Trong một bài thơ vào loại lạ lùng nhất của phong trào Thơ Mới 30-45, thi sĩ trẻ Đoàn Phú Tứ đã viết một cặp câu khét tiếng “Màu thời gian không xanh. Màu thời gian tím ngắt”. Có thể nói đây là lần đầu tiên trong tiếng Việt, thời gian vốn dĩ siêu hình đã hiển lộ tròn màu rõ nét. Thường thường, thời gian chỉ mơ hồ khoe màu trong một vài thời đoạn tinh tế đặc biệt nào đó, ví như ở mùa Thu chẳng hạn, ví như ở mùa Xuân chẳng hạn. Sắc thu với những tiêu tao lá ngô đồng vàng rơi, với những mây xám ngổn ngang nặng trĩu sát khí (không phải ngẫu nhiên mà các bậc đế vương phương Đông thường chọn mùa thu là mùa khởi binh), nên màu căn bản của Thu thuộc về lạnh lẽo Âm. Ngược lại, sắc xuân với những mơn mởn xanh của lá non chồi biếc, với những hây hây đỏ của cặp má thiếu nữ tương chiếu lẫn vào sắc hồng của hoa đào nhân diện đào hoa tương ánh hồng, nên màu căn
bản của Xuân thuộc về nồng ấm Dương. Và rực rỡ đậm nét nhất trong lung linh muôn vàn sắc xuân, chắc chắn đấy phải là những nét màu của ngày Tết.
Khoảng hơn chục năm lại đây, Tết Nguyên Đán ở Hà Nội đã nuối tiếc bớt đi quá nhiều những màu đáng kể. Cái tay trung niên gốc người Nhật Tân suốt mấy năm nay chuyên buôn đào cành đào thế từ Sơn Tây từ Phú Thọ về bán sỉ ở chợ hoa Cống chéo Hàng Lược đã thở dài bảo vậy. Thôi, khỏi nhắc đến hoành tráng bánh pháo đỏ kinh điển Bình Đà nữa, chuyện xưa rồi, nhưng cứ thử nhìn thật kỹ đóa hồng đào ngoại tỉnh này xem. Không những cánh của nó bị mỏng lớp mà sắc thắm cũng bị kém hơn nhiều nếu phải so với đào cũ Nhật Tân, hồi vườn ở đây còn mênh mông trùng trùng điệp điệp gốc đào chưa bị đám bê tông cốt thép của khu biệt thự liền kề hay chung cư cao cấp hung bạo lấn. Màu đào đã không còn nồng nàn thắm thì đương nhiên má của mấy thiếu nữ đứng bán hoa đào dọc theo hai bên đường đê Yên Phụ cũng tai tái vắng sắc hồng. Mùa Xuân sẽ phôi pha nhanh hơn khi mà tết nhất hụt thiếu đi những gam màu đỏ.
Thực ra cái đẹp của màu Tết không hẳn là sự độc chiếm chói lọi của bất cứ màu nào, mà nó đẹp ở chỗ hài hòa trộn lẫn của vô vàn tự nhiên màu sắc. Trong tập Thôn ca, thi sĩ nhà quê Đoàn Văn Cừ đã rưng rưng miên man miêu tả chợ Tết Bắc Bộ cách đây chừng già nửa thế kỷ:
Sương hồng lam ôm ấp nóc nhà gianh. Trên con đường viền trắng mép đồi xanh. Tia nắng tía nháy hoài trong ruộng lúa. Bà cụ lão bán hàng bên miếu cổ. Nước thời gian gội tóc trắng phau phau. Hai người thôn gánh lợn chạy đi đầu. Con bò vàng ngộ nghĩnh đuổi theo sau. Thúng gạo nếp đong đầy như núi tuyết”.
Xa xưa, màu của Tết thường là màu của ấm no điềm đạm dư dật phảng phất phồn thực, bởi trời đất đang manh nha một khí Dương lực lưỡng. Vì thế cây cỏ khát khao nảy nở và con người rạo rực muốn yêu nhau. Bây giờ ở những đô thị lớn, kinh tế ồn ào phát triển, nhiều nơi no ấm đã tràn ra thành thừa mứa, và người ta liều lĩnh đem màu cao cả của những ngày Tết dung tục pha phách vào ngày thường. Bát canh măng hầm chân giò sóng sánh nâu cùng với bánh chưng mướt mát xanh đã bị ăn ngay từ những ngày hè tầm thường nóng chảy mỡ. Thịt đông giò xào mờ mờ thăm thẳm một màu nấm hương mộc nhĩ thì đã có quanh năm, cứ tiện tay mở ngăn đá tủ lạnh là thấy. Màu của đời thường hớt hải trọc phú đã xô bồ đè nhòe cái màu hiếm hoi thong thả cao sang của ngày Tết. Có phải vì cái thói quen ăn vã thiêng liêng như thế nên một đài truyền hình đã thô bạo dựng cả một chương trình gọi là “kết nối những trái tim”, trắng trợn đem những người mang vẻ yêu
nhau, chất lên một chuyến xe rồi cả anh cả ả oang oang tỏ tình trước nhan nhản người xem. Hỡi ơi, lời yêu vốn là lời thì thầm nói nhỏ, nó thiêng liêng sâu sắc là vì sự dịu dàng tự biết sự trầm lắng vị tha, bất cần ngồn ngộn sự chứng kiến của đám đông. Lời yêu được hợm hĩnh hét qua loa thì là lời huênh hoang của quảng cáo. Có phải vậy chăng mà hôm nay đám trẻ từ 9X trở xuống đã hết sạch cồn cào nỗi mong chờ chóng tới ngày Tết.
Ngoài một màu hồng đỏ chủ đạo, mấy ngày Tết còn lưu một màu phơn phớt huyền hoặc rất khó tả của ký ức. “Những người muôn năm cũ. Hồn ở đâu bây giờ?” Tết là thêm mới nhưng cũng là ngày thiết tha nhớ cũ, tổ tiên ông bà sẽ quây quần cùng về che chở phù hộ cho đám con cháu đang nông nổi mưu sinh trong lẫn lộn. Bởi thế nhà nào nhà nấy từ đêm Giao thừa cho đến hết ngày mùng Năm hóa vàng, nơi bàn thờ tổ tiên luôn giữ một màu biết ơn trân trọng. Thường là một mâm đồng cỗ cúng cạnh một mâm gỗ son ngũ quả ngan ngát trầm hương. Tất cả bọn người đang sống bỗng quên danh lợi xì sụp chân thành khấn khứa. Ai ai mặt cũng long lanh một màu thành thực sám hối, từ quan chí dân tất thảy sắc diện đều thăng hoa thành thánh thiện.
Rồi qua rằm Giêng, màu Tết nhạt đi thấy rõ, mọi người lại hùng hục trở về tranh giành với thường nhật. Màu hồng của hoa đào, màu thanh bạch của ăn năn bị mờ dần vào màu vàng của kim ngân tạo ra một màu rất xa Tết. “Người
ơi... đừng về, í a... em nhớ”, màu Xuân chỉ còn hoài cổ trong câu quan họ hội Lim oang oang qua tivi.
Và ở nhiều làng cũ kỹ rêu phong ngoài Bắc, cho đến giữa tháng Hai âm lịch, người ta vớt vát sắc Xuân bằng cách gói bánh chưng ăn Tết lại.