Chiếc Xe Đạp Mất Cắp

Lượt đọc: 191 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Bike Notes Vii Ghi Chép Về Ngựa Sắt

❊ ❊ ❊

“Việc phục chế cổ vật, hay bất cứ loại kỹ thuật hay phương pháp phục chế nào, đều cần tới lao động chân tay hằng ngày không mệt mỏi. Nó không phải là một loại lý thuyết hay diễn ngôn, mà là một chuyên ngành cần tri thức, kinh nghiệm, và kỹ thuật, đã ăn vào trí nhớ”.

- Giáo sư Gastone Tognaccini,

Xưởng Phục chế đá, Ý.

Khó mà tránh được, nếu bên cạnh có một con ngựa sắt cũ, anh hy vọng nó vừa phải có thể chạy được lại vừa có thể khôi phục về hình dáng ban đầu, thì thứ anh phải đối mặt là những vết hoen gỉ lâu ngày do nước mưa và khí hậu ẩm thấp gây ra, cùng sức mạnh tàn phá của thời gian đối với vạn vật. Chúng tôi gọi quá trình khôi phục ngựa sắt cũ đã bị tân trang, thay thế phụ tùng trở về nguyên trạng ấy là “cứu”.

Người chưa từng tận mắt thấy ngựa sắt cũ hẳn khó lòng hiểu nổi, dấu gỉ sét của một chiếc xe có thể tiết lộ về thời đại, hoàn cảnh địa lý, thói quen của người sở hữu, cùng công nghệ chế tạo ra nó. Xe võ thời Nhật trị, thân xe và chắn bùn, vành xe đa phần đều dùng sắt đen. Điều này luôn làm tôi liên tưởng đến Publius Ovidius Naso phân chia bốn thời đại của nhân loại thành “thời đại vàng kim”, “thời đại bạc trắng”, “thời đại đồng điều” và “thời đại sắt đen”. Tới thời đại sắt đen, nhân loại học được cách đi biển và khai thác quặng, thành thử mải mê chinh chiến mà mất đi tín ngưỡng.

Sắt đen tức thép các-bon, có lịch sử khai thác lâu đời, phạm vi ứng dụng rộng rãi, song tính thép và độ dẻo đều không bằng sắt trắng sau này. Sắt đen bị gỉ sét ăn mòn, về thị giác lẫn xúc giác đều có vẻ sần sùi nham nhở, nhưng cũng vì thế mà mang cảm giác của nham thạch cứng, cả chiếc xe như thể được đúc rèn từ vẫn thạch và thời gian. Bạn bè tôi đều si mê ngựa sắt bằng sắt đen, một mặt đương nhiên là vì số lượng còn lại có hạn, một mặt chính vì cái cảm giác đặc biệt ấy.

Sau khi kỹ thuật sắt trắng (hay sắt mạ kẽm) chín muồi, ngày càng nhiều bộ phận xe được làm từ sắt trắng. Tại những thành phố ven biển của Đài Loan, có một giai đoạn hễ lắp ráp xe người ta đều cố ý dùng sắt trắng ốp ngoài để chống chọi với gió biển. So với sắt đen, vết gỉ của sắt trắng dễ dàng xử lý hơn, có điều gỉ sét lâu ngày vẫn sẽ ăn mòn từ một số phòng tuyến yếu ớt nào đó, chúng tôi hay nói là “Loang hoa (hue) rồi”.

“Hoa” trở thành ký hiệu độc đáo để phân biệt mỗi chiếc xe.

Giữa thời đại sắt đen và sắt trắng, còn có hình thức xi mạ sắt. Xi mạ là một quá trình điện hóa học, và cũng là quá trình ôxy hóa khử. Nguyên lý cơ bản của nó là ngâm linh kiện vào trong dung dịch muối kim loại làm cực âm, tấm kim loại đóng vai trò cực dương, sau khi nối với nguồn điện một chiều, trên bề mặt linh kiện sẽ đọng lại lớp xi.

Đương nhiên, xi mạ cũng bong tróc theo thời gian, thời gian sẽ khảo nghiệm sự tốt xấu của nguyên liệu và kỹ thuật xi mạ. Có con xe cũ mới đầu được mạ một lớp đồng, rồi mạ thêm một lớp crôm. Thành thử sau khi lớp xi mạ bên ngoài bong tróc, lốm đốm vết đỏ của nguyên tố đồng liền theo đó lộ ra. Lớp xi vẫn chưa tróc hết hẳn thì rải rác xung quanh. Một số bạn xe của tôi đặc biệt yêu thích những vết đốm kiểu này.

Xem xét tỉ mỉ tình trạng hoen gỉ của từng chiếc xe, sẽ có thể phát hiện ra điều kiện khí hậu của một số vùng, thói quen của chủ xe, hoặc cảnh ngộ của chiếc xe. Đài Loan mưa nhiều, xe thường bị gỉ theo đường vuông góc với hướng mưa, còn xe đạp cổ điển nhập khẩu từ châu Âu lại vì khí hậu bản địa khô hanh, khi bạc màu thường bạc đều cả xe. Tôi từng mua một chiếc xe nửa thân sau gỉ hoen gỉ hoét, thì ra chủ xe tức ông của người bán, từng là tiểu thương buôn cá qua lại giữa Kim Sơn và Sĩ Lâm, giá để hàng phía sau do đó hằng ngày đều chở cá tươi. Máu cá, nước biển và nước đá tan từ đó chảy xuống, tạo thành các vết tích hoen gỉ đặc thù.

Trong quá trình vệ sinh và tu sửa, do phải tận tay tháo dỡ, lau chùi, lắp ráp từng linh kiện nên sự phân bố và độ nông sâu của vết gỉ sét đều hằn sâu trong trí nhớ, đối với người sở hữu, đó mới tính là đã “nhận diện” một chiếc xe.

 

Tiểu Hạ là người sưu tầm ngựa sắt cũ theo chủ nghĩa tự nhiên. Cậu sẽ lau chùi xe kỹ lưỡng đến độ không còn vết dầu mỡ dính trong ren đai ốc, nhưng tuyệt đối không sơn lại, cũng không thay lốp. Nếu lốp cũ thủng thì cậu vá, nếu rách đến độ không vá nổi nữa thì cậu không đi con xe đó nữa mà treo nó lên tường như vật trưng bày trong bảo tàng. Cậu cũng cự tuyệt dùng đồ mới, đồ giả cổ thay thế đồ cũ, càng khỏi nói như một vài nhà sưu tầm còn đem ghi-đông đi xi mạ lại, hoặc đưa đến xưởng gò sơn, cậu thậm chí kiên quyết không dùng ốc vít kiểu mới. Cậu hay bảo, linh kiện và bảo dưỡng sai sẽ hủy hoại vẻ đẹp một chiếc xe tích lũy cùng thời gian.

Tiểu Hạ cho rằng, còn lưu giữ tất tật dấu vết của thời gian để lại trên thân xe mới gọi là ngựa sắt cũ đích thực, vì thế người nào mua xe của cậu đều phải trao đổi, đàm đạo với cậu rất kỹ. Cậu tuyệt đối không bán cho những người có khả năng hủy hoại cả chiếc xe.

 

Khi “cứu” một chiếc xe, cửa ải thường gặp phải là linh kiện hỏng hóc, nhưng do két bẩn két gỉ lâu năm mà không tháo ra được, ốc vít bị mủn ren, góc thì mòn vẹt, không dụng cụ nào tác động nổi. Trừ phi có thể nhờ đến dụng cụ đột lỗ, bằng không chỉ còn cách thi gan với nó.

Có lần tôi mua được một chiếc xe ghi-đông bị kẹt cứng, để gỡ giá gài giỏ đi chợ người chủ xe lắp thêm sau này, mỗi ngày tôi đều phun một lượng nhỏ dung dịch khử gỉ sét, bôi mỡ khử gỉ sét chùi thật kỹ các vết gỉ lồi lên, dồn hết sức vặn ghi-đông, lại lấy búa cao su mềm gõ theo hướng ngược lại, nhưng nó vẫn không động đậy dù chỉ một phần. Có thứ gì đó như thể cá sấu ngoạm chặt lấy chỗ đó, không cho thời gian cựa quậy.

Rồi một hôm tôi ăn xong bữa sáng, trước khi ra khỏi cửa tiện tay gõ thử cho nó một búa thì đột nhiên nó lỏng ra, long ra, cạch một tiếng lại xoay vặn được. Bấy giờ chỉ có mình tôi trong studio, không có ai để chia sẻ niềm vui sướng ấy, tôi đành hét váng lên với cả căn phòng và chiếc xe đạp: Lỏng ra rồi, lỏng ra rồi, lỏng ra rồi! Đó không hoàn toàn chỉ là khoái cảm gõ long được một con vít hay một khớp nối bị “ngoạm” cứng, mà là cảm giác được chữa lành như thể tận đáy lòng mình thực sự có bộ phận nào đó được thả lỏng.

 

“Cứu” một chiếc xe còn một cửa ải nữa là tìm lại linh kiện bị thiếu sao cho cùng mẫu mã, cùng thời kỳ. Dân mê xe đều biết, muốn tìm được linh kiện thiếu của ngựa sắt cũ, ngoài kinh nghiệm, kiến thức và cần cù ra, yếu tố may mắn đóng vai trò rất lớn.

Những thứ đồ cổ này thường xuất hiện ở vài nơi. Một là nhà máy hoặc xưởng gia công khi xưa vẫn còn một số hàng tồn, vì lâu rồi không có người mua, những món hàng được gói bọc kỹ lưỡng này nằm phủ bụi hàng chục năm trong kho hàng tối tăm, cho đến khi được tìm ra, chúng tôi gọi đó là “đồ cổ tồn kho”. Khả năng thứ hai là, mấy tiệm xe đạp xửa xưa không lấy gì làm sáng sủa, không bày bán mẫu mã gì mới, chỉ có một ông bác ngồi bên trong. Những chỗ này luôn có một căn gác hoặc gian kho nhỏ cất linh kiện cũ.

Nơi đây chính là lăng mộ Tutankhamun của dân mê ngựa sắt cổ.

Đương nhiên, anh cũng có thể từ những con ngựa sắt bỏ đi không thể sửa chữa nổi khác, tháo lấy những bộ phận còn dùng được cuối cùng của nó, giống như cách gọi của mấy hàng xe hơi cũ, là “rỉa thịt”. Đám ngựa sắt không bao giờ còn được cưỡi, nhưng vẫn mang trên mình không ít linh kiện dùng được này có thể vẫn nằm trong khoảng sân căn nhà cũ nào đó, hoặc trên những con đường nơi thành phố, huyện lị, chúng tôi gọi là xe “nguyên sinh”.

Ngay từ ngày đầu lùng tìm ngựa sắt cũ trên đường phố, tôi đã ngỡ ngàng trước số lượng những chiếc xe nguyên sinh bị vứt lại trên phố như lũ chó hoang. Chủ của chúng đâu? Bọn họ đã quên quãng thời gian gắn bó với những chiếc xe đạp này rồi sao?

Tôi luôn mang theo người dây chun và vài mảnh giấy, viết sẵn mình thật lòng muốn thu mua xe cũ kèm theo số điện thoại di động. Gặp con xe nào còn dùng được sẽ treo luôn mảnh giấy liên lạc đó lên. Đương nhiên, nếu vừa hay bắt gặp trên phố một bác già cưỡi ngựa sắt cũ vẫn còn vận hành bình thường ngang qua trước mặt, tôi sẽ không chần chừ mà đuổi theo ngay. Mua được xe hay không là một chuyện, thông thường chủ xe nghe thấy anh có hứng thú với ngựa sắt của mình như thế sẽ dừng bên đường chuyện trò qua lại cả nửa buổi, rồi bao năm nay người ta thể nào cũng có một tiệm sửa xe ruột lâu đời, đó có thể lại là mấu chốt dẫn dắt anh làm quen được với một bác thợ khác.

Có lúc đạp xe trên phố, tôi lại tưởng tượng Tiểu Hạ, A Bố và những “người săn xe” khác đều đang ở đâu đó mở ra-đa xe đạp dò quanh. Những lúc ấy tôi lại như nghe thấy Tiểu Hạ nói, sau bức tường bao này, liệu có chiếc (hoặc nửa chiếc cũng được) “xe đua Hạnh Phúc đùm ba số 70” ấy không nhỉ? Liệu có một mẫu xe nào chúng tôi chưa từng trông thấy hay không?

Có không nhỉ?

 

Từ sau khi Sabina và Shizuko quyết định trao chiếc xe đó cho tôi, tôi bèn bắt đầu lên mạng tới tấp liên lạc với các nhà sưu tầm ở khắp mọi nơi. Tôi cần một chiếc yên da bò, một nửa sau nắp dây xích, hai miếng huy hiệu chắn bùn chính hãng Hạnh Phúc, một thanh đỡ chắn bùn… để “cứu” chiếc xe. Tôi dành tất cả thời gian rảnh rỗi để vệ sinh, tra dầu, chà bóng chiếc xe, thử dùng sức người giúp nó khôi phục thần thái.

Sau khi đăng ảnh xe lên mạng, tôi bắt đầu nhận được hồi âm từ những nhà sưu tầm ở khắp nơi, bọn họ đánh giá chiếc xe hiệu Hạnh Phúc này, và thảo luận xem nó còn những điểm nào “bất toàn”. Tôi mua được một hộp xích hoàn chỉnh từ chỗ anh Tăng, một nhà sưu tầm ở Bình Đông; kiếm được ốc vít bằng đồng từ chỗ một nhà sưu tầm lâu năm biệt danh “Cốc Tang” ở Đài Nam; lại dùng một chiếc xe đạp “bất toàn” hiệu Ngũ Thuận đổi lấy một chiếc yên da bò chính hãng Hạnh Phúc.

Thời gian này, dưới đôi bàn tay chà, xoay, vặn, chùi, cạo, chỉnh sửa của tôi, chiếc xe dần hồi phục lại diện mạo vốn có. Tôi cảm thấy như mình đang đem một phần thời gian của đời người ra trì hoãn sự suy tàn của chiếc xe này.

 

Tôi từng đọc một bài báo, miêu tả về quá trình dùng “kỹ thuật dựng tiêu bản sinh thái lập thể Akeley” để tạo ra tiêu bản của Lâm Vượng. Bấy giờ vườn thú không thuê thợ nhồi tiêu bản nước ngoài mà lựa chọn đội ngũ địa phương do tiên sinh Lâm Văn Long đứng đầu. Khi Lâm Vượng bệnh nặng, tiên sinh Lâm Văn Long đã thường xuyên tới chụp hình nó, nhằm hiểu rõ từng tiểu tiết trong mỗi động tác của Lâm Vượng. Hôm nó qua đời, nhân viên vườn thú lập tức dùng dao giải phẫu và cưa điện lột từng phần da voi xuống trước, rồi tức tốc đưa đến nhà ăn dành cho nhân viên vườn thú đã được dẹp bỏ đồ đạc để ướp muối.

Nhân viên vườn thú đem cân các bộ phận của voi sau khi đã xẻ rời, cuối cùng cũng biết con thú khổng lồ đi cùng tuổi thơ biết bao người này nặng năm tấn rưỡi. Đông đảo sức người được huy động tới hỗ trợ cạo bỏ mỡ và vụn thịt trên da voi, một đội ngũ chuyên nghiệp khác thì lấy khuôn phần đầu bị cắt rời của Lâm Vượng. Mọi bước đều tranh thủ từng giây từng phút, như thể thứ bọn họ xử lý không phải hàng chết mà là hàng sống vậy.

Da lột xong không bao lâu liền được chuyển tới một nhà máy giày da đã ngừng sản xuất ở Nghi Lan để tiến hành thuộc da và trữ đông tạm thời. Tranh thủ thời gian này, đội ngũ nhồi tiêu bản bắt đầu dùng thép và thanh gỗ để dựng khung xương, mút xốp có độ cứng cao để đắp thành thân hình và vân da của Lâm Vượng. Do mút xốp được quấy hằng ngày nên nhiệt độ và độ ẩm đều ảnh hưởng tới thành phẩm, thợ tạo hình có thể nói ngày ngày đều phải đối mặt với thử thách mới.

Bọn họ dốc sức tái hiện cơ bắp từng chống đỡ cơ thể Lâm Vượng băng qua cả nghìn dặm đường, phần mỡ đã được xử lý sạch, cùng xương cốt, máu thịt, hệ thần kinh từng truyền tải cảm xúc và sinh mệnh của nó. Sau khi đắp được hình dáng sơ bộ, nhân viên dùng đến dao đẽo và cưa điện để chỉnh sửa, cuối cùng là rót chất tạo khí vào phần đầu được tạo khuôn bằng sợi thủy tinh, rồi lấy ra khỏi khuôn chiếc đầu lâu sầu muộn, kín đáo, từng chứa đựng một bộ não phải chịu đựng nỗi đau khổ của chiến tranh và dục vọng.

Tiếp đó các chuyên gia nhồi tiêu bản bắt đầu phải khâu lớp da voi được trữ đông lên cái cơ thể nhân tạo ấy. Da voi đã bị cạo mỏng, đắp vá, kéo dãn, được bốn, năm người đứng dưới đất và trên thang cao căng ra, tiến hành căn chỉnh trục da, nhất thiết phải để da voi giáp khít với cốt nhục nhân tạo. Do lớp da thuộc đã hơi co lại trong quá trình thuộc và trữ đông, các nhân viên chỉ còn cách chỉnh sửa liên tục, cho đến khi có thể căn chỉnh chính xác.

Da voi được lấy ra trong tình trạng đông lạnh, để khôi phục về trạng thái co dãn và đàn hồi trước tiên phải trải qua thời gian dài ngâm liên tục trong nước ấm bốn mươi lăm độ, hễ bị khô da voi sẽ lại trở nên không đàn hồi, do đó quá trình khâu ghép bắt buộc phải tranh thủ thời gian, ăn cơm, uống nước, hay bài tiết đều hết sức cắt giảm, ai nấy đều dùng ánh mắt trao đổi thay cho lời nói.

Nhân viên khâu ghép mỗi người đứng trên thang ở các góc độ khác nhau, sử dụng kìm nhổ đinh rút những cây kim to, khâu nối da voi. Quá trình này tiến hành suốt ba mươi tiếng đồng hồ, nghe nói khi khâu xong mũi kim cuối cùng, tất cả nhân viên đều ngồi bệt ra đất, ngửa cổ nhìn lên con thú khổng lồ, khoảnh khắc ấy, bọn họ cảm thấy mình dường như đang ở nơi thánh điện.

Xe văn võ hiệu Hạnh Phúc.

Trong căn studio thắp đèn bàn, khung cảnh dòng nước ngầm thần bí từ thôn Nhị Cao ở Cương Sơn thông tới sông A Công Điếm, bán đảo Mã Lai nơi đơn vị Bánh xe bạc thỏa sức tung hoành, và rừng Bắc Burma nơi đội vận tải voi băng rừng nối nhau hiện ra trong trí não tôi. Tôi nghĩ đến con voi sau khi chết bị chặt chân làm ghế, và chiếc xe đạp của đơn vị Bánh xe bạc mà lão Trâu không biết kiếm đâu ra, cả quãng đường dài dặc chiếc xe đạp Hạnh Phúc bên cạnh tôi đã đi qua, tôi nghĩ đến bác thợ nọ sáng sáng đều phải cầm nắm đồ nghề sửa xe một lát, nghĩ đến Shizuko ngồi trước chuồng thú yên lặng vẽ tranh.

Sau vài tuần, tất cả linh kiện của xe rốt cuộc đã về đúng vị trí. Trước khi lắp yên ngồi, tôi nhìn chằm chằm vào cọc yên, giống một đường hầm tối thui chật hẹp, bên trong chiếc cọc dường như tồn tại bóng tối đằng đẵng vĩnh hằng.

Tôi lắp chiếc đèn điện dynamo hiệu Hạnh Phúc rất hiếm, dùng tay không quay bàn đạp xe, bàn đạp dẫn động dây xích, bánh răng, kêu lên những tiếng lách cách lạch xạch, lốp xe do đó ma sát với đầu cao su của máy phát điện, sản sinh ra dòng điện hai mươi vôn. Khi dòng điện với âm thanh cực nhỏ mà tai tôi không nghe thấy này rè rè truyền từ dây điện tới đầu mút đuôi đèn, thông qua sợi vonfram tỏa ra thứ ánh sáng ấm nóng chói rọi, tôi cũng có cảm giác giống những người thợ nhồi tiêu bản khi hoàn thành tiêu bản của Lâm Vượng, thấy mình như ở trong thánh điện.

Ngoài cửa sổ trời đã sáng. Tôi lúc này sẽ dừng bút bước tới bên cạnh cửa sổ, dùng trí não và đôi mắt có phần mờ nhòa nhìn mây trên bầu không và thành phố. Thế giới này thoạt nhìn vẫn như mọi khi, không có gì thay đổi, nhưng tôi biết, so với thế giới cũ hôm qua, nó đã là một thế giới mới với chút xíu khác biệt. Lũ côn trùng nhỏ bé trong gió, ánh sáng truyền tới đây từ hành tinh xa xôi, hạt bụi trên kính, đều không còn như xưa nữa.

Nguyễn Tú Uyên (dịch)
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 6 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.