Chiếc Xe Đạp Mất Cắp

Lượt đọc: 191 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Psyche

❊ ❊ ❊

A Vân cúi đầu, dùng nhíp và kim châm côn trùng lần lượt dán hàng cánh bướm đốm xanh trong khay lên tấm vải vẽ. Nếu lùi xa một chút nhìn bao quát có thể đoán ra, cô đang dùng cánh bướm ghép thành bầu trời sao. Công việc này không cần tình yêu, chỉ yêu cầu sự tập trung. Bầu trời sao ghép bằng cánh bướm đốm xanh còn sâu thăm thẳm hơn cả bầu trời sao thật, tối đen và không có tận cùng.

Căn nhà rộng chừng bốn, năm mươi bình, bên trong kê sáu chiếc bàn sắt dài độ ba mét, trên bàn xếp kín các khay sắt đựng xác bướm, xác bướm trong mỗi khay đều không cùng tông màu, có khay màu đen, có khay màu đỏ, màu vàng, màu trắng, cả màu sặc sỡ… chẳng khác nào khay màu vẽ. Không gian còn lại được sắp xếp khá giống nhà ở, có một tủ gỗ đựng đồ hầm bà lằng, tủ quầy ngăn kéo để công cụ, trên tường treo lịch nhà máy xay xát tặng.

Bên đống bàn sắt dài là hơn hai mươi nữ công nhân cột khăn đội đầu như A Vân ngồi theo thứ tự, tuổi đời các cô từ mười mấy đến hơn bốn mươi, ai nấy đều mang vẻ mặt nghiêm túc vì mải tập trung. Bầu không khí trầm lặng bao phủ khắp căn nhà, ánh nắng rọi vào qua khe rèm cửa sổ, mang theo cả những hạt bụi lơ lửng.

Trong nhóm nữ công nhân này, A Vân không nổi bật hơn chút nào, cũng không mờ nhạt hơn chút nào, giống như một con bướm loại thông thường, song A Vân có lẽ là người trẻ nhất.

Cô đang làm loại hàng thủ công mỹ nghệ gọi là “tranh dán bướm”, tức là dùng đủ loại cánh bướm ghép thành một bức tranh. Bức trong tay A Vân là cảnh một tiểu trấn khi màn đêm buông xuống, phần bầu trời phải dùng cánh trước của hơn năm trăm con bướm, xấp xỉ toàn bộ dân số của tiểu trấn rồi.

Có lúc A Vân nghĩ công việc này thật tốt, so với làm đồng vừa không phải dãi nắng lại không cần đổ mồ hôi. Cũng có lúc A Vân thấy công việc này thật tệ, phải giết bao nhiêu bướm như thế mới ghép được một thứ ai trông thấy cũng phải thốt lên “Á, đẹp (suí) quá”. Hơn nữa, nếu có người khen con gái “đẹp” thì cô còn hiểu được, nhưng bảo tranh ghép từ cánh bướm chết “đẹp” thì có hơi vượt quá sức tưởng tượng của cô.

A Vân thi thoảng lại nghĩ ngợi vẩn vơ như thế, nhưng đa phần là cô chẳng nghĩ ngợi gì, chỉ vừa nhìn hình gốc bên tay phải, so với phác thảo trên hình nền, sau đó chuyên chú đính những cánh bướm đã được cắt tỉa lên giấy.

(Làm công việc kiểu này, thời gian trôi vừa nhanh lại vừa chậm).

Bên cạnh mỗi nữ công nhân đều có một chiếc sọt, dùng để đựng thân bướm sau khi cắt bỏ cánh. Bướm bị cắt cánh đã chẳng còn giống bướm nữa, mà là một thứ xác xơ, phai màu, không chút sinh khí cũng như giá trị. Chúng bị vứt vào trong sọt, đợi khi hết giờ làm gom lại một chỗ rồi đem vứt.

Khi tiếng chuông tan ca vang lên, A Vân thường bật ra một tiếng thở dài nhẹ đến nỗi không ai nghe được, ngẩng đầu khỏi đống cánh bướm nhiều không đếm xuể. Do thiếu máu, lúc này cô thường hơi đau đầu. Cô và các chị em khác mệt lử bước ra khỏi xưởng đứng rửa vảy phấn bám trên ngón tay, bàn tay, khuỷu tay và cánh tay ở máng nước. Vảy phấn theo dòng nước chảy từ vòi trôi xuống máng, thành một dòng nước nhỏ mảnh, lấp lánh. Lúc này, bồn rửa tay trở nên rất khác biệt, hết sức đẹp, đến độ người ta không biết có nên gọi nó là bồn rửa tay nữa hay không.

A Vân leo lên xe đơn về nhà, trên đường về cô sẽ gặp vài con bướm còn sống, thường là loài bướm trắng đốm đen hay được dùng làm nguyên liệu màu trắng, loại bướm này rẻ nhất. Bấy giờ chợt có một con bướm đốm xanh lục rất hiếm bay qua, cô ngửi thấy mùi của nó.

A Vân có một khả năng mắt trần không thể thấy, cô không cần dùng kim khêu cánh bướm ra cũng biết giới tính của chúng, đây là một bí mật. Cô chưa từng kể cho ai, cô ngửi được mùi của bướm đực. Thứ mùi này giống như có người dùng tay kéo cô lại, khiến cô rùng mình, bóp vội phanh xe.

A Vân dừng xe cạnh điện thoại công cộng của tiệm tạp hóa A Phát, móc trong túi ra một đồng, nhét vào cái khe tròn trên điện thoại, lúc quay đến số cuối cùng, cô ngập ngừng giây lát, rồi gác ống nghe ngay trước khi có âm thanh vang lên. Cô lấy ngón tay móc lại tiền lẻ từ khe trả xu, dùng đúng một đồng ấy vào tiệm tạp hóa mua hai viên kẹo cam, rồi bỏ một viên vào ngậm dưới lưỡi.

Giờ có thể cứ thế đạp xe về nhà mà không nghĩ ngợi gì đến người đó rồi, A Vân nghĩ. Chỉ cần khoảng thời gian ngậm hai viên kẹo cam. “Đĩa hát” trong tiệm tạp hóa đang phát nhạc, không hiểu sao, tiếng hát ấy như thể chảy tọt vào cơ thể cô theo đường hô hấp. Thế rồi cô rơi nước mắt. Giống như cứ đào mãi đào mãi vào sâu trong lòng đất rốt cuộc cũng thấy địa nhiệt bốc lên, giống như khi con cá bơi qua đáy suối, mặt nước sẽ xuất hiện những xoáy nước li ti, nước mắt cô đối với đa số mọi người chẳng có ý nghĩa gì, thậm chí ngay đối với cô cũng hoàn toàn vô nghĩa, và suốt cuộc đời, cô vẫn chẳng thể nhớ ra khi ấy mình đã khóc vì cái gì.

 

Sau khi tôi làm quen và dần hiểu sâu hơn về Abbas, có một chuyện vô cùng bất ngờ xảy ra, đó là Annie hồi âm lại thư tôi. Nhưng nói đúng ra thì đó không thể tính là một bức thư, mà giống một đoạn văn hơn… Một đoạn văn tôi không xác định nổi là thật hay giả, là tiểu thuyết hay tự thuật.

Tôi đọc đi đọc lại bức thư ba lần, chắc chắn bên trong không hề ẩn giấu thông điệp nào dành cho mình mới bắt đầu suy ngẫm nên “hồi âm” bức thư này thế nào. Tôi thầm đưa ra vài giả thuyết: Thứ nhất, bức thư vốn không phải gửi cho tôi, Annie đã gửi nhầm. Thứ hai, thư không phải viết cho tôi, người gửi thư cũng không phải Annie, mà do hệ thống nào đó lầm lẫn hoặc nguyên nhân nào khác gây ra. Với cả hai khả năng này tôi đều không cần có động thái gì. Tương đối rắc rối là khả năng thứ ba, thư này viết cho tôi. Nếu vậy, hồi âm của tôi liệu có phải sẽ quyết định có hay không bức thư tiếp theo? Cũng sẽ quyết định tôi có thể nghe ngóng được từ Annie thông tin gì về chiếc xe đạp hay không.

Tôi nhanh chóng gạt đi ý nghĩ hỏi Abbas, dựa trên kinh nghiệm mấy lần trò chuyện với anh, trực giác mách bảo tôi anh và Annie đang ở tình trạng theo như cách gọi của tôi thì là “dằng dai”, hai người tuy đã chia tay nhưng một phần nào đó trong tim vẫn dính với nhau. Thời gian dằng dai dài hay ngắn không ai nói chắc được, mỗi người mỗi khác. Giao tình giữa tôi và Abbas chưa đủ sâu đến độ có thể dò hỏi suy nghĩ thực trong lòng anh, có thể bọn họ đã “quyết ý” chia tay, vậy thì rắc rối là ở chỗ, có thể tôi nhắc đến bất cứ chuyện gì liên quan đến đối phương, đều sẽ gây ra chuyển biến gì đó trong thâm tâm Abbas.

Tôi cũng nghĩ, nếu bọn họ từng là đôi tình nhân trong thời gian dài, Abbas rõ ràng không thể nào lại không biết gì về nguồn gốc chiếc xe đạp, tôi suy đoán anh chỉ là không muốn nhắc đến bất cứ chuyện gì liên quan đến Annie mà thôi. Anh tiếp nhận một người bạn như tôi, nhưng tạm thời vẫn chưa có ý định nói với tôi về Annie, cũng như bất cứ chuyện gì liên quan đến cô. Hẳn là như vậy.

Tôi cực kỳ hứng thú với phần tiếp theo của câu chuyện về thôn Nhị Cao và chiếc xe đạp của lão Trâu mà Abbas kể, nhưng, tôi còn muốn biết người chủ cho Annie mượn xe rốt cuộc là ai hơn. Bất luận thế nào, đáp án cũng nằm ở chỗ Annie. Cùng lúc tiếp xúc với hai người, chắc không mạo phạm đến ai đâu nhỉ? Điều này làm tôi bắt đầu suy nghĩ nghiêm túc, xem nên trả lời bức thư này thế nào.

Vi trong thư có nhắc đến “gia công tranh bướm”, tôi bèn lên mạng tìm hú họa một ít tư liệu liên quan, không ngờ đây lại là một giai đoạn lịch sử rất thú vị, trước nay tôi không hề biết gì về những thứ này. Thế là nhân ngày nghỉ, tôi tới cả thư viện tìm thêm thông tin, chắp chắp ghép ghép, viết lại thành một đoạn.

 

1904, năm Minh Trị thứ ba mươi bảy, Asakura Kiyomatsu là thợ xoa bóp cho công nhân đốn gỗ ở Phố Lý được người ta nhờ giúp thu thập tiêu bản bươm bướm. Trong số những người bắt bướm được Asakura thuê có một thiếu niên Đài Loan tên gọi “Dư Mộc Sinh”. Dư Mộc Sinh vì mắc bệnh dạ dày nên mỗi lần lên núi đều mang theo một chai rượu thuốc phòng khi cần dùng đến. Có lần anh ta bất cẩn đánh đổ rượu thuốc, không ngờ hương rượu lại thu hút loài bướm đến hút mật, nhất là bướm lá khô mà Asakura yêu cầu anh ta tập trung thu thập cứ ùn ùn kéo đến, nhiều đến nỗi chẳng khác nào cả cây sồi rụng trụi lá. Từ đó chai rượu thuốc ấy trở thành bí quyết bắt bướm đặc biệt của Dư Mộc Sinh. Anh ta thường rót ít rượu thuốc ven con đường mòn lên núi, rồi ngồi trong rừng đợi, chẳng bao lâu sau đủ loại bướm đốm thấy mùi bay tới, anh ta mới xuất hiện dùng lưới đậy cái bẫy lại. Dùng cách này thi thoảng còn bắt được vài loài bướm tương đối hiếm.

Khi đó là vào năm 1917. Bấy giờ công nhân làm tà vẹt đường sắt một ngày được trả sáu hào tiền công nhưng Dư Mộc Sinh chỉ nhờ thu thập tiêu bản bướm một ngày đã có thể kiếm hơn một đồng. Những lúc ở trong rừng, Dư Mộc Sinh đôi khi không khỏi nghĩ, như vậy Asakura có đến mấy chục đứa trẻ giúp thu thập bướm, thu nhập chắc chắn rất khá.

Từ trong rừng sâu nhìn bươm bướm hết con này đến con khác sà xuống cái bẫy do mình bày ra, Dư Mộc Sinh hỏi lòng, thật sự muốn cả đời bắt bướm cho người khác ư?

Do bắt được bướm rồi trước tiên phải tiến hành xử lý, một năm sau đó Asakura thành lập luôn xưởng gia công thủ công mỹ nghệ bươm bướm đầu tiên tại Đài Loan ở ngay Phố Lý gọi là “Công ty cổ phần đặc sản Phố Lý”. Xưởng gia công cung cấp số bướm bắt được cho viện nghiên cứu côn trùng Nawa và một số học giả Nhật Bản, cũng kiêm cả làm tiêu bản các loài chim và rắn, bản thân Asakura chính là một thợ làm tiêu bản có kỹ thuật tương đối cao.

Có điều Asakura lại không phải một thương nhân thật thà, ông ta từng bán cho học giả nổi tiếng Matsumura Shōnen tiêu bản “Bướm phượng thăng thiên” chỉnh sửa. Đối với các nhà tự nhiên học đang định công bố một loài mới, việc thu được tiêu bản hoàn chỉnh và không hoàn chỉnh có khác biệt rất lớn, giá cả đương nhiên cũng sai khác rất nhiều. Mẫu tiêu bản Asakura khi ấy thu được bị gãy một bên đuôi, do đó ông ta cố tình cắt luôn bên đuôi còn lại, giả mạo làm tiêu bản hoàn chỉnh bán cho Matsumura với giá cao. Matsumura Shōnen nhận được tiêu bản vì thế tưởng nhầm bướm phượng thăng thiên là loài không có đuôi, và dựa vào đó công bố báo cáo, đó đương nhiên là một bài luận văn thất bại.

Ngoài ra, bướm phượng hổ Nhật Bản (Luehdotfia japonica formosana) và bướm áo choàng tang (Nymphalis antiopa) do Asakura bán ra, tuy nơi thu thập đều ghi là Đài Loan nhưng về sau đều không hề được phát hiện ở bất kỳ địa phương nào tại Đài Loan, đây rất có thể là giống bướm ông ta thu được từ nơi khác, giả mạo là bướm sinh sản ở Đài Loan, bán cho các học giả khi ấy gấp rút muốn công bố loài mới.

Mặt khác, Dư Mộc Sinh vốn là người làm công cho Asakura đã âm thầm tìm được một kênh tiêu thụ sang Nhật Bản, anh ta liền dùng chút vốn liếng tích cóp được, năm 1919 thành lập “Trung tâm thu thập côn trùng Mộc Sinh”, tự mình đứng ra kinh doanh khai thác bướm.

Bấy giờ danh tiếng Phố Lý cung cấp đủ các loài bướm đã truyền tới tận Nhật Bản, rất nhiều học sinh cấp hai vì thế cứ đến kỳ nghỉ hè lại tới Phố Lý bắt bướm. Nhà trọ “Nhật Nguyệt Quán” do một người Nhật tên Harada Genkichi mở trong trấn cũng nhờ đó trở thành địa điểm tá túc đắt khách.

Con thứ của Dư Mộc Sinh, Dư Thanh Kim là người thừa kế của nhà họ Dư. Năm 1942, một công ty quảng cáo Mỹ đặt mua của Dư Thanh Kim mười triệu con bướm, để làm một việc kỳ lạ. Bọn họ dự định kẹp bươm bướm vào giấy bóng kính trên thư quảng cáo, để người dân chịu mở phong thư ra xem nội dung quảng cáo bên trong. Dư Thanh Kim cân nhắc nhân lực trong tay mình khi ấy, không dám tùy tiện nhận lại, chỉ dám chốt đơn năm trăm nghìn con. Không ngờ thư quảng cáo kẹp bướm đạt hiệu quả tuyệt vời, để đáp ứng đơn hàng tăng lên mỗi năm, Dư Thanh Kim liền xây dựng mạng lưới bắt bướm trên khắp Đài Loan, thời kỳ phát đạt có đến gần hai nghìn người bắt bướm giúp ông ta thu thập tiêu bản, hàng trăm nữ nhân công tiến hành gia công. Những con bướm có cánh nguyên vẹn đẹp đẽ thông thường đều làm thành tiêu bản hoặc các sản phẩm thủ công mỹ nghệ, còn những con cánh có khiếm khuyết thì trở thành nguyên liệu làm tranh bướm.

“Tranh dán cánh bướm” trước tiên cần được vẽ phác thảo, lúc thì mô phỏng bưu thiếp phong cảnh lúc lại mô phỏng bức họa nổi tiếng nào đó, hoặc trực tiếp mời họa sĩ hay thầy giáo mỹ thuật vẽ hình nền cho, rồi dựa theo hình vẽ mà chọn cánh bướm màu sắc cho phù hợp, sau khi cắt tỉa, dùng “keo cao su” hoặc “keo sữa” dán lên. Thời ấy đây là sản phẩm thủ công mỹ nghệ vô cùng đắt đỏ, được rất nhiều người Âu Mỹ thích bày trong phòng khách.

Dư Thanh Kim mỗi lần tới nhà xưởng quan sát các nữ nhân công ai nấy nghiêm túc cắm cúi làm việc, đều cảm thấy ngọn núi này, con suối này bảo hộ cho cả sơn thôn ẩn khuất ngay giữa hòn đảo này.

 

Tôi viết đoạn tư liệu thu thập chắp ghép này vào thư hồi âm gửi cho Annie, không bày tỏ bất kỳ ý kiến gì về nội dung trong bức thư của cô, cũng không đưa ra câu hỏi nào, cứ vậy bấm nút gửi đi, sau đó ra sức hối thúc bản thân lãng quên chuyện này. Đây là một thói quen của tôi, với những chuyện bản thân không nắm chắc, tôi cố gắng không nghĩ đến nó, cho rằng làm vậy chưa biết chừng lại có kết quả tốt cũng nên.

Do đã có thứ tình cảm khăng khít gần như bạn bè với A Bố, tôi lại càng năng đến “động của A Bố” (tôi thấy cái tên này hợp với chỗ đó hơn là xưởng), xem những món gã mới nhặt nhạnh được, rồi góp ý cho gã vài câu quảng cáo trên mạng. Có lần đến chơi, từ xa tôi đã trông thấy A Bố ngồi trên một con chuột Mickey, là dạng thú nhún hồi bé ta vẫn hay thấy, bỏ đồng năm đồng vào có thể ngồi ba phút, nghe một bài hát thiếu nhi, thường được tạo hình động vật hoặc nhân vật hoạt hình. Con thú nhún A Bố mua về là chuột Mickey mặc đồ siêu nhân.

“Anh nhận ra đây là mẫu thú nhún vào khoảng những năm bao nhiêu không?”, A Bố hỏi tôi.

“1980?”, tôi đoán dựa theo độ tuổi thiếu nhi của mình.

“Ừ, nói đúng hơn là sau năm 1980. Anh có tố chất đấy”.

“Cậu dựa vào đâu?”

“Mô-tơ của máy đã bị thay nên không thể xác định được thời gian xuất xưởng, nhưng cả mô-tơ lẫn tạo hình bên ngoài chắc chắn đều được chế tác ở Đài Loan. Phim siêu nhân ra rạp ở Mỹ vào năm 1978, đến 1980 mới trình chiếu ở Đài Loan, thế nên mẫu thú nhún này không thể có sớm hơn thời gian đó. Với cả phim siêu nhân sau năm 1990 thì đã lỗi thời, nên nhà máy cũng sẽ không sản xuất chuột Mickey mặc đồ siêu nhân nữa. Còn nữa, máy thú nhún sau năm 1990 khác hẳn, bổ sung các chuyển động tương đối phức tạp, bài hát sử dụng cũng khác, vả lại khe nhét xu cũng biến thành cỡ đồng mười đồng”.

“Ra là vậy”. Tôi thực sự cảm phục A Bố có thể bỏ công tìm hiểu như vậy với những món đồ cũ thu mua về.

A Bố cho phép tôi vào trong động ngó nghiêng, hôm đó vừa hay con kỳ nhông xanh tên Fuji đang đứng trên chiếc ghế đẩu cũ sưởi nắng.

Tôi hỏi A Bố vì sao nó lại tên là Fuji? Thì ra chủ cũ của Fuji là một ông cụ gặp tai nạn giao thông. Bấy giờ người bán bảo với gã (người bán này chắc chính là con trai ông cụ), anh ta không cần bất cứ thứ gì trong nhà này nữa. Hôm A Bố đến kiểm đồ, các món quý giá đều đã chuyển đi sạch, nghe nói nhà đã được bán cho người khác, tối hôm trước, con trai người chết đã đáp máy bay trở về Mỹ rồi. Trong đống đồ cũ bị vứt bỏ lại, thứ đáng giá nhất với A Bố chính là chiếc rương gỗ long não cũ, cùng những thứ cất trong đó - đủ loại giấy tờ ông cụ giữ lại từ thời Nhật trị (phiếu báo điểm trường Quốc Dân những năm Chiêu Hòa, hóa đơn thuế xe tự quay, trái phiếu Hội Nông dân, giấy thông báo số tiền tiết kiệm Quốc Dân… còn phiền phức nhất thì là con kỳ nhông xanh này.

A Bố vốn không có thiện cảm với loài kỳ nhông, hay nói cách khác, không hề đặc đặc biệt hào hứng nuôi bất kỳ sinh vật nào, vì thế gã bèn đánh điện hỏi người bán xem có phải họ bỏ quên con kỳ nhông hay không? Chẳng ngờ người bán nói cả đống giấy tờ của người già và con kỳ nhông anh ta đều không cần, cứ thả nó đi cũng không hề gì. A Bó suy đoán có lẽ đây là vật nuôi của đứa cháu trai, nuôi chán rồi vứt lại cho ông cụ, giờ ông cụ mất rồi, con thằn lằn này cũng theo đó mất đi lý do tồn tại.

A Bố mới đầu đăng bán con kỳ nhông xanh, về sau mới nhận ra đây rất có thể là hành vi vi phạm pháp luật. Một hôm về đến nhà, gã trông thấy con kỳ nhông xanh bò trên chiếc ti vi Đại Đồng, nhãn cầu phản chiếu bóng cây ngoài cửa sổ, bấy giờ mới chợt nảy ý nghĩ sẽ chăm sóc nó. Giống như đối với mọi món đồ cũ vác về động, gã bắt đầu nghiên cứu thức ăn, tập tính của loài kỳ nhông xanh. Và vì khi đó trên cái lồng nhốt kỳ nhông có móc một chiếc khóa mật mã hiệu Fuji Nhật Bản mà A Bố cho rằng vô cùng hiếm thấy, gã phá lồng, giữ lại khóa mật mã, quyết định đặt tên cho con kỳ nhông là Fuji.

A Bố vừa chuẩn bị xa-lát cho Fuji vừa kể với tôi chuyện này.

“Trong xa-lát có gì thế?”

“Đậu cô-ve, lá củ cải, bắp cải, đậu bắp, hôm nay thì là mấy loại ấy”.

“Lại còn mỗi hôm mỗi khác à?”

“Đương nhiên, kỳ nhông xanh tuy là loài ăn chay, nhưng không thể chỉ cho ăn một hai loại rau xanh là được. Ngày nào anh cũng ăn cùng một món chắc?”. A Bố hừ mũi khinh khỉnh trước câu hỏi của tôi.

Tôi nhìn A Bố đặt đĩa xa-lát nọ xuống trước mặt Fuji, bên cạnh còn lót thêm vài cọng rau diếp và nho đã lột vỏ.

“Nó vô duyên vô cớ bị đưa từ Trung Mỹ tới Đài Loan này đấy”. A Bố nói. Gã tìm trong một chiếc hộp sắt lấy ra một đồng xu năm đồng cũ, nhét vào siêu nhân Mickey. Siêu nhân Mickey kêu “bí bô”, rồi hát một bài hát thiếu nhi nhún lên nhún xuống tại chỗ.

“Anh muốn ngồi thử không?”, A Bố hỏi. Tôi xua tay.

“Món đồ nào bị vứt đi cũng có chủ cả, thằng em cũng giống ông anh đấy, cứ băn khoăn mãi đó là người thế nào.”

“Cậu nói ai cơ?”

“Cái người vứt đầu đĩa than Realistic ấy”.

Tôi ngẫm nghĩ câu A Bố nói, đoạn hỏi gã: “Cái khóa kia có mở được không?”.

“Khóa Fuji á?”

“Ừ.

“Không. Mật mã đi theo ông già rồi”.

Ngay tối hôm ấy, tôi nhận được bức thư thứ hai của Annie.

 

A Vân mang theo cây vợt bắt côn trùng cao quá đầu, theo cha bước vào con suối, mùa hè dường như bị chặn cả lại bên ngoài dòng suối này. Vợt bắt côn trùng của cô và cha đều là tự làm, đầu tiên lấy dây mây nhặt trên núi bện thành vòng mây, rồi lồng lưới mỏng vào. Cây vợt bắt côn trùng trông thô sơ là thế nhưng không dễ gì làm được. Nếu vòng mây lồng lỏng quá, khó tránh vào thời khắc then chốt để sổng mất bướm; nếu lồng chặt quá lại khó vung vẩy thoải mái. Vợt bắt côn trùng A Vân làm đón gió căng phồng như chú chim nhỏ, cha hay khen cô khéo tay.

Dòng suối nọ thuộc lưu vực “Mi Khê”, A Vân cực kỳ thích cái tên “Mi Khê”, cứ như đang ám chỉ dòng suối là lông mi của núi vậy. Cha thường đèo cô bằng xe tự quay, sau đó dựng xe trong một lùm cỏ ven đường rừng đoạn dẫn cô cùng đi sâu vào con đường núi thuộc thượng nguồn sông Nam Sơn. Theo lời cha thì đây là con đường mòn chỉ có cha và số ít thợ săn vùng núi mới biết. Con đường này cũng là con đường bươm bướm của riêng cha.

Dọc đường tuy đã có rất nhiều “イチモンジ” (bướm chữ nhất thường chỉ bướm thượng sĩ hoặc bướm thượng sĩ Đài Loan), “thảo điệp” (bướm ba vạch), “bạch hoa” (bướm tầm gửi đen) bay tới bay lui, nhưng cha bảo cô đừng bắt những con bướm còn đang bay này.

“Mất công, với cả vô giá trị”. Cha nói. Từ nhỏ ông đã dạy A Vân mẹo bắt bướm: “Không phải cứ vớ bừa (tshìn-tshái-liàh) được đâu, muốn biết loài bướm (iàh-á) nào ăn loại lá nào, cần có kinh nghiệm”.

Do đó, A Vân mới đầu không phải được dạy phân biệt bướm, mà là phân biệt cây. Tìm được loài cây cỏ bướm hay ăn, là có thể tìm được gần đó những con bướm vừa thoát kén, nguyên vẹn và rực rỡ.

Cha bắt đầu đi bắt bướm từ thời Nhật trị, từng theo chân những người có kinh nghiệm, tìm ra nơi tập trung bướm đốm trắng trong hẻm Bắc Sơn. Có lúc cũng bị người ta theo chân, vì những người bắt bướm khác cũng muốn biết “vựa bướm” nơi cha bắt được bướm xanh lục.

Giữa những người bắt bướm luôn là mối quan hệ cạnh tranh, vào trong rừng núi phải làm đủ mọi cách để cắt đuôi đối phương, đến được điểm thu thập lý tưởng của riêng mình, so bì cả thể lực lẫn trí lực. Theo luật ngầm của cái nghề này, người đến trước là người sở hữu tạm thời của vựa bướm. Giờ thì hầu hết các điểm tập trung bướm đã bị biết cả rồi.

Giá bướm rẻ bèo, người bắt bướm thành ra mỗi ngày phải bắt được một số lượng nhất định mới nuôi nổi gia đình, vì thế làm sao để gom được thật nhiều bướm mới là mục đích của người bắt bướm.

“Bướm hiếm tức là mất mùa”. Cha nói như người làm nông, và nhắc với cô một thời Mi Khê từng rờm rợp bướm. Thời trẻ, có lần ông ngủ trưa bên bờ suối, ngủ được nửa giấc thì mơ thấy mình đạp xe vào một đám mây đen. Đến lúc tỉnh dậy, trên người, bên cạnh, cả trong không trung đã tụ lại phải đến hàng chục nghìn, mà không, hàng trăm nghìn cánh bướm, đám bướm che kín cả tầm mắt ông, đồng thời tiếng chúng đập cánh còn làm ông khiếp hãi mãi.

A Vân hay nghĩ, ước gì mình cũng được chứng kiến cảnh tượng ấy một lần, một lần thôi cũng được.

Sớm tinh mơ nào cha A Vân cũng sẽ đi đặt bẫy dọc bờ suối, ông dùng xẻng đào một cái hố tương đương với đường kính của vợt bắt côn trùng, sau đó vẩy vào bên trong nước tiểu hoặc nước đường, có hố lại bỏ những loại hoa quả rữa nát như dứa, chuối, hoặc rượu hoa quả tự chế. Người bắt bướm ai cũng biết, các loài bướm khác nhau sẽ bị thu hút bởi các mùi khác nhau. Có lúc để bắt được loài bướm đặc biệt hiếm, cha cũng sẽ đợi bắt được bướm cái rồi dùng dây mảnh buộc nó lên cành cây. Khi bướm cái vỗ cánh sẽ tỏa mùi thu hút bướm đực bay tới, tựa hồ một cái bẫy tình.

Còn A Vân có thể ngửi ra mùi của bướm đực. Mới đầu chính cô cũng không biết, chỉ cảm thấy khi có con bướm nào bay qua, hoặc khi bị bóp ngất bọn chúng cứ có thứ mùi gì đó rất khó tả, giống mùi khói một giây trước khi thanh củi hoàn toàn tắt lịm. Cô cứ ngỡ ai cũng ngửi thấy nên không để tâm mấy. Về sau mới phát hiện, dường như chỉ có cô ngửi ra thứ mùi này, hay nói cách khác chỉ có cô đặc biệt nhạy cảm với thứ mùi này. Kỳ lạ ở chỗ, cô không thể ngửi ra mùi của bướm cái.

Mới đầu A Vân không cho rằng có gì đặc biệt, về sau cô phát hiện, thứ mùi này khiến nách cô đổ mồ hôi, lòng bàn tay theo đó trở nên ẩm ướt, có lúc lông tơ trên người cũng xuất hiện những biến đổi nho nhỏ khó thấy, chuyện này làm cô căng thẳng. A Vân vì thế chưa từng thổ lộ khả năng đặc biệt này với bất kỳ ai.

 

Sau khi đặt “bẫy”, đợi đến giờ cao điểm bươm bướm hoạt động A Vân lại cùng cha chia nhau đi thu hoạch. Cô sẽ thật thận trọng ụp vợt lên miệng bẫy có lúc vợt một cú đã được hàng trăm con. Chớ thấy mỗi con bướm chẳng qua có mấy gram, vợt bắt côn trùng chứa những mấy trăm con bướm cũng trở nên nặng trĩu, cứ như bên trong đựng sỏi không bằng. Hơn nữa vì bướm vẫn còn nhiều sức nên có thể cảm nhận sự giãy giụa hòng thoát thân của chúng qua lớp lưới vợt truyền tới tay. Nhất thời, có ngần ấy sinh mạng được giao vào tay mình, khiến A Vân cảm thấy không thật cho lắm.

Lúc này cha sẽ nhanh như cắt thọc tay vào lưới vợt, bóp ngất từng con nhét vào chiếc lọ tre đeo ở ngang hông, tránh làm rơi phấn trên cánh bướm.

Sau hoàng hôn, bướm ngừng hoạt động, A Vân và cha đem chỗ bướm bắt được kẹp vào miếng giấy tam giác gấp từ giấy tờ, sổ sách cũ, sắp xếp phân loại đợi thương lái tới thu mua. Có lúc cuộc thu thập thế này diễn ra liền mấy ngày, bọn họ buộc phải qua đêm trên núi.

“Bướm bị rách là không còn giá trị nữa đâu”. Trong lúc sắp xếp xác bướm, nhằm nhắc nhở cô, cha liên tục nhắc đi nhắc lại câu này.

A Vân lắm lúc nghĩ “giá trị” là nghĩa làm sao? Theo quan niệm của cha, một con bướm đốm trắng là một yên Nhật, mà thời bấy giờ lương tháng của nhân viên công vụ là mười sáu, mười bảy đồng, đây chính là chỗ giá trị của bướm đốm trắng. Nhưng liệu cũng có thứ giá trị, giống như cô ngồi ở yên sau xe tự quay, ôm lấy eo cha, ngửi mùi mồ hôi của ông, để gió tạt qua tấm thân mỏi mệt? Mà nếu có thể được gặp lại mẹ lần nữa, cô nguyện móc hết tất cả số tiền mình có, không, kể cả phải bỏ ra tiền sau này kiếm được cũng không thành vấn đề.

Có điều đây đã là chuyện không thể.

Bất luận xét từ khả năng quan sát hay thể lực, A Vân đều là một người bắt bướm rất khá. Có điều cô dù sao vẫn là con gái, không tiện ở trên núi ăn dầm nằm dề, bởi trong núi sâu đồng thời còn rất nhiều người bắt bướm khác. Sau khi hai cậu em trai đủ lớn để có thể tham gia vào cuộc bắt bướm, cha giới thiệu cô đến xưởng gia công bướm làm việc. Ông cho rằng, chế tác tranh bướm hoặc đồ thủ công mỹ nghệ từ bươm bướm nhẹ nhàng hơn việc bắt bướm, cũng thích hợp với đàn bà con gái hơn.

Mới đầu A Vân được phân việc cắt cánh bướm, công việc này cần dùng một con dao nhỏ cắt rơi phần đầu, phần thân và cánh bướm. Có vài con bướm vẫn chưa chết hẳn, khoảnh khắc bị cắt rời cánh khỏi thân, râu sẽ chìa ra sau, ba cặp chân cũng thình lình co quắp lại. Không hiểu sao, A Vân lại có phần mê đắm trình tự này. Cô cảm thấy giây phút tách rơi phần cánh bướm đẹp đẽ và thân bướm xấu xí, dường như đã chạm đến thứ gì đó rất giống cõi lòng mình.

Sau một thời gian, đồng nghiệp đi trước bắt đầu dạy A Vân kỹ thuật chế tác “in phấn bướm đêm”. Đây là phương pháp đặc biệt để in phần cánh bướm tuyệt đẹp lên giấy, lụa, vải bông. Người chế tác cần dùng một loại thuốc nước gọi là “dầu cement” quét kỹ lên cánh bướm, đợi hơi khô thì đem vật nặng đè lên bề mặt giấy hoặc vải muốn in. Còn phần thân ban đầu bị coi như rác cắt bỏ được thay bằng thân nhựa không phân hủy.

Sau vài tháng, vì khéo tay A Vân được chọn đi chế tác tranh bướm. Một nhóm các cô gái trẻ ngồi trước bàn sắt tây, dùng nhíp tỉ mỉ mà thoăn thoắt ghép từng mảng cánh bướm theo màu sắc vào bản phác thảo, đây là công việc vừa hại thị lực vừa dễ mệt.

Giá trị tranh bướm nằm ở độ phức tạp của tranh cũng như chủng loại và số lượng bướm được sử dụng, bức tranh được làm từ càng nhiều sinh mệnh thì “càng đẹp”, càng tinh xảo.

Tiền công chế tác một bức tranh bướm nhiều hơn hẳn số tiền cha lên núi ăn gió nằm sương cả tuần kiếm được. Nhưng mỗi lần ngẩng đầu lên, A Vân lại nhớ những ngày cùng cha đi bắt bướm ở rừng cây hay đầm lầy bên bờ suối. Cơn gió ngậm no hơi nước thổi tới từ dưới hạ du, ấy là “gió khe”. Cô mở túi vải, lấy nắm cơm chuẩn bị từ tinh mơ đưa cho cha. Mùi mồ hôi của cha, mùi của bướm đực, lá mục trong rừng cây và cả cỏ non vừa đâm lên, quện lẫn thành một thứ ký ức rõ rệt hình thái, bao trùm lấy cô.

Đám bướm ấy vẫn còn sống, ít nhất là lúc này vẫn còn sống.

 

Khi nhận được bức thư này, tôi đã chắc chắn người nhận là mình, không thể có chuyện liên tiếp gửi nhầm hai lần được. Hơn nữa nội dung thư rõ ràng cũng đang hô ứng với tư liệu tôi gửi đi. Tôi bắt đầu tưởng tượng, Annie là người có tính cách thế nào? Vì sao cô lại dùng cách này viết thư cho tôi?

Trong cả hai đoạn văn này đều xuất hiện xe đạp, là cùng một chiếc xe ư? Nó có ẩn ý gì? Cô muốn qua cách này nói với tôi làm thế nào cô có được chiếc xe đạp của cha tôi sao?

Annie rõ ràng không thể nào là A Vân trong câu chuyện, tuổi tác không khớp, vì từ những tư liệu tôi thu thập được có thể thấy, nghề bắt bướm của Đài Loan đã ngày một suy thoái từ độ những năm 1980 rồi.

Nhưng mặt khác, đoạn văn này cũng khơi lại vài ký ức trong tôi. Hồi nhỏ, “hàng đặc sản” trong khu kinh doanh (một dạng cửa tiệm mở dành riêng cho khách du lịch, chủ yếu bán các sản phẩm thủ công mỹ nghệ của Đài Loan) luôn có bán tranh bướm và tiêu bản bươm bướm, rất được khách du lịch ưa chuộng. Bấy giờ không hiểu sao tôi lại hơi sợ phần thân bướm nên không dám xem tiêu bản bướm. Hồi ấy mỗi khi tới bến xe buýt đầu đường Trung Hoa đợi chiếc xe tưởng như cả thế kỷ cũng chẳng xuất hiện, tôi đều chán chường nhìn ngắm cửa sổ trưng bày của hàng đặc sản - bên trong có đồ trưng bày làm từ sừng trâu rừng, thuyền chạm trổ từ ngà voi, tiêu bản bướm khế khổng lồ, và tranh bướm phỏng lại nàng Mona Lisa mỉm cười.

Như bức thư đó viết, giá tranh bướm quyết định dựa vào số lượng bướm, chủng loại bướm được sử dụng, cùng với kỹ thuật của người ghép tranh. Có điều lúc nào nó cũng chỉ khiến tôi liên tưởng đến cảnh tượng vô vàn xác chết nằm la liệt trên mặt đất, sao có thể coi là “tranh” cơ chứ?

Tôi từng xem giới thiệu tác phẩm của nghệ thuật gia người Anh Damien Hirst nổi tiếng càn rỡ nổi loạn trong một cuốn băng video. Hirst từng tổ chức một buổi triển lãm cá nhân chủ đề “In and Out of Love” tại London, bấy giờ anh ta thả hàng trăm con bướm trong phòng triển lãm, mặc cho chúng bay lượn, đẻ trứng, cho đến khi chết. Về sau Hirst dùng xác của lũ bướm ghép thành hai bức tranh theo phong cách tranh kính trong nhà thờ, đặt tên là Phân rã - Vương miện sự sống (Disintegration - The Crown of Life) và Quan sát - Vương miện chính nghĩa (Observation - The Crown of Justice). Tác phẩm này không hề mang đến cho tôi trải nghiệm về mỹ cảm nào, nhưng anh ta làm tôi nhớ ra, trong tất thảy các căn bệnh cuồng của nhân loại, tổng số sinh mạng bị giết tuyệt đối không kém số người chết vì các loại dịch bệnh. Phân rã và quan sát, sinh mệnh và chính nghĩa.

Tôi vô cảm trước tác phẩm của Hirst, nhưng rất thích tên tác phẩm của anh ta. Tác phẩm nổi tiếng nhất của Hirst là một con cá mập hổ dài 18 inch được bảo quản trong tủ kính chứa thuốc chống phân hủy, đã đưa anh ta trở thành một trong những nghệ thuật gia cao giá nhất thế giới. Hirst đặt tên cho tác phẩm này là Người sống vô cảm trước kẻ chết (The Physical Impossibility of Death in the Mind of Someone Living).

 

Cuối thời chiến, ngành bắt bướm ở Phố Lý có dạo đình trệ, mấy triệu con bướm thu gom được đều không có đường xuất khẩu, cuối cùng bị vứt cả xuống suối. Bướm sống ngỡ rằng đấy là đồng loại đang hút nước, thi nhau lao xuống theo, tựa hồ lá rơi mùa xuân, tạo nên một cảnh tượng lộng lẫy kỳ dị, sống chết giao thoa.

Sau chiến tranh, nhà họ Dư gầy dựng lại sản nghiệp bướm, bước quan trọng nhất là hợp tác cùng giáo sư Lăng Tiêu của Học viện công nghệ Đại học Quốc gia Đài Loan, đăng quảng cáo trên Niên giám các nhà tự nhiên học (The Naturalists’ Directory) dưới danh nghĩa Formosan Butterflies Supply House. Nhờ thế thị trường xuất khẩu bươm bướm đã từ Nhật Bản chuyển dịch sang thế giới phương Tây. Lăng Tiêu về sau di cư sang Canada và chấm dứt quan hệ hợp tác giữa đôi bên.

Sản phẩm thủ công mỹ nghệ bươm bướm ngày một đa dạng hóa dưới sự nghiên cứu của người Nhật, ngoài tiêu bản, tranh bướm, còn có in phấn bướm, ép bướm vv… Kỹ thuật in phấn bướm do “Viện nghiên cứu côn trùng Nawa” phát minh năm Minh Trị thứ bốn mươi hai (1909). Thông qua quá trình lên keo và ủi nóng, in phấn trên cánh bướm hoặc ngài lên giấy hoặc vải. Thời ấy thậm chí còn thịnh hành in phấn bướm lên các đồ dùng thường ngày như đai ki-mo-no, ô, trâm cài, quạt, đồ đựng, bưu thiếp vv… Vì quá được yêu thích nên lượng cầu bươm bướm tăng cao, kéo theo nhu cầu về nữ công nhân chế tác các sản phẩm thủ công mỹ nghệ kiểu này cũng tăng mạnh.

Trong những năm 1960 đến 1975, tại Đài Loan hằng năm lượng bướm xuất khẩu phải lên tới hàng chục triệu con, trở thành nguồn thu ngoại hối rất quan trọng thời bấy giờ. Cùng với đó, các vựa bướm ở Phố Lý gặp phải tổn hại nghiêm trọng, số lượng bướm dần không còn như trước.

Thương lái bắt đầu thu mua bướm từ miền Nam, miền Đông, và dựng xưởng gia công ở miền Bắc để tiện xuất khẩu. Chục năm sau, ngành thủ công mỹ nghệ bươm bướm của Đài Loan và bướm khắp vùng núi đồi điền dã dần lặng lẽ biến mất khỏi thời đại cũng như tự nhiên, một đi không trở lại.

Sau khi tôi gửi bức thư này đi, chưa đầy ba tiếng sau - trong khoảng thời gian này tôi đã kịp uống một cốc cà phê, xem một trận đấu bóng rổ giữa San Antonio Spurs và Golden State Warriors, tắm táp xong xuôi đang định ra ngoài - đã nhận được thư hồi âm.

A Vân nhờ viêm ruột thừa mới quen anh, bấy giờ trong thị trấn chỉ anh là người có thể làm phẫu thuật. Anh phẫu thuật cắt bỏ ruột thừa cho cô, lấy đi một thứ nhỏ xíu mục rữa trong cơ thể cô, sau đó thắt chỉ ở bụng, cũng thắt luôn một nút trong lòng. Bàn tay anh to hơn người bình thường, vô cùng mềm mại, không tìm đâu ra một vết chai, có lẽ đó cũng là đôi bàn tay duy nhất mềm mại là thế ở thị trấn này. Anh đã đưa bàn tay ấy vào ổ bụng cô.

Từ đó A Vân trở nên mong đợi quãng đường từ xưởng về nhà. Khi đạp xe ngang qua phòng khám, thi thoảng có thể trông thấy anh ngồi bên trong đọc báo, hoặc kéo rèm cửa sổ đọc sách lúc nghỉ khám. Những lúc như thế cô luôn phải kìm nén nụ cười chực nở trên môi, nên trông ra lại như rưng rưng muốn khóc.

Không lâu sau, bác sĩ bắt đầu đợi cô ở một góc đường, tỉnh bơ như không đợi đến khi cô rẽ vào đường tắt thì leo lên chiếc xe tự quay của cha cô, để A Vân ngồi trên gióng ngang, đèo cô một đoạn đường vắng người. Khi nắm tay A Vân, tay anh cứ đổ mồ hôi suốt, như thể bên trong tay có một dòng suối nhỏ. Chỉ một động tác như thế cũng đủ khiến A Vân có cảm giác tức thở như bị thứ gì đó đè chặt.

Nhiều năm về sau, nhớ lại quãng thời gian đó, A Vân không hiểu hồi ấy mình bị suy nhược tâm lý là do cơ thể suy nhược, hay do cái chết của cha khiến cả thể chất lẫn tâm lý cô trở nên yếu đuối. Tóm lại sự xuất hiện của anh giống như một sợi dây thừng.

Cha A Vân sau khi dạy cho hai cậu con trai các mánh bắt bướm, trong một lần một mình vào khe núi bắt bướm xanh lục, đã không trở ra nữa. Một ngày sau ông được những người đi bắt bướm khác phát hiện, máu chảy ra từ vết thương trên đầu đã bị nước suối cuốn trôi cả, cơ thể thành ra trắng bệch, trông lại sạch sẽ. Những người bắt bướm đều bảo ông bị quỷ thần hóa thành con bướm hiếm dẫn dụ vào núi sâu, đến tận khi trời tối vẫn không tìm ra đường nên bị bước hụt chân. Làm nghề bắt bướm ai cũng tin trong núi có quỷ thần, thần phụ trách phân chia lượng bướm bắt được cho mỗi người. “A Hợp Tử” (tên của cha A Vân) đã bắt hết lượng bướm được bắt trong đời rồi, còn tiếp tục bắt nữa khó tránh bị quỷ thần để mắt đến.

Mẹ kế khóc đến rũ cả người, các em hiển nhiên vẫn chưa rõ chết là nghĩa làm sao, A Vân được cảnh sát báo tới dắt chiếc xe đạp cha dựng ở đầu nguồn con suối về. Lúc đạp xe về nhà không hiểu sao cô lại đi quá nhà mình, mãi đến tận đầu thôn mới sực nhận ra.

Mấy hôm sau bụng A Vân đau lạ lùng, tới phòng khám của anh khám, được chẩn đoán là viêm ruột thừa, một căn bệnh trong ổ bụng mà vào thời đó vẫn được coi là khá nghiêm trọng. Khi A Vân được mười tám tuổi lẻ hai tháng, cái bụng đã cắt bỏ ruột thừa đó mang thai.

Bác sĩ là người đã có gia thất, mẹ kế nhất định sẽ thấy thể diện gia đình bị bôi gio trát trấu, huống hồ đây lại là chuyện xảy ra chẳng bao lâu sau khi cha qua đời. Mà trong cái thị trấn nhỏ thông thống như thảo nguyên này, chẳng chuyện gì là có thể giấu được cả. A Vân không muốn khiến anh khó xử, cũng không muốn người cha đã mất và mẹ kế khó xử, cách duy nhất cô nghĩ được là rời bỏ thị trấn.

 

Trước hôm đạp xe rời khỏi thôn, A Vân có tới tiệm tạp hóa tạm biệt những món hàng ở đó. Cô lần lượt nhìn từng món đồ trong tiệm, cặp tóc, mở nắp chai, giấy vệ sinh, hồ dán, gừng bác A Trợ trồng, Coca Cola đựng trong chai thủy tinh; nồi sắt, cây bừa, cây cuốc đã mài đầu do Thanh Thủy rèn; măng và sào tre Ngõa Lịch Tư (Walis) nhặt về; quần áo nhà máy rẻ tiền và thuốc lá Trường Thọ vàng nhập từ thôn khác; tương thím A Hỷ ủ, và cả món hàng chỉ có thể xuất hiện ở tiệm tạp hóa thôn này, từ thời Nhật trị đến giờ vẫn không bán nổi, “khung bướm”. Từng con bướm bên trong đều do nữ công nhân trong nhà máy dùng dao nhỏ tách thân và cánh, rồi vẽ thủ công phần thân đã không còn tồn tại kia, một món thủ công mỹ nghệ đích thực.

Cô nhặt từng món đồ lên, rồi lại để trả về chỗ cũ, chậm rãi nhìn ngắm từng món, như thể tiêu tốn mười tám năm.

Những món hàng này đồng nghĩa với cả thôn. Cô nghĩ, tiệm tạp hóa này đồng nghĩa với thôn làng, và đoạn đường vừa rồi chính là mười tám năm của cô. Cô không vòng qua trước phòng khám, vì biết không được vòng qua đó, ngay cả nhìn anh một chút cũng không được, làm vậy cô sẽ bị ghim chặt lại ở cái thôn này.

A Vân cột mấy bức tranh bướm tự tay làm vào yên sau xe đạp, hai bên túi treo mấy thứ vật dụng hằng ngày. Hơn một năm nay cô nhận riêng cánh bướm về nhà làm tranh nên có để dành được một món tiền. Cô cất hết số tiền này vào phong bì giấy màu đỏ, để dưới gối mẹ kế, cảm ơn bà đã chăm nom cũng như đền bù việc lấy đi chiếc xe đạp của cha. Cô mừng vì mình còn giữ được chiếc xe, ngồi lên yên xe dường như vẫn còn phảng phất ngửi thấy mùi mồ hôi cha lưu lại trên lớp yên da bò, điều đó làm cô an tâm.

Ngồi lên xe đạp cũng khó tránh nhắc cô nhớ tới anh. Vì lý do sức khỏe, mùa đông đầu gối và mắt cá chân, lòng bàn chân A Vân đều bị cóng buốt, nhưng chỉ cần anh xoa nhẹ, những chỗ ấy sẽ lại hồng hào trở lại, như thể ánh nắng ngoài cửa sổ lại chiếu xuống.

Nhiều năm về sau, vì không giữ lại ảnh, A Vân gần như sắp quên mất anh cao bao nhiêu cũng như giọng nói anh như thế nào, nhưng cô vẫn nhớ cảm giác bàn tay anh. Tay anh từ sau lưng như cành củi khô rờ qua vai, qua nách đẫm mồ hôi, bầu ngực mới nhú của A Vân, nhẹ nhàng đặt lên bàn tay cô trên ghi-đông, hơi ấm cơ thể truyền tới từ sau lưng.

Những ký ức này, dính chặt lấy chiếc yên da bò và tay lái của xe đạp một cách kỳ lạ và ngoan cố.

 

Tôi nhìn chăm chăm vào màn hình, đọc đi đọc lại hai lượt. Một con côn trùng không rõ tên đậu trên đó, giống như một dấu phẩy.

Nguyễn Tú Uyên (dịch)
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 6 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.