớm lại được thông báo phòng thủ tại chỗ.
Một tin tức lan truyền trong cánh lính tráng, nghe nói Thiên Hoàng đã ban ra chiếu thư chấm dứt chiến tranh, đầu hàng.
(Băng trắng khoảng mười giây.)
Tuy khi ấy không ai tin chuyện này nhưng cuối cùng đó lại là sự thật. Chiến tranh đến như mùa mưa, rồi khi mọi người đều cho rằng nắng ráo là chuyện không tưởng thì nó đột nhiên cuốn gói. Còn chúng tôi giống lũ mối, không ai nói cho chúng tôi biết rốt cuộc đã xảy ra chuyện gì.
Nhưng quả thực chiến tranh đã kết thúc.
Chúng tôi nhận lệnh giải giáp tại chỗ, đợi quân Đồng minh tới tiếp nhận quân tư trang. Tại thôn làng đóng quân tạm thời, tôi lại tình cờ bắt gặp mấy chiếc xe của đơn vị Bánh xe bạc, dựng trước một nhà dân hình như là sở chỉ huy tạm thời. Thực ra, giai đoạn cuối cuộc chiến, xe đạp hầu như không có tác dụng ở chiến trường Myanmar. Do không thể bổ sung săm lốp nên rất nhiều người đều đi xe không lốp, những chiếc xe này về sau do vành xe biến dạng nghiêm trọng không thể đi được nữa, cứ thế bị vứt lại chiến trường.
Thời gian này chúng tôi đem súng ống và mã tấu cột thành từng bó, tập trung cả lại trong một kho thóc lớn, nghe nói quân Anh sẽ đem đống vũ khí này tới vứt ở Ấn Độ Dương. Một hôm nhân trời tối, tôi lén đi lấy một chiếc xe, vặn lỏng ghi-đông, để nó có thể nằm bằng phẳng, sau đó khiêng ra ngoài thôn đào một cái hố lớn, chôn nó xuống như mai táng một chiến hữu cũ. Tôi không muốn nó bị ném xuống Ấn Độ Dương, mong ngóng một ngày chiến tranh kết thúc, có thể trở lại nơi này đào nó lên.
Về sau quân Đồng minh thành lập trạm thu nhận chính thức, để chúng tôi tự sắp xếp dưới sự quản lý của các sĩ quan cấp cao vốn có, đồng thời lập nhóm trợ giúp quân Đồng minh xử lý mấy việc lao động hậu chiến như sửa đường và vận chuyển quân tư. Sau khi bị tháo quân hàm, cánh sĩ quan không còn được lớn tiếng với chúng tôi nữa. Tầm tháng Bảy năm Chiêu Hòa thứ hai mươi mốt, công tác lao động ngoài địa phương tạm kết thúc, chúng tôi quay về trạm thu nhận, đợi được thả.
Quãng thời gian này chúng tôi đã chẳng còn việc gì để làm, người quản lý được chọn ra đề xuất tổ chức các đội bóng chày theo từng khu vực. Chúng tôi dùng loại gỗ cứng như đá trong rừng rậm Myanmar làm gậy đánh bóng, lấy bao gạo rách và vải vụn quần áo bọc thành hình cầu, sau đó dùng kim tre khâu những đường thô vụng làm bóng. Giải bóng giữa đám tàn quân đợi trao trả này tiến hành đến tận ngày trước hôm chúng tôi đáp tàu mới chấm dứt. Tôi cũng thuộc hàng ngũ một đội gọi là Quân vận tải, đảm đương vai trò phòng ngự ngoài sân bên phải, trong tám trận thi đấu, tôi đánh trúng được chín gậy.
Thời gian đó, một số binh lính cũng tận dụng các vật liệu xung quanh để chế thành nhạc cụ, lập ban nhạc. Sau bữa tối bọn họ quây quần trước lửa trại, hát Bài ca lộ doanh, Hành khúc ái mã, hoặc những bài hát thịnh hành như Đêm Trung Quốc, Cô em bán hoa Thượng Hải. Mỗi khi bọn họ hát, người trong doanh trại lại như lũ côn trùng bay đêm bị âm thanh ấy thu hút gọi tới. Có lần nguyên sĩ quan hát trên sân khấu hỏi mọi người: “Lúc khóc thương, lúc cười vui, đều nên uống rượu phỏng?”. Tất cả cùng giơ tay cầm chén rượu tưởng tượng hô vang: “Nên! Cạn chén!”.
Không rõ là ai đầu trò khen tôi hát hay, lại là người dân tộc Cao Sa ở Đài Loan, bảo tôi hát một bài ca quê hương. Tôi nghĩ bài ca Đón thần và bài ca Tiễn thần đều không thể hát rồi, chỉ còn lại bài hát của thánh thần dùng trong các dịp tế lễ, nên chọn hát một bài gọi là Zotaio (Săn đêm).
Chim đêm cất tiếng, hoàng hôn buông
Tôi lên núi săn đêm
Ngang qua lán thợ nghe ai nói cười
Người trong ấy tình tứ quá
Nhớ đến vợ bị mình lạnh nhạt vội quay đầu
Không muốn đi săn đêm nữa.
Tôi dùng cổ họng của người Cao Sa, ngôn ngữ của người Cao Sa hát bài hát này. Cuối cùng tất cả anh em binh lính cùng hát vang bài Điệu Blues cao nguyên Shan hầu như ai đóng quân ở rừng Bắc Burma đều biết hát. Khi hát đến “Đi qua thị trấn ánh trăng mờ, gặp cô em gái cười khoe đồng tiền. Em mặc váy đỏ, tay cầm bó hoa, hỏi rằng em muốn trao ai?”, ai nấy đều không kìm được lặp đi lặp lại câu: “Hỏi rằng em muốn trao ai? Tay cầm bó hoa, hỏi rằng em muốn trao ai?”.
Mấy tháng sau, tôi lên tàu vận tải, cánh lính Nhật cùng cảnh tù binh và những người vẫn còn đang đợi trao trả đều tiễn tôi ra tận cửa, nói れからも生きていくよ” (Mong cậu sống trường thọ!) làm câu từ biệt.
Thời chiến, sống trường thọ là một lời chúc phúc, và e cũng là một lời rủa. Lúc này rốt cuộc chúng tôi đã có thể điềm nhiên nói ra câu này.
Tôi trở về quê hương đúng mùa người trong tộc phải bắt đầu chiêm mộng chọn ra đất trồng kê, đó cũng là mùa Pcuu (cây huyền hoa Đài Loan) nở hoa. Cha mẹ tôi đều đã qua đời vì bệnh tật. Bọn họ chết đi, còn tôi từ chiến trường sống sót trở về, đây là quy luật của núi rừng.
Cứ thế, tôi một mình tới thành phố làm công duy trì sinh kế. Năm Chiêu Hòa thứ hai mươi hai, Đài Bắc xảy ra bạo động nghiêm trọng, sự việc nhanh chóng lan ra toàn đảo. Vì nghe nói quân nhân Trung Quốc sẽ cố ý gây khó dễ cho những người từng đi lính Nhật và từng là gia quyến quân Nhật nên tôi đem đốt tất đống ảnh mang về từ chiến trường lẫn một số món đồ mang tính chất kỷ niệm. Tôi không muốn lại cầm súng lên vì bất kỳ ai, cũng không muốn bị ai chĩa súng vào.
Tuy tai trái đã gần như điếc do bom đạn chiến trường, đến nay tôi vẫn thường nghe thấy tiếng bầy voi vào buổi đêm, âm thanh đó xuyên qua rừng rậm, đại dương, tới tận bộ lạc nơi tôi đang mất ngủ, chui hẳn vào trong cơ thể tôi. Dù có bao lâu trôi qua, những năm tháng ấy đối với tôi giống như con chim bay ngang trước mắt, tôi có thể thấy rõ màu sắc từng cọng lông trên mình nó, thậm chí có thể vơ tay túm lấy cỏ cây bùn đất trong khu rừng ẩm thấp, nhớ rõ hình dáng vô số máy bay Mỹ cùng lúc bay ngang bầu không của cánh rừng, ánh sao nhấp nháy trong đêm khi ấy, cùng màu của vầng trăng bạc.
Trong thâm tâm tôi vẫn chưa từng rời khỏi mùa mưa Myanmar ấy. Có lẽ vì thế, cuộc đời sau này, với tôi càng giống một điềm mộng không thực về một giấc mơ mà thôi.
Còn phần thực sự thuộc về cái tôi bản chất, đã như dòng sông bỗng dưng xuất hiện trên núi sau trận mưa lớn, một lần nữa bị bùn đất hút cạn, biến mất trong khu rừng Bắc Burma đó.
Tôi ngồi một mạch đến trưa, sửa sang chắp nối bản dỡ băng ghi âm rời rạc. Sân giữa bệnh viện đang cắt cỏ, vài con cò trắng bay tới, bắt lũ côn trùng nhảy rào rào trong bụi cỏ.
Tôi ra nhà vệ sinh rửa mặt, thoa một lớp dày kem cạo râu rồi thận trọng đưa dao cạo. Từ môi trên, cạo xuống môi dưới, rồi đến cằm. Nhìn mình trong gương, bọng mắt đã hơi phù trũng, đường chân tóc đã lùi gần hai phân so với hồi ba mươi tuổi, thái dương bắt đầu xuất hiện sợi bạc, hai má cũng chảy xệ không cách nào chống đỡ. Tôi rửa sạch kem cạo râu, dùng khăn bông lau mặt một lượt. Lúc ngẩng đầu lên, ngỡ như thuở nhỏ ngước lên nhìn cha. “Tuổi lên tám, bốn mươi lăm tuổi là một mốc xa vời như sao Hỏa, còn giờ mình đã cận kề vậy rồi”. Trong đầu vẳng ra tiếng nói.
Mẹ tỉnh lại đúng lúc này, trông thấy tôi bà ngẩn người bảo: “Anh đến khi nào? Tiệm đã đóng kỹ chưa?”.
Tiệm đã đóng từ hai mươi năm trước rồi, khu kinh doanh cũng đã bị dỡ bỏ từ lâu, tôi đáp qua quýt: “Đóng rồi, đóng rồi”.
“Đã dắt xe Khổng Minh vào trong chưa? Nhập nhoạng rồi để người ta dắt mất đấy”.
“Con cất rồi mà mẹ”.
“Ài, anh cứ cái tính ấy, lơ mơ tùy tiện (tuā-tsú-tuā-ì)”.
Tôi nhớ lại có lần cha hỏi tôi thi thử thế nào.
Tôi đáp: “Thi thử gì nữa hả cha, con lên đại học rồi”.
“Không còn thi thử nữa hả?”, vẻ mặt cha không giống đang nghi ngờ lời tôi, mà như thể đột nhiên không biết phải nói chuyện gì với tôi nữa. Suốt bao năm, chủ đề giữa tôi và ông chỉ còn lại chuyện đó.
Lúc sau, có y tá tới kiểm tra, đo huyết áp và thân nhiệt cho mẹ, đồng thời bảo tôi trình tự kiểm tra tiếp theo. Tôi đút cho mẹ phần cơm bệnh viện được y tá để lại, từng thìa từng thìa. Thực lòng khâm phục chị cả, người đã thay mặt tất cả anh chị em chăm sóc mẹ. Con người một khi mất khả năng sinh hoạt, dường như đều biến thành một cục chì lưới, muốn kéo không chỉ cần tình cảm, mà đôi lúc còn cần cả gì đó mạnh mẽ, nghiến răng mới chống chọi tiếp được.
“Anh ăn gì (siánn)?”
“Con ăn no rồi”.
“Trong tủ lạnh có canh đậu xanh”.
Bón cơm cho mẹ xong, đợi bà ngủ rồi tôi mới đi xuống cửa hàng tiện lợi dưới tầng mua cơm nắm lèn bụng. Tranh thủ dùng mạng ở cửa hàng gửi văn bản Rừng Bắc Burma đã chỉnh lý cho Abbas, cùng lúc cũng nhận được thư trả lời của Sabina. Thư viết rất đơn giản, hỏi tôi bữa tối nay có rảnh không, vì cô vừa hay có việc đang ở Đài Bắc.
Sáu giờ chiều, chị tư tan làm, sấp ngửa chạy tới bệnh viện thay ca cho tôi để tôi đến cuộc hẹn với Sabina. Địa điểm cô chọn là “Dance Café” do Học viện nghiên cứu vũ đạo Thái Thụy Nguyệt[5] đứng sau trên đường Bắc Trung Sơn.
Tôi bước vào không gian quán không lấy gì làm lớn, nhìn quanh tìm người có khả năng là Sabina và nhanh chóng khóa mục tiêu ở người phụ nữ dẫn theo một đứa trẻ ngồi bàn trong góc - bàn còn lại là nhóm bốn nam bốn nữ, không thể nào là người hẹn tôi.
Người phụ nữ đương nhiên chính là Sabina. Sắc mặt cô giống như sống dưới tầng hầm trong thời gian dài, tóc cột đuôi ngựa, tai trái đeo khuyên tai to bản, toát lên một vẻ tao nhã lãnh đạm, tuổi tác độ ngoài ba mươi, hoặc lớn hơn tí chút, chỉ là trông có vẻ trẻ hơn tuổi. Chúng tôi chào hỏi mấy câu rồi cùng ngồi xuống. Đứa bé trai có cặp mắt to, khoảng sáu, bảy tuổi, tôi cất tiếng chào, nhưng có vẻ nó không mấy quan tâm đến tôi mà chỉ chăm chú nhìn vào chiếc máy tính bảng trên tay. Tôi hỏi tên thằng bé, nó cũng không đáp.
Sabina có phần ái ngại đáp thay: “Cháu là Thành Thành, con trai tôi. Bộ phim này thằng bé đã xem bao lần rồi ấy, trẻ con ở một độ tuổi không sợ trùng lặp, chúng có thể đọc cùng một thứ, xem cùng một tập phim hoạt hình năm lần, mười lần, năm mươi lần, đến khi bản thân có thể nói vanh vách theo lời nhân vật chính trong đó mới thôi. Chúng ta nói chuyện chúng ta, thằng bé không làm ồn đâu. Con chào chú đi”.
Thằng bé vờ như không nghe thấy, hoàn toàn đắm chìm vào thế giới máy tính bảng của nó. Tôi xua tay bảo không sao.
“Anh biết căn nhà này từng xảy ra hỏa hoạn chưa?”
“Có, tôi có biết”.
“Giờ thay đổi cả rồi, thay đổi nhiều quá. Trước tôi từng dạy học ở đây, lớp nhảy, nên mới hẹn anh tại chỗ này. Biết bao thứ đều bị cháy hết cả. Giờ tôi là diễn viên sân khấu kịch, có lúc nhận một số dự án viết kịch bản, rồi thì, hy vọng một ngày có thể viết tiểu thuyết”.
“Thế chúng ta là người cùng ngành rồi. À phải, Psyche là tác phẩm thứ mấy của cô vậy?”
“Thứ hai. Rất xin lỗi vì đã dùng cách này để thăm dò anh, tôi muốn tìm hiểu xem anh là người thế nào. Vì Annie biết tôi không thể nào tùy tiện bán xe đạp cho người khác, cô ấy cũng biết xe đạp có chủ nhân riêng của nó”.
“Ừm, không sao đâu, tôi có thể hiểu được. Cô có bằng lòng gửi phần sau của tiểu thuyết cho tôi không?”
Sabina không trả lời thẳng: “Anh đọc xong thấy thế nào? Có thể cho tôi chút ý kiến không?”.
“Ừm, tôi không biết nên nói thế nào lắm, tôi không phải nhà phê bình văn học”.
“Nhưng anh nói anh là tiểu thuyết gia?”
“Nghiệp dư thôi, hơn nữa viết cũng rất chán”. Tôi liên tục phải suy nghĩ chọn lọc từ ngữ an toàn, tránh vô ý gây khó xử. Tôi biết khi bất kỳ người viết văn nào hỏi ý kiến của bạn về tác phẩm của họ, cái họ muốn nghe là lời tán dương chứ không phải phê bình, câu hỏi đó trăm phần trăm là giả. Nhưng tôi rất muốn biết mối quan hệ giữa mọi thứ trong tiểu thuyết đó và hiện thực, chiếc xe đạp trong tiểu thuyết được một cô gái tên A Vân đạp từ miền Trung tới miền Bắc, giả như cô gái đó là mẹ của Sabina thì đó không thể là xe đạp của cha tôi. Song Sabina hẹn tôi ra đây, lại có vẻ là muốn trả lời câu hỏi liên quan đến chiếc xe đạp của cha tôi.
Vậy, mối liên quan giữa hai chiếc xe đạp này là gì?
Có điều tôi biết, một số người viết tiểu thuyết rất kỵ người khác hỏi tiểu thuyết có phải “thật” hay không, tôi không biết Sabina có để tâm chuyện này không, vì vậy, tôi quyết định đi đường vòng.
“Thế nên, ngay từ lúc viết tiểu thuyết này, cô đã rất am tường ngành thủ công bươm bướm của Đài Loan? Như là mấy công đoạn chế tác tranh bướm? Những thông tin tôi gửi chắc không là gì với cô nhỉ?”
“Không, rất hữu dụng là đằng khác”. Sabina cũng khách sáo đáp trả: “Tôi quả thật có hiểu biết đôi chút về ngành thủ công bươm bướm, vì mẹ tôi chính là nguyên mẫu nhân vật A Vân trong tiểu thuyết, nửa đầu câu chuyện đều do bà kể cho tôi, tôi sửa sang lại một ít… cũng tưởng tượng thêm một ít”.
Mẹ tôi sau khi một mình đạp xe tới Đài Bắc liền tìm đến một khu kinh doanh thường lấy buôn số lượng lớn từ nhà máy. Khu kinh doanh này vì rất gần ga Đài Bắc nên có rất nhiều khách du lịch tới tham quan mua sắm, cũng từ đó nảy sinh ra một cửa tiệm đặc biệt gọi là “hiệu đặc sản”.
Trong hiệu đặc sản ngoài bán đèn lồng kiểu Trung Quốc, thư họa, bảo kiếm, điêu khắc ngà voi, còn bán cả tiêu bản bướm và tranh bướm.
Bấy giờ ngành tranh bướm rất khởi sắc, các tác phẩm tinh xảo thường có thể bán tới ba, bốn nghìn đồng. Tranh bướm của mẹ có thể bán giá cao hơn hẳn tranh bướm của các nữ công nhân khác.
Sau khi bán mấy bức tranh bướm mang theo, bà tới Bắc Đầu tìm một nhà buôn chuyên xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ bươm bướm có máu mặt nhất ở miền Bắc thời bấy giờ. Nhà buôn nọ họ Vương, ông ta bao thầu không ít bươm bướm miền Trung, Nam, sau đó tập trung tại đó gia công thành phẩm. Bà cho ông chủ xem tranh bướm mình làm, trót lọt tìm được chỗ dừng chân mới, đợi sinh ra tôi.
Để nuôi nấng tôi, bà thường làm tranh bướm cả buổi tối, rồi trời sáng lại lấy khăn địu địu tôi trên lưng, đạp chiếc xe của ông ngoại tới khu kinh doanh, bán thẳng tranh bướm cho chủ hiệu. Đây đương nhiên là hành vi không được phép trong mắt ông chủ xưởng gia công, nhưng vì biết nỗi vất vả một mình nuôi con nhỏ của mẹ nên ông cũng mắt nhắm mắt mở cho qua. Mấy hiệu đặc sản ở khu kinh doanh đặc biệt thích tranh bướm của mẹ, vì nó không hề giống với sản phẩm đại trà.
Kể từ khi tôi có ký ức, sau bữa tối mẹ đều nằm bò ra chiếc bàn trong căn phòng chúng tôi thuê để chế tác tranh bướm, trong phòng vì thế lúc nào cũng ngập trong mùi xác bướm. Từ nhỏ tôi đã quen với thứ mùi ấy.
Hồi đó mẹ có một cuốn sách bên trong toàn là ảnh chụp các bức danh họa thế giới, bà sẽ phỏng theo các tác phẩm này vẽ phác thảo, rồi cắt chỗ cánh bướm nhập sỉ về thành hình dáng thích hợp để dán lên. Không phải tôi nói quá đâu, những bức tranh đó nhìn xa xa một chút thì không thể biết lại được làm ra từ bàn tay một cô gái nông thôn, cũng gần như không thể nhận ra được ghép từ cánh bươm bướm, cứ như tranh đồ của Monet thật ấy.
Đến khi tôi lớn hơn một chút, mẹ mua một chiếc ghế mây, gài lên gióng xe đạp, đèo tôi cùng tới khu kinh doanh. Các chú các bác các cô ở khu kinh doanh rất thương tôi, hay cho tôi kẹo ăn. Xe của ông ngoại tôi là loại rất nặng rất to, lần nào bắt đầu đạp mẹ cũng rất nhọc sức, lúc đợi đèn đỏ, vì mẹ không đủ cao nên xe thường nghiêng một bên, bắt buộc phải tìm một chỗ nhô cao có thể đặt chân. Lúc này tôi ngồi đằng trước cũng nghiêng một bên. Nhà cửa nhìn ra đều nghiêng nghiêng.
Khi tôi đến tuổi đi học, mẹ thường đạp chiếc xe đạp đó đi đưa cơm cho tôi, đến tận năm tôi lớp ba, bà mất vì ung thư phổi mới thôi. Sức khỏe mẹ sa sút với tốc độ chóng mặt, như thể quả bóng bay hôm qua còn thấy bay lơ lửng, ngày hôm sau đã xẹp lép dưới đất. Về sau tôi hay nghĩ, liệu có phải do mẹ nửa đêm vẫn còn làm tranh bướm hay không.
Lúc mẹ qua đời tôi mới lên mười nên được bà ngoại đón về Nam Đầu, tôi lớn lên ở đó. Chiếc xe đạp kia được dựng dưới mái hiên căn hộ chúng tôi thuê, không còn ai hỏi han. Khi tới Đài Bắc học đại học, tôi vẫn luôn muốn tìm lại chiếc xe đạp ấy, nhưng nó nhất định đã bị lấy mất hoặc bị dọn đi từ rất lâu rồi. Tôi muốn tới khu kinh doanh tìm các bác các cô mở hiệu đặc sản, nhưng khu kinh doanh cũng đã bị dỡ bỏ. Chuyện lúc nào cũng vậy, khi đồ vật vẫn còn bên mình, người ta sẽ không thấy nó có ý nghĩa gì lớn. Nhưng hễ nó mất đi, người ta lại thấy như cơ thể mình thiếu mất gì đó, trở nên hụt hẫng trống trải.
Tiếp đó cuộc đời tôi cũng như bao người, trải qua vài mối tình, nhảy vài công việc, rồi gặp một người bản thân ngỡ cả đời này sẽ không xa rời, nhưng anh ấy vẫn rời xa tôi. Về sau tôi tìm được một người đàn ông diện mạo trung bình, tính tình điềm đạm, để mình mang thai, sau đó rời xa anh ta. Tôi muốn có ít nhất một đứa trẻ trong cuộc đời mình, nhưng không còn cần một người đàn ông bên cạnh nữa.
Sau khi Thành Thành lớn một chút, nơi tôi hay dẫn nó tới nhất là vườn thú, vì đi mệt rồi thì có nhà hàng, có cả xe tham quan, hơn nữa Thành Thành thích động vật, thằng bé có thể ngắm chúng rất lâu. Mỗi lần dẫn nó đi vườn thú, tôi đều kiếm một quyển sách tranh liên quan đến loài vật nào đó, rồi ở trước chuồng đọc cho thằng bé nghe. Ấn tượng của tôi vô cùng sâu sắc, hôm gặp ông Mục, tôi đứng trước chuồng voi châu Á, đọc Những chú voi đáng thương (かわいそうなぞう)của Tsuchiya Yukio cho Thành Thành.
Thằng bé nghe xong có vẻ ủ dột, trước giờ tôi vẫn không dám chắc, chúng ta có nên kể những câu chuyện nặng nề cho bọn trẻ khi chúng còn nhỏ. Có lúc tôi thấy không nên, có lúc lại thấy điều đó rất tự nhiên. Trong ấn tượng của tôi, truyện cổ tích Andersen đọc hồi nhỏ hầu như không câu chuyện nào không nặng nề. Chính trong sự nặng nề đó chúng ta cảm nhận được ví dụ như, đạo lý chú lính chì một chân mãi mãi không thể theo đuổi cô nàng vũ công ba-lê, chấp nhận điều đó thì sẽ dễ khoan dung với cuộc đời của mình hơn.
Lúc từ vườn thú ra về, tôi mua kẹo bông cho Thành Thành ở cổng, ngay dưới gốc cây sau lưng người bán hàng rong nọ, tôi trông thấy một chiếc xe đạp. Chiếc xe ấy rất giống, hết sức giống chiếc xe từng thuộc về mẹ trong ấn tượng của tôi. Tôi quan sát ký hiệu trên xe, là xe đạp Hạnh Phúc. Nhưng xe của mẹ tôi, hay nói cách khác xe của ông ngoại tôi có phải xe Hạnh Phúc không thì tôi không nhớ nữa, hồi đó tôi còn quá nhỏ, không để ý cái đó.
Nhưng hồi đó trên đường phố Đài Bắc đã hầu như không còn thấy loại xe cổ này nữa, vì vậy tôi lấy làm tò mò về chủ nhân chiếc xe. Tôi dẫn Thành Thành tới ngồi xuống băng ghế bên cạnh xe đạp ăn kẹo bông, vừa để đợi xem ai là người tới dắt xe đi. Tôi muốn xem xem chủ nhân chiếc xe trông như thế nào, có thể chỉ nhìn vậy rồi lặng lẽ rời đi.
Thành Thành ăn hết cây kẹo bông cũng là lúc có người tới dắt chiếc xe. Đó là một ông già đầu nhẵn thín bóng láng như hòn cuội dưới suối, mặc áo khoác màu kaki, quần dài màu kaki, vóc người rất cao lớn. Không hiểu sao, tôi chẳng ngại ngùng gì cứ thế bắt chuyện với người ta, khác hẳn cá tính thường ngày.
“Xin hỏi chiếc xe này là của bác ạ?”
Ông ấy đáp phải. Tôi nói: “Chiếc xe này rất giống xe của mẹ cháu”.
“Thật sao?”. Ông già hỏi lại, giọng rất trầm, mang khẩu âm đặc biệt.
“Loại xe cổ này giờ hiếm người đi lắm”.
“Vâng, đặc biệt thật, tiếc là xe của mẹ cháu không còn nữa. Sau khi mẹ cháu qua đời, xe dựng ở Đài Bắc, còn cháu thì chuyển về quê ở, sau này quay lại Đài Bắc đã không tìm được nữa”.
“Không tìm được à, ôi chao tiếc thật”. Tuy là tiếc thay chiếc xe đạp của một người lạ, nhưng giọng ông nghe vô cùng chân thành, không hề có vẻ lấy lệ.
Cứ thế, tôi hết sức tự nhiên kể cho ông những ký ức của mình về chiếc xe đạp. Ông mời tôi tới quán ăn gần đó tiếp tục trò chuyện. Thiết nghĩ, đời người chắc chắn sẽ có lúc gặp một người như vậy, anh cứ tự nhiên tông tốc kể mọi chuyện cho người đó, như thể nhận được hóa đơn thuế đành vét sạch tiền trong nhà ra đóng thuế vậy. Trong tiệm cà phê phục vụ món tiramisu khó nuốt đó, tôi lần lượt kể chuyện mẹ tôi theo ông ngoại đi bắt bướm, làm tranh bướm, tới Đài Bắc, sinh ra tôi, chết đi, rồi xe đạp rốt cuộc vì tôi chuyển nhà mà bị mất, cùng vài chuyện vụn vặt xảy ra ở giữa cho ông ấy nghe.
Ông nghe vô cùng nhập tâm và chăm chú, như thể cuộc đời một người bình thường là tôi hết sức quan trọng vậy.
Ông cụ họ Mục, đến từ Vân Nam Trung Quốc, tên thì tôi không rõ, ông chưa bao giờ nói cho tôi, tôi cũng không cố hỏi. Sau năm 1949, ông theo quân Quốc dân Đảng tới Đài Loan, sau khi tới Đài Loan cũng từng làm giáo viên tiểu học.
Trò chuyện đến cuối, ông Mục đột nhiên nghiêm túc nói: “Có chuyện này tôi mong cô nhận lời. Đó là nếu cô đồng ý, mà không, nên nói là, tôi hy vọng có thể tặng chiếc xe cho cô”.
Tôi hết sức kinh ngạc, lẽ nào chiếc xe đó không có ý nghĩa gì với ông cụ, có thể tùy ý đem tặng người khác như thế sao?
Ông cụ lắc đầu nói, không phải vậy, mà trái lại. Chiếc xe đạp có ý nghĩa vô cùng to lớn với ông. Nhưng đây không phải xe của ông, có lần bên bờ biển, ông tình cờ gặp một người đàn ông, chiếc xe là do người đó để lại. Ông không tài nào tìm được người đó, cũng không biết tên ông ta, nên không thể trả lại chiếc xe.
Ông nói: “Tôi đã sở hữu chiếc xe này mười mấy năm, chiếc xe mang đến cho tôi những hồi ức vô cùng đặc biệt, không thể thay thế. Nhưng tôi đã lớn tuổi rồi, đạp xe không còn tiện như trước, mắt cũng mờ. Nếu một ngày tôi chết đi, chiếc xe này sẽ bị coi như sắt vụn đem đi xử lý chưa biết chừng. Tôi không kỵ nói về cái chết, hồi trẻ tôi đã cận kề cái chết không biết bao nhiêu lần. Dù sao cũng là xe của người khác, tôi vốn dĩ không có quyền tặng lại, nhưng hôm nay nghe câu chuyện liên quan đến xe đạp của cô và mẹ cô, tôi cho rằng cô rất thích hợp để có nó, vì cô có vẻ là người sẽ giữ gìn đồ vật cẩn thận. Nói thế này đi, lão già ở tuổi như tôi, không con không cái, không có thứ gì giá trị nhất định phải để lại cho ai. Một khi tôi chết đi, chiếc xe thể nào cũng bị xử lý như sắt vụn, hoặc bỏ mặc ven đường, không còn ai biết là xe của ai nữa. Mấy năm nay tôi cứ nghĩ, chưa biết chừng một ngày, có lẽ tôi sẽ gặp lại chủ nhân của chiếc xe, hoặc người có liên quan đến chiếc xe này sẽ muốn lấy lại nó, song mãi mà không gặp ai. Cô xem, trên xe có số hiệu. Kể ra, chuyện này giống một sự phó thác hơn. Nếu có ngày người đó xuất hiện, nhờ cô trả lại chiếc xe hộ tôi”.
Thông thường mà nói, tôi không đời nào nhận lời phó thác của một người lạ như vậy. Nhưng ánh mắt ông Mục khiến tôi do dự, tôi không từ chối ông ấy ngay lập tức.
Hôm đó sau khi chia tay, tuy chúng tôi đã trao đổi số điện thoại, tôi ngỡ mình sẽ nhanh chóng không còn bận tâm đến chuyện này. Nhưng những ngày tiếp theo, chỉ cần ở một mình tĩnh lặng, chiếc xe đạp đó lại hiện ra trước mắt tôi. Không, là tầm mắt nghiêng nghiêng, phố xá nghiêng nghiêng, tàu hỏa nghiêng nghiêng, tòa nhà nghiêng nghiêng khi mẹ đạp xe đèo tôi, dừng chờ đèn đỏ… những trải nghiệm giác quan ấy cứ mặc sức chiếm cứ đầu óc tôi. Tôi cũng vì thế táo tợn nghĩ, có lẽ mình cũng có thể dùng chiếc xe đạp ấy chở Thành Thành.
Vì thế tôi gọi điện cho ông Mục.
“Coi như cháu tạm thời bảo quản chiếc xe vậy”. Tôi nói: “Nhưng, ông nhất định phải nhận một món quà của cháu, coi như trao đổi”.
“Được, tạm thời bảo quản, trao đổi quà”. Ông Mục cười sảng khoái ở đầu kia điện thoại.
“Hôm đó con có một quả bóng bay con voi”. Thành Thành đang xem phim hoạt hình đột nhiên chen ngang, có lẽ thằng bé vốn không hề bật tiếng tai nghe mà nãy giờ đều chăm chú nghe chúng tôi nói chuyện chưa biết chừng, trông ánh mắt đã thấy đây là một thằng bé ma lanh tinh quái.
Lúc này trong tiệm cà phê đang phát bài Who Let in the Rain của Cyndi Lauper, một bài hát đã lâu lắm rồi.
“Phải rồi. Thành Thành thông minh quá, hôm đó đúng là mẹ đã mua một quả bóng bay con voi cho con”. Sabina xoa đầu thằng bé.
“Món quà cô tặng ông Mục để đổi lấy chiếc xe đạp là gì thế?” “Một bức tranh bướm, bức tranh lúc sinh tiền mẹ tôi thích nhất… và có lẽ là bức tranh bà cho rằng mình làm đẹp nhất”.
When love gets strong
People get weak
Sometimes they lose control
And wind up in too deep
They fall like rain
Who let in the rain…
Do giai điệu đã quá quen thuộc, tôi gần như có thể ư ử hát theo.
Chính giây phút ấy, tôi đã khẳng định người để lại xe cho ông Mục chính là cha tôi. Bấy giờ ông Mục còn chưa già đến thế, cha tôi cũng vậy. Nhưng vì sao cha muốn để xe đạp lại cho ông ấy?
Sabina nói ông Mục có miêu tả lại tình hình lúc đó cho cô, song cũng không nói được lý do chính xác. Tôi hỏi cô: “Làm thế nào để liên lạc được với ngài Mục đó bây giờ?”.
“Không liên lạc được nữa”. Sabina đáp: “Ông ấy qua đời năm ngoái rồi”.
Qua đời rồi ư? Tôi thấy hụt hẫng như thể bước vào một khoang thang máy cứ trôi xuống mãi.
“Tôi không biết chi tiết”. Sabina nhìn ra nỗi thất vọng của tôi, lên tiếng: “Nhưng, có lẽ có người này biết”.
“Ai cơ?”
“Shizuko”.
“Đó là ai?”
“Một bà lão. Còn bà ấy là gì của ông Mục thì tôi cũng không rõ lắm. Trực giác mách bảo giữa họ là quan hệ tình nhân, nhưng tôi chưa bao giờ hỏi. Lúc tôi đến nhà ông cụ lấy xe, Shizuko cũng ở đó”.
“Có thể gặp được Shizuko không?”
“Có lẽ tôi có thể giúp anh thử liên lạc xem sao”.
“Cảm ơn cô, thực sự cảm ơn cô”.
Sabina ăn bánh waffle mật ong, đến giờ tôi mới dám nhìn thẳng vào cô một chút. Ở độ tuổi này mà khuôn mặt cô vẫn giữ được vẻ kiều diễm, đường nét ấy dường như đặc biệt hợp đeo khuyên tai. Chú ý mới nhận ra chiếc khuyên tai ấy là một miếng thủy tinh trong suốt hình giọt nước, bên trong khảm một con bướm nho nhỏ màu xanh tím. Cô ngẩng đầu nói: “Tôi đang nghĩ, vì sao có người căm thù mấy căn nhà cũ đến thế, để xây nhà mới kiếm tiền mà đang tâm phóng hỏa thiêu rụi chúng”. Ý cô nói đến tiệm cà phê này, nghe nói rất có thể do cản trở nhà thầu xây lại cao ốc nên nó mới bị hứng một mồi lửa vô danh.
“Căm thù mấy căn nhà cũ à?”. Tôi suy ngẫm một lúc. “Tôi thì lại nghĩ thứ bọn họ căm thù là thời gian”.
“Căm thù thời gian?”
“Tôi cảm thấy hầu hết mọi người đều chỉ là những kẻ theo chủ nghĩa xót thương thời gian, bọn họ không biết cách tôn trọng thời gian”.
“Tôn trọng thời gian à? Cách nói này rất thú vị”.
“Một người bạn chuyên sưu tầm ngựa sắt cũ của tôi khi kể về một bậc thầy chơi xe đạp cổ người Anh đã dùng cách nói này. Anh ấy bảo, niềm yêu thích đối với đồ vật xưa cũ là sự tôn trọng đối với thời gian”.
“Ừm, sự tôn trọng đối với thời gian”. Khuyên tai của Sabina khẽ đung đưa như chiếc dây đu: “Tôi nghĩ, bất luận đó có phải xe của cha anh hay không, nếu chiếc xe có thể đến được tay anh, đó dường như là một chuyện tốt”.
Ý Sabina có lẽ là, cô đồng ý nhượng lại chiếc xe đạp đó cho tôi dưới một hình thức nào đó, tôi nói: “Tôi rất chắc đó là xe của cha tôi”.
“Chỉ cần bác Shizuko cũng đồng ý, là xe có thể trở về với anh”. Cô không phản đối phán đoán lỗ mãng của tôi.
“Ừm, tôi hiểu rồi”.
Lúc chia tay Sabina và Thành Thành ở ga tàu điện ngầm, tôi đột nhiên nhớ tới một chuyện: “Có lẽ trước đây chúng ta từng gặp nhau”.
“Từng gặp ư?”
“Phải, nhà tôi nằm ngay khu kinh doanh. Tòa nhà chúng tôi ở bên phía đường Trung Hoa cũng có một hiệu đặc sản. Tôi từng thấy tượng điêu khắc ngà voi, đèn lồng Trung Quốc và tượng thạch cao Venus lõa thể, đương nhiên, có lẽ cũng từng nhìn thấy tranh bướm của mẹ cô”.
Đêm hôm đó, tôi ôm trong lòng tâm sự về bệnh tình của mẹ và không biết bao giờ mới gặp được Shizuko, thất thểu đi bộ về bệnh viện.
Bàn tay dắt Thành Thành, ánh mắt kể lại những tao ngộ trong cuộc đời mình của Sabina cứ hiển hiện trước mắt tôi không tài nào xua đi nổi. Lúc kể chuyện cô rất hiếm nhìn thẳng vào tôi, mà hướng ánh mắt về một điểm cố định nào đó sau lưng tôi, cứ như bản thân đang ở nơi nào đó khác, một nơi không có hình dạng khó lòng nhận biết, thuật chuyện cho một ai đó khác. Đặc biệt ở chỗ, tôi lại không hề thấy phật lòng vì sự coi nhẹ ấy. Nghĩ ngợi rất lâu tôi mới nắm được một cảm xúc mơ hồ, ánh mắt cô sao mà giống hệt Teresa.
Tôi quen Teresa lúc viết một cuốn tiểu thuyết, nàng không phải độc giả của tôi, cũng không biết tôi là tác giả tiểu thuyết, kể ra khá giống tình tiết trong phim tâm lý tình cảm. Xe đạp của Teresa tuột xích giữa đường, còn tôi là người duy nhất dừng lại giúp nàng.
Bấy giờ nàng mới vừa tốt nghiệp khoa tiếng Tây Ban Nha ở trường đại học, đang tìm việc, thành thử có rất nhiều thời gian rảnh rỗi theo tôi đi khắp nơi, mà tôi thì lại bị sức sống tươi trẻ của nàng hấp dẫn. Có lẽ do tuổi tác chênh lệch đến hơn chục tuổi, mọi việc tôi làm trong mắt nàng đều vô cùng mới mẻ. Tôi thường ngao du khắp nơi để nhận bản thảo tạp chí, nàng cũng đi cùng tôi. Khả năng ngôn ngữ của Teresa rất tốt, tiếng Anh, tiếng Nhật đều rất lưu loát, lại còn biết một chút tiếng Nga. Đương nhiên tiếng Tây Ban Nha là chuyên ngành của nàng thì khỏi phải bàn, điều này giúp ích rất nhiều cho công việc của tôi.
Chúng tôi thường chơi một trò, ấy là sử dụng thứ ngôn ngữ đối phương không hiểu trong khi nói chuyện (nàng không biết tiếng Đài), rồi dựa vào trực giác của mình để đối đáp. Bất kể nói gì, cuối cùng đều là đôi bên phá lên cười rồi người này bịt miệng người kia bằng một nụ hôn.
Chúng tôi có khoảng hai năm tuyệt đẹp. Thời gian đó chúng tôi cuồng nhiệt làm tình trong căn hộ tôi cất bộ sưu tập ngựa sắt cũ, đạp chúng đi dạo phố, nàng thì ngắm tôi lau chùi linh kiện bằng ánh mắt đầy tình ý. Về sau nàng thuận lợi tìm được một công việc phiên dịch, dường như thời gian có thể cứ tiếp tục trôi như thế. Nhưng chúng tôi đều hiểu, trên đường không thể nào không có sỏi đá. Nói vậy có vẻ không đúng, dù không có đá sỏi, đường cũng luôn có tận cùng.
Có lần trong lúc làm tình với Teresa, nàng kể chuyện cười bằng tiếng Tây Ban Nha cho tôi nghe, tuy nghe không hiểu nhưng tôi vẫn cười theo phụ họa. Sau khi kết thúc, nàng vào phòng vệ sinh, tôi cũng vào theo. Nàng gỡ tóc giả trước mặt tôi, đặt lên kệ phòng tắm, để lộ mái đầu ngắn vốn có, trông như một thằng nhóc. Tôi nhìn theo nàng đi vào tấm rèm màu trắng xuyên thấu, thò tay ra lấy một điếu thuốc trên chiếc bàn con từ phòng cạnh phòng tắm. Tôi hỏi nàng bọn mình kết hôn được không? Nàng đang tắm vòi sen, có vẻ không nghe rõ vì vướng tiếng nước xối. Tôi không hỏi nữa, dựa người vào bức tường gạch men trắng với nhiều chỗ hư hại, nhìn làn hơi nóng bốc lên từ một mặt tấm rèm nhựa, cảm giác thư thái kỳ diệu. Hơi nóng từ từ che mờ hình ảnh trong tấm gương bên trên bồn rửa tay, rồi đến bồn rửa tay, cuối cùng ngay bộ tóc giả, nắp bồn cầu, lẫn bàn tay cầm điếu thuốc của tôi đều không trông rõ nữa.
Sau khi Teresa ra khỏi phòng tắm, chúng tôi lại làm tình lần nữa, lần này tôi ôm siết lấy nàng, chẳng màng đè nát tim, dạ dày hay quả thận của nàng. Tôi hôn lên chiếc rốn như hạt hạnh nhân của nàng, tiến sâu vào cơ thể nàng hệt như bổ từng nhát cuốc. Sau khi kết thúc chúng tôi đều không định tắm nữa, nàng trở người lại, hai tay ôm lấy cổ tôi, hỏi tôi có thật sự yêu nàng không.
Tôi trả lời: “Đương nhiên rồi”. Lồng ngực tôi trong lúc nói phập phồng cảm nhận được trọng lượng cơ thể nàng.
Còn em?
“Hả?”. Tựa hồ kinh ngạc trước câu hỏi ngược bất ngờ này của tôi, Teresa cố tình vờ như không nghe rõ.
“Em thì sao?”. Trước giờ tôi vẫn không phải người giỏi nói mấy lời này. “Anh có biết mình chưa bao ngờ nằm ngửa, thả lỏng người ngủ không? Lúc ngủ anh toàn cuộn tròn một đống như con tôm lòng nặng tâm sự”. Teresa không hiểu sao nói lảng sang chuyện khác.
Tôi nói: “Cũng như mọi người khác, anh chưa từng trông thấy dáng ngủ của mình bao giờ”.
Tôi ôm nghiêng Teresa, lặp lại lần nữa câu nàng vừa hỏi tôi.
Nàng đáp: “Đương nhiên” Âm thanh đó phát ra từ bụng nàng, thấm qua lưng truyền đến phần da trước ngực tôi, đến chiếc dương vật vừa phóng tinh xong giờ vẫn đang mềm rũ. Không hiểu sao, từ cách phát âm hai chữ “đương nhiên” đơn giản là vậy, chúng tôi lại biết đôi bên đã bắt đầu không chắc chắn mình có còn yêu người kia hay không.
Một buổi sớm, không có bất kỳ điềm báo nào, Teresa gửi tin nhắn báo với tôi, nàng sắp đi Tây Ban Nha, xin tuyệt đối đừng ra sân bay tiễn nàng. Một đôi ủng và đôi tất giấy nàng tiện tay tháo ra vẫn còn vứt trên ghế đi giày cạnh cửa ra vào nhà tôi, tựa như chiếc vỏ lột nửa trong suốt loài ấu trùng dưới nước để lại trên thân lau sậy, tựa như lời khẩn cầu câm lặng.
❀ ❀ ❀
[1] “Trăm triệu quả cầu lửa”: Một trong những khẩu hiệu tổng động viên toàn dân của Nhật Bản trong Thế chiến thứ hai, một trăm triệu ở đây được tính gộp bảy mươi triệu dân Nhật Bản và dân số các nước thuộc địa Triều Tiên, Đài Loan.
[2] Dân tộc Cao Sa: Takasago, cách gọi dân bản địa Đài Loan dưới thời Nhật trị.
[3] ウ: Âm “u” trong bảng chữ cái Katakana tiếng Nhật.
[4] Bắc Burma: Tên gọi khác của Myanmar.
[5] Thái Thụy Nguyệt: Tsai Jui-yueh - diễn viên múa, một trong những người khởi xướng múa hiện đại của Đài Loan.