Chiếc Xe Đạp Mất Cắp

Lượt đọc: 191 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Kẻ Trộm Xe Đạp

❊ ❊ ❊

Bicycle Thieves

Lúc chuông điện thoại reo vào nửa đêm, tôi nhất thời không định hình được mình đang nằm ở đâu. Trên kính cửa sổ kết một lớp hơi nước, ánh trăng nhợt nhạt rọi vào phòng, mất một lúc tôi mới nhớ ra mình vẫn đang ở trong nhà của gia đình Abbas. Chuông điện thoại đổ lâu lạ thường, người gọi điện hẳn rất kiên nhẫn, tôi trở người nhìn màn hình hiển thị, là chị cả gọi.

Từ đầu bên kia điện thoại, chị nói với giọng lo lắng, mẹ lại không cẩn thận bị ngã lúc nửa đêm đi nhà xí, cũng may cạnh giường bà có một cái chuông điện không dây, mẹ ấn chuông đánh thức chị. Đầu óc tôi lập tức tỉnh táo trở lại, không kịp đợi trời sáng đã đi gõ cửa phòng Abbas. Anh căng cặp mắt ngái ngủ nghe tôi nói xong, bảo sẽ mượn hàng xóm chiếc xe chở thẳng tôi về Đài Bắc. Tôi từ chối, chỉ mong anh có thể tiễn mình ra lối vào cao tốc gần Đài Trung để bắt xe khách.

Rừng núi về đêm vô cùng tĩnh lặng, trông có vẻ không hề hung hiểm, rìa núi và dòng chảy của con sông hơi phát sáng, trước mắt tôi hiện ra gương mặt không mấy rõ nét của mẹ. Tôi ngỡ ngàng trước việc chỉ vài hôm không gặp một người mà mình đã khó lòng nhớ lại hoàn chỉnh gương mặt của người đó.

“Không sao đâu”. Abbas an ủi tôi, đồng thời đạp nổ con SYM Wolf cũ của anh.

Nhưng lòng tôi hiểu rõ, ở tuổi này của mẹ, bất kỳ một thương tổn nhỏ nào cũng có thể tạo thành mối nguy nghiêm trọng. Điều tôi hy vọng bây giờ là sức mạnh ý chí của mẹ một lần nữa đưa bà tiến xa thêm.

Cùng với tuổi tác tăng dần, mẹ thường hay quên những chuyện đã xảy ra hôm qua, song lại nhớ như in chuyện mẹ dắt theo tôi, bị lỡ chuyến xe khách cuối cùng về nhà ông nội ở ga Đại Giáp hơn ba mươi năm trước. Trên chuyến tàu đó, vì tôi có thể đọc chính xác tên từng trạm dừng mà bà thích thú mãi, cứ nhắc suốt ba mươi mấy năm. Đến tận giờ, thi thoảng đưa bà về miếu Ma Tổ Đại Giáp cúng bái, tôi luôn ngờ rằng trong mắt bà nhìn thấy vẫn là miếu Ma Tổ hồi đó chưa có tượng Ma Tổ vàng, chứ không phải miếu hiện tại. Bà xem nhẹ hiện thực, coi trọng ký ức.

Bà cũng sở hữu năng lực nghịch thuật mạnh mẽ, bà trách tôi càng ngày càng hay trả treo, trách anh tôi ít về nhà, dẫn đến bà đi chùa gieo lúc nào cũng ra hào âm (puáh-bô-pue). Mấy chuyện luôn được nhắc đi nhắc lại là anh tôi thi đỗ cấp ba, tôi bị sốt nửa đêm phải đưa tới phòng khám Nhi ở cầu Đài Bắc, và hồi chị năm suýt chút nữa bị cho đi làm con nuôi, cha vì thế mà mất xe đạp.

“Xe Khổng Minh hồi đó cũng giống như ベンツ (Mercedes-Benz) ấy”.

Về phần tôi, mỗi lần mẹ nhắc đến mấy chiếc xe đạp đó, tôi lại nơm nớp nói sao để tránh mở ra chủ đề về cha, như thể cái chữ “cha” ấy là một con dao không chuôi. Có điều, cũng giống khi cắt tỉa cỏ, trong đầu cứ tâm niệm phải tránh mấy cái cây không mấy nổi bật trong vườn, rồi vào một khoảnh khắc nào đó, lơ là cái đã vô thức cắt xoẹt gốc cây nãy giờ cố ý tránh.

Mấy hôm trước, trước khi tới Nam Đầu, tôi còn cất công rẽ về thăm mẹ. Khi đó qua chị hai, bà đã biết chuyện tôi và Teresa chia tay. Vì tôi về, bà nấu một nồi “cải thảo kho”, đó là món ăn thường nhật của nhà chúng tôi từ nhỏ tới lớn, thực ra chính là đem tất cả thức ăn thừa bỏ vào nồi hầm cùng cải thảo. Vào bữa cơm, bà cố ý đưa câu chuyện xoay một vòng quanh các anh chị em, rồi mới bày tỏ mình không bằng lòng trước việc tôi đến giờ vẫn cự tuyệt hôn nhân, bà cho rằng chính vì thế Teresa mới chia tay tôi.

“Một con bé tốt như thế, là lý vì sao anh không muốn cưới nó? Con bé trước kia (khah-tsá) cũng thế, yêu đương tùm lum tùm la, anh cứ chỉ biết yêu cho có”.

Tôi biết giờ đáp lời chỉ khiến mẹ thêm kích động, nên lựa chọn im lặng. Quả nhiên, mẹ thấy tôi không có phản ứng gì, bèn bắt đầu quay sang lèm bèm anh sáu, đứa con được cha mẹ đặt nhiều kỳ vọng nhất khi ra đời.

“Thằng A Đệ chính vì không nghe lời tôi nên mới thành ra lông bông như thế”. Nhũ danh của anh sáu là “A Đệ”, đến giờ anh đã năm mươi mấy tuổi đầu, nhưng mẹ vẫn gọi vậy, cứ như anh mãi là thằng bé mang đến tin vui nam đinh cho gia đình vậy.

Cha mẹ đều mong anh sáu chăm chỉ học hành, trở thành “người ngồi bàn giấy”, nhưng anh lại không. Sống trong cái gia đình luôn bị đè nén này, anh sinh ra cá nhân và phản nghịch. Sau khi thi trượt đại học, anh bỏ nhà, cưỡi con xe Vespa đi lang bạt, làm công nhân ở công trường xây dựng, đến khi có giấy gọi nhập ngũ mới trở về nhà. Sau khi về nhà, anh và cha coi nhau như không khí. Hồi anh tại ngũ, có hôm hàng xóm chạy sang báo “Thằng A Đệ ở trên ti vi kìa”, chúng tôi mở ti vi lên mới thấy anh đang tự đàn tự hát trên chương trình Ngũ Đăng Tưởng[1]. Bất ngờ hơn cả là, hôm quay chương trình anh không hề được nghỉ phép, vì vậy khi chương trình phát sóng anh sáu bị nhốt vào buồng giam.

Về sau anh sáu bốc trúng thẻ Kim Môn, suốt một năm rưỡi chỉ về nhà có một lần. Cha thường nhờ chị cả viết hộ thư, rồi đứng ở cửa đợi khi bưu tá đưa thư tới thì giao cho người ta. Nội dung thư tôi không hiểu gì hết, chỉ nhớ có lúc trong thư của anh sáu sẽ kẹp một bức ảnh, anh mặc quân phục, đứng giữa đường phố lạ hoắc trên đảo.

Vừa xuất ngũ về nhà, anh đã bày tỏ muốn cưới một cô gái quen ở hàng kem đá đảo Kim Môn mà cha mẹ tôi chưa từng gặp qua.

Cha lập tức phản đối dù còn chưa biết đó là ai. Chúng tôi đã sớm biết cá tính của ông, đó là phản đối mọi quyết định con cái tự đưa ra, ông lúc nào cũng cho rằng con mình suy nghĩ không thấu đáo, bất kể nó đã bao nhiêu tuổi. Nhưng cha càng phản đối, anh lại càng kiên quyết, niềm tin hai người họ dành cho nhau vừa hay thắt thành nút chết. Mẹ thì chỉ có tình yêu dành cho chúng tôi, điều này dẫn đến việc bà luôn thiếu năng lực phán đoán, ý kiến của bà đối với chúng tôi cũng vì vậy mà càng ngày càng thiếu sức ảnh hưởng.

Về sau anh sáu không cưới cô gái đó, anh không bao giờ nhắc đến chuyện cưới bất kỳ ai nữa, chúng tôi cũng không ai biết anh giải quyết vấn đề tình cảm với cô gái kia thế nào. Tôi còn nhớ khi đó anh từng cho tôi xem ảnh chị ấy, bấy giờ tôi còn quá nhỏ, thiếu hụt thẩm mỹ quan, song vẫn nhớ anh tôi từng bảo anh cảm thấy chị rất giống Yakushimaru Hiroko. Bấy giờ tôi nghĩ, tên gì kỳ thế.

Từ đó anh bắt đầu ít về nhà, mà bắt đầu cuộc đời hát rong. Anh biểu diễn ở Thuyền Gỗ[2] gần nhà tôi, có lúc lại chạy tới chân cầu Đài Bắc sống cùng đám người lao động thời vụ. Mỗi sáng chỗ nào cần người chỉ cần lái xe tới đó, hô lớn “Quét nước, ba người!”. Ai nấy liền nhao nhao giơ tay giành ba suất ấy.

Có lần anh dẫn tôi tới thuyền Gỗ và đãi tôi suất bít-tết đầu tiên trong đời, anh đứng trên sân khấu ngoác cái miệng lớn (khuah-tshuì) hát My Way (Con đường của tôi), cả Đường hoa gạo. Tôi cảm thấy lúc ôm cây đàn ghi-ta là lúc anh sáu vui vẻ nhất.

Thế nhưng lớn dần, tôi phát hiện người sống trong niềm vui của chính mình thường đem đến đau khổ cho những người xung quanh, họ dường như không bao giờ cân nhắc đến ý kiến và nỗi khổ của người nhà. Mọi người đều ngưỡng mộ những người như vậy, đồng thời cũng đố kỵ với họ. Có lúc tôi thấy mình rất giống anh, chỉ khác ở chỗ tôi không đủ can đảm nhận chỉ trích mà thôi.

Mẹ vẫn không tài nào bình tĩnh đối diện được với chuyện một đứa con có thể hoàn toàn không đếm xỉa đến ý kiến của cha mẹ mà vẫn sống phơi phới, nhưng anh sáu tôi đã làm được. Nói theo cách của mẹ tôi thì, anh gặp phải chuyện gì cũng “hềnh hệch cái miệng”, nhưng với người trong nhà thì lại “không có lương tâm”.

Tôi biết câu này thốt ra từ miệng mẹ không hoàn toàn có ý trách móc mà giống như một kiểu đòi hỏi hơn.

Một năm sau khi cha tôi mất tích, anh sáu cũng mất tích. Nhưng không phải anh mất tích thật, mà là chạy sang Nhật đi theo một nghệ sĩ biểu diễn người Nhật học ghi-ta. Chuyện này các chị tôi đều biết, chỉ có mẹ không biết. Hằng tháng anh vẫn gửi tiền về cho mẹ, cách mấy hôm lại gọi điện nghe mẹ kể lể chuyện trong nhà, hệt như vẫn đang ở Đài Loan.

 

Anh sáu là con trai trưởng, lần đầu thi lên cấp ba, anh trượt chỏng gọng. Điều này là đương nhiên, bởi anh dành quá nhiều thời gian vào ghi-ta. Người thầy đầu tiên dạy anh chơi ghi-ta là tên lưu manh A Hầu ở nhà may âu phục Sơn Kỳ, bố tôi vì thế càng sôi máu, ông luôn cho rằng A Hầu là phần tử băng đảng gì đó. Có kết quả thi, bao cáu giận của cha được phát tiết lên cây ghi-ta của anh. Ông đập nát cây đàn, đem vứt cho xe rác khu kinh doanh chạy buổi tối nghiền vụn, cả thả sạch đám bồ câu anh tôi nuôi trên tầng ba khu kinh doanh.

Hành động này của cha cũng làm tổn thương tôi, vì lũ bồ câu kia toàn là tôi cho ăn. Sau khi chuồng bồ câu bị đem vứt, lũ bồ câu tối đến vẫn theo thói quen bay về. Bọn chúng đậu trên sào tre phơi quần áo của cư dân khu kinh doanh, ỉa đầy lên quần áo hàng xóm phơi, rồi dần dần từng con bị dụ bắt, trở thành bữa tối của các hộ xung quanh.

Ngày có kết quả thi lại của anh, từ sớm cha đã thức dậy, một mình đạp xe đi chở hàng, rồi tới Trung Sơn Đường đợi kết quả.

Hồi đó kết quả thi sẽ được dán tại một số địa điểm công cộng vào sáng sớm. Trên báo đương nhiên cũng có đăng, chỉ là chậm hơn nửa ngày, với cả thiếu đi cảm giác hồi hộp lúc xem bảng. Nghe nói còn có những người ngày nào cũng đi xem bảng, cho đến khi danh sách bị xé đi mới thôi.

Cha lòng đầy thấp thỏm bắt đầu xem từ trường Kiến Quốc, đương nhiên ông không ôm kỳ vọng cao như thế, chỉ tiện thì xem thôi. Quả nhiên không tìm ra tên anh tôi. Thực ra ông vốn tin rằng sẽ thấy tên anh muộn hơn, không ngờ lại bắt gặp ngay ở danh sách nguyện vọng hai, mừng khôn kể xiết.

Cha tôi là người giấu tất cả cảm xúc dưới mặt biển, chỉ thi thoảng nhô lên kính tiềm vọng. Hôm đó không ngờ ông lại để lộ cảm xúc ra ngoài, hớn hở chạy về nhà, quên bẵng chiếc xe đạp dựng trước Trung Sơn Đường.

Về đến nhà mẹ tôi hỏi ông: “Thi đỗ không?”.

Cha gật đầu, mẹ liền chạy vội ra chợ mua gà. Có điều cha vẫn chưa phát hiện ra ngay sự thiếu vắng của chiếc xe đạp mà còn ngồi xuống chén sạch bát cháo trắng với dưa chuột ngâm tương bữa sáng. Chị năm ra mái hiên bên ngoài cửa tiệm nhìn ngó một lúc, hỏi: “Xe Khổng Minh đâu ạ?”. Cha mới bàng hoàng nhớ ra, đợi ông chạy trở lại Trung Sơn Đường, cái xe đã biến mất từ lâu.

Trước khi vào học, cha tới cửa hàng nhạc cụ trong khu kinh doanh mua một cây ghi-ta cho anh sáu, vì vậy phải thêm hai tháng nữa ông mới đủ tiền tới chợ đồ “nhảy” mua một chiếc xe đạp cũ khác.

Chiếc xe đạp năm tôi lên tám đổ bệnh khiến cha làm mất trước cửa phòng khám Nhi cầu Đài Bắc này, không thực sự bị mất.

Bấy giờ mẹ tới chỗ thanh đồng của Khai Chương Thánh Vương hỏi thăm tung tích chiếc xe, được Thánh Vương Công phán bằng thứ tiếng Đài rất tao nhã cổ kính: “Chi bằng quay lại lối xưa, mây tan trăng ló sáng tỏ đôi đường”. Trác đầu[3] giải thích, ý là xe đạp sẽ trở về chỗ cũ.

Xe đạp tự quay về ư? Chuyện này thì cha không tin, ông dắt theo tôi, trước tiên tới chùa Long Sơn Mãnh Giáp dâng nhang lên từng lư hương (điều tôi không hiểu là, đến hồ cá ông cũng vái lạy, lẽ nào trong hồ cá cũng có thần linh?) sau đó lại tới chợ đồ nhảy tìm con ngựa sắt của ông. Đó là lần đầu tiên tôi đến chợ đồ nhảy, rất nhiều các bác trung niên, các ông già trông bẩn thỉu như mang trên người cả đống bệnh dựng mỗi người một cái lán tre, bày bán đủ loại đồ cũ. Tivi, quạt điện, xô-pha, thắt lưng da, mũ sắt (thứ đồ này mà cũng có hàng cũ, đúng là không thể tưởng tượng nổi)… muốn gì cũng có.

Cha dắt tay dẫn tôi tới một con ngõ toàn là xe đạp, xe đạp ở đây được chia thành “nguyên chiếc” (ku-tâi—ê) và “linh kiện” (lân-san-ê) đã bị tháo rời. Ông bắt đầu xem từ các xe Hạnh Phúc nguyên chiếc, làm mặt tỉnh bơ đưa tay lần rờ dãy số hiệu trên cọc yên. Vì dãy số đó nằm trên thân cọc bên dưới yên, nếu ngồi xuống nhìn có thể sẽ bị cho là cảnh sát mặc thường phục, rồi gặp rắc rối nào đó chưa biết chừng. Sau khi không thu được gì, ông bèn chuyển hướng chú ý sang đống linh kiện chất ở rìa một cái lán chăng vải bạt, vờ như chăm chú chọn lựa để lần sờ từng cái, đặc biệt là khung xe và vành xe, hai bộ phận đắt đỏ nhất của chiếc xe. Nếu có thể tìm lại khung xe cũng tốt, bấy giờ cha chắc hẳn đã nghĩ thế.

Thời gian trôi, hai cha con tôi đã xem khắp các sạp hàng, sắc mặt cha dần ảm đạm, tuyệt vọng, giống hệt người cha trong bộ phim Chiếc xe đạp mất trộm của Vittorio De Sica mà tôi xem sau đó nhiều năm. Ông rút khăn tay ra lau mồ hôi trên trán và tay, hỏi tôi có khát không? Tôi gật đầu. Ông cầm bình nước cá nhân đi xin chủ hàng ít nước. Trong lúc tôi uống nước, ông đi bắt chuyện với một ông già trông có hơi hèn hạ, từ xa tôi chỉ trông thấy ông già lắc đầu.

Quãng đường về khu kinh doanh là đoạn đường dài nhất trong cả cuộc đời tôi. Cha mặt mày ủ rũ dắt tay tôi đi lên cầu vượt cho người đi bộ, nhìn tàu hỏa tu tu rẽ vào sân ga, như phân vân không biết đi đâu về đâu. Lần đầu tiên tôi biết qua bàn tay có thể cảm nhận được sự tuyệt vọng của một con người.

Nhưng bước ngoặt đã xuất hiện đúng vào giây phút chúng tôi về đến nhà.

Mẹ rón rén bước lại gần cha, kéo ông tới trước một chiếc xe treo đầy các thể loại túi ni-lon ở cuối khu kinh doanh. Cha vẫn theo phản xạ đưa tay sờ cọc yên, không còn nghi ngờ gì nữa, đây chính là chiếc xe đạp hiệu Hạnh Phúc của ông, dãy số hiệu này chính là xe ông rồi. Xe quả đúng đã tự mình quay về như lời Thánh Vương Công.

Nhưng dù gì vẫn phải có người đạp nó về đây chứ?

Thời ấy láng giềng ở khu kinh doanh tối lửa tắt đèn có nhau, xe máy hay xe đạp của tiệm hàng xóm cũng quen thân như của mình. Cư dân khu kinh doanh đều biết xe của cha bị mất, nên những ngày này đều để ý giúp, mỗi lần trông thấy chiếc xe nào nghi là của cha tôi, lão Lý “cựu binh”[4] trông xe lại lén khóa cái xe ấy lại bằng một cái khóa riêng, rồi báo cho cha tôi đi xem có phải xe của mình không.

Vô tình lần này lại khóa đúng được xe đạp của cha tôi, ông chủ tiệm Âu phục biệt danh “Ấm Trà” (tê-kóo) và ông chủ tiệm tạp hóa “Dẻ Sườn” tụm lại trước chiếc xe thảo luận cùng cha, nói muốn bắt trộm bọn họ cũng không ngại tham gia. Ấm Trà thời trẻ từng lặn lội trong băng đảng ở Vạn Hoa, là một con nghiện thuốc lá tay lúc nào cũng kè kè điếu thuốc, nghe nói ở nhà còn cất một cây kiếm Nhật dài. Ông có một người vợ xinh đẹp khiến ai cũng ngưỡng mộ, hơn nữa những bức xúc của bản thân ông hiện giờ đều được đặt vào việc đòi lại công bằng cho cư dân khu kinh doanh. Dẻ Sườn thì là một người lương thiện đầu óc không quá linh hoạt, mỗi lần bất kể xảy ra chuyện gì, ông đều rất muốn giúp giải quyết, nhưng trên thực tế ai nấy đều biết ông không có năng lực xử lý bất cứ chuyện gì.

Kết quả cuộc thảo luận là: Đợi lát nữa trông sắc mặt cha tôi, tên trộm nếu chạy về bên trái khu kinh doanh sẽ do Ấm Trà và lão Lý chặn lại, còn nếu chạy về bên phải sẽ do cha tôi và Dẻ Sườn phụ trách. Những người hóng hớt khác không định “báo cảnh sát” ngay, tôi biết họ đợi tên trộm kia bị tóm thật sẽ nhất tề xông lên đánh cho hắn một trận rồi mới báo cảnh sát.

Ai nấy vờ quay về tiệm của mình, đợi người đi xe đạp xuất hiện. Chương trình thời sự buổi tối phát xong không bao lâu, một người đàn ông trung niên mặc áo ba lỗ ố vàng, quần đùi xám, dép tổ ong đi tới trước chiếc xe, cẳng chân gầy gò của ông ta lập cập như không chống đỡ được trọng lượng của cơ thể, bản mặt trông vừa hòa nhã lại có vẻ xấc xược, tay xách một cái va-li được chằng bằng dây nilon đỏ.

Người đàn ông rõ ràng vừa vào nhà vệ sinh nam một tầng nào đó của khu kinh doanh tắm táp, lúc chuẩn bị đi tôi thường trông thấy những người thế này tắm trong nhà vệ sinh.

Láng giềng hai bên quan sát sắc mặt cha tôi, đợi bắt tên trộm.

Nào ngờ cha chẳng tỏ vẻ gì, chỉ chậm rãi lắc đầu, quay người trở vào trong tiệm. Chính vào khoảnh khắc không khí từ căng thẳng biến thành nghi hoặc đó, người đàn ông kia dường như cũng có linh tính mình đã bị phát hiện. Ông ta gỡ lấy tất cả túi nilon treo trên xe, cố ra vẻ ung dung xách đống túi băng qua chỗ giao với đường ray, hòa vào dòng người sang đường.

Mẹ tôi không hiểu nổi, nắm tay tôi giương mắt nhìn cha, Ấm Trà và Dẻ Sườn cùng lão Lý rẽ qua trước cửa nhà chúng tôi, bọn họ nhìn nhau, không hỏi han gì ai về làm việc người nấy. Không lâu sau, các chủ tiệm lại tiếp tục nhằm dòng người mắc cửi mà lớn tiếng quát lác như bình thường.

 

Tôi kể cặn kẽ chuyện những chiếc xe đạp nhà mình bị mất cho Abbas, có lúc lời bị gió thổi bạt ra sau. Hầu hết mọi lúc, anh chỉ nghe mà không bày tỏ ý kiến gì, chăm chú chạy con xe SYM Wolf.

“Cha anh không kể vì sao lại tha cho tên trộm đó à?”

“Không. Mẹ tôi cũng không dám hỏi. Có lẽ ông nghĩ, dù gì xe cũng quay về rồi.

“Người trong gia đình anh đều rất sợ cha anh hả?”, Abbas hỏi.

“Ừ. Cha tôi siêu kiệm lời, thậm chí đến chuyện đi Nhật ông cũng không kể với mẹ tôi”. Cách đây mấy đêm tôi đã kể chuyện cha mình sang Nhật làm nhân công thiếu niên chế tạo máy bay chiến đấu và về sau mất tích cùng chiếc xe đạp cho Abbas.

“Nghĩ lại cha tôi vẫn còn đỡ hơn cha anh, ông ấy ít ra còn ghi lại hai cuộn băng”. Abbas cố hết sức tăng ga, anh hiểu lòng tôi muốn sớm về Đài Bắc phút nào hay phút đấy, tiếng động cơ chiếc SYM Wolf cũ gần như át cả tiếng nói của anh, vì thế anh phải xoay đầu nói với tôi ngồi phía sau. “Nhưng, hình như cuộc đời họ bị mất con ốc vít nào đấy, mà ngay chính họ cũng không biết”.

“Công tắc nói chuyện hỏng rồi”.

“Ừ, hỏng rồi”.

Ba giờ năm mươi lăm phút sáng, chúng tôi tới bến xe, vừa kịp bắt chuyến xe khách lúc bốn giờ đang từ lối vào đường cao tốc đi lên phía Bắc. Abbas giơ tay như thể muốn vỗ vai tôi, nhưng rồi lại thôi, anh vẫn chưa rõ tình bạn giữa chúng tôi có thích hợp với hình thức biểu đạt này không. Giây phút đó, trong đầu tôi lại hiện lên ý nghĩ có phải nên kể cho Abbas chuyện mình liên lạc thư từ với Annie? Nhưng xe khách đã mau chóng đóng cửa, chạy lên đường cao tốc.

Xe khách ban đêm giống như nôi ru, nhiều người mau chóng chìm vào giấc ngủ, song vẫn có một số thanh niên nghịch điện thoại di động. Trong xe vì thế cứ có mấy quầng sáng, nhìn biểu cảm bọn họ đều không giống đang đọc tin tức gì bắt buộc phải hy sinh giấc ngủ. Tôi nhìn ra ngoài cửa sổ, trên mặt kính bắt đầu xuất hiện từng giọt nước, do xe tăng tốc nên bị gió kéo thành từng vệt nước. Tôi vừa thầm lục lại những ký ức về mẹ trong suốt mấy năm nay, vừa ngắt quãng hồi tưởng lại chuyện đêm hôm trước Abbas nhắc đến, liên quan đến chuyến đi của anh ở Malaysia.

 

Lần đầu nghe xong hai cuộn băng ghi âm Đơn vị Bánh xe bạcRừng Bắc Burma, Abbas quyết định đạp chiếc xe của lão Trâu tới Malaysia tiến hành một chuyến đạp xe đường dài, chụp một loạt tác phẩm dọc đường.

Vì chuyến hành trình này, anh đã chuẩn bị vài chiếc máy ảnh, lần lượt là Leica M4-P, và một chiếc CONTAX III vô cùng hiếm (theo anh nói thì đây là máy ảnh từ thời Thế chiến thứ hai), ngoài ra còn một chiếc máy kỹ thuật số nhỏ gọn tiện lợi.

Abbas chạy tới nghĩa trang cựu chiến binh thắp cho lão Trâu nén nhang, nhớ lại lời lão nói trong lần nói chuyện cuối cùng trước khi anh xuất ngũ và sau chuyến đi lặn kia: “người anh em ạ, một ngày tôi chết đi, nếu có thể, nhờ cậu giúp tôi, xem có thể chôn cất tôi ở đây không. Chôn tôi xuống rồi, cái cây nhất định sẽ càng lớn đẹp, hơn nữa, đã đánh bạn với tên đó rồi, về sau có thể tiếp tục làm bạn cũng không tệ, nó chưa biết chừng sẽ xây tổ trên cây”.

“Ông không về quê à?”, Abbas hỏi đùa.

“Về người trong thôn cũng không nhận ra tôi, người thân đều đã không biết đi đằng nào. Tội gì?”. Lão Trâu ngừng một lát, lại lẩm bẩm nói tiếp: “Muốn sống cùng mẹ ở nơi Kyoto thị thành, hòa bình”.

“Gì ạ?”

“Nó nói đấy”.

“Nó nói á?”

“Ừ. Hắn ‘tình nguyện’ gia nhập lực lượng đặc công trong hoàn cảnh xung quanh ai nấy đều nhắm tịt mắt, nghe tiếng các bạn giơ tay quân phục sột soạt nên cũng giơ theo mà”. Con sáo đá như thể có linh cảm, bay lên lượn một vòng, hai vòng, ba vòng khắp nhà… rồi lại trở về đậu trên vai lão Trâu.

Abbas không hề hứa hẹn chuyện chôn cất lão Trâu, anh không muốn đảm đương trách nhiệm ấy. Trái lại, lão Trâu sẽ được chôn tại nghĩa trang cựu chiến binh, cách thôn Nhị Cao không xa, con sáo đá kia… tay lính Nhật kia muốn tìm lão cũng không phải chuyện khó khăn gì. Abbas nghĩ vậy.

Chẳng ngờ vài năm sau khi lão Trâu qua đời, thôn Nhị Cao cũng bị dỡ bỏ, một mảnh ngói cũng không còn. Nào kính phi công lính Nhật, nào tiệm sữa đậu, quán mì bò, màn thầu của lão Trâu, cây ổi ta, con sáo đá nghiêng đầu rỉa tai lão Trâu… đều không còn tồn tại nữa, và cũng cứ như chưa từng tồn tại.

 

Sau khi chuẩn bị xong xuôi thủ tục ký gửi xe đạp, Abbas đáp máy bay tới Bangkok, sau đó chuyển xe lửa tới cảng Songkhla. Songkhla là một cứ điểm quan trọng khi xưa quân Nhật đổ bộ lên bờ, đường phố tuy đa phần là những nhà tầng xoàng xĩnh, song lại là trung tâm hành chính rất quan trọng. Vì gần đó có bãi biển Samila tuyệt đẹp, nên cũng thu hút không ít khách du lịch tới chụp ảnh trước bức tượng đồng mỹ nhân ngư bên bờ biển. Lúc Abbas tới cùng thời điểm quân Nhật đổ bộ khi xưa, tháng cuối cùng trong năm.

Năm đó quân Nhật quyết định tiến quân vào mùa mưa ở bán đảo Mã Lai, chính vì phán đoán quân Anh thể nào cũng không quen tác chiến trong mùa mưa gian nan. Một mặt khác, theo phán đoán từ thông tin khí tượng Đài Loan thu được, gió mùa Đông Bắc sắp mạnh đến mức thuyền vận binh rất khó đổ bộ, do vậy các sĩ quan tham mưu kiến nghị nếu thực sự muốn tác chiến, bắt buộc phải đổ bộ trước thời gian này.

Abbas mua tất cả nhu yếu phẩm ở Songkhla, bao gồm màn muỗi, dụng cụ mở hộp, dao gập, dao cong, kẹo, kẹo cao su thơm miệng, thuốc lá, viên muối, bật lửa, diêm, hộp kim chỉ, ấm nước, và viên lọc nước, cồn i-ốt với kháng sinh erythromycin vv… Chuyến đi này khiến anh vô cùng hào hứng, giống như loài động vật ăn cỏ lần đầu tham gia vào chuyến di trú đường dài.

Ngày hôm sau Abbas ăn xong bữa sáng Malaysia với quẩy và cà phê nóng rồi đạp xe xuất phát, anh men theo đường quốc lộ số 43 đạp lên Pattani, đây là một điểm đổ bộ khác của quân Nhật khi xưa. Abbas thử giải thích cho tôi, khí hậu Pattani và Songkhla khác nhau như thế nào. Một trăm năm trước, bốn tỉnh Pattani, Narathiwat, Yala, Satun phía Nam Thái Lan thuộc vương quốc Pattani, về sau mới bị vương quốc Xiêm La chinh phục, vì thế tỷ lệ người Malaysia khá cao, tỷ lệ tín đồ đạo Hồi cũng cao. Bao năm nay, dân đạo Hồi ở bốn tỉnh này vì bất đồng tín ngưỡng tôn giáo mà phải chịu kỳ thị, phát triển kinh tế cũng kém xa các địa phương khác của Thái Lan, luôn có phần tử mang xu hướng ly khai chính phủ Thái Lan hoạt động, thường xảy ra các vụ tấn công nổ bom. Songkhla đâu đâu cũng là khách du lịch Malaysia và quốc tế, nhưng ở Pattani, tuyệt nhiên không thấy còn ai đạp xe độc hành như Abbas.

Chiến tranh như cái bóng của cây dừa, chưa từng rời khỏi nơi đây. Abbas dừng chân tại Pattani một đêm, rồi tiến vào Yala nơi tình hình bạo loạn miền Nam Thái Lan còn gay gắt hơn. Dọc đường đều có các trạm kiểm tra quân sự, anh liên tục bị yêu cầu xếp tất cả hành lý ra đất kiểm tra rồi mới được đi.

“Làm như túi hành lý của mình giấu được cả con voi không bằng”. Abbas nghĩ.

Anh thận trọng đối diện với ánh mắt ngờ vực của binh lính Thái Lan, vì biết rõ phiền phức có thể tới từ quân đội chính phủ chứ chưa chắc đã từ phần tử đòi độc lập. Cứ thế sau ba ngày hết đi lại nghỉ, Abbas mới đạp tới sân bay Sultan Abdul Halim khi xưa sư đoàn 11 quân Anh-Ấn canh giữ lúc đầu.

Tốc độ này không ngờ lại xấp xỉ tốc độ tiến công của quân Nhật hồi đó, điều này làm Abbas vô cùng ngạc nhiên, quân Nhật khi ấy sau khi đổ bộ lên bờ thực sự phải hành quân hỏa tốc lắm mới được.

Năm xưa nước Anh không phải không biết quân Nhật nhăm nhe đến cao su và quặng thiếc của Mã Lai, vì thế quân đội Anh đã lập ra một kế hoạch “Đấu sĩ bò tót”, hễ quân Nhật phát động tấn công quân sự, sư đoàn 11 quân Anh-Ấn sẽ tức tốc tới Pattani, Songkhla, Kota Bharu là những nơi đối phương có khả năng đổ bộ tiến hành ngăn chặn. Nhưng kế hoạch này đã thất bại, nguyên nhân là vì tốc độ tấn công của quân Nhật vượt ngoài dự liệu của bọn họ, một nguyên nhân nữa là, hạm đội Z lớn mạnh nhất Viễn Đông của nước Anh không ngờ vừa khai chiến đã bị tiêu diệt.

Mấy ngày trước khi cuộc chiến nổ ra, mặt biển giăng kín sương mù, chỉ có vùng biển nơi có “HMS Prince of Wales” và “HMS Repulse” là quang đãng không mây như được an bài, nên bị máy bay tấn công của Nhật tóm gọn. Trên mặt biển, hai chiếc thiết giáp hạm thiếu sự bảo vệ của hàng không mẫu hạm, bị dội bom, rò nước, đổ nghiêng, chìm nghỉm, cả quá trình chỉ diễn ra trong vòng vài tiếng đồng hồ. Nghe nói Churchill nghe xong tin này suốt đêm không ngủ được, sầu não nói với bộ sậu của mình rằng, e rằng Nhật Bản đã không còn đối thủ trên khắp dải Thái Bình Dương rộng lớn này.

Sư đoàn 11 từ bỏ kế hoạch “Đấu sĩ bò tót”, di chuyển đến phòng tuyến Jitra phía Bắc Kedah, với ý định, chỉ cần có thể cầm chân quân Nhật ở phòng tuyến này vài tháng, công tác chuẩn bị tác chiến ở phía Nam và Singapore sẽ hoàn tất.

Nào ngờ đội quân vừa tới được phòng tuyến Jitra thì phát hiện chiến hào tích nước do mưa lớn, cũng không có biện pháp phòng ngự như lưới sắt, địa lôi, đường điện thoại cũng chưa kéo. Mùa mưa thì đã tới, trận mưa lớn đầu tiên đã trút rầm rập xuống mặt đất như đánh trống.

Abbas vừa dừng chụp ảnh ở chiến trường cũ gần đó, vừa tưởng tượng tâm trạng của binh lính. Anh cho rằng người chụp ảnh muốn chụp ra được phong cảnh thực sự, yếu quyết chính là phải biết được tại khung cảnh đó từng xảy ra những chuyện thế nào. Một khi sức tưởng tượng kích hoạt, cơ thể thực sự sẽ phát tiết adrenalin, thậm chí nổi da gà. Anh cho rằng khoảnh khắc nhấn màn trập, phong cảnh cũng sẽ trở nên không đơn giản là phong cảnh.

Sư đoàn 11 ngoài người Anh, phần nhiều là lính Punjab và Gurkha, nên thông thường được gọi là quân Anh-Ấn. Sư đoàn 5 của quân Nhật đổ bộ lúc hoàng hôn, vốn đã dự liệu một trận đánh ác liệt, khi trung tá Saeki Shizuo dẫn quân trong cơn mưa táp như roi quất xông lên đường quốc lộ, hàng phòng ngự của đối phương không hề nổ lấy một phát đạn, bên tai ông chỉ có tiếng mưa. Mười chiếc đại pháo xếp hàng dàn trận, nhưng vị trí pháo thủ lại không thấy người. Trong rừng cao su vẫn đậu ngay ngắn hàng trăm chiếc xe hơi, hàng chục chiếc xe tăng, xe bọc thép. Im lìm lìm, hệt như một cái bẫy.

Thì ra do trận mưa quá khủng khiếp, hàng phòng thủ quân Anh đánh giá thấp lòng quyết tâm hành quân của quân Nhật, đã chạy cả vào lều trú mưa. Phát hiện kẻ địch đã gần trong gang tấc, quân Anh-Ấn mới vội vàng ứng chiến, và nhanh chóng tan tác, chưa đến vài giờ đồng hồ, hàng nghìn người thương vong hoặc bị bắt làm tù binh, trong khi quân Nhật chỉ tổn thất vài chục người. Phòng tuyến Jitra được cho rằng có thể cố thủ ba tháng để lại đầy kho lương thực đủ dùng cho ba tháng, nào thịt bò đóng hộp, dứa đóng hộp, thuốc lá đóng hộp, whiskey và hàng trăm thùng xăng như thể tiếp viện cho quân Nhật. Binh lính Nhật Bản vì thế thường nói đùa trong bữa ăn: Đây là đồ Churchill cho.

Quân Anh-Ấn ồ ạt rút lui theo quốc lộ Nam-Bắc bán đảo Mã Lai, tình cảnh thê thảm như đám người lang thang. Bọn họ đánh sập các cây cầu dọc đường, định mượn địa hình hiểm yếu sông ngòi dày đặc của nửa Tầy Mã Lai, tiếp tục chặn quân Nhật ở sống Muda, giúp cánh quân chủ lực rút êm khỏi chiến trường. Nhưng quân Nhật không định cho họ cơ hội này.

Đơn vị công binh được huấn luyện từ đảo Hải Nam, Đài Loan đi đến đâu sửa chữa cầu đường với tốc độ đáng kinh ngạc đến đấy, quân du kích thì hóa trang thành dân Mã Lai, thâm nhập vào rừng nhiệt đới, thôn làng, khiến quân Anh-Ấn thần hồn nát thần tính. Đau đầu nhất là đơn vị Bánh xe bạc, bọn họ từ vùng núi vượt sông ngược lên thượng du, từ cánh bên xuyên rừng phát động hết lượt đột kích này đến lượt đột kích khác.

Do mất đi ưu thế trên không, đảo Penang hứng chịu không kích nghiêm trọng, tiến độ chuẩn bị chiến tranh chậm chạp, nhà máy phát điện bị phá hủy, nguồn nước cũng đã ô nhiễm. Phòng tuyến Muda mau chóng thất thủ, sư đoàn 11 lại rút lui ba mươi dặm về phía Nam tới sông Krian. Nghe nói khi quân Nhật tiến vào thành phố George, tuyệt nhiên không nghe tiếng súng nổ, các cửa hàng vẫn kinh doanh như bình thường, binh lính còn ăn kem và hô vang vạn tuế.

Tháo chạy một ngày mười mấy dặm, dù Abbas có đạp xe trên đường cao tốc thời này cũng thấy khó lòng tưởng tượng. So ra người đi du lịch một mình như Abbas thì còn có thể coi là “trang bị gọn nhẹ”, chứ khi xưa quân Anh-Ấn thi thoảng lại phải dừng lại gài địa lôi, ứng phó với đơn vị Bánh xe bạc, có thể tưởng tượng thể chất lẫn tinh thần binh lính nhất định đều cận kề trạng thái suy sụp.

Abbas nhớ lại mẩu tin quân sự từng đọc, một sĩ quan Anh phát biểu: “Binh lính đã mệt đến độ phải lĩnh một cái tát mới hiểu được mệnh lệnh đơn giản nhất. Những binh lính thiếu ngủ này hành quân cứ như người máy, hễ máy bay quân sự Nhật bay qua là lập tức theo phản xạ tìm chỗ nấp như rùa rụt cổ”.

Trước tình hình này, sĩ quan chỉ huy quân đội Anh quyết định tạm cho tàn quân lui về giữ phía Nam sông Perak, rồi mới tiến hành chỉnh đốn đội hình. Có điều cùng thời gian đó, một nhánh quân do Yamashita Tomoyuki điều động đang băng rừng phía Đông Kuala Kangsar, chuẩn bị đi trước một bước giành lấy đơn vị hạt nhân của bang Perak - thành phố Ipoh giàu quặng thiếc, cắt đứt đường lui của quân Anh.

 

Trong đêm đen, từ sân trường tiểu học Cửu Mỹ, tôi và Abbas ngắm nhìn bầu trời đầy sao và dãy núi Trung Ương in lờ mờ trên nền trời đêm, ngỡ như mình đang ở nơi núi cao hiểm trở Malaysia.

Abbas bảo hồi ấy ở Malaysia anh cũng có cảm giác tương tự, cứ ngỡ mình đang ở quê nhà. Anh đạp xe đến khu rừng nhiệt đới gần bang Perak, đứng từ xa nhìn sang thế núi ngọn Yong Belar cao thứ ba bán đảo Malaysia, cảm giác linh hồn ngọn núi ấy gần như giống hệt núi Tháp ở quê nhà - vừa thần thánh vừa âm u, vừa cao quý vừa đáng sợ. Khi xưa, một đội quân xâm lược cướp bóc tài nguyên nhằm xây dựng khối thịnh vượng chung Đại Đông Á, và một đội quân phòng ngự lẫn lộn cả đế quốc lâu đời tới phương Đông đặt ách thống trị và những người bị thống trị, đã chiến đấu liều chết trong khu rừng ấy. Trong trận chiến đó, không có cá nhân, súng trên tay anh, quần áo trên người anh, giày dưới chân anh, xà cạp bó chân, đến cả móng tay, đầu óc và máu của anh, đều thuộc về hoặc Hoàng quân hoặc đế quốc Đại Anh.

“Lúc đạp xe tôi thầm nghĩ, không biết cuộc chiến được thúc đẩy thần tốc như vậy, những người lính Nhật Bản trẻ tuổi kia làm sao chịu nổi, càng không biết quân Anh-Ấn tháo chạy làm sao chịu nổi”.

Ngày cuối cùng của năm 1941, quân Nhật đã tới Kampar phía Nam Ipoh. Nơi này địa hình hiểm yếu, rừng đổ xuống theo thế núi như thác, phạm vi xạ kích của quân du kích Anh-Ấn có thể lên tới một nghìn yard[5]. Đây cũng là cứ điểm quan trọng cuối cùng của miền Trung Mã Lai, nơi cánh quân phòng thủ của quân Anh chống đỡ các trận đánh chớp nhoáng của quân Nhật. Abbas thử đạp lên triền núi Thompson khi xưa quân Anh cố thủ, cắm trại trong rừng, tưởng tượng mình là một người lính Punjab, trải qua mấy ngày đêm chờ đợi quân Nhật phát động tấn công.

Bán đảo Mã Lai dài hơn bảy trăm dặm, ở giữa là dãy núi phủ kín rừng nhiệt đới, mé Tây là rừng ngập mặn và đầm lầy, mé Đông thì là bờ biển cát mịn. Tấn công vòng qua mé Tây, binh lính đi giầy nhà binh sẽ bị vướng víu ở rừng ngập mặn, do đó quân Nhật quyết định điều một nhánh quân cướp thuyền ngư dân lập thành đội thuyền máy chở lính bằng đường thủy, nhánh còn lại nhận lệnh cắt rừng tiến hành đột kích.

Thế nhưng trong rừng nhiệt đới có rất nhiều loài răng nhọn đang chờ đợi toán quân Bắc quốc này: muỗi vằn, rắn độc, đỉa, dây mây độc, thực vật có gai, tầng bùn lầy dưới cùng của rừng rậm… vì thế bọn họ chọn khu rừng đã “có lỗ hổng” làm đường tấn công.

Bấy giờ rừng nguyên sinh ở Mã Lai đã bị người Anh chặt bỏ khá nhiều. Nhằm phá vỡ lợi ích của Brazil trên thị trường cao su, người Anh đã nhập giống cao su của Brazil, mang sang Mã Lai thử trồng, sản lượng cao su trồng ở đây mau chóng tăng cao, chiếm gần một phần ba sản lượng toàn thế giới. Chính phủ Anh hết sức kiêng nể những công ty cao su và sản nghiệp tư nhân này, không dám đắc tội với những quý tộc, thương gia máu mặt có khối tài sản kếch sù, nắm trong tay mạch máu kinh tế. Quân đội thậm chí không dám tùy tiện chặt đồn điền cao su của các lãnh chúa để xây dựng công sự phòng ngự, điều này khiến phòng tuyến rừng xuất hiện rất nhiều lỗ hổng.

Cây đối với cư dân Mã Lai, vừa là nhà, vừa là tài sản, cũng là thần linh. Người Mã Lai dùng thân cây, cành cây và cả các nhánh cây nhỏ để dựng nhà, đem lá cây nghiền vụn bôi lên tường. Họ hái hoa quả trên cây ăn quả, đốt cành cây nấu thức ăn, trốn dưới bóng râm của cây tránh cái nóng khủng khiếp, lấy nhựa cây làm công cụ, trám ngoài vỏ thuyền con. Họ dùng cây và tre trong rừng làm nôi, quan tài, xây chùa chiền và cung vua, cũng như củi đốt trong nghi thức hỏa táng. Nhưng rất nhiều cây đã ngã xuống vì sự khai thác của nông trường, và những trận cháy rừng do cuộc chiến này gây ra, một số người Mã Lai vì thế gọi thế chiến thứ hai là “cuộc chiến tranh giết rừng”.

Abbas dắt theo chiếc xe của lão Trâu đi trong khu rừng như thế, lúc tỉnh táo đều nghĩ mình chẳng khác nào đi tìm cái chết, điên rồi, hối hận vì đã làm cái chuyện dại dột này. Gặp nơi dây mây bò chằng chịt khắp mặt đất lại phải lấy dao đi rừng phát quang một đoạn mới có thể đạp tiếp về phía trước, thể lực tiêu hao phải đến gấp đôi, mà không, gấp năm, gấp mười. Đáng sợ nhất là mưa trong rừng nhiệt đới, con suối vừa bước năm bước là lội qua, thoắt cái đã trở thành một dòng thác trắng xóa không trông thấy bờ đối diện.

Mưa sẽ trút đầy ắp sông suối trong phút chốc, sầm sập dội xuống tầng cao nhất của khu rừng như đánh trống đánh pháo, không khí cũng sẽ trở nên đặc quánh. Còn khổ sở hơn mưa to là mưa tạnh, đường sẽ lầy lội như sữa đu đủ đặc sệt, làm Abbas tiến hay lui đều không được, đi nửa ngày trời không nổi mấy trăm mét.

Ngày thứ hai vào trong rừng, Abbas đi đến một nơi giống như đem giấu cả ngọn núi vào trong mây, đám mưa bụi vừa hơi giống mưa, vừa không phải mưa đó khiến đồ đạc trên người anh đều ẩm ướt, rồi làm chúng xoắn vặn thành một thứ cảm xúc tuyệt vọng.

Tối hôm đó khi đi tiểu, Abbas thậm chí không thấy nổi cậu nhỏ của mình, cơ thể anh như vô hình, tất cả đều bị sương mù chùi sạch. Có lần anh và chiếc xe của lão Trâu dường như kinh động đến gì đó, bốn bề nổi lên tiếng cánh chim quạt gió ầm vang (như tiếng vỗ tay ngay hàng ghế bên cạnh khi đi xem kịch ở Nhà hát Quốc gia, đến màn diễn viên ra chào cảm ơn), anh như bị cuốn vào trung tâm một trận cuồng phong, Abbas thoáng thấy một bầy chim khổng lồ, sải cánh dài quá người, không rõ số lượng, bay vụt lên không ngay bên cạnh mình. Trong sương mù chỉ lờ mờ nhìn thấy chúng có cổ và đôi cẳng dài đều màu đỏ, mỏ dài gần bằng phần cánh giữa. Trong cơn kinh hoàng, Abba trượt chân ngã ngay cạnh đầm lầy, làm mất chiếc CONTAX III và cuộn phim trong đó. Chỉ đổi được lại một cọng lông của loài chim đó. Sau khi trở về hỏi thăm bạn bè anh mới biết, đó là một loài chim lớn gần như đã tuyệt chủng, tên là hạc cổ đỏ.

Rừng núi đêm khuya mang ý thù địch càng rõ rệt, như thể có gì đó đang nhìn chòng chọc vào mình. Abbas lớn lên trong núi từ bé, anh nhớ Basuya từng nói, thợ săn giỏi nhất là người ngay cả núi cũng không chú ý đến sự tồn tại của anh ta, nếu có cảm giác núi đang nhìn mình thì có lẽ sắp xảy ra chuyện.

Điều này khiến Abbas cứ sợ sệt, cảnh giác mãi, sau khi trời sáng anh quyết định xuống núi sớm. Có điều vòng trái vòng phải mãi vẫn mắc kẹt trong rừng rậm. Giữa một màu xanh mờ mịt, anh cứ thế đạp xe, như đang đi dưới đáy biển, xuyên qua rừng rong biển mềm mại, lay động, xung quanh có lúc tĩnh mịch không một tiếng động, lúc lại đột nhiên vang lên tiếng chim kêu và tiếng dã thú gầm gừ, lắm lúc Abbas cảm giác mình như nghe thấy tiếng cây rừng và dây mây đang quấn trên thân cây trò chuyện với nhau, âm mưu gì đó.

Lúc đi tới một vách núi ước chừng độ cao phải hơn nghìn thước Anh, anh trông thấy trên ngọn núi phía xa dường như có một ngọn “núi lộn ngược”, nhìn kỹ mới phát hiện đó là bầy ưng lên đến hàng nghìn con đang lượn vòng trên đỉnh núi, thế trận như xoáy nước đâm thẳng vào đám mây.

Abbas cảm thấy bản thân đang một mình đối diện với rừng nhiệt đới “đích thực”. Lũ bướm cánh chim khổng lồ, bầy chim rực rỡ khó lòng tưởng tượng, đám dây mây buông rủ trên thân cây cổ thụ, khiến anh nhớ lại lời một nhiếp ảnh gia thám hiểm từng nói: “Đẹp đến cùng cực chính là kinh dị”.

Trong quá trình đó, mới đầu anh còn chụp ảnh, về sau đến cửa trập cũng chẳng buồn ăn, vì không còn sức lực, cũng như mất mọi ý thức sáng tác. Bấy giờ anh chỉ muốn ra khỏi rừng, ra khỏi nỗi tuyệt vọng đó.

Suy cho cùng, nếu bản thân rốt cuộc lại chết trong khu rừng nhiệt đới này, dù sau này có người nhặt được máy ảnh, ảnh bên trong được rửa ra, thì cũng có ý nghĩa với ai đâu?

Trong tình cảnh tuyệt vọng đó không hiểu sao Abbas nhớ đến nhật ký của tiểu đoàn trưởng binh đoàn Punjab, miêu tả nguyên nhân quần lính tháo chạy mang tâm trạng ủ dột, không phải do sự xuất hiện của đại đội quân địch, mà vì đợi mãi, trên quốc lộ vẫn chẳng có động tĩnh gì.

Hiệu quả cách âm của rừng nhiệt đới làm tăng thêm sự tĩnh mịch của nền rừng, sự tĩnh mịch khiến người ta nôn nóng, cũng khiến người “ta nảy sinh một thứ cảm giác mù quáng - điều thực sự kinh dị mà anh gặp lần đầu tiên trong đời. Về sau Abbas nghĩ lại, nếu không phải từng đạp xe qua khu rừng đó, anh hoàn toàn không tài nào hiểu nổi thế nào là là “hiệu quả cách âm của rừng nhiệt đới làm tăng thêm sự tĩnh mịch của nền rừng”, cũng không hiểu thế nào là “cảm giác mù quáng khiến người ta nôn nóng”.

Abbas mở to mắt tìm kiếm con đường mòn lẫn vào cây cỏ, ngửi thấy mùi máu tanh ác ý từ rừng tỏa ra (có lẽ đây là mùi trái cây, vì trên mặt đất có rất nhiều trái cây rữa nát), thứ mùi đó dường như xộc vào qua lỗ chân lông chứ không phải qua khoang mũi, do vậy dù có nín thở cũng vẫn ngửi thấy.

Lúc này một bầy chim với phần lông trước ngực tỏa ánh lấp lánh bay tới lượn vòng quanh anh ba vòng, líu lo hót một bài rồi lại bay vụt đi như tên. Một con trong số chúng dừng lại, anh nhớ tới thứ “chim dẫn đường” người Malaysia vẫn hay nói. Abbas đi theo con chim dẫn đường, khoảnh khắc ấy anh tin con chim nọ chính là Basuya. Anh theo sau nó, như hồi nhỏ theo đuôi Basuya lên núi đi săn, Basuya không bao giờ dắt tay anh mà chỉ đi đằng trước, duy trì một khoảng cách anh mãi mãi không theo kịp, nhưng cũng không đến nỗi để mất dấu.

Basuya thường nói: “Nhất định phải lắng nghe mùi của rừng, chú ý hơi thở của núi, mệt cũng đừng cuống, tìm một phiến đá to mà nghỉ, để ý kỹ phiến đá đó, không phiến đá nào giống phiến đá nào”. Còn Abbas thuở nhỏ chỉ một lòng muốn đuổi kịp bóng hình cha, anh thầm nghĩ, chỉ cần cái bóng không tách ra, mình sẽ không đời nào lạc đường.

 

Không lâu sau trời đổ mưa, tiếng chim kêu cũng im bặt như bị ấn nút dừng. Abbas dừng xe lại, dựng lều tránh mưa tại chỗ, chuẩn bị nghỉ tạm, trong tình hình này cứ cố đi dưới mưa thì thật ngốc. Trong vẻ cô tịch, ánh sáng và mưa rơi xuống qua kẽ lá, hình thành một lớp sương sáng trắng như có như không, lờ mờ dao động, không hiểu sao, cảnh tượng này khiến anh nhớ đến cảm giác cùng lão Trâu bị hút vào mạch nước ngầm dưới đáy sông từ tầng hầm trong ngôi nhà bên ngoài thôn Nhị Cao nọ. Hơi sương trắng xóa, bọt khí trắng xóa.

Abbas điều chỉnh lại nhịp thở, tập trung tinh thần, phát hiện tất cả các âm thanh đã rõ rệt trở lại: giọt nước trên phiến lá va vào một giọt nước khác; loài ếch không rõ tên kêu ồm ộp, chim gõ kiến dùng chiếc mỏ dài khổ sở đục thân cây, thò lưỡi vào trong; hạt giống cây dây leo chọc thủng đất vươn về phía mặt trời, khoảnh khắc gặp được ánh sáng, chóp lá nhỏ xíu mắt thường không phân biệt nổi liền ló ra; ốc sên đang tiết dịch tiêu hóa hòa tan nó. Đủ loại thanh âm chập chờn, không quá cụ thể, giống như trộn lẫn với khói, ngấm vào trong mưa bụi.

Đột nhiên, trong lùm cây phát ra tiếng lao xao, mới đầu chỉ ở một điểm, rồi không bao lâu sau đã như sóng triều ập tới hết đợt này đến đợt khác, âm thanh đó khiến tim Abbas đập nhanh. Anh định thần nhìn kỹ, có vẻ là một bầy khỉ đang ào ào di chuyển. Abbas dõi theo tiếng động định tìm ra lũ khỉ giữa rừng rậm, song lại bị tia sáng đâm vào mắt, tạm thời đánh mất thị giác, đợi khi anh nhìn rõ lại được thì đã không thấy tung tích lũ khỉ đâu, xung quanh một lần nữa rơi vào tĩnh lặng. Abbas không còn nghe thấy bất cứ âm thanh gì.

Lúc này Abbas “ngửi thấy” một thứ mùi tanh hôi ẩm ướt, mạnh mẽ gạt phăng đủ loại mùi lộn xộn trong rừng mưa nhiệt đới, bao trùm lấy anh. Anh lắc đầu quầy quậy, cuối cùng cũng thoát khỏi tình trạng lóa sáng, dồn tất cả sức lực vào cặp mắt, tìm kiếm bằng trực giác của dòng máu thợ săn dân tộc Trâu, bất chợt phát hiện cách đó mười mét, một con đại miêu mà người Malaysia vẫn gọi là Hali Mao (hổ Mã Lai) đang cắt ngang bụi cây. Sọc vằn lộng lẫy trên mình nó hoàn toàn tiệp với ánh sáng và bóng râm trong rừng, con thú vuốt trước vuốt sau thong thả bước đi, đủng đỉnh quay đầu lại, giương cặp mắt như hổ phách, không chút cảm xúc, không vẻ tò mò nhìn về phía chiếc lều trú mưa Abbas đang náu thân. Khoảnh khắc đó, từng cọng lông trên người Abbas đều dựng thẳng đứng như kim châm, đồng thời đâm ngược vào trong, quả tim phình to đang vận chuyển máu tươi như con chim cút nhảy loi choi giữa dẻ xương sườn.

Rừng rậm lộng lẫy là thế, cái chết lộng lẫy là thế.

Đúng lúc ấy, Abbas lại nảy ra một ý nghĩ, anh muốn rảo bước về phía trước, giơ tay chạm vào bộ lông màu vàng kim ngạo mạn kia.

Nhưng anh không.

Hali Mao dừng lại chục giây, hoặc có lẽ chỉ một giây đã lại đi tiếp, vuốt trước vuốt sau, mất hút trong rừng không một tiếng động, chỉ để lại thứ mùi nồng nặc. Còn con tim sôi nổi, nhiệt huyết, gấp gáp của Abbas đập một hồi mới bình tĩnh lại được.

Bất giác, Abbas rơi nước mắt, trong cánh rừng này anh thậm chí không quyết định được sự tiến thoái của bản thân. Cánh rừng chẳng khác nào một thời đại.

Trong trạng thái kinh hoàng mỏi mệt, Abbas dường như nghe thấy giọng Basuya, giọng nói ấy bảo anh ngẩng đầu lên. Đó là một cái cây khổng lồ, kỳ lạ ở chỗ, rất nhiều phiến lá không phải màu xanh lục, dưới ánh nắng mặt trời chiếu rọi, vòm lá trên đầu anh lấp lánh ánh lam tím. Abbas định thần lại, phát hiện ánh sáng đó là cánh chuồn chuồn, lạ ở chỗ, đuôi con nào con nấy đều chỉ về cùng một hướng.

Dù hoang mang, Abbas vẫn thu hết sức lực dắt chiếc xe đạp của lão Trâu đi miết theo hướng đuôi chuồn chuồn chỉ, từ lúc hoàng hôn cho đến khi những tia sáng cuối cùng biến mất. Anh lại dựng trại đơn giản dưới ánh đèn đội đầu và đèn pin cầm tay, tự dặn mình phải tiết kiệm pin, tránh xáo động tâm trạng (chắc không có chuyện hên đến độ lại gặp Hali Mao lần nữa đâu), rồi cứ nửa tỉnh nửa mê như thế chống chọi qua một đêm.

Sáng sớm ngày hôm sau, Abbas ngỡ ngàng trước cảnh tượng trước mắt, cả một dải toàn cây đổ, chỉ còn lại những gốc cây xếp ngay ngắn, và khoảng đất mênh mông mọc đầy hồi dại, xa xa có một dòng sông uốn lượn chảy qua. Bên cạnh dựng một tấm bia, có tiếng Anh và tiếng Malaysia, thì ra đây là một khu nông trường vùng núi mới bị khai thác.

Abbas đưa M4-P lên ấn nút trập, xác định mình đã quay lại được đường cũ.

 

Chúng tôi ngồi trong trường tiểu học Cửu Mỹ, trên đầu là bầu trời sao khiến người ta không nỡ nhắm mắt, mặt đất phía xa giống như một tấm màn bạc khổng lồ. Núi Vọng Hương cũng chính là triền núi Thompson, Trần Hữu Lan Khê cũng chính là dòng sông Perak. Tôi thầm nghĩ, có lẽ chính nhờ kinh nghiệm này Abbas mới có thể trở thành một người biết chụp ảnh chăng.

Abbas nói, trong quá trình đó, anh cảm thấy bản thân dần dần hợp lại làm một cùng xe đạp của lão Trâu, không chỉ bản thân chiếc xe, mà còn với gì đó trừu tượng hơn nữa.

“Nói vậy có lẽ không chính xác lắm, mà hơi hoang đường. Nhưng tôi có cảm giác như thế đấy. Anh gắn bó với một chiếc xe như thế, cũng ngang với gặp gỡ cuộc đời của một con người”.

“Basuya hay là lão Trâu?”

“Cả hai. Có lẽ còn nhiều hơn”. Abbas nói. “Có lẽ là vì nguyên do ấy, tôi mới bắt đầu nảy sinh hứng thú với xe đạp cổ, và mới nhờ Annie mượn chiếc xe Hạnh Phúc của bạn cô ấy về bày ở tiệm. Anh nhớ chiếc MARUISHI dựng trong studio của tôi không? Nhưng đó lại là một câu chuyện khác”.

Tôi gật đầu, đợi anh tạm quay trở về với câu chuyện ban đầu.

 

Sau chiến dịch Kampar, quân Anh để mất sân bay Kuantan, rút lui về sông Slim, phòng tuyến cuối cùng trước Kuala Lumpur. Việc để mất sân bay Kuantan có ảnh hưởng vô cùng lớn đến quân Anh, bởi như vậy “Mitsubishi G3M”[6] sẽ càng dễ không kích Singapore tới tấp.

Trong toán quân phòng ngự tháo chạy với tốc độ mười dặm Anh một ngày, có những người chạy vào rừng, thậm chí trốn chui lủi đến hết chiến tranh mới dám thò mặt ra, bọn họ ở trong rừng, thân ai nấy lo, tự trải qua quãng thời gian dài đằng đẵng, giống như trăn lột xác, tuy trông vẫn vậy, song thực ra đã là con người khác. Khi nhận ra chiến tranh đã kết thúc và quay lại thành phố, một số người bọn họ thậm chí còn đánh mất một phần khả năng ngôn ngữ.

Sau khi không giữ nổi sông Slim, núi Ophir và sông Muar cũng lần lượt thất thủ, trong thời gian này chỉ có quân Úc ở gần thành phố Gemas giáng đòn tấn công vào quân Nhật. Song đơn vị chủ lực liên tục tháo chạy, đến tận phòng tuyến cuối cùng từ Kluang tới Ayer Hitam. Trung tướng Percival vốn kỳ vọng “giữ được mũi bán đảo”, nhưng sĩ quan chỉ huy chiến trường lại nhận định, tiếp tục cố thủ bang Johor cũng vô nghĩa, đơn vị chủ lực có thể sẽ bị quân Nhật tóm được và tiêu diệt, đến lúc đó ngay đến Singapore cũng không có quân mà giữ, rút lui là hành động bắt buộc.

Ngày cuối cùng của tháng Một năm mới, quân Anh-Ấn giống như một con rồng dài, cõng theo hành trang tiến vào đảo nhỏ, tiếp đó cho nổ một cái hố rộng hai mươi mét ngay tại con đê dài vắt ngang đảo và bán đảo. Vài ngày sau, quân Nhật dưới sự yểm trợ của pháo hạng nặng, pháo dã chiến, sơn pháo điều động từ Mãn Châu tới, dễ dàng vượt qua eo biển, đổ bộ Singapore. Quá trình này không hề nhận phải sự kháng cự ngoan cường như dự liệu, nguyên nhân là do hàng phòng ngự trên đảo đinh ninh rằng quân địch sẽ đi đường biển, bệ pháo do vậy đều hướng ra Thái Bình Dương, không cách nào dịch chuyển để đối diện với đợt tấn công bất ngờ của quân Nhật.

Hai tuần sau, quân Anh đưa ra quyết định đầu hàng nhục nhã nhất trong lịch sử. Đội quân ô hợp gồm hơn tám mươi nghìn người Anh, người Ấn, người Mã Lai, người Úc, phải đầu hàng trước quân Nhật yếu thế hơn cả về quân số lẫn vũ khí, trở thành tù binh. Đại đa số bị quân Nhật bắt đi xây dựng đường sắt từ Thái Lan chạy qua Myanmar, và chết ngay trên con đường sắt cắt ngang những cánh rừng nhiệt đới ngùn ngụt hơi sương cùng núi cao nước xiết ấy. Còn người Hoa bản địa thì bị đồ sát, xử tử trên quy mô lớn, chôn thân tại hòn đảo được người Nhật đổi tên thành “đảo Shōnan” này.

Bao gồm cả thời gian lạc đường, mất đúng một tháng đạp xe, Abbas cũng tới được Johor Bahru trong tình trạng râu ria mọc kín mặt, quần áo rách rưới, mang theo đủ thứ mùi khó ngửi của thực vật, chim muông, nước mưa, nước sông và chính bản thân mình. Lúc trông thấy biển, anh không kìm được dựng xe ở một chỗ, rồi lao ùm xuống, thậm chí cố ý uống vài ngụm nước biển để ăn mừng, dùng sự đau đớn giảm bớt cơn kích động của cơ thể.

Abbas bảo tôi: “Chuyến đi này hoàn toàn làm thay đổi tôi, hoặc nói cách khác, hoàn toàn làm thay đổi tâm lý muốn trở thành một nhiếp ảnh gia của tôi”.

“Ví dụ như?”

“Ví dụ như, cuối cùng tôi cũng biết, chụp ảnh không chỉ là chuyện ấn màn trập”. Abbas nói. “Một chuyện đơn giản như thế, rất nhiều người cầm máy ảnh cả đời cũng không thực sự hiểu được. Con mắt, tứ chi đều là bộ phận của cơ thể, rèn luyện não bộ và ấn màn trập không chỉ dựa vào suy nghĩ mà còn cần hành động, những giác quan này mới có thể khởi động thứ trực giác bản năng động vật ở một nhiếp ảnh gia đích thực”.

“Ừm. Có lẽ đúng”. Tôi nghiền ngẫm lời Abbas.

Song, sau khi Abbas được gột sạch toàn thân trong biển, mang một cảm giác thỏa mãn, uể oải bước lại lên bờ, anh nhận ra xe đạp của lão Trâu đã không còn nữa. Đống ba lô, túi nilon, quần áo bẩn thỉu như đồ ăn mày kia thì vẫn còn, chỉ có xe đạp là không thấy đâu. Anh kích động gào lên trên bờ cát, như thể đột ngột mất đi người thân. Thành thử, mọi người trên bãi biển, bao gồm cả Annie khi ấy anh vẫn chưa quen, đều bị tiếng gào thét thương tâm của anh thu hút lại.

 

Tôi ngồi trên xe khách, nửa tỉnh nửa mê nghĩ về câu chuyện Abbas kể đêm qua, chợt nhận ra mưa đã nặng hạt tự bao giờ. Mưa to đến độ xe như lặn trong một dòng sông, đèn xe lướt qua bên cạnh đều như cánh thợ lặn cầm đèn pin rọi dưới nước. Tôi nhớ Abbas từng nói, khi anh bị lạc trong rừng, cảm giác cảnh tượng đó rất giống lần anh và lão Trâu lặn xuống đáy sông.

“Rốt cuộc hai người đã trông thấy gì?”, bấy giờ tôi hỏi Abbas.

“Không biết nữa”. Abbas đáp.

“Đấy là cảm giác như thế nào?”

Abbas nghĩ ngợi rất lâu, nói: “Giống như đi trên dây cáp thép giữa thế giới này và một thế giới khác vậy, cảm giác mình không thuộc về cái thế giới của trải nghiệm này, cũng không thực sự thuộc về thế giới khác, nhưng có thể trông thấy đầu dây trước mặt, quay lại cũng có thể lờ mờ trông thấy đầu còn lại”.

Dây sắt giữa thế giới này và một thế giới khác ư? Tôi tưởng tượng tình cảnh đó, rất nhiều người dang hai tay giữ thăng bằng, hòng từ đầu này đi sang đầu đối diện.

Lúc này xe khách xuống khỏi giao lộ, đột nhiên sa vào một ổ voi rung rung lắc lắc, làm toàn bộ hành khách trên xe đều giật mình tỉnh giấc.

Tôi nhớ hồi nhỏ, tuy tàu hỏa hằng ngày đều chạy qua trước cửa nhà, tôi vẫn vô cùng mong ngóng mỗi năm tết đến được cùng mẹ đi tàu về quê. Giữa các toa tàu thường có một đoạn không cách nào nối khít lại hoàn toàn, những đoạn nối này ở tàu thường có khoảng cách rất lớn, rung rất mạnh. Tôi cực kỳ thích dừng ở lối đi đó, chỗ ấy nghe tiếng to nhất, ngoài âm thanh cả miếng sắt đập vào nhau, và âm thanh kim loại khi bánh tàu lăn trên đường ray, mọi thứ đều bị bít bùng.

Tôi lấy di động ra, mở nhóm “Người nhà”, nhắn một cái tin hỏi mọi người tình trạng mẹ thế nào rồi. Đúng lúc ấy, tôi nhận được bức thư thứ tư của Annie. Thư nào cô gửi tới, tiêu đề đều gõ chữ “psyche”, riêng bức này lại đề “Kẻ trộm xe đạp”.

Bức thư này khác với ba bức trước, không còn là truyện kể như tiểu thuyết nữa, chỉ viết đơn giản mấy dòng:

 

Tôi là Sabina, bạn của Annie. Trước có mạo muội gửi anh mấy bức thư không đầu không cuối, thực ra đó là một phần trong tiểu thuyết tôi viết, mà có lẽ không thể coi là tiểu thuyết cũng nên.

Annie bảo tôi, anh muốn hỏi thăm về lai lịch chiếc xe đạp Hạnh Phúc kia, và muốn mua lại xe, nhưng vì chúng ta còn chưa quen biết nhau, chiếc xe đạp đó lại liên quan đến chuyện riêng của tôi, nên nhất thời tôi không thể quyết định có trả lời anh hay không. Nghe Annie nói anh hình như cũng viết tiểu thuyết, còn từng được xuất bản, thành thử tôi đã tìm đọc tác phẩm của anh trước.

Tôi phải thành thực thừa nhận, vì đọc tiểu thuyết của anh nên tôi mới quyết định gửi trước một đoạn trong bản thảo tiểu thuyết được phát triển từ câu chuyện ấy cho anh. Sau khi lần lượt nhận được thư hồi âm của anh, tuy chưa từng gặp mặt, nhưng tôi cảm thấy mình chắc đã có thể kể với anh chuyện về chiếc xe đó.

Anh có muốn nghe tôi kể chuyện chiếc xe không? Nếu muốn, vậy anh muốn đọc phần kết cuốn tiểu thuyết của tôi trước, hay trực tiếp gặp mặt?

Thân,

Sabina

 

Thì ra người viết thư lúc trước không phải Annie. Tôi lập tức hồi âm, “Tôi vừa muốn đọc phần kết tiểu thuyết, cũng mong mau chóng gặp mặt, cô cứ quyết định thời gian và địa điểm”. Đúng lúc gửi thư đi, tôi cũng đồng thời nghe “tinh” một tiếng báo có tin nhắn, chị cả nói mẹ đã được chuyển sang phòng bệnh thường, bác sĩ chuẩn bị sắp xếp làm các kiểm tra cho bà. Chị cho tôi biết số phòng, bảo bốn chị còn lại đều đã tới thăm mẹ và đã cắt đặt thời gian trông nom bà, đến cuối chị còn cố ý nói đùa: “Đây có lẽ là cái lợi duy nhất của việc bà sinh lắm con thế”.

Cuối cùng là tin nhắn đến từ anh sáu. Tin nhắn gửi từ Nhật Bản không để lộ nhiều cảm xúc, dặn tôi phải giúp chăm sóc mẹ, anh sẽ lập tức về Đài Bắc.

Tôi nhớ lại mấy năm trước tới Tokyo thực hiện một cuộc phỏng vấn chuyên đề, từng nhân thể đi tìm anh sáu. Anh cho tôi một địa chỉ chắc chắn có thể tìm thấy anh, bảo tôi nhất định phải tới gặp anh.

Tôi tới địa chỉ đó mới biết ra là một quán bar nhạc Jazz dưới tầng hầm khu thương mại. Trên mái hiên bày một tấm áp-phích quảng cáo buổi biểu diễn tối hôm đó, có hai set, nửa trước là tam tấu quốc tịch Nhật, nửa sau là sân khấu của Kula & His Friends.

Kula chính là anh tôi.

Tôi vào quán bar, gọi một ly Gin. Tay chơi dương cầm của nhóm tam tấu tóc tai hơi dày, giống Tamura Masakazu phiên bản trung niên. Tay kéo violin âm trầm thì mặc sơ-mi trắng đứng đắn, bộ dạng một nhân viên văn phòng ma lanh. Tay trống lại trông như Charlie Watts đã có tuổi, chỉ có vẻ là một ông cụ hàng xóm tóc bạc đam mê làm vườn.

Tôi không hẳn là người mê nhạc Jazz, nhưng bài đầu tiên - ca khúc chủ đề The Shadow of Your Smile trong The Sandpiper thì tôi biết, đây là bộ phim điện ảnh có tuổi đời còn lớn hơn tuổi tôi, Đài Loan dịch thành Xuân phong vô hạn hận[7], tôi có sưu tập DVD. Nằm ngoài dự liệu của tôi, màn kết hợp giữa anh chàng ma lanh và Tamura Masakazu ăn ý đến sững sờ, cứ như sóng biển và bãi cát, đem cảm xúc đau thương, thứ ái tình bó tay hết cách chốn nhân gian, thông qua những ngón đàn thanh thoát, trở nên dễ tiếp nhận và truyền đạt hơn.

Khi anh sáu lên sân khấu, không hiểu sao tôi lại có cảm giác cực kỳ lạ lẫm, cứ như người trên sân khấu không phải anh mình. Sau khi màn biểu diễn bắt đầu, tôi dần dần bước vào thứ âm nhạc ghi-ta của anh sáu, cảm giác lạ lẫm đó trở nên có thể lý giải được. Anh đã không còn là cậu trai xanh chát lén lút tham gia chương trình Ngũ Đăng Tưởng rồi bị loại ngay ở vòng đầu, cây ghi-ta kia cũng không còn là món quà thi đỗ cha mua bằng cái giá mất đi một chiếc xe đạp, cây ghi-ta trong tay anh sáu như thể được tạo ra cho bàn tay anh, trong âm thanh đó có gì đó đang tồn tại một cách rất vững chắc. Lúc này anh sáu chính là một tay ghi-ta không hề có chút quan hệ huyết thống nào với tôi.

Sau vài bài, tôi cảm thấy anh sáu trên sân khấu song tấu cùng tay violin nhân viên văn phòng ma lanh, xét tư thế và động tác đều rất giống bậc thầy ghi-ta Joe Pass, ngón đàn để trong lúc biểu diễn đồng thời xuất hiện đường giai điệu âm thấp và hợp âm bộ âm giữa, kỹ thuật chơi đàn rõ ràng mạch lạc, và cả tư thế ngả người thấp như đang ghé tai nghe ghi-ta nói gì trong lúc biểu diễn, rất có thể đều là bắt chước Joe Pass.

Ngón tay anh giữa khoảng lặng mang một nỗi bi thương trầm lắng và kín đáo, quả thực đã khơi dậy tiếng đàn xuyên suốt lục phủ ngũ tạng tôi. Sau khi nghe đến cuối phần trình diễn, tuy trong quán không khí vẫn ồn ào náo nhiệt nhưng cõi lòng tôi có một cảm giác trong veo, giống như có người cầm chổi chạy vào, quét dọn sạch sẽ tất cả những thứ tạp nham bên trong.

Bỗng nhiên, tôi có cảm giác, bất kể anh sáu làm chuyện gì trái với đạo đức mình đều có thể tha thứ, tựa hồ nhiệm vụ của anh đến với thế gian này không phải để truyền thừa cái gì, mà là để đánh ghi-ta, ngồi trên một chiếc ghế, chơi một bài nhạc cho người khác nghe như thế là anh đã hoàn thành nhiệm vụ cuộc đời mình.

Buổi tối tôi và anh sáu ngồi nói chuyện trong một quán rượu mù mịt khói thuốc lá, anh hỏi tôi sống thế nào, tôi kể một vài chuyện vụn vặt không có gì đặc biệt. Tôi vốn định hỏi anh bao giờ về Đài Loan, nhưng giai điệu của The Shadow of Your Smile cứ tuôn chảy trong đầu, làm xao nhãng cuộc hội thoại giữa hai chúng tôi. Huống hồ tôi và anh không thực sự có chuyện gì để nói, tôi cực kỳ hối hận vì nghe xong buổi biểu diễn còn nán lại gặp anh. Tôi nên giữ ấn tượng về anh ở trên sân khấu, xuống sân khấu rồi, tôi không khỏi nghĩ đến việc anh đã vứt bỏ gánh nặng gia đình cho các chị thế nào.

Thế là tôi nhắc đến chuyện đó, không có ý gì sâu xa, mà như đem chuyện xưa ra làm chủ đề tán dóc thì đúng hơn: “Anh có nhớ năm đó cha đi xem điểm cho anh rồi làm mất xe đạp không?”.

Anh sáu nghi hoặc hỏi lại: “Có chuyện đó sao? Anh chỉ nhớ ông ấy tặng anh một cây ghi-ta”.

“Thì cũng có, nhưng hai chuyện này gắn liền với nhau mà”. Ít ra đối với tôi thì chúng gắn liền.

Anh sáu tuy học trường điểm cấp ba, nhưng cuối cùng lại không học đại học. Thời bấy giờ dù có trượt mọi người đều sẽ thi lại, nhiều người thậm chí còn thi lại đến bốn, năm lần, nhưng anh bảo số lần thi lại của đời anh đã dùng hết hồi thi cấp ba rồi, anh chỉ cho phép bản thân làm cái việc đó một lần trong đời. Một hôm sáng dậy, anh để lại một lá thư và cầm theo món tiền cha khóa trong ngăn kéo rồi biến mất, mẹ cuống quýt cả lên, cha thì hết sức bình tĩnh, từ chối nghe theo ý kiến của mẹ là đi tìm anh.

“Nó đi làm mấy cái trò (khang-khuè) chẳng ra thể thống gì (put-tap-put-tshit) chứ còn gì nữa!”

Ông nói. Sau khi anh bỏ nhà ra đi, người trong nhà trở nên xa cách và mang ý thù địch lẫn nhau, ai nấy nói năng đều hết sức dè dặt. Chắc anh tính đúng thời gian có giấy gọi nhập ngũ nên quay về lấy giấy gọi. Cha không trừng phạt anh, cũng không nói năng gì, anh đã cao lớn hơn cả ông, cha biết ông hoàn toàn không có cách nào tác động đến anh nữa.

Sau khi xuất ngũ, không phải anh sáu chưa từng nghĩ đến chuyện sống “yên ổn” như cha nói, anh mượn một món tiền của mẹ, cùng bạn bè sang Trung Quốc đầu tư nhập khẩu hàng may sẵn. Mới đầu cũng rất thuận buồm xuôi gió, nhưng rồi phong vân nhanh chóng biến sắc, bọn họ nhập một đợt hàng lớn, nhưng khi nhận về từ hải quan chỉ toàn hàng kém chất lượng. Tay thương nhân hợp tác bên Trung Quốc nhanh chóng biến mất, chẳng khác nào vết chân bị sa mạc nuốt chửng, không tìm ra chút dấu vết tồn tại nào.

Kể từ hôm đó anh sáu cũng biến mất, anh đến nhà hàng nhạc sống biểu diễn kiếm tiền tiêu vặt, có khi vài ngày liền không về, thường hay đàn đúm với A Cẩu là ông anh thằng bạn chí cốt của tôi - A Meo nhà mở tiệm giày. Do cách biệt tuổi tác, A Cẩu và anh tôi trong mắt chúng tôi giống như các vị thần. Họ thường làm những việc chúng tôi không dám làm: tới sạp sách cũ trên tầng hai mua tạp chí khiêu dâm, trốn trên sân thượng khu kinh doanh hút thuốc, ngồi trên lan can cầu vượt đi bộ.

Tôi còn nhớ mãi ngày hôm đó, anh sáu bị cha lôi từ ngoài vào nhà, xảy ra cuộc đôi co chẳng khác nào vòi rồng giữa khoảng đất hoang, cha cầm lấy cây thước gỗ đo vải quật túi bụi vào người anh sáu, nhưng anh quả thực quá cao lớn, loáng cái đã giật được chiếc thước. Lần đầu tiên tôi thấy anh sáu hiên ngang thách thức cha như thế, anh nói thẳng vào mặt ông: “Cha thích con cả đời giống như cha ngày ngày rúc (kiu) ở cái chỗ này (tsia) chắc?” (ký ức tôi có thể sai lệch, nhưng cường độ của lời nói thì chắc chắn là tương đương) rồi quay đầu bỏ đi.

Nhiều năm sau tôi mới nghe chị kể, anh và A Cẩu trốn trong nhà vệ sinh “hút xách” bị cha tôi bắt gặp. Ông bước vào nhà vệ sinh ngửi thấy một thứ mùi lạ, bèn quát lớn: “Đứa nào bên trong xéo ra đây”. Không ngờ đứa xéo ra lại là anh và A Cẩu.

Keo cường lực là thứ cha A Cẩu dùng dán đế giày. Cha A Meo thường đục một lỗ trên nắp hộp sắt đựng keo cường lực, cắm luôn bàn chải vào đó. Do hằng ngày đều sử dụng, quanh mép hộp toàn là keo cứng ngắc, trông như một cây nến thô kệch, nhỏ đầy sáp. Hồi nhỏ chúng tôi thường ngồi chồm hỗm quan sát cha A Meo làm việc, hít hà thứ mùi ấy, chưa từng nghĩ cái thứ đó có thể đem “hút xách”. Chẳng trách hồi đó tôi thường thấy trên mặt anh sáu có một vẻ mơ màng, anh dường như hài lòng hơn bao giờ hết trước sự nghiệp thất bại của mình.

Nhiều năm sau, tôi chắc như đinh đóng cột trong lòng, khoảnh khắc quay đầu đi ấy, hoặc vô số tháng ngày về sau, anh thể nào cũng thấy hối hận vì câu nói hỗn của mình. Nhưng dù biết chắc chắn là vậy, mười năm sau, tôi cũng giẫm theo vết xe đổ của anh. Từ đó tôi không còn trông thấy cha và anh nhìn nhau bao giờ, cũng không nghe thấy hai người họ nói bất cứ câu nào với nhau, người này phớt lờ người kia, phớt lờ quá khứ, quyết tâm về sau chỉ đem đến đau khổ cho nhau. Sau đó cha mất tích.

Trước khi cha mất tích, chúng tôi đều nhận ra, ông đang nhanh chóng quên hết mọi thứ. Ông thường viết công việc chuẩn bị phải làm vào tờ lịch ngày rồi vứt ra cửa. Làm vậy chỉ cần mở cửa sắt sẽ để ý thấy ngay trên tờ lịch có viết gì đó. Ông cũng thường đạp xe ra ngoài, cả ngày không thấy bóng dáng, lần lâu nhất đi suốt ba ngày mới quay về. Sau khi về ông cũng không nói rõ được đã xảy ra chuyện gì, mẹ vì thế mà năm lần bảy lượt tới chỗ Khai Chương Thánh Vương gọi hồn về cho ông.

Mà chúng tôi trước sau vẫn không hiểu, ông rốt cuộc không tìm thấy đường về nhà, hay đây là cách trốn tránh ông dùng để giải quyết mỗi khi xảy ra xung đột với con cái. Chúng tôi đều quá sợ cha, sự sợ sệt trước tôn nghiêm của ông khiến mọi chủ đề nói chuyện khả dĩ giữa chúng tôi đều bị quét sạch sành sanh. Không ai từng nghĩ, cha có lẽ cũng có điều gì đó muốn nói.

 

“Trước kia anh thường đạp xe đạp của cha tới nhà máy nhận sỉ quần bò, chú bảo về sau chiếc xe đó bị mất hả?”

“Vâng”.

“Nghe chú nói thế hình như đúng là có chuyện ấy thật”. Thì ra cùng một chuyện, có người cứ nhớ mãi, còn có người lại quên.

Tôi nhấp một ngụm sake ấm nóng, hỏi: “Cha từng nghe anh đánh ghi-ta chưa?”.

“Hồi trẻ anh chơi tầm bậy tầm bạ ở nhà, chắc ông ấy từng nghe rồi”.

“Không. Ý em là như tối nay cơ”.

Anh lắc đầu. “Làm gì có chuyện”. Nếu tối nay cha cũng như tôi ngồi dưới sân khấu nghe anh chơi đàn, không biết ông sẽ nghĩ thế nào?

“Ông ấy không muốn nghe đâu”. Anh sáu như nghe được câu hỏi trong lòng tôi, lẩm bẩm một mình. Tôi nghĩ tuy nhiều người hay nói không bận tâm người khác nghĩ gì về mình, nhưng đa số họ chỉ đang tự lừa dối bản thân. Người nói không bận tâm, có lẽ chỉ là đang lớn tiếng ra vẻ thế mà thôi.

Tôi nhìn góc mặt nghiêng anh, theo năm tháng, dáng vẻ già dặn của anh càng lúc càng giống cha trong bức ảnh hồi tôi chào đời, tốc độ nhả chữ cũng giống. Tôi đột nhiên cảm thấy, cha và mẹ sinh ra chúng tôi, nghĩ đủ mọi cách làm việc quần quật nuôi chúng tôi ăn học, cuối cùng lại biến chúng tôi thành những sinh vật họ hoàn toàn không thể hiểu nổi, rồi sau đó chúng tôi vĩnh viễn rời xa họ.

Xe khách nhanh chóng vào bến, tôi định trả lời tin nhắn của anh sáu, gõ: “Anh mau về đi”. Nghĩ một hồi, nhưng rồi không gửi đi.

❀ ❀ ❀

[1] Chương trình Ngũ Đăng Tưởng: Five Lights Award, chương trình giải trí tổng hợp do công ty Truyền hình Đài Loan ủy thác sản xuất, cũng là chương trình có tuổi đời phát sóng lâu nhất trong lịch sử truyền hình Đài Loan, bên cạnh chương trình thời sự của các đài.

[2] Thuyền Gỗ: Chuỗi nhà hàng nhạc sống đầu tiên và nổi tiếng nhất Đài Loan.

[3] Trác đầu: Phát âm theo tiếng Đài là [toh-thâu] người ngồi bên ban thờ thần, giúp dịch lời phán của thanh đồng.

[4] Cựu binh: Chỉ những người lính già đã xuất ngũ từng theo chính phủ Quốc Dân tới Đài Loan.

[5] Yard: Đơn vị đo lường của Anh, Mỹ; 1 yard = 0,9144 mét.

[6] Mitsubishi G3M: Máy bay tấn công từ căn cứ mặt đất kiểu 96 G3M, mẫu máy bay ném bom Nhật Bản sử dụng trong Thế chiến thứ hai.

[7] “Xuân phong vô hạn hận”: Ý là “Bao nhiêu sầu hận đều tan biến trong gió xuân” xuất phát từ bài Thanh bình điệu kỳ ba của nhà thơ Lý Bạch thời Đường.

Nguyễn Tú Uyên (dịch)
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 6 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.