Chiếc Xe Đạp Mất Cắp

Lượt đọc: 191 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Đại Lộ Chokushi*

❊ ❊ ❊

State Boulevard.

Ban đêm tôi chỉ ngủ ba tiếng, trong cơn mơ âm vang tiếng ve kêu. Làm tôi lúc tỉnh dậy cảm thấy hết sức u mê, bên tai vẫn còn nghe ong ong.

Ngày hôm sau khi tôi tới bệnh viện thay ca cho chị tư, tinh thần mẹ đã khá lên nhiều, bà ôn lại với tôi bao nhiêu chuyện cũ. Tôi nhắc đến chuyện xấu hổ hồi nhỏ rất sợ đi nhà vệ sinh nam một mình. Còn bà nhớ lại hồi đó nhà vệ sinh nữ của khu kinh doanh thường xuất hiện lũ “dê già” (tshi-kò), bọn này hay nằm bò trước cửa nhà vệ sinh nữ, nhìn trộm đàn bà con gái đi vệ sinh qua khe hở dưới cửa. Có lần bà phát hiện dưới khe cửa có cái bóng chao động, bèn cố ý đứng dậy, chỉnh lại quần áo rồi đi ra. Bà biết con “dê già” đã trốn vào một buồng vệ sinh khác, nên đóng cửa chính nhà vệ sinh lại, gọi Dẻ Sườn ở tiệm tạp hóa lấy khóa khóa cửa, cho đến khi con “dê già” kia từ bên trong đập cửa xin tha.

“Sau mẹ có báo cảnh sát không?”

“Không”. Bà nở nụ cười, vui vẻ hắt xì hơi mấy cái. “Cha các anh đạp (tsàm) hắn mấy cái”. Đã rất lâu rồi chúng tôi không cười vì một chuyện xưa cũ thế này.

Chập tối, sau khi bàn giao mẹ cho chị cả, tôi quyết định bắt xe buýt về nhà cũ tìm tập album của gia đình. Tập album đó để trong một cái tủ ly ở phòng khách, tôi rút từng tấm ảnh ra chụp lại lưu vào máy tính bảng.

Ngày hôm sau tới bệnh viện, mẹ vẫn đang say giấc trong tiếng ngáy trầm đục, có lúc còn kèm theo ho khù khụ, hoặc đột nhiên rúm người như trẻ con. Cuộc đời này mười năm đầu có lẽ đều là mẹ nhìn bộ dạng tôi ngủ, bản thân tôi rất hiếm có cơ hội được trông mẹ ngủ, như bây giờ, tự dưng có cảm giác lạ lùng sao đó.

Tôi ngồi bên cạnh trông mẹ ngủ, vừa chạy bản thảo cho mấy tờ tạp chí: bao gồm một bài phóng sự về con đường xe đạp đầm Nhật Nguyệt, một bài phỏng vấn một người trồng trà hữu cơ ở khu Văn Sơn, cùng một bài giới thiệu ngắn một cuốn sách du lịch. Tôi không đến nỗi chán ghét công việc này lắm, dù sao nhiều lúc vẫn có thể tìm được trong đó một số động lực có ý nghĩa.

Mẹ tỉnh dậy vừa hay lúc chị tư tới thay ca cho tôi, tôi cho mẹ và chị xem ảnh trong máy tính bảng. Cả hai người đều thấy việc đối chiếu dung mạo hiện giờ của mọi người trong nhà xem có gì thay đổi rất thú vị, thiết nghĩ đây cũng là một trong những công dụng của ảnh chụp, nó khiến bạn của hiện tại và bạn trong quá khứ có thể nhìn thẳng vào nhau.

Có một bức chụp cha đứng trước tòa tháp ở công viên Mới (nay gọi là công viên 228), mép ảnh còn cắt viền hoa, tôi đoán là do thợ ảnh dạo ở các khu tham quan chụp. Đó là ảnh đen trắng tô màu, ngày tháng lâu dần, màu vàng màu đỏ trở nên vô cùng nổi bật, thành thử toát lên một vẻ không thật. Chúng tôi đều không biết cha chụp bức ảnh này trong hoàn cảnh nào.

“Cha anh chị hồi này (sî-tsūn) chắc tầm tuổi thằng cả”.

“Vâng” Tôi và chị tư mỗi người mang một cảm xúc riêng. Tôi nghĩ, rồi một ngày chúng tôi sẽ đuổi kịp cha trong bức ảnh.

Tôi lại mở bức ảnh chụp ba người lớn, một trẻ nhỏ, đứng trước hiệu giày chật hẹp, vịn vào một chiếc xe đạp cho mẹ xem. Song bà dường như đã quên bức hình này.

“Mẹ, hồi lâu lắm rồi con từng cầm bức ảnh này, hỏi mẹ xe Khổng Minh của cha là hiệu gì đấy”.

“Làm gì có (kám ū) ?”

“Có mà”.

“Thế tôi bảo là hiệu gì?”

“Hiệu Hạnh Phúc”.

Chị tư góp miệng: “Đúng rồi, mẹ bảo là hiệu Hạnh Phúc”.

“Đúng rồi, là hiệu Hạnh Phúc”. Mẹ nhìn đầu ngón tay mình, tựa hồ cả cuộc đời bà đều ở cả đó.

Tôi suy tính có nên nói với mẹ và chị rằng mình đã tìm được chiếc xe đạp đó hay không, lời quanh quẩn ở cổ họng rồi vẫn nuốt ngược trở xuống, vẫn chưa đến lúc, câu chuyện vẫn chưa hoàn chỉnh. Nhưng câu chuyện sẽ có ngày hoàn chỉnh chứ?

“Mẹ, mẹ còn nhớ có lần xe Khổng Minh của cha dựng chỗ (hia) phòng khám Nhi cầu Đài Bắc bị người ta lấy trộm, cuối cùng tên trộm đó khéo thay (too-hāp) lại đạp xe đến khu kinh doanh, để lão Lý khóa xe lại không?”

“Nhớ chứ, nhớ chứ”.

“Bấy giờ vì sao cha lại tha cho tên trộm?”

Mẹ chần chừ một thoáng, nói: “Tôi cũng từng hỏi ông ấy. Cha anh bảo người đó là đồng môn hồi ông ấy đi Nhật, dù sao xe Khổng Minh cũng quay về rồi, thôi bỏ qua cho người ta”.

“Đồng môn bên Nhật? Ở nhà máy hải quân Kōza chăng? Sao cha không chào hỏi ông ấy?”

“Người đã suy sụp bệ rạc thì không muốn bị ai nhận ra đâu, thói đời là thế”. Trả lời tôi xong, mẹ như sực nhớ ra điều gì, bảo chị tư và tôi: “Lúc nào rảnh thì thay tôi đi một chuyến (tsuā) tới chỗ Thánh Vương Công được không? Hỏi hộ tôi xem có phải cha các anh chị muốn tới dắt (tshuā) tôi đi rồi không”.

“Mẹ nói linh tinh”. Chị tư mắng mẹ.

Đúng lúc ấy điện thoại di động của tôi đổ chuông, đầu dây bên kia vẳng tới một giọng nữ lạ, ấm áp chậm rãi, nghe không rõ lắm. Tôi che điện thoại, đi sang một bên.

“Cậu Trình phải không?”

“Tôi đây”.

“Nếu cậu đồng ý đi vườn thú với tôi một chuyến, tôi sẽ sẵn lòng kể chuyện cho cậu”.

Tôi không hiểu đầu cua tai nheo gì: “Là sao ạ? Xin hỏi cô là…?”

“À, tôi là Lâm Thu Mỹ, mọi người đều gọi tôi là Shizuko”.

 

Hơn chục năm rồi tôi chưa tới vườn thú. Thi thoảng nhớ lại ấn tượng về vườn thú Viên Sơn hồi nhỏ, chỉ là một nơi ẩm ướt đầy mùi lạ. Loài động vật nào cũng ở trong một cái lồng sắt rất gần du khách, giống như một trại tù mở cửa cho tham quan. Sau khi có vườn thú mới, tôi có dẫn mấy đứa cháu đi. So sánh ra thì, “logic” của vườn thú mới hình như khác hơn, không còn phân bố các lồng thú theo kiểu thần bí bất quy tắc nữa mà dựa theo môi trường sinh thái phân thành khu động vật châu Phi, khu động vật thảo nguyên, khu động vật rừng nhiệt đới châu Á vv… Do diện tích khuôn viên rộng hơn trước đây nhiều, nên cũng bắt đầu có xe tham quan chạy qua lại như thoi đưa.

Ở vườn thú chỉ riêng chỗ bán vé đã có đến mấy quầy, lúc tôi tới nhìn quanh quất một lát, đang định gọi điện cho Shizuko thì thấy một cô gái trông như người giúp việc ngoại quốc, đẩy một chiếc xe lăn đi về phía mình. Trên xe lăn là một bà cụ tóc trắng như cước, ánh mắt bình thản. Do gầy gò, thân hình bà trên chiếc xe lăn trông hệt như đứa trẻ nhỏ.

“Cậu Trình phải không?”. Bà cụ từ xa đã gật đầu với tôi, khi lại gần thì thều thào hỏi.

“Vâng”.

“Tôi là Shizuko, còn đây là Mina” Mina hẳn nhiên chỉ người giúp việc đẩy xe cho bà. Tôi và Mina gật đầu với nhau, rồi theo trao đổi trong điện thoại, tôi bước lại nhận phần đẩy xe. Vẻ mặt Mina trông có vẻ phấn khởi vì có được vài tiếng đồng hồ nghỉ ngơi ngắn ngủi, dường như đã đẩy bà cụ đến vườn thú rất nhiều lần, cô không hứng thú vào thêm lần nữa mà đi thẳng ra bến tàu điện ngầm. Từ xa đã thấy một nhóm bạn đang vẫy tay đợi cô.

Do không phải ngày nghỉ lễ, trong vườn thú không hề đông người, tôi hỏi Shizuko muốn bắt đầu từ đâu. Bà đề nghị hẵng bắt xe tham quan đến vườn chim ở xa nhất, rồi từ đó đẩy xe lại tôi sẽ đỡ tốn sức hơn. Khoang cuối xe tham quan có chỗ cho xe lăn, một bác gái mặc áo gi-lê tình nguyện viên giúp tôi hạ cầu dắt xe xuống. Cả xe chỉ có tôi và Shizuko cùng một gia đình, tâm trạng cứ như học sinh tiểu học lần đầu đi dã ngoại tới vườn thú.

“Sở thích của tôi là đọc sách, nấu ăn, vẽ tranh, ngắm chim, với cả đi dạo vườn thú. Đến thành phố nào tôi cũng đều đi tham quan vườn thú, nào là vườn thú San Diego, vườn thú Moscow, vườn thú Berlin, tôi đều đi cả rồi, cũng tới cả vài khu bảo tồn ở châu Phi. Tôi thường vẽ bản đồ vườn thú, đây là thú vui của tôi. Cậu xem, đây là bản đồ vườn thú Mộc San[1] tôi vẽ”.

Đó là tấm bản đồ vườn thú độc đáo nhất tôi từng thấy. Shizuko không sử dụng góc nhìn bao quát trên cao thông thường để vẽ khuôn viên mà dùng thủ pháp biểu hiện không gian lập thể từ góc bốn mươi lăm độ trên không. Trong bản đồ, gần với người nhìn nhất hẳn là suối Cảnh Mỹ, cảnh nền xa nhất thì là một ngọn đồi không rõ tên, các chuồng thú đan xen ở giữa. Nhờ cảm giác lập thể rõ rệt được phác nên bởi các nét vẽ bằng mực bút kim, hươu cao cổ trông thực sự như đang duỗi dài cần cổ, hai chú voi sóng đôi trước chuồng thú nghiêng mình về một bên tựa hồ đang nhảy múa, một chú giơ cao vòi lên trời, một chú lại chúc vòi xuống thấp quặp lấy một bó cỏ. Mỗi gốc cây đều có bóng râm, có chim bay trên trời và chim trong lồng lớn ở vườn chim. Tôi để ý thấy trong bản đồ không có cáp treo, có lẽ là được vẽ trước khi hệ thống cáp treo xây dựng xong.

“Đúng là một tấm bản đồ độc đáo, vẽ đẹp quá, vườn thú đáng ra nên in bản này cho du khách”.

“Tôi rất vui vì cậu thích, đây là bản sao, tặng cậu đấy”. Tiếng Shizuko khá nhỏ, tôi phải nghiêng đầu lại gần miệng bà mới nghe tương đối rõ bà nói gì. Tấm bản đồ còn đi kèm một chiếc túi giấy xi măng làm thủ công, in dòng chữ Vườn thú Mộc San thành phố Đài Bắc bằng thể chữ Minh rất cổ xưa, về sau tôi mới biết, mỗi tấm bản đồ vườn thú do Shizuko vẽ đều được bà để trong một chiếc túi giấy xi măng thế này, đồng thời mỗi vườn thú đều được chọn một loài vật đại diện khắc thành con dấu, hình ảnh đại diện cho vườn thú Mộc San là một chú voi. Tôi cảm ơn rồi nhận lấy.

Vườn thú cũng giống như mọi công trình vui chơi khác, người tham quan chủ yếu là mấy cặp tình nhân, trẻ con, và các ông bố bà mẹ mệt lử. Quả thực rất hiếm thấy gã trung niên nào đẩy xe lăn chở một cụ bà, chốc chốc còn cúi đầu lắng nghe như tôi.

Theo chỉ đạo của Shizuko, trước tiên tôi đẩy bà tới vườn chim, rồi vòng ra mặt sau nơi có chuồng chim cỡ lớn vắng người lui tới.

Trong chuồng lần lượt nhốt mấy loài gà trĩ Đài Loan như trĩ đỏ, gà lôi lam lưng trắng, có cả kim kê lông vàng rực rỡ diệu kỳ đến từ Trung Quốc, và một số loài hạc cao lớn trái lẽ thường. Trong đó tôi nhận ra hạc cổ đỏ. Lý do nhận ra loài chim hiếm này là nhờ Cát, một người bạn chí cốt của tôi sau này bỏ kinh doanh thủy tảo, chạy sang Ấn Độ tu tập. Anh từng gửi cho tôi một tấm bưu thiếp tiêu đề Chim thiêng, có hình loài hạc với đặc trưng nổi bật này - giữa cổ nó có một khoảng trụi lông, để lộ phần da màu đỏ rực rỡ. Cát viết trên bưu thiếp, rằng Ramayana là thiên sử thi được nhà thơ Valmiki viết để nguyền rủa một gã thợ sắt đã giết hạc cổ đỏ.

Shizuko mới đầu ngắm chim tỏ ra trầm lặng như đang nghĩ ngợi gì, tôi không vội giục bà lên tiếng. Rồi trong lúc chậm rãi đi qua từng lồng chim, Shizuko bắt đầu kể chuyện gần hai mươi năm trước, bà từng dẫn một người bạn Nhật Bản tên Uesugi-kun và vợ là Yuriko, tới rừng sương mù ở núi Đại Tuyết tìm gà lôi lam lưng trắng.

Uesugi là một nhà tự nhiên học, cũng là một người mê chim, thường thường cứ cách một khoảng thời gian lại tới Đài Loan ngắm chim. Mỗi lần tới đều do Shizuko tiếp đón. Hôm đó bọn họ ở lại một sơn trang gần đường mòn vào núi, chuẩn bị tảng sáng thì xuất phát. Nhưng đến hôm sau Shizuko và Yuriko chỉ đi theo được một đoạn, cuối cùng vi không đủ thể lực đành quyết định quay về trước. Đôi bên giao hẹn, sau giờ trưa Uesugi phải quay lại để cùng ăn tối ở sơn trang.

Shizuko nói, tên tiếng Anh của gà lôi lam lưng trắng là Swinhoe’s Pheasant, do nhà tự nhiên học người Anh Swinhoe phát hiện ra. Điều khiến Shizuko ấn tượng sâu sắc nhất chính là Swinhoe miêu tả lông đuôi loài chim trĩ này có hình ống tròn, hơn nữa còn có lông vũ màu trắng tuyệt đẹp. Bà chỉ con chim trong lồng bảo tôi, gà lôi lam lưng trắng và chim trĩ hoàng đế có thể phân biệt bằng lông đuôi. Đuôi chim trĩ hoàng đế có vằn đen, thoạt trông giống như đen tuyền, thành thử gọi là chim trĩ đuôi dài đen thì chính xác hơn. Thú vị ở chỗ, tên tiếng Anh của chim trĩ hoàng đế là Mikado Pheasant, Mikado có nghĩa là hoàng thất, hoặc Thiên hoàng Nhật Bản, nhưng chim trĩ hoàng đế và hoàng thất Nhật Bản không có gì liên quan, vì sao lại đặt cái tên này?

Ra là do nhà sưu tầm các loài chim người Anh Rothschild từng nhầm gà lôi lam lưng trắng trong vườn thượng uyển của Thiên hoàng Nhật Bản là chim trĩ đuôi dài đen.

Tôi lắng nghe câu chuyện không mấy liền mạch của Shizuko, tiếng Anh của bà mang nặng khẩu âm tiếng Nhật, nhưng sự tự tin trong ngữ điệu đủ để làm rung động tất cả những người nghe bà kể chuyện, điều khiến tôi bất ngờ hơn cả là, với một người hơn chín mươi tuổi, từ vựng tiếng phổ thông của bà khá nhiều, khác hẳn mẹ tôi, người gần như không thể nói tiếng phổ thông.

“Tôi quen đội trưởng Mục, kể ra cũng là nhờ quan hệ của ngài Uesugi”. Shizuko nói.

 

Tới chiều vẫn không thấy Uesugi từ rừng rậm sương mù trở về căn nhà trên núi. Yuriko và Shizuko đành nhờ những người khách leo núi khác giúp đỡ, đồng thời bắt đầu cân nhắc chuyện báo với ban quản lý, dù sao, ngài Uesugi cũng đã có tuổi. Cứ thế đến tận hoàng hôn, vẫn không có bất kỳ tin tức gì, Yuriko như ngồi trên chảo nóng, Shizuko bình tĩnh hơn cũng cảm thấy có phần thấp thỏm, buổi tối trên núi nhiệt độ chênh lệch rất lớn, bà vô cùng hối hận đã để Uesugi một mình vào rừng. Mấy nhân viên ban quản lý lập thành đội tìm kiếm tạm thời, tập trung tại sơn trang vào khoảng chín giờ tối; hai giờ sáng thì trông thấy ngài Uesugi cùng nhân viên cứu hộ trở về. Đi cùng ông còn có một người đàn ông mặc đồ leo núi sọc vàng đen, thân hình cao lớn, sắc mặt hanh đỏ, dáng đi khòng khòng như gà lôi, trông có vẻ trẻ hơn ngài Uesugi đôi chút. Với vẻ mệt mỏi, sắc mặt trắng bệch, Uesugi giới thiệu đó là ân nhân đã cứu mạng ông.

Ngài Uesugi bị lạc đường trong khu rừng rậm sương mù nọ, dọc đường không gặp được con gà lôi lam lưng trắng nào, tệ hơn là ông không sao quay lại con đường núi được nữa. Đường trên núi thường bắt nạt người sống, càng hoảng sợ lại càng không tìm được lối ra, cây linh sam nào trông cũng giống nhau. Ngài Uesugi vốn rất tự hào về trực giác của một nhà tự nhiên học, chẳng ngờ sự tự tin ấy lại khiến ông rơi vào cái bẫy của rừng rậm. Cũng may ông còn mang theo trên người đủ nước và lương khô đơn giản, đúng vào lúc tuyệt vọng định kiếm chỗ qua đêm thì trong bóng tối, ông nghe thấy có tiếng lạo xạo phát ra từ tán cây trước mặt.

Một bóng đen từ trên cây trèo xuống.

Uesugi ra sức dán người vào thân cây sau lưng vì sợ, đồng thời căng mắt muốn nhìn cho rõ rốt cuộc là thứ gì vừa trèo xuống. Ông cảm giác cái bóng đó đang từ từ tiến lại, đến tận trước khi ngửi thấy một thứ mùi của đồng nội hoang vu, ấm nóng và nghe cái bóng ấy lên tiếng, Uesugi tựa hồ cứ ngỡ mình đã bước vào cửa âm ty.

 

“Lúc đó ngài Uesugi không hề biết, đội trưởng Mục là một người đi khắp nơi trèo cây, hôm đó ông ấy định qua đêm trong rừng, đợi bình minh”. Shizuko nói.

“Đi khắp nơi trèo cây? Bác bảo đội trưởng Mục đi khắp nơi trèo cây ấy ạ?”

Không biết do không nghe thấy hay không hiểu câu hỏi của tôi, Shizuko lại tắt công tắc nói chuyện. Có lẽ do tuổi bà đã cao, khó lòng nói liên tục trong một thời gian dài. Chúng tôi vòng qua khu bò sát và khu chim cánh cụt, đi thẳng tới khu động vật ôn đới, Shizuko không mở miệng lần nào nữa. Chúng tôi ngắm sư tử núi bình thản khoan thai nằm bò ra như một chú mèo to xác, cùng linh miêu tai nhọn đi lại uyển chuyển. Tôi phát hiện khi lặng yên ngắm nhìn các loài động vật, Shizuko cứ như đang đối diện một bức họa vĩ đại, tĩnh tại.

“Tôi đang nghĩ phải nói thế nào, cậu biết đấy, có lúc sự việc không phải kể một câu chuyện là hết. Có thể chuyện đã bắt đầu từ lâu, từ khi cậu còn chưa biết gì”. Tôi chầm chậm đẩy xe lăn cho Shizuko, khi bà lần nữa lên tiếng đã là ở trước chuồng hắc tinh tinh.

Nhà Shizuko ở gần Đầu Cầu Lớn[2], hồi bà còn trẻ, cầu Đài Bắc vẫn còn là cầu sắt, trước cửa nhà không có nhà cửa, đứng ở đầu đường là có thể trông thấy tàu thuyền sắp cập cảng. Trước chiến tranh, thường có “thuyền Phúc” cỡ lớn từ Phúc Kiến tới chạy qua cầu sắt đến Đại Đạo Trình buôn bán. Trẻ nhỏ suốt ngày tụ tập ở bờ sông chơi, từ xa trông thấy cánh buồm liền vội vội vàng vàng chạy lên cầu sắt, chuẩn bị xem biểu diễn.

Khi thuyền đi qua cầu, những thuyền viên thành thục để mình trần sẽ cuộn buồm lên, hạ cột buồm xuống. Có vài đứa trẻ to gan còn trèo lên điểm cao nhất của thân cầu cong cong, đợi lúc thuyền sắp chui qua cầu sắt thì hít sâu rồi “hây ya” một tiếng nhảy ùm xuống sông, ngay sát mạn thuyền, làm nước bắn tung tóe như bom nổ, sau đó nổi lên mặt nước, vịn thuyền bơi một đoạn.

Những đứa khác thì ở trên bờ chạy theo thuyền, đến tận bến cảng. Đám bơi dưới nước sẽ lên bờ theo thuyền và hàng, nếu may mắn còn được các thuyền viên ném cho ít bánh ngọt mang theo từ Trung Quốc, bọn trẻ chia nhau chén sạch những thức này rồi lại chạy trở về cầu sắt. Shizuko khi ấy tuy nhỏ tuổi nhất nhưng rất ra dáng con trai, lúc nào cũng chạy theo sau mọi người.

Hồi ấy Shizuko học ở “Trường tiểu học trực thuộc trường Quốc ngữ phủ tổng đốc Đài Loan”, nhập học sớm hơn một năm so với những đứa trẻ thông thường. Một mặt là nhờ cha cô đảm nhận công tác văn thư ở tòa thị chính Đài Bắc, một mặt là do mẹ Shizuko mất sớm, thành thử cô được châm chước cho đi học sớm.

Trường tiểu học trực thuộc trường Quốc ngữ bấy giờ có một vườn thú nhỏ, nuôi vài con vật nhỏ xinh như thỏ với chuột lang, về sau có một kỹ sư từng được chính phủ Nhật cử sang Borneo mang về một con tinh tinh nhỏ, được hiệu trưởng trường Y Đài Bắc, ngài Morio Hori đồng ý, tạm thời cho nuôi trong chuồng thú này. Tuy không biết là tên do ai đặt, nhưng ngay từ đầu lũ trẻ đã gọi nó là “イチロー君” Ichirō-kun. Ichirō ở trong một cái lồng sắt vuông rộng khoảng hai mét, các bạn nhỏ ngày nào đi học cũng trông thấy.

Bọn trẻ đều rất thích Ichirō, Ichirō cũng như đứa trẻ, vô cùng hoạt bát hiếu động, mắt đẹp mê hồn, bộ lông đỏ mềm mảnh lấp lánh phát sáng. Sáng ra bọn trẻ chào “おはよういちろう” (Chào buổi sáng, Ichirō), nó cũng sẽ vẫy tay lại. Lúc bác lao công vào chuồng quét dọn, Ichirō sẽ ôm chặt lấy bác, giờ tan học nếu bọn trẻ xúm lại gần lồng, nó sẽ chìa cánh tay lông lá ra khỏi lồng chạm đầu ngón tay với chúng. Đến giờ Shizuko vẫn nhớ cảm giác như có dòng điện chạy qua lúc ngón trỏ chạm vào đầu ngón tay Ichirō.

Một sáng nọ, lúc đang học giờ Quốc ngữ, một bóng người không phải học sinh chợt xuất hiện trước cửa lớp, đó là Ichirō xổng từ lồng sắt ra. Đám trẻ trông thấy Ichirō chạy ra thì vui không để đâu cho hết, có bạn còn định lấy đồ ăn vặt trong cặp ra mời Ichirō. Thì ra Ichirō quan sát vài lần cách bác lao công mở cửa lồng sắt xong bèn tự biết cách mở.

Khi đó có một giáo viên tên Orii rất cưng chiều Ichirō, vội ra dỗ nó, rồi dắt tay nó quay lại lồng.

Không biết có phải do sự cố này không mà không bao lâu sau có tin Ichirō sẽ bị chuyển tới vườn thú Viên Sơn, xét cho cùng nếu Ichirō lớn lên, lại trốn khỏi lồng thú thì gay to.

Chuyện xảy ra khoảng năm Đại Chính thứ mười bốn, nhiều năm về sau, Shizuko nhớ lại ngày đó vẫn cảm thấy rõ mồn một như bầu trời vừa được nước mưa gột rửa.

Đó là một ngày vô cùng trong xanh, mây trên bầu không cứ đứng nguyên tại chỗ như bất động, học sinh toàn trường cùng các thầy cô giáo, bác lao công, đều xếp hàng trước cổng trường, đợi nhân viên vườn thú tới đưa Ichirō đi. Nhưng từ sáng sớm Ichirō đã đánh hơi thấy mùi bất thường, tuy bày ra bộ mặt ủ rũ nhưng nó vẫn sống chết bám lấy song sắt, nói thế nào không chịu rời lồng.

Khoảnh khắc Ichirō trông thấy nhân viên mặc đồng phục của vườn thú, từ cơ thể bé nhỏ liên phát ra tiếng đe dọa the thé lạ thường. Nhưng Shizuko biết, đó không phải vì giận dữ. Có lẽ chỉ bọn trẻ mới nghe ra chân tướng của âm thanh ấy, ẩn trong tiếng kêu nọ là một nỗi đau xé lòng. Giữa Ichirō và các bạn nhỏ đã hình thành một thứ tình cảm như tình bạn học, và lúc này nó biết số mệnh của mình dường như có gì đó chuyển ngoặt. Ichirō mất mẹ, từ Borneo được đưa tới đảo Đài Loan, giờ đây lại lần nữa có dự cảm bị vứt bỏ.

Ichirō không để bất kỳ ai chạm vào, nhe hàm răng nhọn vẫn còn bé xíu xiu. Lúc này thầy Honda biệt danh “Bánh mì rắn đanh” nêu ý kiến nên mời thầy Orii gần gũi nhất với Ichirō tới vỗ về nó.

Thầy Orii là một người gầy nhẳng, từ trên xuống dưới không tìm thấy chút cơ bắp nào, thầy yêu quý tất cả các sinh vật trong trường, và có đôi bàn tay vô cùng mảnh mai của người chơi dương cầm. Thầy đứng trước chuồng thú nhìn vào mắt Ichirō, chọc chọc ngón tay vào vai Ichirō, Ichirō thành ra có vẻ hơi e thẹn. Thầy Orii mở lồng thú, chìa tay về phía Ichirō, Ichirō cũng chìa đôi bàn tay tinh tinh lông lá, dài hơn tay người về phía thầy.

Thầy Orii thở dài, vỗ mấy cái vào tay Ichirō, Ichirō thì vòng cánh tay dài rậm lông đỏ qua eo thầy Orii, rồi trèo lên ngực thầy, ánh mắt mơ màng, đầy dựa dẫm. Nhưng khi thầy Orii định đặt nó vào lồng sắt, Ichirō liền vùi sâu đầu vào ngực thầy. Lồng ngực bị đầu Ichirō lấp kín, thầy Orii cảm thấy cứ khăng khăng bắt nó chui vào một cái lồng không có hơi của chính nó, ngồi trên xe lắc lư đi về vườn thú quả thật quá đáng thương, vì vậy thầy đề nghị để mình dắt tay Ichirō, từ trường đi bộ tới vườn thú Viên Sơn theo đường Chokushi.

Ngày hôm đó trường nghỉ học buổi chiều, trên đại lộ Chokushi đan xen giữa ánh nắng và bóng râm, các bạn học sinh nhìn thấy Orii dắt tay Ichirō, như một cặp cha con đi về phía vườn thú. Bộ lông đỏ mềm mại của Ichirō dưới ánh nắng lấp lánh tia sáng rực rỡ kỳ diệu, hai chi sau của nó đứng thẳng như người, hơi khuỳnh khuỳnh thành hình chữ O, khiến lũ trẻ còn chưa thật hiểu rõ thế nào là ly biệt lần đầu tiên trong đời cảm nhận được nỗi buồn thương.

Khi đó Shizuko thầm nghĩ, Ichirō chắc chắn không biết có một nơi gọi là vườn thú, Ichirō chắc chắn cho rằng thầy Orii mà mình tin tưởng đang đưa nó về nhà.

 

Từ sau khi Ichirō bị nhốt vào vườn thú, cứ đến ngày nghỉ Shizuko lại giục cha đưa mình tới vườn thú. Chỉ cần không có công vụ, cha Shizuko đều sẽ đặt cô ngồi lên giá chở hàng, đạp xe từ cầu sắt Đài Bắc, chạy qua Đại Long Động Đinh rẽ vào Viên Sơn Đinh.

Do mẹ mất sớm, Shizuko rất gần gũi với người cha đã nuôi cô khôn lớn, lúc đi xe đạp, cô giống như con tinh tinh lông đỏ sơ sinh ôm lấy eo ông, ngả đầu vào lưng ông. Mùa hè, Shizuko có thể cùng lúc nghe thấy âm thanh từ cơ thể cha, lẫn tiếng ve kêu trên những hàng cây ven đường. Lúc ông đổ mồ hôi, Shizuko lại ngửi thấy thứ mùi khiến cô an lòng.

Mới đầu bọn họ còn đi loanh quanh một vòng theo thứ tự tham quan chuồng thú mới đến được chuồng số 39 của Ichirō, về sau họ dứt khoát đi ngược lại, chọn đường gần đến thẳng chỗ lồng sắt của Ichirō. Trên đường sẽ ngang qua một vườn hoa nhỏ, trước tiên sẽ trông thấy chim anh vũ, hổ, báo hoa, trăn khổng lồ, sóc, bồ câu, cá sấu, lạc đà, rồi mới tới chim công, thứ tự này Shizuko nhớ nằm lòng cả đời không quên.

Hổ lúc nào cũng uể oải ủ rũ, bốc mùi hôi ẩm ướt, báo hoa luôn rất căng thẳng vòng qua vòng lại, chim công có lúc xòe đuôi có lúc không, trăn im lìm nằm một chỗ, như thể thời gian không tồn tại, các vì sao trên trời cũng không tồn tại. Thi thoảng Shizuko sẽ xin cha dẫn mình đi xem sư tử, vì tiếng gầm của sư tử vào buổi tối thường vọng tới tận nhà Shizuko ở Đại Đạo Trình.

Chuồng của Ichirō ở vườn thú to hơn nhiều ở trường tiểu học, bên trong có một cái cây trụi lá, còn treo một cái tay nắm khuyên tròn. Tinh tinh lông đỏ là loài tinh tinh quanh năm sống trên cây, lực cổ tay rất khỏe, có thể nhẹ nhàng đu qua đu lại giữa các tầng lá. Ichirō tới vườn thú, tuy phòng ốc lớn hơn, nhưng cõi lòng lại dường như trống rỗng.

Có lần hai cha con từ xa đã trông thấy một bóng người cao gầy, như chim choi choi, đó là thầy Orii. Thì ra thầy Orii cũng thường tới vườn thú thăm Ichirō. Họ trông thấy Ichirō từ trên cây tụt xuống đất, nhìn khuôn mặt người ngoài chuồng như vẫn nhớ thầy Orii. Trong cặp mắt màu nâu ấy không thấy niềm vui, sự quan tâm, hay ý thù địch, chỉ bình lặng như ngắm nhìn phong cảnh đằng xa. Chuyện này rất không bình thường, vì từ sau khi tới vườn thú, Ichirō cực kỳ cực kỳ hiếm xuống khỏi cây đối diện với khách tham quan. Nó luôn quay đầu đi, hoặc chỉ cúi đầu nghịch ngón tay, tránh tiếp xúc với ánh mắt của du khách, như sợ phải bỏng.

“Ichirō không nhận ra mình hả cha?”, Shizuko hỏi cha.

“Nhận ra chứ”.

“Nhưng sao nó không để ý gì đến mình? Mà lại như có lời muốn nói với thầy Orii?”

“Vì Ichirō rất giống con người. Ichirō cũng như con người, có người nó thích và có người nó ghét. Cha nghĩ Ichirō không phải ghét chúng ta, mà chẳng qua nó đặc biệt thích thầy Orii thôi”.

Shizuko thầm nghĩ, cảm xúc Ichirō dành cho thầy Orii nhất định rất mâu thuẫn, nó hận thầy đã dẫn nó đến vườn thú, nhưng đáy lòng lại không tài nào gạt bỏ được cảm giác quyến luyến với thầy.

Lần thứ hai bắt gặp thầy Orii ở vườn thú, Shizuko từ xa trông thấy thầy đưa một thanh trúc cho Ichirō. Ichirō cầm lấy thanh trúc, với tay ra khỏi lồng, bấy giờ họ mới để ý, gần đó có một cây đu đủ, quả trên cây đã chín vàng. Ichirō dùng thanh trúc nọ chọc trúng quả đu đủ, rồi lấy đu đủ vào lồng. Shizuko phải rất lâu sau mới hiểu vì sao thầy Orii không hái luôn đu đủ cho Ichirō, thấy muốn Ichirō duy trì cảm giác với thế giới xung quanh, thầy không muốn Ichirō ở trong chuồng thú cảm thấy tuyệt vọng với mọi thứ.

 

Qua một mùa đông, năm tiếp theo đương lúc tiết trời nóng nực, vườn thú xảy ra một chuyện trọng đại, một con voi sẽ được chuyển đến.

Shizuko căng thẳng xen lẫn hưng phấn, vô cùng trông ngóng chuyện này từ khi nó chỉ là tin đồn cho đến khi trở thành sự thật. Hôm đó, con voi nọ lên thuyền từ Singapore tới cảng công-ten-nơ Cơ Long thì chuyển tàu hỏa đến trạm Đài Bắc, sau đó từ công-ten-nơ nọ bước xuống tấm ván gỗ nghiêng nghiêng, dưới sự điều khiển của nài voi, đi theo đường Chokushi tới vườn thú Viên Sơn. Nơi voi đi qua chen chúc bao nhiêu người dân đội nón, cầm ô, ngay cả quan chức và nhân viên tòa thị chính cũng chạy ra xem. Phần lớn mọi người đều lần đầu trông thấy voi, vừa kinh ngạc vừa phấn khích, đối với họ, voi còn hiếm lạ hơn cả cái chết.

Con voi nọ không to lắm, nhưng đã là loài sinh vật khổng lồ nhất Shizuko từng trông thấy bấy giờ. Trán voi bằng phẳng, tai phe phẩy ra sau, đỉnh đầu có hai chỗ gồ lên như hai ngọn núi nhỏ, ở giữa lõm xuống như lòng chảo. Mắt nó sáng ngời, mí mắt sâu dày, xương sống như gò đất bên cạnh thần xã, tới điểm cao nhất mới thoai thoải trượt xuống bàn tọa. Khi cơ thể đồ sộ của nó chuyển động, lớp da nhăn xung quanh hai bả vai và khớp gối sẽ rung rinh. Phần đầu vòi voi quặp lại như nắm đấm nhỏ lắc lư qua lại, lúc giơ lên không trung, lúc lại lần mò sát mặt đất.

Đi đằng trước voi là một người trẻ tuổi, anh cầm mía và một loại quả màu đỏ để dẫn dụ voi. Vòi voi sẽ đánh hơi loại quả kia, cứ đi được một đoạn nài voi mới cho nó một quả.

Shizuko hỏi cha: “Đó là gì vậy ạ?”.

Cha đáp: “Đó gọi là アップル (quả táo)”. Từ ấy Shizuko ghi nhớ được từ quả táo, cũng nhớ được mùi của voi, trên mình voi có một thứ mùi khét thường xuất hiện khi đốt đến hết que diêm, thứ mùi đó hoàn toàn khác với hổ, sư tử, tinh tinh lông đỏ.

Đoàn diễu hành voi lúc đi lúc nghỉ, gần hai tiếng đồng hồ mới tới được vườn thú. Cha Shizuko đặt cô lên đầu xe đạp, dắt xe đi theo hàng ngũ. Lúc voi tới cổng vườn thú, bên trong dấy lên một tràng hỗn loạn, sư tử, hổ, gấu nâu và báo hoa thi nhau gầm rú, trưng ra bộ dạng bất an.

Con voi nọ tên “マーちゃん”, có lẽ dịch là “Tiểu Mã” mới đúng, nhưng vì nó là voi cái nên về sau mọi người đều gọi nó là Mã tiểu thư. Sau khi đến vườn thú, Mã tiểu thư trở thành minh tinh ở đây. Vì nó không những biết biểu diễn vẫy cờ “Hinomaru”, mà còn biết phủ phục, hoặc hơi nhấc chân trước, đứng thẳng bằng chân sau trong tích tắc. Về sau, Mã tiểu thư thậm chí còn trở thành loài vật chủ tế khi trường nhật diệu chùa Lâm Tế tổ chức “Lễ cầu siêu động vật” trong công viên Viên Sơn.

Trong ấn tượng của Shizuko, lễ cầu siêu được tổ chức vào mùa đông, vì theo ký ức cô thường mặc quần áo rất dày.

“Lễ cầu siêu động vật là để làm gì ạ?”. Lần đầu đi xem lễ cầu siêu, Shizuko hỏi.

“Để an ủi những linh hồn động vật đã qua đời trong vườn thú đấy con”. Cha Shizuko trả lời.

 

Do thường đi vườn thú, và thông qua xử lý công việc trong tòa thị chính, cha Shizuko quen biết với một nhà quản lý động vật tên Katsunuma đến từ Nhật Bản. Katsunuma rất thích Shizuko, ông nói ở quê nhà Mino mình cũng có một cô con gái trạc tuổi Shizuko, có lẽ một ngày nào đó ông sẽ đưa cô bé tới Đài Loan. Ngài Katsunuma cũng trở thành người dạy Shizuko những kiến thức vỡ lòng về động vật. Có lần vào sinh nhật Shizuko, ông tặng cô món quà là cưỡi trên lưng Mã tiểu thư. Anh chàng nài voi trẻ tuổi đen nhẻm với hốc mắt trũng sâu nọ quát một tiếng, Mã tiểu thư bèn duỗi chi trước ra trước, quỳ chi sau xuống, ngài Katsunuma bế Shizuko cùng ngồi lên yên voi.

Lần đầu ngồi lên yên voi, Shizuko khóc váng lên, không phải vì sợ hãi mà bởi không biết từ trên lưng voi có thể trông ra xa như thế, núi non gần đến độ như có thể chạm vào, không khí cũng như được tổ hợp lại, trải nghiệm hoàn toàn mới mẻ này khiến cô kích động.

Những sợi lông dài, mềm mảnh bên mép voi, chiếc lưỡi ẩm ướt to cỡ cánh tay cha, cái đuôi lưa thưa lông, cùng chiếc vòi linh hoạt như mọc mắt đều khiến Shizuko mê mẩn. Cô đặt tay lên đỉnh đầu Mã tiểu thư, nơi lún phún những sợi lông mảnh cảm giác gai gai tay, phát hiện chỗ đó còn ấm hơn tay mình. Mặt sau tai voi cảm giác mềm như lụa, các tầng nếp gấp trên da như thể đang ẩn giấu thứ gì đó bí mật. Chính vào khoảnh khắc ấy, Shizuko mười tuổi nhận ra một đạo lý cô tin tưởng suốt cuộc đời - mỗi loài động vật đều có nét trang nhã của riêng mình, sự sống hóa thành trăm nghìn hình thái, sống trên thế giới này, vừa đường hoàng vừa bí ẩn. Sự sống không phải thứ như làn khói mà mang hình dáng và hoa văn, tồn tại rành rành dưới dạng yết hầu ngày một gồ lên cùng bộ lông màu đỏ trên mình Ichirō, cái vòi mềm mại và vùng trán ấm áp của Mã tiểu thư, bộ bờm uy nghiêm với cơ bắp cường tráng của A Trung (cô tự ý đặt tên cho sư tử là A Trung, hổ là A Hổ).

Sau mùa đông năm đó, cha Shizuko vì công việc bộn bề, cộng thêm Shizuko đã ngày một khôn lớn, nên dần giảm bớt tần suất đưa cô đi vườn thú. Nhưng Shizuko không hề quên Ichirō, Mã tiểu thư và sư tử A Trung, hổ A Hổ. Cô thường mơ thấy mình và Ichirō ngồi bên trên Mã tiểu thư, đi trong một khu rừng âm u không ánh mặt trời, Trung và A Hổ đi đằng trước, thi thoảng hứng chí ngẩng đầu gầm lớn, tiếng gầm ấy bay theo gió, xuôi theo sông truyền tới nơi sâu thẳm của rừng sâu.

Chúng tôi dừng lại trước chuồng voi châu Phi, để Shizuko uống ngụm nước nóng. Lúc này một con voi cái thân hình khá to lớn đang đi tiểu, dòng nước tiểu như vòi nước mở cỡ mạnh nhất, xè xè phụt ra từ lỗ bài tiết của nó, kéo dài phải đến hai phút.

“Nước tiểu của voi có mùi rất nồng, để đánh dấu lãnh thổ. Voi châu Phi khác voi châu Á, voi châu Phi không thể nào thuần phục, vì thế chúng không giống voi châu Á, trở thành nguồn sức kéo quan trọng của các nước Ấn Độ, Myanmar, Thái Lan”. Shizuko nói. “Cũng rất may mắn, chúng không bị cuốn vào chiến tranh”.

Nhắc đến cuộc chiến tranh đó, tôi rất tự nhiên kể với Shizuko hành trình tới Nhật Bản lắp ráp máy bay chiến đấu tại nhà máy hải quân ở tỉnh Kanagawa của cha tôi năm mười ba tuổi, vẻ mặt và ánh mắt Shizuko lúc lắng nghe, trông từ một góc độ nào đó giống như Bồ Tát nhập định, khoảnh khắc ấy tôi hoàn toàn lĩnh hội được tình cảnh không thể không dốc ruột dốc gan thổ lộ với người đối diện mà Sabina từng có lần nhắc tới.

Bà đặt hai tay trước bụng, lặng yên không nói gì, đôi tay ấy tuy nhìn khô héo như không có chút nước nào, nhưng chắc chắn từng căng mịn, ấm nhuận, đẹp đẽ.

Rất rất lâu sau bà mới lên tiếng: “Chiến tranh quả thực chẳng có gì đáng nhưng nhớ, nhưng như thế hệ chúng tôi, đến cái tuổi này, những chuyện còn lại, còn nhớ dường như lại đều là trong chiến tranh”. Bà gượng gạo bật cười: “Vì vậy không kể về chiến tranh thì lại chẳng có gì để nói nữa”.

 

Trước khi nổ ra cuộc chiến giữa Nhật Bản và Trung Quốc, Shizuko và cha một lần nữa nhận được lời mời của ngài Katsunuma, tới xem lễ cầu siêu động vật do Mã tiểu thư làm chủ tế.

Vườn thú thời ấy để phối hợp với hoạt động “hóng mát ban đêm”, nhiều lúc tối đến sẽ thắp hàng trăm ngọn đèn chiếu sáng chuồng thú, để dân chúng đi dạo, ngắm trăng. Có năm thậm chí còn bắn pháo hoa ở Đông Môn Đinh và trạm Song Liên để tuyên bố mở màn hoạt động dạ hành vườn thú.

Shizuko còn nhớ dọc đường từ cầu Minh Trị tới vườn thú Viên Sơn được trang hoàng đèn đường đeo chụp giấy hình lục giác, cùng đèn điện với chụp thủy tinh tròn sáng rỡ như mặt trăng, đẹp đến độ tưởng chừng sẽ vĩnh viễn không có chuyện gì đau buồn xảy ra. Hóng mát ban đêm bao gồm các hoạt động truy tìm kho báu, bốc thăm trúng thưởng, biểu diễn ca nhạc, còn cả chiếu phim ngoài trời. Shizuko hồi ấy từng bốc trúng (về sau cô mới biết đó là do Katsunuma cố ý sắp đặt) bưu thiếp in hình Ichirō và A Trung, đến giờ vẫn còn giữ trong ngăn kéo.

Lễ cầu siêu thông thường được tổ chức tại trường nhật chiêu chùa Lâm Tế, các bạn nhỏ của trường và đông đảo người dân thành phố đều có thể tham gia.

Mới đầu vốn loài khỉ thông minh nghe hiểu mệnh lệnh được đảm nhận vai trò chủ tế, nhưng từ sau khi có Mã tiểu thư vừa thông minh lại to lớn bắt mắt đến vườn thú, nhiệm vụ này cứ thế hợp tình hợp lý được giao cho cô.

Lễ cầu siêu Mã tiểu thư đảm nhận vai trò chủ tế năm ấy, Shizuko đã là thiếu nữ. Cô mặc ki-mo-no cho các dịp trang trọng, cùng cha xỏ guốc gỗ, che ô đi tham dự. Lễ cầu siêu đã không chỉ nhằm cầu nguyện cho các con vật đã chết trong vườn thú nữa mà còn bao gồm phần cầu nguyện cho những động vật được huy động trong quân đội, những động vật hy sinh vì tổ quốc. Điều này khiến ngay cả Shizuko cũng cảm thấy, chiến tranh dường như đã lẳng lặng cận kề ngay trước mắt.

Mã tiểu thư khoác tấm áo choàng nền đỏ rực, viền vàng, hoa văn tím; phía trước bày đồ cũng như gạo, khoai tây, quýt, chuối, mía, hồng vv… Bên cạnh là khỉ và chó, trong lúc các bạn nhỏ hát bài hát ngợi ca đức Phật còn thầy pháp niệm kinh, Mã tiểu thư nghe theo lệnh của nài voi, duỗi chân trước đã to như cối đá Phồn Xã[3], khuỵu chân sau, phủ phục xuống đất.

Động tác hệt như lúc để Shizuko cưỡi lên lưng nhiều năm về trước. Tiếp đó nó giơ cao vòi, lấy hơi rống một hồi dài như đang nói gì đó với bầu trời.

“Động vật nghe hiểu tiếng động vật ạ?”, Shizuko quay lại hỏi.

Cha thoáng phân vân rồi trả lời: “Cha nghĩ chắc là hiểu đấy”.

“Động vật cũng bao gồm con người ạ?”

Cha đáp: “Cũng bao gồm chứ?”.

“Thế sao con người lại không nghe hiểu tiếng động vật?”

“Chắc một số người nghe được chứ, như ngài Katsunuma, hay thầy Orii chẳng hạn?”

Từ tận đáy lòng, Shizuko mong cho các linh hồn động vật đều nhận được sự an ủi, hoặc ít nhất các sinh mệnh còn sống cảm thấy được an ủi cũng tốt. “Con ước gì mình nghe hiểu chúng đang nói gì”.

Sau đó chiến tranh bùng nổ.

 

Chiến tranh là quãng thời gian vô cùng khổ sở, mới đầu Shizuko tha thiết ủng hộ Hoàng quân với tinh thần ngùn ngụt như lửa cháy, nhưng rồi ngọn lửa nhỏ dần, cuối cùng chỉ còn lại những đốm lửa lập lòe và tàn tro. Cô mong trời đổ cơn mưa lớn dập tắt tất cả, để cô có thể thu dọn tử tế những thứ bị đập vỡ trong khoảng thời gian này. Trên phố đâu đâu cũng thấy binh lính, cảnh sát càng lúc càng nghiêm khắc, quản lý kiểm soát vật tư cũng ngày một thắt chặt. Kể cả như nhà Shizuko có cha làm ở tòa thị chính, cũng rất hiếm khi cả nhà bốn người được ấm no. Vật tư rốt cuộc đã thiếu thốn đến độ ông nội bà nội cũng không còn hoa quả để bán nữa.

Dường như tất cả mọi thứ, để ăn và để giết người, đều được dồn cả cho chiến sự. Nồi sắt, xẻng sắt, nông cụ bị trưng dụng đem nung chảy làm thành vũ khí; xe tự quay, xe người kéo lẫn xe gia súc thì bị tập hợp thành “Đội anh dũng báo quốc”, Shizuko tin rằng, nếu chiêu mộ chó mèo mà có tác dụng thì chúng đã bị chiêu mộ rồi. Thóc gạo trồng được cũng đều phải nộp phần nhiều cho chính phủ, không gì khiến con người ta thất vọng hơn là không thể ăn thứ chính mình trồng ra từ đất đai. Không rõ từ lúc nào, cư dân bên bờ sông bắt đầu ra ven sông bắt rùa để ăn. Một số người già bảo không được ăn rùa bụng đen, nhưng nhiều người vẫn bắt ăn thử xem sao. Cách giết rùa là để bọn chúng ngoạm vào một miếng cao su, sau đó thừa cơ chặt đứt cổ rùa, rồi dùng dao tre mổ banh bụng rùa, làm sạch nội tạng. Rùa trước khi chết sẽ huơ huơ bốn chân rất tức cười, Shizuko bấy giờ đã là y tá thực tập ở bệnh viện quân y, cố gắng không nghĩ đến cảnh đó để nấu thịt rùa cho người nhà ăn. Bấy giờ cô hoàn toàn không ngờ, có ngày lũ rùa ở con sông này sẽ gần như biến mất sạch sành sanh.

Vào đúng lúc các cuộc không kích đang dần ập đến hòn đảo, ngài Katsunuma nói với cha Shizuko, vườn thú Ueno của Tokyo đã xử quyết một số con vật, vườn thú Viên Sơn e rằng cũng sẽ tiếp bước, đây là biện pháp bắt buộc để phòng trường hợp chuồng sắt bị hư hại trong các đợt không kích, dẫn đến thú dữ xổng ra ngoài. Năm Chiêu Hòa thứ mười tám, kỹ sư tòa thị chính, nhân viên chăm nuôi của vườn thú, và các giáo sư sinh vật cùng phụ trách chấp hành nhiệm vụ này, Katsunuma tham gia vào toàn bộ quá trình.

Nhân viên chăm nuôi, mà không, giờ là nhân viên xử quyết động vật, trước tiên dụ con gấu nâu đã có tuổi, lỗ mũi mềm mại, ánh mắt hiền hòa vào trong chuồng thú có đáy lót phiến sắt, tiếp đến cầm gậy có dòng điện chạy qua đánh vào mặt gấu. Con gấu theo bản năng ngoạm lấy đầu gậy, và rồi dòng điện cao thế chạy xuyên cơ thể to đùng của con gấu nâu. Cơ thể ấy phát ra những tiếng răng rắc kỳ dị như khi cây bị chặt gần lìa, kế đó đổ rầm xuống đất. Có điều loài gấu quả thực quá khỏe, không lâu sau nó đã lại đứng dậy, nhân viên xử quyết động vật lại chìa gậy sắt ra, con gấu vẫn lờ đờ tiếp tục theo bản năng ngoạm lấy, một lần nữa bị điện giật đổ rầm xuống đất. Liên tục ba lần như thế mới chết thật.

Sư tử A Trung và lũ hổ cùng đám sư tử cái cũng đều bị “xử lý” bằng phương thức tương tự. Ngài Katsunuma nói khi A Trung chết, do không còn kiểm soát được các cơ nên cằm nó rớt xuống, nước dãi chảy khắp nền đất. Sau khi xử quyết những con vật này, người có mặt tại hiện trường đều cúi gập lưng trước các xác chết, hành động này không phải để bày tỏ niềm kính trọng, mà mang ý nghĩa hổ thẹn mơ hồ.

Ngài Katsunuma cảm thán: “Thực sự đến thịt ngựa, thịt trâu nước để nuôi sư tử cũng không đào đâu ra. Để những người cho chúng ăn, đo cân nặng, tắm táp, dọn chuồng cho chúng chấp hành nhiệm vụ này, quả tình…”.

“Những động vật sau khi xử quyết sẽ thế nào ạ?”, Shizuko hỏi.

“Thịt sư tử, hổ và gấu đều phân phối cho ủy viên hội đồng thành phố và một số nhân sĩ cấp cao, người trong vườn thú không ai muốn ăn. Nghe nói thịt gấu cứng không nuốt nổi, thịt sư tử thì còn có thể miễn cưỡng ăn được, nhưng rất nặng mùi. Chọn cách giật điện chứ không phải dùng Strychnine đầu độc chính là vì quý chỗ thịt thú này, giờ đang là thời chiến mà. Thịt động vật đã chết không thể để lãng phí”. Khóe mắt ngài Katsunuma long lanh lệ, Shizuko thì chỉ nghĩ đến vườn thú trống hoác, bao trùm bầu không khí chết chóc, tất cả các chuồng thú đều đã bị thần chết nghênh ngang chiếm đóng, mà cảm thấy tức thở.

Cô cố nhớ lại lời ngài Katsunuma kể, khi xử quyết động vật, liệu có nghe thấy tiếng A Trung gầm không? Nhưng không. Mấy ngày đó cô vẫn như lệ thường giúp cha bán hoa quả, quét dọn nhà cửa, tới bệnh viện trực ban, và say giấc trên giường.

Cái chết cứ thế không một tiếng động, rón ra rón rén, mà cũng lại ngang nhiên công khai đoạt lấy sự sống.

Không biết có thể tính là may mắn hay không, Ichirō không nằm trong đợt xử quyết đầu tiên, nghe nói là vì nó được đánh giá tính tình ôn hòa dễ bảo, không có khả năng gây hại, hơn nữa nó từng được vườn thú chùa Thiên Vương Nhật Bản bình chọn là con vật minh tinh. Song để ngăn ngừa Ichirō bấy giờ đã trưởng thành sổng ra ngoài, mặt ngoài chuồng của nó được gia cố thêm một lớp lồng sắt cùng một bức vách đá chống đạn.

Có điều một năm sau, ngài Katsunuma vẫn mang tới tin xấu. Ichirō đã bị “xử lý”. Một khoảng thời gian rất dài, Shizuko thậm chí không thể đi qua đường Chokushi.

 

Trong khi Shizuko hồi tưởng lại quá khứ, chúng tôi đã đi vào khu vực rừng rậm nhiệt đới châu Á, trong đây có heo vòi Myanmar, tinh tinh lông đỏ, và cả voi châu Á. Tôi đẩy bà đến trước chuồng voi châu Á, khu trưng bày hiện giờ có một tấm kính chắn lớn, mùi của voi nhờ thế không quá nồng. Tôi còn nhớ hồi ở vườn thú Viên Sơn, rất nhiều du khách đều để lạc vào lòng bàn tay cho Lâm Vượng và Mã Lan ăn. Bọn chúng sẽ vươn cái mũi dài, hút lạc sồn sột.

Do vừa hay đến giờ cho ăn, hai con voi sốt ruột đi đi lại lại trước cánh cửa nhỏ trong chuồng, chắc nhân viên chăm nuôi sẽ cung cấp thức ăn từ đằng đó. Quả nhiên không lâu sau, có ba nhân viên hai nam một nữ bước vào, tách hai con voi ra cho ăn cỏ riêng, người nữ cầm xẻng dọn phân và nước tiểu dưới đất bằng động tác nhanh gọn dứt khoát.

Shizuko nói: “Các loài động vật sở dĩ cảm thấy bất an với vườn thú, nguyên nhân lớn nhất có lúc không phải là do chúng bị nhốt lại, mà ở yêu cầu về vệ sinh. Rất nhiều sinh vật thường cố ý lưu lại chất thải và mùi cơ thể của mình trong môi trường sống, nhưng ở vườn thú, nhất định phải dọn dẹp sạch sẽ, một mặt là để phòng ngừa bệnh khuẩn, một mặt cũng để du khách không thấy khó chịu, nhưng làm vậy nhiều lúc lại khiến động vật cảm thấy không an tâm”.

Tôi nói: “Ra là vậy, con người dường như cũng có cảm giác quyến luyến với những mùi thân thuộc”.

“Phải rồi, chính thế. Voi vì không biết nhảy, nên chỉ cần một cái hào sâu độ một mét tám là có thể nhốt được chúng”, Shizuko nhắc đến voi bao giờ cũng với ánh mắt dịu dàng: “Cậu có thấy ánh mắt của voi rất đặc biệt không? Mắt chúng nhỏ là vậy, song lại rất cuốn hút, kiểu có trí khôn vậy. Khi voi đực động dục, chất Pheromone chính là tuôn ra từ một tuyến nho nhỏ nằm cạnh mắt”.

Vừa nghe Shizuko nói, tôi vừa tưởng tượng tâm trạng Ichirō khi nắm tay thầy Orii đi qua đường Chokushi, tưởng tượng trong quá trình “xử quyết động vật”, Ichirō nghe thấy tiếng gầm của gấu nâu, tiếng rống bất an mà vẫn uy nghiêm của hổ, cùng âm thanh kèn kẹt khi sư tử bước đi, vuốt chân không thu lại mà mài lên phiến sắt sắp bị dẫn điện. Trên trán sư tử lúc nào cũng đầy những nếp nhăn ưu phiền, đêm hôm đó tử thần dạo bước và rời đi bên ngoài chuồng sắt, rồi một ngày, lại trở lại trong hoàn cảnh nó không tài nào hiểu nổi.

Con voi trong chuồng voi trước mặt, là con voi mới của vườn thú, con voi không phải trải qua chiến tranh, so sánh ra thì may mắn hơn chăng?

Tôi không khỏi nhớ đến cuốn sách Những chú voi đáng thương; Sabina từng nhắc tới. Ngày hôm đó sau khi nói chuyện với cô, tôi đã lên mạng mua cuốn sách tranh này, đọc mới biết, nội dung chính là về việc vườn thú Ueno xử quyết động vật vào cuối thời chiến.

“Bác có biết câu chuyện trong かわいそうなぞう không ạ?”

Shizuko lắc đầu.

 

Giai đoạn cuối Thế chiến thứ hai, rất nhiều vườn thú Nhật Bản đều tiến hành xử quyết động vật, trong đó vườn thú Ueno là nơi sớm nhất. Bấy giờ trong vườn thú có ba chú voi nổi tiếng, tên gọi John, Tonky, và Wanly. Đó là vào cuối thời chiến, hằng ngày hằng đêm bom đạn như mưa trút xuống thành phố Tokyo. Giống như lời bác, để tránh việc chuồng nhốt thú bị hư hại, thú dữ chạy vào thành phố mà rất nhiều động vật đã bị xử quyết.

Tiếp theo là đến voi. Ban đầu nhân viên vườn thú dùng cách tiêm thuốc độc, nhưng kim tiêm khó mà xuyên qua được da voi, loài voi thông minh cũng cự tuyệt nuốt bả độc, thế nên vườn thú chỉ còn cách để chúng chết đói.

Sau một thời gian, John chết đầu tiên, Tonky và Wanly thì ngày một hao gầy, trở nên không còn sức sống. Nhưng chúng là những chú voi đã được huấn luyện, thành thử trông thấy nhân viên quản lý vườn thú đi ngang qua là lại lảo đảo đứng dậy biểu diễn, hành động này với chúng có nghĩa “Xin cho tôi thức ăn, xin cho tôi đồ để ăn”. Đương nhiên vẫn không có thức ăn đâu. Tonky và Wanly lưng tựa lưng biểu diễn, dùng chút sức lực cuối cùng đứng bằng chân sau, chân trước cong cong, giơ cao vòi, làm tư thế vạn tuế. Song chiến tranh vẫn chưa kết thúc, thức ăn vẫn không được cung ứng, lũ voi rốt cuộc đều bị chết đói.

Phần mộ của ba chú voi này giờ vẫn còn ở trong vườn thú Ueno.

 

Shizuko nghe xong, sau một hồi im lặng ngang ném hòn đá cuội vào nơi thâm sơn cùng cốc đợi chờ tiếng vọng, mới lên tiếng: “Voi bị xử quyết vì chiến tranh, theo như tôi biết, sớm nhất có lẽ là hai con voi do vườn thực vật Paris xử quyết vào thời chiến tranh Pháp-Phổ khi thành Paris bị vây hãm. Những câu chuyện này đều tương tự, chẳng khác nào hình bóng của nhau vậy”. Shizuko lại trầm mặc một hồi, nhìn miệng lũ voi chóp chép nhai cỏ khô, rồi nói: “Cảm ơn cậu đã kể cho tôi chuyện về cha cậu. Thực ra sau khi chiến tranh kết thúc được ba năm, cha tôi cũng giống cha cậu, bỗng dưng mất tích”.

 

Mang trong lòng nỗi tiếc thương khôn nguôi dành cho Ichirō, Shizuko tham gia cuộc tuyển chọn của bệnh viện lục quân Đài Nam, ở vị trí y tá, thời gian biểu sinh hoạt không khác gì quân nhân. Rất nhiều thương binh từ chiến trường Nam Dương[4] trước tiên đều được đưa về đây đợi tiến hành điều trị hoặc trở về Nhật, Shizuko cố gắng để những người lính tàn tật này lấp đầy cuộc sống của mình, vì hễ ngừng tay cô sẽ lại nhớ đến cha, nhớ đến ông bà, nhớ đến các con vật bị xử quyết cùng Mã tiểu thư đã bị bỏ đói bụng lép kẹp ở Đài Bắc. Cô thường mơ thấy lũ rùa ngửa bụng vẫy vẫy tứ chi.

Lần cuối cùng Shizuko trông thấy Mã tiểu thư là vào mùa thu năm Chiêu Hòa thứ mười chín, Mã tiểu thư đứng trong chuồng voi, làn da màu nâu xám đã mất đi hào quang, lông trên mình đa phần đã rụng sạch, mí mắt dính đầy gỉ, cẳng chân đã lẩy bẩy cơ hồ như không đứng nổi.

Cuối mùa xuân năm Chiêu Hòa thứ hai mươi, người bà luôn yêu thương Shizuko qua đời, cô từ bỏ việc tới bệnh viện dã chiến ở Manila làm y tá, trở về Đài Bắc chịu tang. Shizuko lòng đau khôn xiết, trong thời gian chịu tang có lần nghe cha vô tình nhắc chuyện một số quan lớn hình như gần đây được phần thịt voi.

Điều này có nghĩa Mã tiểu thư đã bị “xử lý” sao?

Shizuko đạp xe đạp của cha tới vườn thú thì không thấy Mã tiểu thư ở trong chuồng voi nữa. Cô tìm ngài Katsunuma hỏi về tung tích Mã tiểu thư, song ngài Katsunuma với vẻ mặt hết sức mệt mỏi cứ nói quanh co, không khẳng định Mã tiểu thư đã bị xử quyết, cũng không chứng thực được liệu có phải nó đã bị chiêu mộ đi làm nhiệm vụ chuẩn bị chiến tranh.

“Shizuko này, có những chuyện giờ bác không thể nói được, nếu một ngày chiến tranh kết thúc, chúng ta lại có thể gặp nhau, bác nhất định sẽ kể tất cả cho cháu”.

“Nhất định sẽ có ngày chiến tranh kết thúc”. Shizuko nói.

“Bác cũng cho là vậy”. Katsunuma đáp.

“Vậy bác nói cháu biết đi, Mã tiểu thư vẫn sống phải không?”

Ngài Katsunuma gật đầu.

Cuối tháng Năm năm Chiêu Hòa thứ hai mươi, Đài Bắc gặp phải trận không kích lớn chưa từng có trong lịch sử. Bom đạn từ trên trời rơi xuống, đáp lên đầu các cơ quan chính phủ, công viên Đài Bắc, ga tàu Đài Bắc, nhà thờ Thiên Chúa và đền chùa, giết chết tù vượt ngục, dân lành và quân nhân không phân biệt ai với ai. Lúc trận không kích diễn ra, còi báo động kêu ầm ĩ, các loài động vật ăn cỏ còn sống trong vườn thú kinh hoàng lồng lên. Lũ chiến mã tạm thời được bố trí tại đó hí vang điên loạn, bầy quân khuyển bị rọ mõm chỉ có thể gầm gừ, bồ câu của quân đội thì ra sức đập cánh, đâm đầu vào lồng sắt. Gạch ngói hóa thành tro bụi, xe hơi bị hất văng lên không trung, rồi rơi xuống, nhà cửa đều bị san bằng, đường bê-tông xuất hiện những cái hố lớn không biết sâu bao nhiêu.

Trong trận oanh tạc này Shizuko mất đi ông nội, một nửa căn nhà và cơ hội được bước vào vườn thú lần nữa - vườn thú đã đóng cửa vì chiến tranh ngày một ác liệt. Điều khiến cô lo lắng là, ngay đến ngài Katsunuma cũng không còn thấy tin tức gì sau trận oanh tạc. Lẽ nào ông cũng bỏ mạng trong cuộc ném bom rồi sao?

Mùa thu năm Chiêu Hòa thứ hai mươi, chiến tranh kết thúc. Tin tức này đến hết sức đột ngột, khiến người ta lấy làm mơ hồ. Thiên hoàng ngày hôm qua vẫn còn như thánh thần, giờ trở thành kẻ chiến bại, còn những quân nhân luôn ngạo nghễ ra lệnh cho người khác đều đã giải giáp. Sau khi bị nhổ bỏ vuốt sắc, vẻ mặt con người ta liền trở nên hèn nhát, có lúc gặp trên đường thật không dám tin đó lại là cùng một người.

Vườn thú Viên Sơn mở cửa vào một năm sau đó, Shizuko đến thăm vườn thú ngay, khi lại gần khu chuồng voi có phù điêu hình đầu voi nọ, tim cô đập thình thịch. Trong chuồng thú có bóng đen của một con voi gầy gò, rất giống Mã tiểu thư, vì có lần nó nổi cáu đi đá cây cột đá trước chuồng voi làm đầu gối bị thương, từ đó không còn nằm xuống được, lúc đứng cũng thường đổ nghiêng về bên phải, giống như bức tường đang chực đổ sụp.

瑪ちゃん!瑪ちやん!”, Shizuko hướng về con voi đằng xa gọi lớn. Con voi đứng trong cái bóng mới đầu còn hơi do dự, sau chầm chậm bước ra, từ xa vươn vòi lại gần đầu Shizuko đánh hơi, rồi rống lên một tiếng dài. Shizuko cũng bắt chước nó hú một hồi dài đáp lại, đoạn dựa vào lan can khóc một trận ngon lành. Những giọt nước mắt này đã phải kìm nén quá lâu, không tài nào ngừng nổi.

Sau khi chiến tranh kết thúc, Shizuko tìm được một công việc trong bệnh viện, dựa vào kinh nghiệm cộng thêm tiếp tục học tiến tu mà trở thành y tá chính thức.

Còn cha cô thì vì từng là nhân viên tòa thị chính mà thành ra mất việc. Cha sửa sang lại căn nhà bị hư hại do trúng bom, rồi mở một tiệm tạp hóa ở Đại Đạo Trình. Một khoảng thời gian rất dài, hai cha con cô sống cuộc đời không cần tưởng tượng về tương lai, chỉ mong mỗi ngày cứ thế nối tiếp ngày, đừng dừng lại.

Hôm xảy ra sự việc, Shizuko có ca trực ở bệnh viện. Tan làm ra đến cổng bỗng dưng trông thấy cha mặt mày nghiêm trọng, thì ra trên phố xảy ra bạo loạn, cha sợ Shizuko gặp chuyện nên cất công tới đón cô. Sau khi về nhà, cha dặn cô sau này nhất định phải cẩn thận, thế cuộc hiện giờ không hề an toàn cho những người từng làm việc dưới trướng chính phủ Nhật như cha.

Hôm sau sau khi tan làm, Shizuko phát hiện tiệm tạp hóa đóng cửa, hỏi hàng xóm cũng không ai thấy cha, mà xe đạp của ông thì vẫn lặng lẽ khóa bên cạnh cửa tiệm. Shizuko phân vân không biết đi đâu tìm cha, chỉ biết xin nghỉ phép ở bệnh viện mở cửa gỗ của tiệm đợi ông. Đêm dài đằng đẵng, buốt giá, cả thành phố đều không thể chợp mắt.

Shizuko sẽ không bao giờ quên, sông Đạm Thủy dưới cầu sắt Đài Bắc vào sáng sớm mấy ngày sau đó, các tia sáng trưng ra một màu xanh ô-liu mê hồn, đó cũng là màu của sắc trời. Cô ở trong nhà cũng nghe thấy tiếng rất nhiều người hoảng sợ thất thanh hô lớn: “Cá mập! Cá mập!”.

Sông Đạm Thủy làm sao có cá mập được?

Shizuko chạy ra đường xem, trên cầu sắt đã tụ tập không ít người đang nhìn ngó xung quanh. Cô theo dòng người đi lên cầu sắt, nhìn về phía thượng du con sông. Sông vẫn là sông, giống như con sông thuở nhỏ cô cùng bạn bè xem thuyền Phúc cập cảng, từ trên cầu nhảy ùm xuống. Nhưng lúc này mặt sông rực rỡ ánh vàng, chói lọi nhức mắt, trong sự phản quang của ánh nước ấy, quả nhiên có một thứ màu đen dập dềnh chìm nổi, giống như vây của cá mập.

Trong lúc đám đông đang thi nhau bàn tán rôm rả, vây cá mập từ từ tiến lại gần, một số người tinh mắt đã phát hiện, đó không phải cá mập mà là một thứ gì đó trôi lềnh bềnh. Có người to gan nhảy xuống sông, lặn vào lòng nước xem rồi trồi lên hét lớn: “Người chết! Người chết!”. Chân và tay của những người chết đều bị cột lại, vì thế khi trôi mới chỉ để lộ phần lưng, nhìn từ xa trông như cá mập.

Bọn họ vội vàng dạt lại vào bờ, câm lặng chạy về những hướng khác nhau. Những người hóng hớt trên cầu đột nhiên trở nên yên lặng, sau đó rảo bước rời đi, như cát bị gió thổi bay.

Cha Shizuko kể từ sau ngày hôm đó cũng không thấy quay về. Bao nhiêu năm nay, ý nghĩ này giống như cảm giác mệt mỏi và đói khát của cơ thể, không đêm nào chịu buông tha bà: Trong số đó liệu có cha không? Lúc đó vì sao bà không theo người ta nhảy xuống nước, lật từng con cá mập ấy lên mà xem?

 

“Có một thời gian, tôi nghĩ cuộc đời mình đã chẳng còn quan trọng hạnh phúc hay không, cứ thế sống thôi. Đó là thời đại mà cậu chẳng thể nào yêu lấy một người cho trọn vẹn”. Shizuko thở dài, bảo tôi đẩy xe lăn đi tiếp, tiếp tục đi xuống dốc là đến khu gấu trúc rồi. Lòng tôi không khỏi có chút sốt ruột, bà còn chưa kể đến chuyện ông Mục nữa.

Tôi lấy hết can đảm hỏi thẳng: “Phải rồi. Bác còn chưa kể cháu nghe chuyện về ngài Mục?”

Bà chỉ về phía chỗ ngồi ngoài trời cạnh đó, bảo tôi đẩy mình tới dưới bóng râm. Vài con cò đầu vàng chẳng hề sợ người, cứ thế đi lại trên đường mót thức ăn du khách bỏ lại. Đáng kinh ngạc là, lũ cò ruồi vốn ăn côn trùng trên lưng trâu hoặc nơi đồng lúa lại rỉa cả khoai tây với gà rán trên đường. Động vật nhiều khi rất dễ bị hoàn cảnh biến đổi, chúng sẽ tìm ra phương thức sinh tồn có lợi nhất trong môi trường sống, nhưng chúng cũng không hay biết gì về những nguy hiểm mới. Tìm thức ăn trong môi trường hoang dã quá vất vả, chi bằng bay tới chuồng tê giác, ngựa vằn, hà mã kiếm ăn. Mà chui vào chuồng thú kiếm ăn, nào đơn giản bằng kiếm mồi luôn ở mấy dãy bàn ghế ngoài trời cạnh quán ăn nhà hàng. Thiết nghĩ đây cũng là bản năng chăng?

Shizuko mở nắp bình nước, uống mấy ngụm, như thể cố nuốt xuống một vài chuyện còn đang mắc nghẹn trong cổ họng. Bà lên tiếng: “Đội trưởng Mục, tôi luôn gọi ông ấy là đội trưởng Mục”.

 

Lần thứ hai Shizuko gặp đội trưởng Mục là ở trước chuồng voi châu Á.

Hôm đó đội trưởng Mục mặc đồng phục màu kaki, áo jacket kéo khóa màu nâu đậm, tay giơ cao lên trời, lòng bàn tay để ngửa.

Chú voi Lâm Vượng đã bị năm tháng ăn mòn khứu giác và thị giác, bấy giờ lại vươn cái vòi dài tựa nắm đấm, từ xa thở phì phì về phía bàn tay của người đàn ông đang ngửa lòng bàn tay lên trời. Tuy nó không thể nào trực tiếp chạm vòi vào tay người đàn ông, nhưng Shizuko cảm thấy như mình có thể trông rõ mồn một, luồng hơi ấy tự có tình cảm, vượt qua lưới điện, cây cối, rào thép cách ly, thực sự đến được lòng bàn tay người nọ. Vòi voi nghe nói có hơn bốn mươi nghìn cơ bắp, là sự kết hợp của sức mạnh và khéo léo tuyệt vời, voi có thể dùng vòi nhặt nhân hạt lạc, cũng có thể dùng vòi giết chết một con sư tử.

“Voi thậm chí có thể dùng vòi để bày tỏ tình yêu”. Shizuko từng đọc một cuốn sách phổ cập kiến thức viết về voi, tác giả có nói vậy.

Shizuko trông thấy cảnh tượng này thì vô cùng ngỡ ngàng, bước tới trước âm thầm quan sát người đàn ông đã có tuổi, khuôn mặt đầy phong sương, luôn mang biểu cảm áy náy với tất cả mọi việc này. Lát sau bà đã nhớ ra, ông hình như chính là người lính già cao lớn từng cứu ngài Uesugi trên núi tuyết.

“Thực sự có khí thổi vào tay sao?” Shizuko hỏi.

“Thật là có khí thổi vào tay đấy”. Người lính già đáp.

Trong đời mình, Shizuko từng kết hôn một lần, sinh được một người con trai. Khi ly hôn con bà đã hai mươi mốt tuổi, đang làm nghiên cứu sinh bên Anh. Ngày ký thỏa thuận ly hôn, Shizuko nghĩ mình đã không thể nào rơi vào dòng sông ái tình được nữa, cô độc là nơi chốn tốt nhất dành cho mình nửa đời sau, và bà cũng đã chuẩn bị sẵn tâm lý. Vẽ tranh, cả đi khắp nơi trên thế giới thăm vườn thú đều là những chuyện có thể làm một mình. Nhưng lúc này bà chỉ biết thứ mùi bám trên cơ thể người đàn ông trước mặt rất khác, nó mang mùi bùn đất, và cả một mùi đặc biệt. Đó là mùi Shizuko từng ngửi thấy khi làm việc trong bệnh viện quân y, trên cơ thể những người may mắn thoát chết đều tỏa ra thứ mùi đầy cảnh giác này.

“Sao anh làm được vậy?”

Người tự xưng là đội trưởng Mục nói: “Bọn tôi đã quen nhau từ năm mươi năm trước rồi”.

 

Đội trưởng Mục từng là lính trong binh đoàn Trung Quốc đồn trú tại Ấn Độ, cũng từng tham gia chiến dịch gian khổ giao chiến với sư đoàn 18 của Nhật Bản tại thung lũng Hukawng. Về sau Shizuko từng hơn một lần mong muốn đội trưởng Mục nói về trải nghiệm chiến tranh Myanmar của ông, nhưng đội trưởng Mục luôn chỉ thuật lại qua loa. Như thể cuộc chiến đó chỉ là dòng suối nước dâng đột ngột, dãy núi không bao giờ băng qua nổi, và mùa mưa dài đằng đẵng, ông có vẻ hết sức thận trọng đi vòng để tránh gì đó.

Cho đến một ngày, khi Shizuko kể với ông chuyện những cái xác trôi hệt cá mập trên sông Đạm Thủy mà trước giờ bà vẫn không muốn nhắc đến, giống như trao đổi chìa khóa, ông mới dốc ruột kể lại câu chuyện biệt ly và trùng phùng giữa mình và chú voi nọ.

Trong chiến tranh Myanmar đầy gian khổ, đội trưởng Mục là người sống sót, đồng thời tận mắt trông thấy mười ba con voi bị quân đội bắt làm tù binh. Tao ngộ này liên quan đến những tàn tích chiến tranh có thể thấy rõ trên người ông. Tay phải của đội trưởng Mục có ba ngón rưỡi bị súng máy bắn gãy, chỉ còn lại ngón cái và một đốt ngón trỏ. Vì bị thương thế này nên ông mới bị điều động về đơn vị hậu cần, cùng hàng ngũ với lũ voi. Mười ba con voi nọ già có trẻ có, trong đó có một con voi đực đang độ thanh niên vóc dáng vô cùng nổi bật, nài voi Myanmar gọi nó là Ah Mei, còn bộ đội Trung Quốc thì gọi là “A Muội”. Nó chỉ cần nhẹ nhàng húc đầu một cái là có thể đánh đổ một gốc cây to cánh lính tráng chặt nửa ngày không nhằm nhò, sau đó dùng vòi chuyển cây lên xe tải.

Sau vài tháng tiếp xúc với bầy voi, ông giành được sự tin tưởng của chúng nên được giao nhiệm vụ cùng các đồng đội đã học cách khiển voi từ nài voi Myanmar để lùa voi về Trung Quốc.

Mệnh lệnh do chỉ huy đơn vị đưa ra là, sau khi toàn quân di chuyển về Vân Nam, sẽ dừng đợi lệnh phản kích quân Nhật trong lãnh thổ Trung Quốc. Nào ngờ cuộc hành quân đường dài này mới đi được nửa chừng thì quân Nhật đã đầu hàng vô điều kiện quân Đồng minh. Đoàn quân ngựa la lẫn lộn cả voi của họ men theo đường quốc lộ Burma gập ghềnh trắc trở, đi qua Vân Nam, Quý Châu, Quảng Tây, Quảng Đông, hành quân nghìn cây số. Trong đó có sáu con voi chết, còn lại bảy con.

Sau khi nhiệm vụ kết thúc, đội trưởng Mục được điều về đơn vị tiếp tế cũ, trải qua bao trận đánh với quân cộng sản mới rút sang Đài Loan. Thời gian này ông và đàn voi mất tin tức, mãi đến hàng năm sau mới nghe nói “A Muội” được chuyển về vườn thú Viên Sơn, cũng tức là Lâm Vượng sau này.

 

Lần đầu trông thấy Lâm Vượng trong vườn thú, đội trưởng Mục không dám nghĩ nó còn nhớ mình. Loài voi tuy rất có linh tính, nhưng ông không chắc liệu chúng cũng có khả năng nhớ lâu hay không. Nhất là bọn họ đã chia lìa một thời gian dài, đôi bên đều trải qua không ít chuyện. Chẳng ngờ khi ông đứng ngoài chuồng voi thấp giọng gọi “A Muội, A Muội”, Lâm Vượng liền từ cánh cửa vòng cung bước ra, kêu lên những tiếng thấp trầm tuy không thể nghe thấy nhưng có thể làm xao động không khí. Tiếp đó Lâm Vượng vươn cái vòi dài, đánh hơi đầu, vai, ngực và vị trí gần bộ phận sinh dục (đây là căn cứ quan trọng để voi nhận biết đối tượng thân quen) của đội trưởng Mục, đoạn đặt chiếc vòi ấm áp và mềm mại nọ lên bàn tay thiếu ba ngón của ông.

Đội trưởng Mục sau đó hằng tháng đều thu xếp ít nhất hai ba lần tới vườn thú Viên Sơn thăm Lâm Vượng, cả khi nó được di chuyển tới Mộc San cũng thế.

Ông thậm chí còn đăng ký làm tình nguyện viên ở vườn thú, chỉ để gắn với Lâm Vượng, im lặng ở bên cạnh nó, một kẻ trong hàng rào, một người ngoài hàng rào hồi tưởng về quãng thời gian trong rừng rậm.

Sau khi Shizuko quen biết đội trưởng Mục, nơi hai người thường đi dạo nhất cũng chính là vườn thú. Có lần khi họ tham quan khu động vật ăn đêm, đội trưởng Mục lên tiếng hỏi bà trong bóng tối: “Shizuko, em có thấy thời gian trong vườn thú khác với thời gian trôi bên ngoài không?”.

“Vì sao?”

“Vì thời gian sinh hoạt của rất nhiều loài động vật không giống của con người. Tôi từng nghe người ta nói, thời gian tỷ lệ thuận với chiều dài cơ thể của loài vật”.

“Hử? Em không hiểu”.

“Tôi cũng không hiểu. Nhưng tôi đoán đại ý là, hình dáng lớn nhỏ của các loài vật liên quan mật thiết với thời gian và không gian sinh tồn, không gian ấy cũng dính dáng đến việc thay đổi khái niệm thời gian của mỗi loài động vật. Loài người phát minh ra đồng hồ, do đó khái niệm thời gian biến thành một thứ tương tự như thói quen văn hóa. Là trường học quy định chúng ta bảy giờ phải lên lớp, quân đội yêu cầu chúng ta năm giờ phải thức dậy, chứ không phải do cơ thể yêu cầu. Nhưng các loài vật khác thì có thể dùng cơ thể để cảm nhận.

“Em xem, chuột nang phần lớn thời gian sống trong lòng đất, do đó không gian chúng cần chính là đường hầm do chúng đào ra, khái niệm thời gian của chúng không chỉ là mặt trời mọc mặt trời lặn. Ngựa vằn cũng sống theo thời gian của chúng, thời gian đó có thể liên quan đến giai đoạn héo úa và tươi tốt của một số thực vật trên thảo nguyên. Dù bị nhốt trong vườn thú, rắn cũng vẫn ngủ đông, chim cò vẫn cảm thấy muốn tung cánh vào mùa xuân. Bản năng là thứ không thể bị cướp đoạt. Theo ý kiến của tôi thì, nơi con người phải phối hợp với thời gian của động vật chứ không phải động vật phối hợp với thời gian của con người mới là một vườn thú tốt”. Shizuko nhìn đội trưởng Mục, cảm thấy lúc đó ở ông toát lên một sự tự tin có phần thẹn thùng, một sự rực rỡ lấp lánh.

“Có điều, anh cho rằng những con vật này có thể thực sự sống theo thời gian của mình thật sao?”

Đội trưởng Mục cười bảo: “Shizuko ạ, em nhìn tôi xem, đã là lão già rồi”. Ông chắp tay sau lưng, đây là một trong những thói quen của ông.

“Em cho rằng có cái gọi là thời gian của mình thật sao?”

Shizuko đôi khi nói chuyện với đội trưởng Mục, lại thấy đầu óc hơi choáng váng, có phần không thực, lúc cất tiếng nói răng lập cập đánh vào nhau, thảng hoặc để lộ nụ cười ngẩn ngơ. Trong quá khứ bà đã trải qua ba mối tình, kết hôn với người thứ ba, rồi ly hôn, bà cho rằng mình đã hoàn thành nhiệm vụ về ái tình trong cuộc đời này, bài tập đã làm xong, sao còn phải làm lại cơ chứ. Nhưng người đàn ông trước mặt khiến bà muốn mở toang cửa mời ông bước vào, ngồi xuống bên chiếc bàn lau chùi không một hạt bụi, dành cả buổi chiều đề ngắm nhìn phong cảnh ngoài cửa sổ.

Đội trưởng Mục quay người đi về phía lối ra, khiến Shizuko nhất thời không nhìn rõ bóng lưng ông, sau khi ra khỏi khu động vật ăn đêm, bờ vai to rộng song đã bắt đầu không chống chọi nổi với năm tháng kia vẫn khiến người ta cảm giác dường như ông sẽ thoắt cái sải bước tiến vào rừng sâu rồi không bao giờ xuất hiện nữa. Bọn họ đều là những người với quỹ thời gian giảm bớt từng ngày, chủ đề nói chuyện đã không còn là ngày sau sẽ thế nào, mà là nếu còn bao lâu thì sẽ thế nào.

Đội trưởng Mục cũng hay đạp chiếc xe đạp Hạnh Phúc nọ, chở bà tới bờ sông cạnh Đại Đạo Trình tản bộ. Trước con sông phản chiếu ánh sáng, chảy trôi thứ màu sắc khó lòng diễn tả đó, Shizuko hết lần này đến lần khác kể chuyện về cha, về Ichirō-kun, Mã tiểu thư và ngài Katsunuma cho đội trưởng Mục, tựa như một giấc mộng cứ trở đi trở lại trên giường đệm.

Chỉ những lúc đó, đội trưởng Mục mới không chú ý mình đang nói chuyện với Shizuko mà vô thức đưa chủ đề lại gần cuộc chiến kia hơn tí chút.

“Đơn vị bọn tôi lúc mới đầu vào Myanmar, đóng quân trong một cánh rừng nguyên sinh không dấu chân người. Sư đoàn trưởng sai chúng tôi dọn chỗ dựng trại, chúng tôi bèn lấy dao Miến phạt lấy một khoảng đất trống, dựng lều cỏ. Để ngừa thú hoang, nhất là rắn độc cắn, lại còn phát động cuộc thi bắt rắn. Trong nửa tháng ấy, rắn, sơn dương, khỉ và thỏ quanh khu trại gần như đều bị chúng tôi giết sạch, không còn thấy tăm hơi”.

“Chúng tôi dùng thừng cột chỗ cổ rắn (đội trưởng Mục sờ lên cổ mình), rồi treo xung quanh lều cỏ nơi đóng quân. Rắn không phải loài dễ chết, xương sống của nó rất lắm đốt, nên con rắn dù đã bị cột dây vẫn biết ngọ nguậy bằng phương thức mình không ngờ tới được. Đủ loại rắn sặc sỡ vô cùng, đỏ có, xanh có, lục có, thậm chí là cả màu vàng kim, căm hờn ngọ nguậy, như thể không tin chúng lại chết theo cách này”.

“Mấy hôm đó cả khu doanh trại ngập trong mùi xác rắn. Một buổi tối, lính gác nghe thấy trong rừng cây phía trước có tiếng động kỳ lạ, sư đoàn trưởng ra xem, e là đội tiền tiêu của quân Nhật đã phát hiện ra khu trại của chúng tôi, bèn hạ lệnh bắn quét. Đủ loại súng trường, súng máy hạng nặng hạng nhẹ, trong thoáng chốc đồng thời khai hỏa, thậm chí ngay cả pháo cối cũng lâm trận. Sáng hôm sau cử lính trinh sát đi thăm dò, mới phát hiện là một con voi. Thân mình nó chi chít lỗ đạn, máu đã chảy cạn, ngả màu tái nhợt, một chân bị pháo cối bắn gãy. Chúng tôi xẻ thịt con voi đó ăn, mỗi miếng thịt voi phải nhai ba phút mới miễn cưỡng nuốt nổi. Hồi đó còn trẻ, chúng tôi đùa bảo nhau, về sau thà ăn thịt anh em chứ không ăn thịt voi nữa. Cấp trên nghe thấy liền nghiêm khắc sạc cho chúng tôi một trận, đồng thời phạt người đầu tiên khơi ra câu nói đùa đó phụ trách lột da một trăm con rắn. Rắn sống dễ lột da hơn rắn chết, lúc lột da tim tôi thường đập nhanh, có một kiểu khoái cảm kỳ lạ”.

“Nhưng từ đó về sau, tôi không ăn tanh được nữa. Không phải sợ giết hại sinh linh gì đó, tôi nghĩ con người vốn là một loài sinh vật, sinh vật ăn lẫn nhau không hề trái với lẽ trời, chỉ là tôi cảm thấy, số sinh mệnh chết dưới tay mình trong khu rừng đó đã đủ định mức cả đời này rồi”.

Shizuko yên lặng lắng nghe, bà không nhắc gì ông, cũng không bày tỏ ý kiến về những lời kể ấy. Chỉ lẳng lặng nghiêng đầu dựa vào lưng người đàn ông này trong khi ông đạp xe, làm vậy sẽ nghe thấy một thứ âm thanh không thành lời, buồn bã, thấp trầm mang theo cả nhiệt độ cơ thể.

Hồi đó có một giai đoạn, Lâm Vượng rơi vào thời kỳ cuồng bạo rất nghiêm trọng. Bấy giờ Lâm Vượng đã bước sang tuổi lão niên, nên tình trạng này không thể vẫn là do động dục. Nó thường chọc vòi vào trong tai, như thể muốn ngửi xem mình nghe thấy thứ gì. Dù bác sĩ thú y và các chuyên gia đều cho rằng, sở dĩ Lâm Vượng ở trong thời kỳ cuồng bạo lâu như vậy là vì hậu di chứng mất kiểm soát cảm xúc do cuộc phẫu thuật trực tràng năm 1969 gây ra, nhưng đội trưởng Mục thì cho rằng, đó là vì con voi già Lâm Vượng bao năm nay vẫn bị ký ức vùi sâu nơi đáy lòng ấy đeo bám.

Ông bảo với Shizuko, quãng hồi ức ấy có tính ăn mòn, nhất định đâu đó trong cõi lòng Lâm Vượng đã bị nó thiêu rụi rồi. Mà theo phán đoán từ kinh nghiệm giao tiếp giữa ông và Lâm Vượng, Lâm Vượng có trí nhớ rất tốt, cũng như có cảm xúc phức tạp hệt con người.

“Nó không quên đâu”. Đội trưởng Mục nói. “Thậm chí, còn nhớ rõ hơn từng người chúng ta”.

 

“Về sau, có lần đội trưởng Mục tự đạp xe tới vườn thú. Nhờ thân quen với nhân viên quản lý, bọn họ thường để ông dựng xe ngay trong vườn thú, tránh bị mất trộm, cũng chính vì thế mới bị Sabina bắt gặp. Sabina kể cho đội trưởng Mục về mẹ mình, rằng bà theo ông ngoại cô đi bắt bướm thế nào, rồi sao lại một mình đạp xe tới Đài Bắc mưu sinh. Đội trưởng Mục bèn quyết định tặng xe đạp lại cho cô ấy. Tối hôm đó ông ấy bảo tôi, mình tuổi đã già, nếu một ngày ra đi, xe đạp sẽ bị xem là đống sắt vụn bị thu dọn. Tôi không bảo ông ấy có thể để xe lại cho mình, vì tuổi tôi còn lớn hơn ông ấy”, Shizuko nói đến đây thì mỉm cười, nụ cười có phần mệt mỏi và tiều tụy.

“Vậy, bác có biết vì sao đội trưởng Mục lại có chiếc xe đó không?”

“Ừm. Tôi từng nghe ông ấy kể. Một lần ông ấy phải tới Cao Hùng giải quyết công chuyện, tối đến ngồi bên bờ biển ngắm phong cảnh có tán gẫu với một người đàn ông mặc cả bộ com-lê nghiêm chỉnh, hôm đó bọn họ nói chuyện ba, bốn tiếng đồng hồ, đến tận đêm”.

“Nói chuyện gì ạ?”

“Người đàn ông đó vào thời chiến từng tới Nhật lắp ráp máy bay chiến đấu. Trong cuộc chiến đó, bọn họ vừa khéo ở hai bờ chiến tuyến. Nhưng đêm hôm đó, họ đã kể chuyện của mình cho nhau nghe”. Shizuko dừng lại một thoáng rồi nói tiếp: “Sau khi nghe cậu kể cha cậu từng sang Nhật làm nhân công thiếu niên, tôi càng khẳng định đó hẳn chính là cha cậu”.

“Nhưng sao ông ấy lại tặng xe đạp cho đội trưởng Mục chứ?”. Tôi cố hết sức đè nén cảm xúc của chính mình.

“Không phải tặng”.

“Không phải tặng?”

“Lúc đêm khuya, đội trưởng Mục đi vệ sinh, mua bia quay về thì không thấy người đàn ông đó đâu nữa, xe đạp vẫn để nguyên chỗ cũ, bên trên đính một mảnh giấy, viết ‘Nếu tôi không quay lại, nhờ anh gửi xe đạp về nhà giúp tôi’. Ông ấy đợi mãi đến khi trời sáng, người đàn ông vẫn không quay lại, mà trên mảnh giấy cũng không ghi địa chỉ”.

Tôi nhất thời có hơi không tin nổi chuyện này. Một nhóm các bạn nhỏ mẫu giáo có lẽ được trường tổ chức đi tham quan đột nhiên ùa tới, ới ồn ào khiến tâm thần tôi càng bất định, cũng không biết làm thế nào mời Shizuko nói tiếp, lúc này dù bà có nói gì cũng đều bị những tiếng la hét của lũ trẻ nhấn chìm thôi.

Vì thế tôi đứng dậy, tiếp tục đẩy bà đi về phía lối ra. Sau khi đã tách khỏi nhóm các bé mẫu giáo được một quãng, Shizuko lại cất tiếng nói, tôi cúi đầu xuống, cố ghé sát tai lắng nghe.

“Tôi đoán, cha cậu khi ấy, có lẽ chuẩn bị đi làm chuyện gì chăng, do vậy ông đã để lại chiếc xe đạp rất đỗi quan trọng với mình. Có thể trong lúc nói chuyện, ông cảm thấy đội trưởng Mục là lựa chọn không đến nỗi nào, để để lại chiếc xe đạp ấy. Đội trưởng Mục liên tiếp ba ngày sau đó hôm nào cũng ra bãi biển đợi, nhưng người đàn ông không xuất hiện thêm lần nào nữa. Về sau ông ấy nghĩ đủ mọi cách vẫn không tìm thấy người. Thậm chí còn đăng cả báo”.

“Đăng cả báo ư?”

“Phải. Ông ấy đăng quảng cáo, tôi vẫn còn giữ lại mẩu tin đó. Có điều, mẩu quảng cáo nọ chẳng thu được bất kỳ phản hồi nào. Cậu biết vì sao đội trưởng Mục muốn tặng lại xe cho Sabina không?”

“Là để chiếc xe có khả năng trở về với người kia ư?”

“Chính xác. Như tôi vừa nói, đội trưởng Mục bấy giờ bảo ông ấy đã không còn bao nhiêu thời gian nữa, ông ấy cho rằng Sabina là một lựa chọn không tồi. Điều kiện tặng lại chiếc xe cho Sabina chỉ có một”.

“Ừm?”

“Đó là nếu chủ nhân của chiếc xe đạp, hoặc bất kỳ ai có liên quan đến chiếc xe xuất hiện, thì phải trả lại xe cho người đó”. Shizuko nhìn tôi đầy ẩn ý: “Thực ra tôi không tin chuyện này lại có ngày thành thực, nhưng giờ cậu đã đứng ngay đây”.

 

Sau khi giao Shizuko lại cho Mina, tôi một mình lên tàu điện ngầm. Vô thức thế nào lại chuyển tàu tới Vạn Hoa. Tôi một mặt nhàn tản dạo quanh, một mặt nghiền ngẫm cuộc nói chuyện với Shizuko.

Những lúc tâm trạng bê bết, tôi thường quay trở về nơi mình sinh ra, đối với tôi đây giống như một chiếc tử cung ngắt kinh, nhưng tôi từng từ trong đây đến với thế giới này. Về sau khi dần quen thân với Abbas, tôi mới biết anh cũng thường tới Vạn Hoa lang thang, anh đang dự định tiến hành một dự án nhiếp ảnh trong hai mươi năm tại nơi này.

“Trên thế giới này, máy ảnh tài tình hơn chúng ta nhiều, người chụp ảnh đẹp hơn chúng ta cũng có quá nhiều, nhưng người có thể ở cùng một nơi chụp suốt hai mươi năm nhất định rất ít. Dẫu sao thời gian cũng rất công bằng, cả đời anh gần như chỉ có hai, ba cơ hội có thể dấn thân làm chuyện thế này thôi. Người không đủ tài năng như tôi, chỉ có thể dùng cách này”. Abbas nửa đùa nửa thật bảo tôi.

Rồi một ngày người trong ảnh đều sẽ không còn trên đời này, người trong ảnh đều lần lượt chết đi, chỉ có người chưa chết mới được phép ở lại trông nom các bức ảnh. Nhưng, tại thời gian trong bức ảnh, quyền lợi của người sống và kẻ chết là như nhau, gần như không có khác biệt. Abbas muốn làm người lưu lại các bức ảnh, chứ không phải người trong ảnh.

Tối đến, “chợ người già” ở vài nơi đã bắt đầu họp, sở dĩ tôi gọi chợ người già là bởi, ở đây người mua hay kẻ bán đều là người già. Bọn họ bán một số quần áo, tượng Phật, tranh chữ, phim đen cũ hoặc đồng hồ, đài radio cổ. Có lúc cũng sẽ xuất hiện món đồ hết sức thú vị. Ví dụ tôi từng bắt gặp một sạp hàng có đủ thể loại cân, từ cân tiểu ly, cân quả cân, cân lò xo cho tới cân đòn hồi nhỏ thấy mẹ tôi hay dùng. Rốt cuộc người như thế nào sẽ tới đây mua cân chứ? Tôi nghĩ mãi vẫn không thông.

Mỗi lần tới chợ người già, tôi đều nhớ lại lần được cha dắt tới đây tìm chiếc xe đạp mất trộm, ánh mắt lo lắng của cha, mồ hôi trong lòng bàn tay, đến giờ tôi vẫn cảm thấy rõ mồn một.

Tôi rất tò mò về nguồn gốc hàng hóa những sạp hàng này bày bán, cùng cả người bán lẫn người mua, nên có lúc cũng trà trộn vào đám khách khứa hỏi này hỏi kia, hoặc mua về một số đồ mình không hề cần, hòng vun đắp quan hệ với người bán. Trong số người già bày sạp, tôi khá thân với một người gọi là bác Phúc, mối quan hệ đã gần như bạn bè. Ông hay cho tôi biết nguồn gốc hàng của các sạp, ví như sạp nào chuyên tới bãi rác bới đồ, sạp nào lén trà trộn cả đồ trong thùng thu hồi quần áo cũ, còn sạp nào chuyên thu mua đồ bẩn.

“Đồ bẩn?”

“Đương nhiên. Những món độc đáo, còn tốt một tí, rất có khả năng đều là đồ bẩn. Nơi này trước kia gọi là chợ đồ nhảy mà”.

“Hàng của bác có phải đồ bẩn không?”

Bác Phúc nở một nụ cười thần bí. Bác da đen sạm, lúc nào cũng đi dép tổ ong. Móng tay ngón nào ngón nấy đều đầy vi khuẩn. Có điều đặc điểm nổi bật nhất của bác Phúc vẫn là cặp mắt gà chọi, mắt trái cứ như đang tìm kiếm mắt phải, đồng thời trao đổi với nhau về thế giới ly kỳ mình từng trông thấy.

Bác yêu nhất thuốc lá Trường Thọ, vậy nên nếu nhớ tôi đều mang một bao đến mời bác. Tuy mặt mũi bác xấu xí, nhưng kể chuyện lại rất hấp dẫn, sở hữu khối kiến thức không thua gì một số giáo sư đại học tôi từng diện kiến. Có lúc tôi nghĩ, liệu A Bố khi về già cũng sẽ trở thành một người giống như bác Phúc, một kẻ lang thang thân hoài tạp học?

Hôm đó tôi đảo qua sạp bác Phúc thì không thấy bác đâu, đương lúc thất vọng mới nhận ra có lẽ bản thân cố tình đến đây tìm bác. Vì hôm nay lúc ngồi trước chuồng voi với Shizuko, trong đầu tôi cứ hiện lên cuộc nói chuyện với bác Phúc hơn một tháng trước.

 

Nửa đêm hôm đó tôi đến chợ người già, rắp tâm tới hàng bác Phúc xem có món gì mới mẻ không. Sạp của bác Phúc là chỗ cố định, ở trước một ngân hàng đã tắt đèn, người tới xem hàng đều tự mang theo đèn pin. Bấy giờ tay chủ hàng bên cạnh bác đang bật phim đen bằng một cái đầu đĩa xách tay, cặp nam nữ chính trong phim đang làm tình từ phía sau, có khoảng bốn năm ông lão bu lại đó xem, nhìn biểu cảm thì không thấy bọn họ có phản ứng sinh lý gì. Xem diễn viên nam trong màn hình đi vào cơ thể người nữ trong tư thế đó đối với họ dường như chẳng khác nào xem phim lịch sử.

Tôi kéo lấy cái ghế đẩu ngồi xuống, lấy chùm chìa khóa trong túi bật đèn soi một lượt sạp hàng của bác Phúc, thứ đầu tiên đập vào mắt là một viên đá hình thù kỳ dị. Viên đá đó khác với đá dưới suối hay đá bên bờ biển, tương đối đen, nặng, bề mặt có rất nhiều lỗ thủng và vết nóng chảy óng ánh.

“Đây là đá gì thế này?”

Bác đáp: “Vẫn thạch”.

“Vẫn thạch?”

“Phải, vẫn thạch”.

“Ý bác là vẫn thạch rơi từ trên trời xuống ấy hả?”

“Phí lời (huì-uē)”. Bác lớn tiếng đốp lại tôi như chỉ e sạp bên cạnh và người qua đường không nghe rõ.

“Sao bác lại có vẫn thạch?”

“Cậu biết con người rồi sẽ chết chứ?”

“Vâng”.

“Người ta khi chết sẽ đem vứt đồ, kể cả không vứt thì người trong nhà cũng sẽ vứt”.

“Là đồ sưu tầm của người đã qua đời à?”

Bác gật đầu.

“Bác đi nhặt về à?”

“Hừ”. Bác Phúc không trả lời thẳng câu hỏi của tôi.

Ngoài vẫn thạch, các món mới của sạp bác Phúc hôm đó còn có vài quyển sách và một cái chân nến. Không phải chân nến bình thường mà giống một cái chân nến có thể cắm vô số nến, hơi hoa lệ rườm rà, bên trên còn chạm khắc hoa văn. Tôi cầm cái chân nến lên, cảm giác nặng trịch.

“Cái này làm bằng gì đây?”

“Bạc trắng”.

“Làm gì có chuyện?” Tôi luôn nghi ngờ mấy sạp hàng kiểu này lại bán thứ gì thực sự có giá trị.

Do thời tiết có phần âm u lạnh lẽo, bấy giờ trời bắt đầu mưa lất phất, một đàn mối luẩn quẩn bên dưới đèn thủy ngân, chốc lại bò qua sạp hàng của bác Phúc. Bác Phúc nhìn tôi, dùng ngón trỏ và ngón cái nhặt lấy một con mối, bảo: “Tôi có nói cậu cũng không tin, đây không phải bạc trắng thông thường đâu, không phải loại bạc trắng đào dưới đất mà là bạc trắng hun từ mối”.

Ông thả con mối lên tay tôi, cánh nó đã rụng. Tôi nhìn con côn trùng nhỏ nhoi sắp tàn mệnh, nhớ đến lời Cát từng nói, mối sở dĩ chọn ngày mưa để bay ra ngoài là vì chúng muốn tìm tổ đất chui vào sau khi gãy cánh, mặt đất sau mưa đương nhiên dễ xuyên qua hơn mặt đất cứng đanh khô hanh. Đám mối biết bay này khác hẳn với kiến càng, kiến thợ, bọn chúng là “cơ quan sinh dục” của bầy mối, giống như thực vật rải hạt giống, nhiệm vụ của chúng chính là bay cao bay xa nhất có thể, sau đó trút bỏ đôi cánh tiêu tốn nhiều chất dinh dưỡng nhất để mọc ra, từ mặt đất phát tín hiệu mùi tới những con mối đực đang bay. Nếu may mắn, một quần thể mối mới sẽ được hình thành.

Cát bảo các nhà tự nhiên học nghiên cứu phát hiện, mối đực và mối cái từng có thời gian dài chung sống trong tổ mối, nhưng đôi bên không hề có dấu hiệu sinh hoạt tình dục, mối nhất định phải (anh nhấn giọng) rời khỏi tổ, trải qua quá trình bay và rụng cánh mới sản sinh tình yêu.

“Nhất định phải?”

“Nhất định phải. Giống như đời người chỉ có thể đi theo một tuyến đường cố định ấy, không thể quay đầu, không thể đi tắt”.

 

“Hừ, dám mối mà lại hun được thành bạc trắng lắm”. Tôi nói. Tôi đã quá quen với mấy lời xằng xiên của bác Phúc. Đưa tay mân mê chân nến, cái chân nến này mang đến cảm giác trơn láng tinh tế như tơ lụa, dù không phải bạc trắng thật nhưng chất liệu chắc chắn không tệ. Tôi nhướng mày hỏi bác Phúc bán bao tiền? Ông hơi nhếch mép tỏ ý món này không bán cho tôi. Bác Phúc là kiểu trông người bán đồ, ông bảo có lúc món đồ phải đợi người có duyên cầm lên, đồ vật không thể tùy tiện bán cho người không nên sở hữu nó. Ông cũng nói: “Đồ vật được sử dụng mới có thể hồi sinh, món đồ được sờ nắm mới có ‘khí’”. Nhưng người mua bắt buộc phải có duyên với món đồ ông mới bán. Có duyên hay không, đương nhiên chỉ cần ông nói là được.

“Cậu không tín tôi thì cũng phải xem sách chứ. Cậu đọc nhiều sách thế mà không biết mối có thể hun thành bạc trắng à? Trong sách này có viết đây”.

“Cháu không biết đấy”. Tôi nói với giọng châm biếm. “Chỉ có mấy hàng mới này thôi sao?”

“Với cả cái cậu đang ngồi nữa”.

Tôi cúi xuống nhìn, thì ra bản thân đã vô thức kéo một cái ghế đẩu lại ngồi. Trên cái ghế đẩu đó lót một miếng đệm vải trang trí viền đăng-ten rủ kiểu dáng xưa cũ. Tôi vén nó lên mới phát hiện đây không phải ghế đẩu bình thường mà giống như một cái chân voi - đại để là phần từ đầu gối cắt xuống. Nếp gấp mô phỏng da voi vừa sâu lại không cái nào giống cái nào, còn chi chít các vết lốm đốm màu đỏ gạch, tím than với vàng đất, thậm chí còn có một số vết lõm, dưới cùng còn khảm năm miếng xám trắng hình bán nguyệt. Nếu đây là chân voi thì đó chắc là móng chân chăng? Tôi gõ gõ, cảm giác như gõ lên thứ gì đó làm bằng cao su.

“Ê, không được gõ đâu, hỏng là cậu đền đấy”.

“Đây là gì?”

“Cậu không nhìn ra à? Chân của voi, ghế chân voi”.

“Đồ lởm hả?”

Bác Phúc hừ giọng.

“Không phải hàng thật chứ?”

“Phí lời (huì-uē). Tôi đây không bán hàng giả”.

Tôi đưa tay sờ sẫm, da voi mang đến cảm giác ẩm ướt, mướt tay, trên thân ghế phần gần bàn chân có một vòng tròn lõm xuống, sờ vào cứ như bên trong còn có khớp xương voi. Đương nhiên tôi chưa từng sờ chân voi thật, nhưng cảm giác ấy quả thật giống như thứ bị lột lấy từ một vật thể có sinh mệnh. Dù là đồ giả cũng chắc chắn do thợ thủ công tay nghề rất bá làm ra.

“Cậu ngồi lên ghế chân voi”. Cả tháng nay, trong đầu tôi cứ hiển hiện hai con mắt tìm kiếm lẫn nhau của bác Phúc, và cả câu ông nói: “Nó sẽ đưa cậu đến nơi con voi ấy từng đến”.

❀ ❀ ❀

[1] Mộc San: tên gọi khác của vườn thú thành phố Đài Bắc.

[2] Đầu Cầu Lớn: Địa danh ở quận Đại Đồng, thành phố Đài Bắc. Âm Hán Việt: Đại Kiều Đầu.

[3] Phồn Xã: Tên cũ người Hán dùng để gọi nơi sinh sống của thổ dân bản địa Đài Loan ở Trúc Nam.

[4] Nam Dương: Cách gọi của người Trung Quốc để chỉ các nước nằm trong vùng biển phía Nam, tức khu vực Đông Nam Á.

Nguyễn Tú Uyên (dịch)
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 6 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.