Chiếc Xe Đạp Mất Cắp

Lượt đọc: 191 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Bike Notes Iii Ghi Chép Về Ngựa Sắt

❊ ❊ ❊

Giây phút một người vượt qua một rặng núi trên chiếc xe đạp, anh ta giống như người Mông Cổ đầu tiên nhảy lên lưng con ngựa hoang trên thảo nguyên - một con vật đang chụm bốn vó, thở phì phì, chồm lên mà không ai từng nghĩ đến chuyện thuần phục, vì thuần phục nó là chuyện không tưởng. Cơ thể của người cưỡi cảm nhận được trái đất dịch chuyển duỗi chân, một cảm giác mà trước nay con người chưa hề biết tới, và sẽ không bao giờ đo đếm được.

- Nhà thiết kế xe đạp người Đức

Karl Nicolai

Tôi quen không ít người phóng khoáng có sở thích sưu tầm ngựa sắt cũ, có người chuyên buôn đồ cổ, có người bản thân là nhà nghiên cứu xe đạp, lại có người giống Tiểu Hạ, vì một lần cưỡi lên con ngựa sắt cũ nào đó mà từ đó về sau không xuống nổi nữa. Trở thành một dạng gọi là kẻ cuồng.

Tiểu Hạ là người Nghi Lan, sống ở Tân Trúc, làm kỹ sư ở Công viên Khoa học, để sưu tầm xe, cậu ta còn thuê cả studio lẫn chỗ đỗ ô tô. Ban đầu xe nào cũ cậu đều thu thập, song dần dần chuyển sang chỉ sưu tầm xe hiệu Hạnh Phúc. Kỳ vọng của cậu đối với mỗi chiếc xe là, có thể đưa chúng “trở về” đúng thời đại của chúng. Cậu ta luôn tự tay tháo rời, lau chùi, rồi lần lượt lắp lại từng chiếc xe, đồng thời quay lại toàn bộ quá trình bằng DV (máy quay kỹ thuật số). Kể ra thì thói quen này của tôi cũng là học theo cậu ta. Cậu ta bảo, con người vốn dĩ có khao khát sửa chữa đồ vật, đích thân động tay là thể hiện thái độ tôn trọng với đồ vật, với cơ thể hoạt động linh hoạt của chính mình.

Cậu ta dẫn tôi đi thăm hỏi các bác thợ sửa xe vẫn còn đang hành nghề xung quanh Trung Lịch, Đào Viên, Tân Trúc, dạy tôi cách phân biệt các dòng xe Hạnh Phúc tùy từng thời kỳ. Ví dụ logo và cắt gió trên xe Hạnh Phúc thời kỳ đầu đều là miếng đồng nung men, về sau thay bằng miếng nhôm in dập, cuối cùng để thuận tiện dùng cả thành giấy dán. Tiểu Hạ bảo: “Đây có thể gọi là lịch sử thủ công mỹ nghệ thụt lùi”. Đương nhiên, có thể nó còn mang ý nghĩa, xe đạp từ món đồ tượng trưng cho thân phận người sở hữu, đã trở thành phương tiện giao thông có tính phổ cập.

Theo cách nói của Tiểu Hạ thì không ai có thể biết chính xác hãng Hạnh Phúc rốt cuộc có bao nhiêu mẫu xe, còn cậu ta hiện giờ đã có trong tay mười bảy mẫu trong số đó. Tiểu Hạ dường như mãi mãi trên con đường tìm kiếm “mẫu xe mộng ảo” mà cậu ta chưa có.

Trong mười bảy mẫu xe này, để lại cho cậu ta ấn tượng sâu sắc nhất là chiếc “xe bà đỡ”. Chiếc xe bà đỡ này do cậu ta mua được ở chỗ một bác thợ già, bác thợ bắt gặp chiếc xe cạnh một đồn cảnh sát gần ga tàu hỏa Đài Đông, đặc trưng của nó là độ cong tay nắm sừng được gọi là “xà quặp”, thời bấy giờ đây là một kỹ thuật có độ khó rất cao. Quan trọng hơn cả là, mẫu xe này có thể coi là mẫu xe thiết kế dành riêng cho nữ giới thời kỳ đầu, sản lượng rất ít, vô cùng hiếm gặp.

Trải qua một hồi nghe ngóng, tuy đã tìm được chủ xe nhưng bác thợ không tài nào thuyết phục nổi người đó nhượng lại xe cho mình. Suốt một tháng trời, bác ta đi đi về về giữa Tân Trúc và Đài Đông cả thảy bốn lần, cuối cùng cũng đổi được chiếc xe bằng hai con Vespa. Tiếp đó là đến quá trình cò cưa giữa Tiểu Hạ và bác thợ già, kéo dài ngót nghét năm năm trời, cậu ta cuối tuần nào cũng tới nhà bác thợ làm ấm trà hàn huyên, quan hệ giữa bọn họ giống như trở thành thầy trò, người thân trước, rồi về sau mới chốt được vụ mua bán nọ.

Tôi từng hỏi cậu ta, so với một người bình thường, chúng tôi thực tình sở hữu quá nhiều xe đạp. Đa số về căn bản là không đi xuể, cũng chẳng có chỗ mà bày, tìm đủ mọi cách mua được một chiếc xe, rốt cuộc có ý nghĩa gì đây?

Tiểu Hạ lý giải rằng, rất nhiều chủ xe cũ đã không còn quan tâm đến xe của họ nữa. Nếu cứ để mặc xe nằm đó, có lẽ chiếc xe bà đỡ hiệu Hạnh Phúc cuối cùng sẽ cứ vậy mà trở thành sắt vụn. Sau khi thực sự kết bạn với bác thợ già, cậu ta chưa từng mở miệng nhắc chuyện muốn mua chiếc xe kia, cậu ta bảo chỉ riêng kiến thức sửa xe lẫn những chuyện về hành trình tìm xe bác thợ già kể trong suốt năm năm đó đã đáng giá rồi.

Xe bà đỡ Hạnh Phúc.

Chiếc xe bà đỡ đó đã trở thành tín vật giữa hai kẻ gàn, việc ở trong tay ai đã không quan trọng nữa. Tiểu Hạ nói, hiện giờ còn quá ít người biết được giá trị của đám ngựa sắt cũ này, chúng giống như pho dã sử trên đường phố vậy. Giờ tôi không thu nhặt, về sau chẳng còn xe nữa đâu, cũng chẳng còn chiếc xe nào nghiệm chứng cho thời đại đó nữa.

 

Năm 1950, một công văn của đại học Quốc gia Đài Loan ghi lại một sự việc, vì khuôn viên trường rộng mênh mông, bấy giờ khoa Nông nghiệp muốn mua một chiếc xe đạp trị giá ba trăm năm mươi đồng dùng để chạy công vụ, phía nhà trường do kinh phí eo hẹp nên không đồng ý. Tầm năm 1955, các dòng xe cơ bản do Đài Loan sản xuất như Ngũ Liên, Cúc Ưng bán khoảng hơn chín trăm đồng, các mẫu xe nhập khẩu từ Nhật thì hơn một nghìn bảy trăm đồng, nhưng thời ấy đi cắt tóc một lần chỉ tốn bảy đồng. Cứ theo giá cắt tóc bình thường bây giờ là hai trăm đồng, thì một chiếc xe đạp phải tương đương hàng chục nghìn đồng. Tôi cứ nghĩ, những người chịu bỏ ra ngần ấy tiền mua một chiếc xe đạp, có lẽ không hoàn toàn vì thực dụng, mà vì “modern - thời thượng”. Theo cách nói của mẹ tôi thì chính là “khoe mẽ” (tián-hong-sîn).

Năm 1956, chính phủ ban hành “Phương thức phân phối xe đạp”, quân nhân công vụ viên giáo viên có thể mua xe trả góp, giáo sư trong trường có thể thông qua Cục Vật tư tỉnh Đài Loan nộp đơn xin trả góp, do hiệu trưởng đứng ra làm người bảo lãnh. Bấy giờ xe đạp giáo sư hiệu Ngũ Thuận được bán ra với giá một nghìn hai trăm đồng một chiếc, có thể trả góp trong mười đợt. Xe đạp còn phải nộp thuế môn bài, biển xe thời ấy gồm hai tấm biển bằng nhôm buộc trên ghi-đông, nếu vi phạm quy định, cảnh sát sẽ lấy đi tấm biển bên trên, làm vậy coi như xe đã bị cấm lưu hành.

Năm tôi ra đời, ở Đài Bắc thuế môn bài đối với xe đạp một năm là mười tám đồng, cùng năm đó, “Mì Dương Xuân đích thị đệ nhất gia” ở khu kinh doanh bán một bát giá năm đồng. Hai năm sau, quy định xe đạp phải gắn biển bị bãi bỏ, trên thực tế điều này có nghĩa thời đại đầu tiên xe đạp tương đương với “thời thượng” đã qua rồi.

Cùng với thời gian, hiện giờ trên mạng có người hét giá một chiếc xe Hạnh Phúc hoàn chỉnh, mẫu hiếm tới một trăm nghìn đồng, xe vận tải của Fuji thậm chí được hét tới hai mươi nghìn. Những chiếc xe từng là phương tiện trong đời sống này giờ một lần nữa trở thành đạo cụ của đám người “khoe mẽ”. Bọn họ không phải kẻ cuồng theo tiêu chuẩn của tôi, mà chỉ là người lắm tiền.

 

Giai đoạn làm phóng viên ở tạp chí lá cải, tôi từng rơi vào tình trạng ngủ “tự do” (time-free). Trong quãng thời gian này, thời gian ngủ của tôi theo quy luật mỗi ngày lại được đẩy lên hai tiếng đồng hồ, cứ đến giờ là tự động say giấc. Tôi vì thế mà bỏ việc, để mặc thời gian của mình chạy chệch với nhịp điệu của người khác, về sau tôi quyết định tới Nhật thăm nhà máy hải quân Kōza nơi cha từng chế tạo máy bay chiến đấu thời Thế chiến thứ hai, rồi viết lại trải nghiệm này thành một cuốn tiểu thuyết.

Tình trạng ấy về sau tự dưng biến mất, đường đột như khi xuất hiện. Có điều sau khi ra sách, cứ đến nửa đêm tôi vẫn lại có lúc tỉnh như sáo, thần trí sáng rõ như nước hồ. Trong cái hồ đó không có người thả câu, không có côn trùng kêu, không có ánh trăng, ánh mặt trời không bao giờ ló, chỉ có mình tôi ngồi đó.

Để giết thời gian, tôi thường dắt theo Ricoh, lang thang khu Vạn Hoa giữa đêm hôm, đi bộ như thế giúp tôi trở nên bình tĩnh hơn vào ngày hôm sau. Lý do chọn địa điểm này là vì trước khi chuyển tới khu kinh doanh, cả nhà tôi từng chui rúc trong một căn hộ dưới tầng hầm một tòa nhà cũ ở khu này.

Bao giờ tôi cũng phải làm mấy vòng quanh công viên ngay cổng chùa trước, khoảnh đất này vốn là một khu chợ do các cửa hàng nhỏ hợp lại. Hồi tôi còn nhỏ, ở đây có bán mấy thứ vật dụng hằng ngày như đồ lưu niệm, khăn lụa, quần áo, giày dép, cũng bán cả các món ăn vặt như cá măng sữa, xúp thịt bọc bột mì, canh củ cải, cháo thịt, kem bát bảo, bánh bát. Mẹ tôi cứ đến dịp Tết lại dẫn tôi đến một tiệm gọi là “Bệnh viện giày da” mua giày, tôi luôn thấy cái tên tiệm này đặt đúng là quá diệu.

Sau này cây cổ thụ bị chặt bỏ, các cửa tiệm bị di dời, nơi ấy giờ biến thành một cái đài phun nhạc nước rất vô duyên, cùng một khu kinh doanh ngầm không ai ngó ngàng tới. Có vài cửa hiệu lâu đời tứ tán ra các đường phố xung quanh mở hàng, nhưng đã không còn giữ được phong vị vốn có, dù sao mùi vị đồ ăn cũng liên quan mật thiết đến không gian thưởng thức.

Trên thực tế khoảng sân chùa kéo dài này cũng không phải nơi du khách tập trung. Công viên trở thành địa điểm tụ tập của đám lang thang không nhà không cửa, vào nửa đêm bọn họ người ngồi kẻ ngủ, đi ở giữa mà cảm giác bầu không khí như ở nghĩa địa. Vào lúc hoàng hôn thường có dăm ba người tụ lại chơi trò quăng đồng xu - xem ai có thể quăng được gần tường nhất, trong số đó có vài lão già cực kỳ lợi hại, lúc nào cũng quăng xu chính xác tới ngay rìa bồn hoa, chỉ cách độ một xăng-ti-mét. Tối đến, các nghệ sĩ hát rong lục tục xuất hiện, đám người vô gia cư ngồi quây lại nghe hát, thi thoảng cũng có kẻ kéo cô nàng bên cạnh lên làm bạn nhảy. Những ca sĩ này thông thường đều không tài giỏi gì cho cam, có người phụ nữ kéo đàn cưa bất kể bài nào đều thành giai điệu u u u, căn bản không hề có chuẩn âm hay hoàn luật gì hết. Nhưng đám người lang thang vẫn rất sẵn lòng bỏ cho họ chút tiền lẻ kiếm được trong ngày.

Mà tổ hợp những người lang thang ở đây cũng phức tạp hơn người thường tưởng tượng nhiều. Truyền thông thường thích đưa tin những chuyện trước là ông chủ lớn giờ rơi vào cảnh vô gia cư, nhưng theo tôi đấy là dạng người vô gia cư nhạt nhẽo nhất, ít cái để kể nhất. Vì bọn họ quanh đi quẩn lại thể nào cũng rơi vào mấy cảnh ngộ như làm ăn thất bát, bị lừa sạch tiền, buông thả tửu sắc là hết chuyện.

Trong đám người vô gia cư còn có những kẻ thực sự vô lại, không tài nào thích ứng nổi với cuộc sống xã hội, những nghệ thuật gia lang thang, và bậc anh tài có cái nhìn sắc bén, nghiền ngẫm đủ loại kiến thức kỳ dị. Loại người này tối đến đều trải lấy cái sạp, trà trộn trong “chợ người già”. Tôi thích tới đó không xuất phát từ lòng thương hại hay gì, mà bởi nói chuyện với họ tôi còn học được nhiều thứ hơn cả trên giảng đường đại học, vả lại cũng chẳng cần che đậy sự vô tri của mình.

Có một tối tôi ngồi trong cái xó cố định hút thuốc, hí hoáy bút ký, cách tôi không xa là một vật thể trông như mớ quần áo bẩn vo thành đống khe khẽ động cựa. Nhìn kỹ thì thấy bên dưới tấm chăn in hình Snoopy đó là hai con người, đang làm ra những động tác dâm dật, dỏng tai nghe còn có thể thấy rõ tiếng bọn họ hổn hển.

Bên cạnh hai người họ dựng một chiếc xe đạp gần như bị lấp trong đống túi nilon bẩn treo trên đó. Tôi tò mò rón rén lại gần, vạch đám túi nilon trên ghi-đông xe đạp ra một chút, liền trông thấy nhãn xe trên pô-tăng. Logo gồm hai con bồ câu mỗi con cõng trên lưng một đóa huệ tây, bên dưới viết “LUCKY” và “SUPER CYCLE” - là hãng Hạnh Phúc. Một chiếc xe võ gióng đơn chắn bùn sắt đen thời kỳ đầu.

Đèn đường hình thành một quầng sáng nơi bóng tối xung quanh họ, bóng họ có lúc khiến quầng sáng đó thu nhỏ lại, rồi lại phục hồi nguyên trạng. Sau một đợt cao trào, động tác của họ ôn hòa dần, trở lại làm một đống nhơ nhuốc khó lòng phân biệt. Cuối cùng đầu họ thò ra, người đàn ông râu tóc đều đã hoa râm vươn tay ra, vuốt ve mái tóc két dầu, rối cứng, chỉ nhìn đã thấy khô xác của người đàn bà. Động tác ấy vô cùng chậm rãi, chậm rãi tới độ khiến bạn nhầm tưởng rằng tay người đàn ông đang bất động, và vốn đã đặt lên tóc người đàn bà từ trước rồi.

Không biết chủ xe có biết chiếc xe mình đang đi là món đồ dân chơi ngựa sắt cũ mê mệt hay không? Hoặc bản thân anh ta chính là một kẻ cuồng ngựa sắt cũ? Tôi định tìm cơ hội, gõ hỏi lớp vỏ trầm mặc của người nọ, biết đâu anh ta lại đồng ý, cho tôi mượn chiếc Hạnh Phúc ấy đạp một vòng.

 

Là một “kẻ cuồng” nửa mùa, tôi thường cho rằng câu chuyện của xe quan trọng hơn bản thân chiếc xe, Tiểu Hạ có thể coi là người khá gần gũi với tính khí tôi. Tôi nhớ buổi chiều Tiểu Hạ cho tôi cưỡi lên chiếc xe bà đỡ mà cậu ta lao tâm khổ tứ phục hồi, cậu ta ở công viên đợi tôi đạp xe về, câu đầu tiên đã hỏi: “Anh cảm nhận được tâm trạng của bà đỡ sắp đi đỡ đẻ không? Thấy không?”.

Tôi lắc đầu, rồi lại gật đầu, tim đập nhanh như thể đang ôm trong tay một đứa bé sơ sinh hoàn mỹ.

Nguyễn Tú Uyên (dịch)
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 6 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.