Chiếc Xe Đạp Mất Cắp

Lượt đọc: 191 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Lâm Bô*

❊ ❊ ❊

Limbo

Voi tỉnh dậy khỏi giấc mơ, vạt rừng trước mắt rực ánh lửa. Âm thanh xì xì sắc nhọn, chưa từng nghe thấy xuyên qua ngọn cây, mỗi tiếng trầm đục đều kéo theo vài gốc cây bắt lửa. Mây mù bao trùm tứ phía, không khí ấm áp đến đáng sợ, quả cầu lửa màu vàng sáng như mặt trời trong vài phút đồng hồ cứ liên tục trồi lên lặn xuống.

Voi hoảng loạn bất an, vươn vòi, xòe tai, phát ra tiếng kêu vang vọng. Voi già vây quanh voi con, đẩy chúng vào giữa vòng tròn. Một nài voi bị mảnh đạn pháo văng trúng nói: “Dẫn voi đi theo đường khác! Đường khác!”.

Voi không hiểu nổi vì sao mình bị cuốn vào những chuyện này, cơ thể voi, ý thức voi, kinh nghiệm của voi đều không cung cấp cho chúng khả năng đối diện với kiểu thế giới này. Là một con voi đã được thuần phục, cuộc sống của nó ngoài đói bụng, động dục, ngủ nghê, còn có cả thồ hàng, điều duy nhất nó hiểu là: Chỉ có nghe lệnh nài voi mới có đồ ăn, mới không bị phạt.

Dưới sự dẫn dắt của nài voi, voi lần lượt vượt qua một con sông lửa chiếu sáng rực với vô số xoáy nước, tiến vào khu rừng còn sâu hơn phía bờ đối diện. Chúng đung đưa vòi đầy bất an, đánh hơi xung quanh. Chúng sẽ nhanh chóng nhận ra, mỗi viên “đạn” theo cách gọi của con người đều tạo ra một thứ mùi mới, tùy theo nó văng trúng vào đâu, biến thứ gì thành khói. Nếu thứ bị phá hủy là đá, khói bốc lên sẽ tỏa mùi đá, nếu thứ bị phá hủy là cây, bốc lên sẽ là mùi của loài cây ấy, nếu thứ bị bắn trúng là người hoặc thú, đó sẽ là một trải nghiệm khứu giác hoàn toàn mới, xác động vật bị thiêu cháy không mang nỗi buồn thương chết chóc, mà trái lại có mùi thơm.

Nhưng lúc này voi không hề biết, thoát khỏi rừng lửa không có nghĩa thoát khỏi chiến tranh, hay thoát khỏi sứ mệnh thồ hàng vĩnh viễn không có hồi kết. Chiến tranh không phải chuyện xuyên qua một khu rừng, băng qua một con sông, hay vượt qua một ngọn núi. Voi cõng trên lưng một cái giá gỗ được đóng theo chiều rộng vai của chính nó, rồi nghe theo mệnh lệnh, dùng vòi nâng hòm gỗ nặng đặt lên giá gỗ.

Dù thồ vật nặng, bước đi của voi vẫn gần như không phát ra tiếng động, đó là nhờ xương chân khổng lồ thẳng đứng chống đỡ cho thể trọng kinh người, cùng lớp đệm mềm dưới bàn chân đóng vai trò giảm bớt áp lực. Đối diện với con đường lạ, voi có thói quen trước tiên sẽ đưa vòi thăm dò mùi và tình hình phía trước, tiếp đó đầu vai chúc xuống, bả vai tròn nhô lên, đầu gối gập cong, dẫn động bàn chân to bè che cả móng từ từ nhấc khỏi đất bùn, vẽ một đường vòng cung về phía trước, sau đó duỗi thẳng đầu gối, hạ lại chân xuống đất, bắp thịt này kéo theo bắp thịt khác, ngón chân tõe ra. Bước chân ấy ung dung, lặng lẽ, cơ hồ khiến người ta ngỡ rằng voi chẳng biết sợ gì.

Voi đã tiến hóa suốt nghìn vạn năm trên thế giới này, vẻ ngoài của chúng thể hiện cách sự sống hồi đáp lại hoàn cảnh, vừa chủ động vừa bị động, vừa có định hướng vừa không định hướng. Xương sọ của voi dần dần thu hẹp khoảng cách trước sau, kéo dài khoảng cách trên dưới, nang lá răng hàm từ ít thành nhiều, men răng từ dày thành mỏng, vòi và ngà mọc dài từng chút qua mỗi mười nghìn năm. Cơ thể voi chính là bản thân thời gian.

Từng có thời voi là linh hồn của dãy núi này khu rừng này, thân hình to lớn khó giết hại của chúng là hóa thân của sự từ bi, đôi mắt tuy nhỏ nhưng sáng ngời trí tuệ ngầm bày tỏ tình cảm và linh tính. Con người từng sùng bái voi, cho rằng voi có tài phép nhìn thấu vận mệnh nhân loại; bấy giờ họ vẫn cho rằng, con người là một bầy đàn nhỏ nhoi nhất, thiếu khả năng kết nối với thánh thần nhất trong các loài động vật. Nhưng thời đại đó đã qua rồi.

Voi đã thích ứng với khu rừng này giờ đây đang học cách thích ứng với cầu lửa từ trên trời rơi xuống, đạn chì xuyên thủng da, găm vào nội tạng, và chuyện bất cứ lúc nào cũng xảy ra cháy rừng. Chúng câm lặng nghe theo nài voi, còn nài voi lại nghe theo một nhóm người nói thứ ngôn ngữ xa lạ, hoặc những người đó cũng nghe lệnh từ một kẻ chi phối khác mà voi không thể hiểu nổi. Hết sợi thừng vô hình này đến sợi thừng vô hình khác trói buộc lấy chúng, không ai biết cách nào để giằng thoát.

Một ngày nọ khi đang nghỉ trong rừng trúc, “người phía bên kia” lùa nài voi đi. Trên thực tế, lừa nài voi đi đồng nghĩa với bắt mất voi. Voi quay đầu lại thấy người nài voi gần gũi với mình nhất cùng một binh lính chạy trốn vào cánh rừng còn tuyệt vọng và tàn nhẫn hơn cả chiến tranh ấy thì biết, từ giờ mình sẽ không còn đi chung đường với nài voi đã chăm sóc mình từ nhỏ nữa. Nhưng voi dường như cũng cảm thấy, có bị “người phía bên kia” dắt đi thì số mệnh mình cũng không có gì đổi khác - vẫn phải đối mặt với đói khát, với cơn động dục khó lòng khống chế, với sự thiếu ngủ cùng những giá thồ hàng nặng nề.

Có điều khi ấy voi cũng không ngờ được, chúng sẽ lặn lội nghìn dặm tới một đất nước phía bên kia ngọn núi. Khi được nài voi lùa về phương Bắc, bầy voi từ đằng xa trông thấy một con trăn nằm trong núi, bò qua bò lại giữa eo và lưng núi, đó là cảnh tượng từ khi tiến hóa đến nay voi chưa từng trông thấy, một cảm giác bất an tự nhiên nảy sinh.

Trong vòi voi bị tắc nghẹt thứ mùi đáng ghét của lũ la đi đằng trước, nó lắc lắc đầu, hòng thoát khỏi mùi ấy, nhưng chẳng có cách nào. Khứu giác là cơ quan không thể đóng lại được.

Đoàn quân vượt qua vùng núi Kachin mới một tuần trước vẫn còn trong mưa bom bão đạn, đầm lầy chất đống xác chết, tứ chi gãy rụng lả tả từ trên cành cây, giống như một loài thực vật kí sinh không rõ tên.

Khắp nơi đều là cây cối bị gió thổi cong như cung tên, hang thú nằm rải rác xung quanh.

Bầy voi theo đoàn quân đi ngược dòng con sông bị bao trùm bởi một tầng sương mù xanh nhạt, đi qua đồi núi lâm thâm mưa phùn, đến khi chân người lẫn chân voi đều bám chi chít đỉa, da dẻ đầy vết lở loét, dưới mí mắt nở ra đám ký sinh trùng hình thù kỳ dị. Mặc cho thân thể chịu đựng nỗi khổ sở lớn nhường nào, voi vẫn cất những bước chậm rãi, vì thế trông lại càng trang nghiêm.

Đoàn quân sau khi ra khỏi đường rừng, thế giới trước mặt trở nên sáng rực chói mắt, ở đó không có rừng rậm, xung quanh đường sá đều là đồi trọc và núi cao không bóng cây cỏ, gió hễ thổi là bụi đất cuồn cuộn. Ánh mặt trời nóng nực khiến voi phải liên tục phe phẩy tai hạ nhiệt, dùng vòi hút đất đỏ dưới đường phun lên lưng mình và thân tộc trước sau, nhằm dịu bớt cảm giác kim châm trên da. Đá vụn nhọn hoắt và bỏng giãy thì khiến ngón chân voi sưng phù, quanh viền móng chân hình bán nguyệt chảy cả máu. Cánh lính tráng đem quân phục của đồng đội đã bỏ mạng ra băng bó bàn chân bị thương của voi, nhưng làm vậy cũng không xoa dịu nổi cơn đau đớn mỗi khi thể trọng đồ sộ đè xuống bốn cây cột đình.

Hễ đoàn quân dừng chân, voi liền bắt đầu dùng ngà xúc đất tìm muối và nước, nếu đủ thời gian, nó thậm chí còn có thể dùng vòi và ngà lẫn bàn chân đào ra một miệng giếng.

Nếu có thể gặp một con suối hay vũng bùn thì đúng là may mắn. Voi sẽ phấn khởi rống dài, mặc cho nài voi ngăn cản, cố bước vào nước.

Chúng mặc sức phun nước suối hoặc nước bùn lên mình nhau, thọc vòi vào chỗ nước tuôn tận hưởng khoái cảm. Nhưng rồi chúng cũng nhanh chóng hiểu ra mình đã không còn ở trong hoang dã, tự do là thứ xa xỉ, cánh lính sẽ không hề khách sáo châm lửa đốt đuôi voi. Lửa đem đến cho voi không chỉ đau đớn mà còn cả nỗi khiếp sợ xa xưa như các tầng địa chất. Khoảnh khắc trông thấy ánh lửa, voi quên luôn mình là một sinh vật sở hữu sức mạnh, chúng trở nên tầm thường, hèn nhát, khuất phục.

Voi cảm nhận nỗi đau đớn và sợ hãi đó, đồng thời cho rằng đây là thứ cả đời mình phải chịu đựng, cả đời voi, giống như một giấc mơ cam chịu đủ kiểu giày vò.

 

Bầy voi nào cũng có một thứ linh cảm thần bí, biết ai đã cận kề cái chết. Trong hàng ngũ voi đã có năm con bị bóng đen của cái chết đeo bám xương cốt, chúng đang dùng tần số thấp chỉ có riêng ở loài voi phát ra tiếng kêu bi thương, dài đằng đẵng, bày tỏ đau đớn. Vào lúc nghỉ ngơi, voi còn chút sức sống sẽ xòe tai che cho đám voi con và voi bệnh. Lúc thiếu nguồn nước, voi khỏe mạnh sẽ thò vòi vào miệng mình, hút ra những giọt nước quý giá, đưa vào miệng voi bệnh.

Voi bệnh cách đoàn la ngựa đi đầu càng lúc càng xa, có lúc tận nửa đêm mới đuổi kịp đến nơi dựng trại. Bọn chúng gần như không có thời gian nghỉ ngơi, tựa hồ cả đời đều ở trên đường.

Nài voi nhạy cảm phát hiện bầy voi có dấu hiệu khác thường, bèn thông báo cho binh lính, binh lính thông báo cho lính quân y, lính quân y báo cáo lên sĩ quan quân y. Sĩ quan quân y thử tiêm cho mỗi con voi bệnh ba liều thuốc của ngựa, nhưng vì chưa từng chữa cho voi bao giờ nên không dám chắc. Quả nhiên voi bệnh vẫn tiếp tục ủ rũ, mất dần sức sống.

Chính ngọ hôm sau, chợt nghe uỳnh uỳnh mấy tiếng, mặt đất hơi chấn động, một con voi đực và một con voi cái đã khá lớn tuổi đổ gục ngay trong đống phân và nước tiểu của chính mình, không một tiếng kêu, không cả phản ứng. Ngà con voi đực lúc ngã xuống gãy như thủy tinh, nó là voi đực trưởng thành duy nhất trong bầy, mới vừa trải qua thời kỳ cuồng bạo, giờ gầy tới độ như chỉ còn bốn chân, nước tiểu vẫn nồng mùi Pheromone.

Hai ngày sau, ba con voi còn lại lần lượt ngã xuống, vành tai to tướng của chúng dán xuống mặt đất, như đang lắng nghe gì, hít vào sâu, thở ra vang, cái miệng hơi há, cái đầu lúc lắc, đến tận khi hơi thở ấm nóng cuối cùng rời khỏi chúng.

Hoàng hôn hôm sau, con voi cái địa vị cao nhất đàn voi cũng đổ gục.

 

Voi đã quen với những cái chết đường đột, bất kể là của người hay voi. Nó thậm chí từng chứng kiến cái chết của mẹ mình.

Một quả đạn pháo bắn trúng boong-ke, bốn bề phút chốc bao phủ trong hàng nghìn hàng vạn gạch đá vỡ, những mảnh vỡ sắc nhọn văng vào đầu, vào mạng sườn voi mẹ. Suốt mấy tuần, nài voi làm sạch vết thương cho voi mẹ, moi ra cả thùng vụn đá và mạt sắt, nhưng vẫn không thể chắn đường thần chết.

Loài người một ngày sẽ biết, voi cũng hiểu về đêm đen, rừng rậm, mùa mưa và đau lòng y như họ. Khi voi cái đầu đàn ngã xuống, lũ voi còn lại thảy đều dừng bước, vây quanh nó. Chúng đưa vòi vuốt ve lưng nhau, phát ra những tiếng rên rỉ thấp trầm khẽ khàng lạ lùng. Nhiệt độ ban đêm giảm mạnh, nơi gần mặt đất hình thành một tầng truyền âm khá hoàn hảo, tiếng gầm gừ đó vì thế có thể truyền đến tận thung lũng tít xa, rồi sau lại ù ù vọng về doanh trại. Âm thanh bị phóng to, tầng tầng lớp lớp khiến lính tráng gần đó cảm thấy đau thương mà ấm áp, bọn họ cảm nhận được nỗi thương tâm của voi, vì thế cũng thương tâm cho chính mình. Bọn họ nhớ đến tình nhân và quyến thuộc nơi phương xa, đồng đội đã bỏ mạng, cánh tay gãy từng nắm dương vật và súng, cả con mắt không thể nào mọc lại được nữa.

Giấc ngủ của voi ngắn hơn nhiều so với của người, do đó trong đêm bi thương ấy các binh lính đi ngủ trước. Đám voi thức đứng nhìn về bóng cây, dãy núi, sao trời đằng xa, đến tận khi đêm về khuya thêm khiến tất cả lũ voi còn gắng gượng sống sót đều chìm vào giấc ngủ. Tiếng ngáy của chúng dần dần kéo dài, dần dần lắng dịu, giống như thứ nhạc thánh phát ra khi thủy triều trùm lên đá ngầm.

Sớm hôm sau ánh trời ló rạng, hàng tỷ hạt bụi nhỏ, phấn hoa, côn trùng nhỏ chưa đến một mi-li-mét bay tứ tung, thế giới là một khoảng mịt mờ.

Binh lính đào một cái hố khổng lồ, chôn cất voi cái đầu đàn. Bấy giờ một con voi cái lớn tuổi nhất phát ra những âm tiết trầm đục mà rõ rệt lặp đi lặp lại, tiếng này nối tiếng kia tựa bậc thang bắc cao dần, khi lên đến đỉnh điểm thì chợt dừng lại, rồi bắt đầu câu này nối câu kia leo xuống dốc về với tĩnh lặng. Sau ba hồi như thế, con voi thứ hai nhập cuộc, hai trường âm dội vang lẫn nhau; tiếp đến là con voi thứ ba, thứ tư góp giọng… Đó không phải hợp xướng cũng không phải hát bè, mà là tiếng rên rỉ ngẫu hứng tuôn trào từ cảm xúc mỗi cá nhân, cũng lại giống cuộc trò chuyện như vỗ về lẫn nhau. Khoảng giao giữa xương đầu và ống mũi trước trán lũ voi giật giật, âm thanh trong không khí như có sự sống chui vào cơ thể binh lính rồi từ từ phình lên, khiến họ khó chịu, sợ hãi, không biết làm thế nào. Sau mười phút âm thanh đó bỗng nhiên im bặt, voi đầu đàn cất bước, cánh binh lính bấy giờ mới phát hiện khắp mặt mình là vệt nước mắt. Nước mắt ấy không có mục đích, do vậy người rơi nước mắt cảm thấy bình lặng và thanh sạch chưa từng có.

 

Khi tiến vào thôn làng, voi đã biết đây không giống bất cứ thôn làng nào nó từng biết trước đây, vị trí bóng đã thay đổi, mùi bếp núc trong không khí cũng khác xa. Mọi người trong thôn không hề kinh ngạc khi thấy đoàn quân, đây là thời đại binh lính ở khắp mọi nơi. Nhưng khi trông thấy bầy voi thì họ lại ngỡ là trò oái oăm. Bọn họ vỗ đầu vỗ vai lẫn nhau, xác nhận mình không lẫn lộn giữa mơ và thực. Sao có thể là voi cơ chứ? Trên đời này thực sự có voi? Trước mặt là một đàn voi?

Bầy voi với thân hình còn to lớn hơn vài ngôi nhà lặng lẽ đi qua con đường trong thôn, hoặc men theo đường cái, đường ray tàu hỏa, hoặc bước lên cây cầu không lấy gì làm vững chắc, đám đông theo sau bầy voi như bị trúng tà. Thôn làng này nghèo khó và đen đúa, voi trông thấy những linh hồn đã chết đứng ở cổng thôn, quanh quẩn lảng vảng, đợi người thân đi ngang qua thì giơ tay vuốt ve. Linh hồn cũng vây lấy xem voi, bày tỏ sự ngạc nhiên bằng âm thanh dân làng không nghe thấy được.

Voi giơ cao rồi quăng vòi xuống đất đung đưa qua lại, hòng tìm kiếm, đánh hơi đủ thứ mùi trên mặt đất và trong không trung - lá rau dính trong khe kẽ mặt đường, lòng đỏ đặc sệt chảy ra từ quả trứng gà vỡ, mùi nóng ấm phả ra từ ống bễ của lò rèn, tầng tầng mỡ màng vương vãi đóng két hai bên phản thịt… tất cả đều khiến voi cảm thấy lạ lẫm mà đau khổ. Nó cuộn vòi lại trước miệng, định cự tuyệt hoặc thưởng thức thứ mùi ấy. Trước một sạp bán cá, voi ngửi thấy mùi ngao và vỏ tôm nhức mũi, mùi này phải đến khi nó bị đưa lên chiếc tàu thủy chật ních nọ chở đến hòn đảo nhỏ mới được đánh thức, chứng thực. Vì bấy giờ voi vẫn chưa hiểu về biển, chưa biết đến biển.

Đa số mọi người trông thấy trẻ nhỏ tiến lại gần voi thì đều vội kéo chúng đi, nhưng bọn trẻ vẫn nhân lúc người lớn không chú ý lén tiếp cận voi - loài động vật mũi dài khổng lồ kỳ diệu, giống như một câu chuyện cổ tích chúng vĩnh viễn không có cơ hội được đọc. Voi cũng đánh hơi lại trẻ con loài người.

Chiến trường chỉ có cái chết, không có sự sống mới. Một đứa bé sơ sinh nằm say giấc trong chiếc xe đẩy bằng mây bên cạnh một sạp hàng nhỏ, voi vươn vòi ra, mẹ đứa bé định giơ tay ngăn, nhưng bị voi ngoan cố gạt đi, đến tận khi nài voi chạy tới quát. Voi vừa thấy lạ vừa không thấy lạ trước thứ mùi ấy… nó vẫn nhớ láng máng lúc voi cái sinh ra voi con giữa nơi hoang dã, cũng nhớ cơn kích động khi ngửi thấy từ xa mùi trẻ con của buôn làng loài người chào đời từ bìa cánh rừng cố hương.

Chính vào lúc ấy, một con lợn đen chân ngắn xông tới trước bầy voi, có lẽ bị mùi trẻ sơ sinh mới rồi cùng cái bóng đen lăng xăng lúc này kích thích cảm giác hưng phấn, voi chìa vòi ra, nhanh như cắt quặp lấy con lợn giơ lên không trung, rồi quăng mạnh xuống đất. Con lợn không cả kịp ré lên thảm thiết đã chết ngay tại chỗ. Voi giơ cao vòi gầm vang, nhưng sau lại cất những bước im lìm, trang nghiêm về phía trước như không có chuyện gì.

Binh lính cảm nhận được sự bồn chồn của bầy voi, cũng lường trước đóng hỗn loạn có thể xảy đến một khi tiếp tục đi qua thị trấn (voi xô đổ tường một nhà dân, và giẫm nát cánh đồng nông dân mới gieo mạ), họ cũng lo voi lại chết thêm - mười ba con ban đầu giờ chỉ còn lại bảy. Voi đối với họ là một biểu tượng, biểu tượng của việc họ đã giết chết kẻ địch, giành thắng lợi và sống sót trở về từ cánh rừng kia, mệnh lệnh họ nhận được là bắt buộc phải dẫn về voi sống.

Vì thế sĩ quan chỉ huy quyết định lùa voi lên xe, để để phòng làm loạn, voi bị ép uống thuốc với nước muối, bàn chân đầy máu mủ của chúng cũng bị tròng xích sắt. Dưới tác dụng lâng lâng mơ màng của thuốc, voi cảm giác mình có thể trôi bồng bềnh trên mặt nước, chúng chưa từng di chuyển với tốc độ thế này, chưa từng trông thấy quang cảnh xung quanh ở tốc độ này. Thôn làng lướt qua trước mắt, mùi hương trái cây và mùi cây cối lạ lẫm tràn ngập trong không khí, trên bầu không xuất hiện ráng mây ngũ sắc huyền diệu, một toán lính hành quân giữa đồng không mông quạnh, màn đêm như vạt váy quét sau lưng họ, thế rồi ráng mây khuất dần, ánh sáng khuất dần, thay vào đó là sao trời và vầng trăng to như bánh xe bạc, chiếu sáng cả vùng đồng cỏ.

Tựa hồ nghe thấy gì đó, voi dựng tai lên - một làn sóng âm đè bẹp cỏ tràn tới, làn sóng thứ hai theo ngay phía sau, làn sóng thứ ba chậm hơn một chút, cỏ tranh đang ra hoa bị sóng âm nhấn chìm hoặc gió dìm chỗ cao chỗ thấp, hàng chục con hạc to lớn từ giữa đồng cỏ bay vút lên, phành phạch lướt qua bên trên đoàn xe.

 

Xe chở bầy voi tới một thị trấn lớn, tạm thời dừng lại đó. Bàn chân voi giẫm lên mặt đường lát đá phiến và đường trải nhựa nóng giãy, âm thanh của dòng sông chốc chốc lại truyền tới bên tai, khiến nó nhớ đến khu rừng ẩm ướt, cùng cảm giác khi cành cây lá cây quệt qua lưng, tựa hồ đấng tạo hóa đang gãi ngứa cho mình.

Tạo hóa chấp hành âm luật này không chút thiên vị: xuân qua thu đến, sinh lão bệnh tử, không vương bất kỳ buồn thương. Đối với voi, nỗi buồn thương nho nhỏ chính là một sớm thức dậy, nài voi tộc Karen đã biến mất, thay vào đó là người huấn luyện voi Trung Quốc sau này mới học nghệ. Những người dìu dắt voi khôn lớn thảy đã rời xa nó.

Người huấn luyện voi mới sử dụng thứ tiếng voi ngắc ngứ ra lệnh cho voi ngồi, quỳ, đứng, nằm, lăn… trước đám đông. Bầy voi từ chiến sĩ trở thành diễn viên xiếc. Những con người bị chiến tranh đè nén bao lâu không được thả lỏng, chứng kiến màn biểu diễn hoạt kê của loài sinh vật khổng lồ này thì cảm thấy bản thân dường như tìm lại được chút tôn nghiêm. Vài người sau khi cười lớn còn móc trong túi ra ít đồng lẻ đưa cho người lính cụt tay thiếu chân, hoặc vứt tiền vào trong chiếc mũ voi đang cầm bằng vòi. Thậm chí được nài voi ra lệnh, voi còn nhặt tiền xu rơi vãi dưới đất, động tác khéo léo của cái vòi nhận được tràng vỗ tay nhiệt liệt.

Bầy voi vừa biểu diễn vừa tiến lên phía trước. Vài ngày sau tới một thành phố mới, thứ chào đón chúng là âm thanh như tiếng súng máy bắn phá, khiến bầy voi nhất thời rơi vào khủng hoảng và bối rối. Chúng không hiểu, đó là tin báo chiến tranh kết thúc, vượt cả dãy núi truyền tới đây.

Con người đi bên bầy voi như ngày hội, trên tay bọn họ ôm nào đường cát, hoa quả, màn thầu, vai vác bàn ghế, thóc gạo, trẻ con và thiếu nữ. Binh lính cầm xô múc đầy nước, cho voi hút căng vòi rồi phun vào đám đông. Một vài người đói ăn tụ tập trước đền chùa bị bom dội sập nóc, tối mờ im ắng, lúc bị bắn nước họ reo lên hoan hô mà nghe như than khóc.

 

Nhưng sau tiết mục chào mừng, khi màn đêm buông xuống, cánh lính tráng và cả voi đều hiểu rõ, chiến tranh sẽ không rời đi. Nó đã chiếm đoạt từng nóc nhà, từng thân thể, không cho bất cứ ai ngủ nghê, mà kể cả ngủ được cũng sẽ bị giấc mơ đó quấy nhiễu suốt đời.

Ngay nài voi cũng không biết, đêm muộn thi thoảng voi vẫn lẳng lặng đặt chiếc vòi thô ráp đầy nếp gấp của mình lên trên cách đầu người hai tấc, đánh hơi giấc mơ của con người, bấy giờ nó chỉ có thể hít vào chứ không thể thở ra. Voi không hề cảm thương, đau khổ, vui vẻ trước những giấc mơ ấy, bọn chúng chỉ tò mò.

Đêm hôm đó, voi đặt vòi trên đầu một người lính đang ngáy o o say giấc. Trong não bộ của voi vì thế xuất hiện hình ảnh một gốc cây khổng lồ, chu vi tán cây rộng chẵn năm trăm bước voi. Rễ phụ vươn ra tứ phía, có nhánh còn cứng cáp đâm vào lòng đất, trở thành một thân cây thứ hai, chống đỡ lẫn nhau thành một cụm cây đồ sộ đến độ cả voi cũng không xê dịch nổi nửa phân.

Lá cây phiến nào phiến nấy lấp loáng như dao, lửa đạn chui ra chui vào các kẽ lá như chim, hình thành một lưới lửa lấy cây làm trung tâm. Hỏa tuyến muốn giết chết cây chốc chốc lại xộc ra từ cánh rừng hay đồng cỏ cao ngút bên cạnh, còn cây thì đáp trả bằng hỏa pháo. Cành lá trên cây sum sê kín mít, khiến nó trông càng giống một con nhím đang cuộn mình.

Voi trôi lơ lửng trên vòm cây, chứng kiến cảnh tượng cây giao tranh cùng cây cối, đồng cỏ, rừng rậm trong đầu người lính nọ, nó không kìm nổi đưa vòi vạch lá cây, tìm và phơi bày từng người lính nấp trên chạc cây, những người lính này không nhìn thấy voi, như phỗng đá nắm chặt cây súng, rà soát phía trước mặt. Voi như chơi trò chơi, đoán chỗ náu mình của từng người lính, sau đó lấy vòi vạch lá chứng thực.

Bọn họ người thì đang chặt dây mây lấy nước, người đang nhai củ chuối và cành trúc, kẻ giương mắt nhìn trời cầu đổ mưa, kẻ cụt tay, kẻ dưới xà cạp trống hoác không có gì, kẻ vừa mất một con mắt đang làm quen với thế giới xiêu vẹo, kẻ mất đi một phần răng hoặc mang những phần xương gãy… máu đen chảy xuống từ người họ, giống như nước bọt dồi dào túa ra, thấm ướt cả bộ quân phục bẩn thỉu, đồng cỏ vì hút lấy máu nên trái lại trông có vẻ ấm nhuận và thỏa mãn, có điều màu sắc trở nên không còn xanh tươi nữa. Có người lính ở trong lùm cỏ khóc như trẻ nhỏ, nhưng không biết khóc vì lẽ gì. Đột nhiên một người lính trúng đạn do bị voi vạch lá cây làm lộ vị trí, anh hự lên một tiếng rồi rơi khỏi cây, lũ giun, bọ hung và quạ đen tụ tập dưới gốc cây đợi chờ giây phút ấy nhất tề xông đến.

Khác với thế giới lúc tỉnh, những kẻ rỉa xác đó ngốn ngấu sạch cả xương, chỉ chừa lại mỗi nhãn cầu. Do vậy dưới gốc cây và trên bãi cỏ có đến hàng chục, không, hàng trăm chiếc nhãn cầu lăn lóc. Nhãn cầu sáng lấp lánh trong bãi cỏ dại như ngọc trai, phản chiếu cánh rừng thành một thế giới hình vòng cung. Voi vươn vòi hút chụt chụt đám nhãn cầu đó vào ngậm trong miệng. Mùi vị nhãn cầu rất khó diễn tả, nghe nói ở sát gốc con ngươi có dây thần kinh kết nối với đại não, thành thử nội dung đại não của mỗi người lính quyết định mùi vị nhãn cầu của họ.

Không lâu sau, mưa xiên xiên như thừng bạc quật xuống vòm cây, mặt trời lên cao rồi lặn thấp, sao trời sáng rỡ rồi tối tăm, ruồi nhặng bu lại trên cây, giữa tán lá và dưới gốc cây, đủ loài côn trùng như những suy nghĩ vo ve lích rích; trước hừng đông trăm triệu chiếc lá lần lượt rụng sương, âm thanh khẽ khàng ấy vang vọng trong khu rừng thành từng tràng “roạttt… roạttt”, binh lính hành quân đêm cố ý để nhịp bước chân và trèo cây đồng nhất với tiếng nước rơi, nhằm che giấu tung tích. Đạn pháo chém lìa một vạt cây, rồi lại chém lìa thêm vạt nữa, vạt nữa. Voi nhìn chằm chằm suốt hai độ trăng tròn, hai độ trăng khuyết, thân cây khổng lồ chi chít lỗ đạn, nhưng cây vẫn đứng vững như thường. Cái chết to lớn, dữ tợn, tăm tối như mây đen tầng thấp, điên cuồng bấu víu, leo bám khắp nơi như rễ cây, dường như sắp trói chặt lấy voi trong giấc mơ. Voi chỉ có thể hít vào, sực ý thức mình sắp ngạt thở đến nơi, bèn rụt vội vòi lại, phì ra một hơi thật dài. Nếp nhăn trên trán nó vì thế hằn thêm mấy đường, trong dạ dày vẫn còn mấy chiếc nhãn cầu trơn tuột nọ. Nó hối hận về tính tò mò của bản thân, hối hận vì bản thân không tài nào khống chế khao khát cảm nhận giấc mơ của cánh lính tráng.

 

Sau khi rời thành phố, cuộc hành quân của bầy voi lại hướng về con đường rừng tương tự nơi quê nhà. Voi nhờ vậy có được niềm vui ngắn ngủi, vì có thể lại được ăn lá cây xanh non nơi ngọn cây và chuối tiêu vẫn chưa bị lũ khỉ, vượn vơ cùng vét tận. Được bóng râm che da, các vết thương trên mình voi cũng nhờ sức mạnh của rừng già mà dần dần khép miệng.

Tận cùng khu rừng là một con sông lớn.

Ở đây lần đầu tiên voi được biết thế nào là đi thuyền, đồng thời thề rằng không bao giờ lặp lại trải nghiệm khốn khổ này nữa. Vì voi không chịu lên thuyền, binh lính phải dùng dao nhỏ đâm vào tai voi, sau đó dần dần từng bước kéo voi lên thuyền. Voi đứng trên thuyền, vài bận hoa mày chóng mặt không sao giữ nổi thăng bằng. Người và voi đều vì nỗi khiếp sợ này mà quyết định cập thuyền vào một bến cảng gần nhất, tiếp tục bộ hành.

Thế là bầy voi lảo đảo, lúc đi lúc dừng tiếp tục tiến về hạ du, băng qua đường đồng cỏ, đường đồng ruộng, đường rừng rậm, đường thủy, đường trải nhựa, đường lát đá, voi và lính rốt cuộc cũng tới được thành phố cuối cùng. Nơi đây là điểm cuối tạm thời trong chuyến hành quân nghìn dặm.

Trong thành phố đó, voi bị lùa đi thồ đá, chuyển gỗ, đạp bằng đá vụn. Voi nghe lỏm binh lính nói chuyện, biết mình đang xây dựng nơi tưởng niệm người đã chết. Mũ sắt, thắt lưng, chân tay tàn cụt hoặc áo quần người chết bị chôn xuống đất, khi binh lính đánh chuông, bọn chúng cứ ngỡ như nghe thấy tiếng súng.

Khi xây xong tháp bia, có bốn con voi bị xe chở đi, số voi còn lại được một tấm lưới lớn kết bằng dây thừng chụp bụng nhấc lên con thuyền khổng lồ (lần này không phải thuyền nhỏ lắc lư như trước nữa). Bốn chân chúng bị khóa vào sàn tàu bằng xích thép tinh luyện, mặt hướng ra biển cả. Biển trải dài vô tận trước mặt, voi đứng nhìn sao trên trời, mưa mù, ánh sáng và bóng tối, cùng cột nước hùng vĩ loài động vật nào đó không rõ tên phun lên trên mặt biển. Không voi nào biết đây là cuộc gặp gỡ ngắn ngủi giữa những loài động vật có vú khổng lồ nhất đất liền và đại dương, chúng ngỡ ngàng trước vẻ tráng lệ của cá voi trên mặt nước, cũng giống như cá voi bái phục hình ảnh trang nghiêm của voi.

Khi màn đêm buông, bầu không trên mặt biển trở nên dịu dàng, đầu tiên ngả xám, rồi lại gần như không màu, sau đó mới dần đặc sánh thành đen. Khác với đêm đen trên thảo nguyên hay trong rừng, nó thăm thẳm hơn cả màu đen, và tràn ngập động thái, như thể có vô số cánh bướm đen lấp kín bầu trời. Voi không biết biển có tồn tại ranh giới như rừng hay không, cũng như không biết sao sáng giăng khắp trời thực chất là mặt trời.

 

Sau khi tới hòn đảo nóng nực, không khí vừa có chút giống lại vừa không hẳn giống rừng rậm cố hương này, lũ voi thông qua vẻ mặt, việc làm, cùng động tác tay chân của binh lính có thể nhận ra, đó đã không còn là hơi thở của loài động vật luôn phải quanh quẩn nơi ranh giới cái chết nữa.

Giấc mơ của binh lính không phải lời bịa đặt, chiến tranh cuối cùng đã rời xa.

Có điều đôi khi voi lại oán hận ký ức cùng khả năng cảm nhận trải nghiệm của những voi khác của bản thân. Vào một số thời điểm trong ngày, voi thường vô thức trở lại cuộc chiến khốn khổ ấy, có thể là do đã nuốt vào quá nhiều nhãn cầu người chết bỏ lại trong mơ.

Tối ấy, voi mơ thấy trong tử cung của mình có một voi con, nó ở trong đó đầm đìa máu, trên mình găm đầy mảnh bom vỡ. Voi thò vòi vào âm đạo móc nó ra, đó là cách duy nhất có thể cứu vớt nó. Voi con vẫn chưa hoàn toàn thành hình lấy vòi của nó móc lấy vòi voi mẹ, nhưng vì dùng sức quá mạnh, thông đạo lại quá hẹp, voi con được móc ra đã ngạt thở, còn âm hộ của voi mẹ thì bị mảnh bom rạch chi chít vết thương.

Ngày lại ngày, voi bị giấc mơ mê loạn giày vò, có lúc không kiềm chế được mà dộng đầu vào tường gạch, có lúc húc cái đầu rắn như đá của nó vào nài voi và binh lính. Sáng sớm hôm đó, voi lơ ngơ ngã vào địa đạo di tản do binh lính đào, nó cảm thấy yếu ớt, vô vọng, hối hận vì mình còn sống, mà không, voi không biết hối hận.

Sau khi được cứu, voi tuyệt thực, nó vứt bỏ ý chí sinh tồn mạnh mẽ là vậy, bắt đầu ép từng hồn phách rời khỏi cơ thể. Một sáng sớm, khi trời còn chưa sáng, voi nghe thấy tiếng bước chân như tiếng cây. Nó cảm thấy toàn thân thư thái, các voi trưởng lão của rất nhiều đàn voi, dùng vòi của mình, dịu dàng vuốt ve da nó không chút ngần ngại, thọc sâu vào từng tấc nếp da, vào nơi sâu và kín đáo của hốc mắt.

Voi cảm thấy tất cả đều đang thả lỏng - đất đai, không khí, lông mày, con ngươi, da đầu, lưỡi, tai, má, miệng, yết hầu, mí mắt và chân. Bốn cẳng chân từng đưa nó bộ hành qua vô số dặm đường, giờ đã đưa nó tới điểm cuối cuộc đời này. Voi quỳ chân trước phải xuống, tựa một căn nhà cũ đổ sập, rồi sau chân trước trái cũng quỳ xuống. Hậu môn nó thư giãn, bốn chân theo đó mất đi sức lực, đá tảng lăn từ trên núi xuống, lông mi dài che khuất con ngươi tuy nhỏ nhưng từng sáng lấp lánh. Từ đó nó không còn nghe thấy tiếng rên rỉ trầm đục tựa tiếng sấm tĩnh lặng truyền tới từ đầu kia đồng cỏ của con voi còn lại thương tiếc cho nó nữa. Nó sẽ vĩnh viễn cất bước nơi địa ngục Lâm Bô, ở đó chỉ có hình ảnh phản chiếu của phản chiếu của rừng rậm, núi cao và thác xiết nơi quê nhà.

Nguyễn Tú Uyên (dịch)
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 6 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.