Chỉ những ai, trong những năm 1924-1925, đã từng kéo dài cuộc sống thất nghiệp, cuộc sống trác táng, kéo dài nỗi buồn, hoặc đơn giản là tâm trạng "ăn đêm" dưới ánh sáng giả tạo của những ngọn đèn khu Montmartre; những ai đã từng yêu thích cái quang cảnh duy nhất do những con phố Pigal, Fontaine và Douai họp thành, quang cảnh những người Mỹ say rượu, những người da đen chơi kèn saxophone, những người Áchentina nhảy tango, những cô gái nhớn nhác, những tay ma cô mặc smoking, những bà, cô bán hoa, những người ăn mày và lái xe taxi, cái quang cảnh sặc mùi benzine, mùi nước hoa, mùi son phấn và, ngấm ngầm là mùi ma túy; những ai từng thích đứng ở quảng trường Pigal nhìn những biển hàng như một dòng thác đổ xuống và nhảy múa, những biển hàng lóa mắt và đánh lừa cảm giác như những trò mua vui giả dối; những ai đã từng trà trộn vào cái đám cư dân kỳ lạ chỉ bắt đầu làm việc khi những người thường đi ngủ, đám cư dân cuồng dại, đồi trụy và ngây thơ, họ như ở ngoài nhân loại, họ là thứ dụng cụ cho người ta mua vui – chỉ có họ mới nhớ được có bao nhiêu nhà hàng Nga tập hợp lại trên mảnh đất chật hẹp của khu vực "ăn đêm" này.
Những nhà hàng ấy mọc lên và nhân ra như những loài cây độc. Có đủ kiểu nhà hàng, đủ các qui mô, từ những "nhà máy” âm nhạc cao ba tầng đến những càn phòng xép chỉ đủ để được năm sáu chiếc bàn đã chật. Trong một số nhà hàng, dưới làn ánh sáng xanh như ánh sáng nhà thờ và lấp lánh trên những chiếc cốc bạc dày, người ta lặng lẽ uống như cử hành một nghi lễ; một số nhà hàng khác lại vang lên không ngừng những tiếng nhạc, tiếng hát và những điệu nhảy man rợ.
Ở chỗ nào, người ta cũng đụng phải những người Cô-dắc đứng canh trước cửa các quán. Giữa hai đợt biểu diễn, những ca sĩ, những nghệ sĩ nhảy múa đổ ra, đầu trần, mặc quần áo nhung và lụa, đi vào những quán ba, quán cà phê. Những người đàn bà da trắng, mắt trong, mặc những quần áo sờn màu sặc sỡ, có người khóc, người cười vô cớ. Có những ông hoàng uống rượu thân thiết với những tên ăn trộm ngựa.
Có những người đàn ông, suốt cả đời được thuê để làm cho ngắn lại những đêm của kẻ có tiền, họ thực sự là những dụng cụ để mua vui, họ sinh ra như những cây vĩ cầm mà chính họ sử dụng một cách bản năng, để ca hát và làm hài lòng người khác. Đó là những người di-gan của các nhà hàng lớn ở Mátxcơva và các hòn đảo ở Pétrograd mà dòng người di tản đã cuốn đến tận Paris. Một số người đã từng biểu diễn hầu các đại công tước, hầu Sa hoàng, hầu ngài Raspoutine[1]. Người ta đã ném cả những tài sản lớn xuống dưới những cây mã vĩ. Dù rằng ở khu Montmartre này họ được trả công xẻn hơn, những người ấy, nếu có việc làm và có tiền uống rượu, là vui ngay rồi. Còn có những người khác, cũng mang những túi đựng vĩ cầm, túi đựng ghi-ta, cũng mặc những bộ quần áo cũ như thế, lại thường để lộ trên gương mặt thanh nhã một nỗi thất vọng cũng mờ đục như ánh mắt của họ.
Trà trộn, đói rách, cải trang như thế, những đại tá cận vệ, những giáo sư, phu nhân quí tộc, gái điếm, nghệ sĩ bất đắc dĩ, những người di-gan nổi tiếng... đã đến đây. Họ đến đây để – khi thì bằng một tâm hồn mãnh liệt và chân thành, khi thì với một lối diễn tồi và pha tạp – trao gửi cho những cặp nam nữ bị kiệt sức vì những tiếng ồn, vì ánh sáng và rượu sâm banh, cái hơi thở man rợ, tuyệt vọng và đôi khi cao cả mà nước Nga bao la và không rõ hình thù, đã để đọng lại trong những bài hát, những điệu nhảy và trong trái tim của những đứa con khốn khổ của đất nước ấy.
Tất cả họ hợp thành một bộ lạc kỳ dị trong đó mỗi người có một lịch sử bí hiểm và thống thiết, một bộ lạc mà tất cả các thành viên đều quen biết nhau, ghen tị nhau, một bộ lạc đoàn kết với nhau bởi những nỗi lo và công việc giống nhau; bộ lạc ấy, muốn tồn tại phải trông chờ vào số chai bán được trong những nhà hàng mà họ chỉ rời khỏi vào lúc mà những ngươi khác, sau một đêm nghỉ ngơi đã trở lại với những công việc lành mạnh.
Và cái bộ lạc không tổ quốc, không thành phố ấy chỉ biết có một mảnh đất chật hơn một thị trấn hẻo lánh, có tường vây kín như một nhà tù, được ngăn lại bằng những con ngõ nhỏ mỗi tối sáng đèn lên cho một cuộc truy hoan đều đặn, và chỉ gồm toàn những nhà hàng ăn đêm và những khách sạn dành cho những cuộc tình dễ dãi.
Những người Nga ở những nhà hàng mở đêm ngủ trong những khách sạn ấy, làm việc trong những nhà ăn ấy, họ chỉ ra khỏi giấc ngủ để đi hát, mời khách uống rượu và bản thân họ uống, và họ chỉ ngừng hát và ngừng uống để lại rơi vào giấc ngủ. Trong cái khu phố khép kín ấy, đã có sẵn cho họ những chủ hàng ăn loại tồi, những chủ khách sạn nhỏ, có cả những thợ cạo người nước họ; ở đó, hàng tuần lễ liền, họ không cần phải nói một chữ tiếng Pháp; ở đó, do nghề nghiệp làm ăn và mệt nhọc, họ sống như bị nhốt kín đến mức nhiều người khồng hề biết là quanh đấy có rừng Boulogne và Khải hoàn môn, cái khu phố ấy, họ gọi là Khu Pigal, do ở gần quảng trường Pigal.
Pigal đó là cái xó xỉnh khuất nẻo của thế giới, cái bến cảng không có chỗ neo đậu cho những thể xác lạc loài, cho những linh hồn phiêu dạt; đó là chỗ trú ngụ khô cằn và điên dại, chỉ mở lòng từ thiện cho những kẻ say rượu nhìn một hóa hai, cho những kẻ mà chất cocaine làm cho lung lay tận gốc; đó là cái ảo ảnh của thú vui miễn cưỡng mà những ánh ngày đầu tiên đủ làm tan biến; cái xứ sở kỳ lạ ở ngoài cõi người ấy là nơi mà cô gái Hélène, người khách quí của nhà trọ Mesureux, vừa đặt chân đến.
❀ ❀ ❀
[1] Raspoutine: một người Nga (1886-1916) vô học và tà dâm, đã tìm cách trở thành một nhân vật quyền thế bên cạnh vua Nicolas II và trong Đại chiến I đã trở thành công cụ của bọn phản động thân Đức.