Đêm Của Những Ông Hoàng

Lượt đọc: 30 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Nhà Trọ Mesureux - I

❊ ❊ ❊

Ở trong khu Passy, có một phố rất nhỏ. Tên phố không ai biết, đã mờ hết trên tấm biển không được giữ gìn. Kẹp giữa hai con đường lớn, nơi luôn luôn gầm gào những hoạt động huyên náo của Paris, con phố nhỏ, gầy còm, như nằm ngủ. Buổi sáng, chỉ có những chiếc xe ba bánh của những đứa trẻ bán bánh mì đi qua. Vào những giờ khác trong ngày đôi khi thấy một chiếc xe do người kéo bằng tay. Người đàn ông dẹp chiếc xe sát vỉa hè và bước những bước mệt nhọc đến chỗ người bán cà phê ở góc phố. Đây là một người xứ Auvergnat, chột mắt, kiêm cả bán than.

Vào cuối năm 1924, ở số nhà 12 của con phố không tên, không màu sắc và không sức sống ấy, có một nhà trọ, mở ngay tại gia đình. Mặt tiền của ngôi nhà xám xịt, xù xì và loang lổ. Những cánh cửa nhỏ, từ bao năm không được sơn lại, lẫn vào những bức tường đến nỗi, buổi sáng sớm, ngôi nhà trông như một ngôi nhà mù.

Ở bên trong, những tấm thảm đã mất hết họa tiết và màu sắc, những đồ đạc bọc nhung đã sờn bốc một mùi nhạt nhẽo và héo hắt. Nhìn qua cửa kính thấy một mảnh vườn nhỏ, với một cây to trụi lá và những mảng sỏi còn lại, cuối vườn là một bức tường cao màu đất. Quang cảnh buồn thảm đến mức khiến ta phải ngạc nhiên khi nhìn vào những tấm gương phản chiếu những đồ vật và mặt người.

Trong cái nhà trọ ấy, mặc dù thời giá đắt đỏ, cô Yvette Mesureux, cô gái già có mái tóc trắng và chiếc đầu nhỏ, thường mặc những chiếc váy rất dài, vẫn cho trọ với giá hăm bốn phrăng một ngày, kể cả tiền buồng và tiền ăn. Là người có tinh thần trách nhiệm, cô chăm nom chiếu giường sạch sẽ, cơm nước chu đáo. Cô rất thích được một quý bà có tuổi khen về một món tráng miệng, được một ông giáo sư mệt mỏi sau bốn chục năm lên lớp cám ơn về đêm nghỉ yên tĩnh vừa qua.

Khách trọ dĩ nhiên là có thay đổi, họ thay thế nhau trên con đường đi đến nghĩa địa, nhưng họ giống nhau ở những cử chỉ nhỏ nhặt, ở những giọng nói yếu ớt, ở những cái nhìn nhút nhát, ở những bộ quần áo sờn mà sạch sẽ, đến nỗi cô Mesureux không nhớ rằng, để nói chuyện với họ, cô đã bao giờ phải thêm một câu nào mới vào cái vốn từ ngữ có từ một phần tư thế kỷ này không?

Tuy nhiên, ít lâu sau khi cuộc chiến tranh khởi đầu năm 1914 đã kết thúc, cô Mesureux cảm thấy một mối lo ngấm ngầm. Những khách trọ càng ngày càng ít thay đổi. Những căn phòng của những người ra đi để trống hàng tuần, hàng tháng. Có thể nói là cái loại người kín đáo, ít nói và lễ phép mà, sống với họ cô Mesureux đã tin chắc là mình sẽ sống được hết cuộc đời, cái loại người ấy đã tắt đi rồi, nó được thay thế bằng loại người khác, trong đó đàn bà để hở hai đầu gối.

Chính vào thời gian ấy, có một người đàn ông tóc vàng mặc áo da tìm đến ngôi nhà trọ ở cái phố nhỏ của khu Passy, ông ta cất chiếc mũ lái xe để tự giới thiệu mình với cô Mesureux. Ông ta nói tiếng Pháp một cách lịch sự khác thường, nhưng với một giọng nói khiến cô ngỡ ngàng không hiểu. Ông nói:

- Thưa bà, nếu bà cho phép và nếu bà còn chỗ, tôi rất sung sướng được trú ngụ ở đây. Cái ga-ra mà tôi thuê chiếc xe tắc-xi ở ngay một phố gần đây.

Trước đây, ngay cả việc đứng nghe một người lạ ăn mặc lố lăng đến thế, cô Mesureux cũng chưa bao giờ làm, nhưng bây giờ thì một nửa ngôi nhà trọ đang bỏ trống, và gánh nặng đối với cô mỗi ngày càng nặng thêm. Vì vậy, cô đang chần chừ thì người đàn ông nói tiếp:

- Bởi vì tôi làm việc ban đêm, thưa bà, và tôi về vào lúc năm giờ sáng, nên tôi rất mong bà cho tôi chiếc chìa khóa cửa để tôi khỏi làm phiền bà mỗi khi về.

Cô Mesureux là người đĩnh đạc, nghe nói vậy cũng giật nảy mình. Với cô thì sau mười giờ đêm, Paris trở thành một vùng đất đồi trụy và nguy hiểm mà không một người lương thiện nào có thể mạo hiểm ở đấy. Cô đang nghĩ một câu gì để từ chối thì người khách lại nói:

- Xin bà đừng sợ, thưa bà, tôi xin bảo đảm là tôi sẽ không đánh thức ai. Tôi biết cách đi như một cái bóng.

Ông ta có một giọng nói rất dịu dàng, lại nở một nụ cười trung thực và buồn rầu đến nỗi cô Mesureux lần đầu tiên trong đời cảm thấy rằng những nguyên tắc dù nghiệt ngã đến đâu cũng không thể cứ giữ nguyên đối với một số người nào đó.

- Về chuyện chìa khóa thì, thưa ông, – cô nghiêm nghị nói – ông đừng mong. Tôi chỉ có một chiếc và không thể rời nó ra được. Tôi dậy rất sớm và tự tôi sẽ mở cửa cho ông. Tôi chỉ xin ông đừng giật chuông. Ngôi nhà này đã từng là ngôi nhà yên tĩnh nhất khu phố. Cô vừa thở dài vừa nghĩ tới một nửa tá khách còn lại và những ánh mắt của họ khi thấy người mới đến. Nhưng đã quá muộn rồi không thể lùi lại được nữa. Người đàn ông đã ghi xong tờ phiếu trọ mà cô Mesureux đọc thấy:

Họ: Chouvaloff

Tên: Maxime

Tuổi: 30 tuổi

Nơi sinh: Tobolsk (Sibérie)

Quốc tịch: Nga

Nghề nghiệp: Bác sĩ y khoa, hiện giờ làm lái xe.

Các giấy chứng nhận: Hộ chiếu do Hội Quốc liên cấp. Chứng minh thư. Bằng lái xe.

Người Nga đầu tiên đến trọ ở nhà này như vậy đó. Ít lâu sau, số khách trọ tăng lên một cách bí hiểm khiến cô hốt hoảng và ngớ ra, họ tăng lên thành ba, rồi năm, rồi mười người và cuối cùng, nhà trọ còn chỗ nào trống đều có người đến ở, người nào cũng ghi trên tờ khai của cảnh sát dòng chữ: Hộ chiếu do Hội Quốc liên cấp.

Câu này khiến cho cô Mesureux bối rối lạ thường.

Một buổi sáng, như thường lệ, mở cửa cho Maxime Chouvaloff, cô không đừng được bèn hỏi ông ta.

- Ồ, đơn giản lắm, thưa bà, ông ta trả lời với một nụ cười mỉm – mồm thì cười mà mắt thì không – bởi vì chúng tôi không thích nước chúng tôi như kiểu hiện nay, mà nước chúng tôi cũng không thích chúng tôi như kiểu hiện nay. Thế là chúng tôi không thuộc về ai cả, vậy thì chúng tôi thuộc về tất cả mọi người, thuộc về Genève[1].

Lời giải thích này, nếu cô Mesureux không hiểu nó hoàn toàn thì nó cũng hé mở cho cô thấy rằng những người khách trọ của cô không có tổ quốc nữa. Điều đó làm cô run lên bần bật.

Đối với một người phụ nữ Pháp gốc gác lâu đời như cô Mesureux, một phụ nữ mang nặng hơn ai hết cái tình cảm, cái tôn giáo về đất mẹ thiêng liêng thì những con người không có nước ấy bỗng trở thành những cơ thể không gắn bó với trái đất, họ không hoàn toàn là con người và không thể đối xử với họ theo những quy tắc thông thường được. Thật vậy, làm sao có thể đòi hỏi họ, những con người rớt xuống từ một hành tinh khác, phải ứng xử như những con người bình thường? Làm sao lại hỏi những đôi nam nữ rằng họ có cưới xin không? Làm sao lại bắt họ rời phòng khách khi mơi 9 giờ tối? Với ba người phải làm việc vào ba giờ khác nhau, làm sao lại cấm không cho họ thay nhau nằm trên một cái giường? Làm sao lại từ chối không cấp than cho một cái máy kỳ quặc có tên là samovar? Một vài người già còn trung thành với cô Mesureux thoạt đầu rất phàn nàn về những cuộc chuyện trò trong các phòng khi đêm đã quá khuya, đôi khi lại còn có cả tiếng hát nữa. Rồi thì cô cũng tiếp nhận những lời đả kích ấy với vẻ hoàn toàn bất lực và đành trả lời rằng:

- Biết làm sao được, đó là những người Nga của Hội Quốc liên ấy mà !

- À, ra vậy! - Những người già cùng nhắc lại. Họ vừa bỏ đi, vừa gật đầu, cứ như là tất cả những gì đau đớn và bí hiểm chứa đựng lẫn lộn trong câu nói của cô Mesureux cũng đủ khiến cho họ chấp nhận không hề kêu ca những việc làm bất lợi nhất cho sự nghỉ ngơi của họ.

Từ bấy giờ, trong con phố nhỏ này, ngôi nhà trọ của cô Mesureux được gọi là nhà người Nga và những bà nội trợ đi mua bán về với cái túi lưới đeo ở cánh tay thường dừng lại trước cửa để tư lự ngắm nhìn ngôi nhà xám dường như chứa đầy bí ẩn.

Nhưng rồi một hôm, cô Mesureux, nhờ đã quen rồi, bắt đầu nhận ra là những người của Hội Quốc liên ấy cũng là những người đàn bà, đàn ông, dù họ có trẻ hơn những khách trọ trước đây, cũng không vì thế mà không giống mọi thành viên của loài người. Chỉ đến lúc ấy, cô mới nhận thấy họ đã gây nên một sự đảo lộn trong ngôi nhà và cô bỗng hoảng sợ về tính nhu nhược của mình.

Họ chẳng tôn trọng cái gì cả. Họ ăn, họ rửa, họ ngủ bất kể kiểu gì, bất kể lúc nào. Muốn biết mấy giờ, cô Mesureux không thể căn cứ vào những tiếng động của nhà trọ như trước nữa. Cô buộc phải xem đồng hồ.

Từ bao nhiêu năm nay cô đã sống trong bầu không khí êm dịu, gần như sảng khoái trong sự ngưng trệ kéo dài, thế mà bây giờ cô lại chỉ nghe rặt những tiếng kêu, những tiếng gọi từ phòng này sang phòng khác, những bước chân rậm rịch liên tục băng qua những hành lang. Có những người khách kỳ lạ đến thăm, khi thì ăn mặc sang trọng tinh tế nhất, khi thì kéo lê những đôi giày để giấu những chiếc đế rách, họ đều đến thăm một số người và đều được đón tiếp với tình cảm nồng nhiệt như nhau. Họ ở lại đến hàng tiếng đồng hồ. Vài phút trước bữa ăn, nếu không phải làm thêm ba bốn suất ăn bất ngờ thì đó còn là một điều hạnh phúc cho cô.

Rồi những chiếc bình nhỏ chứa đầy chất rượu trong vắt gọi là vodka và một loại bánh mì đen xuất hiện trên bàn, và tất cả mọi người nhìn vào đó một cách trìu mến. Và nhất là, nhất là những cơn thay đổi tính khí, những gương mặt kín bưng, bi đát của họ làm cho cô Mesureux hoảng sợ, hoặc những tiếng cười hồn nhiên bất chợt khiến cô rùng mình.

Khi nhận thức rõ sự tai biến này, cô lấy hết nghị lực – cô nổi tiếng là người có nghị lực – để lập lại trật tự trong ngôi nhà. Nhưng những cố gắng của cô đều vô ích mà cô không hề biết rõ nguyên nhân thất bại tại đâu. Người ta không hề có chút gì gọi là chống lại những lệnh của cô, họ còn nghe và hoàn toàn tán thành những lệnh ấy, họ còn tỏ ra vui vẻ một cách lịch sự, cứ như đối với một sự giúp đỡ cần được trả ơn, một niềm vui cô đã mang đến cho họ. Nhưng rồi tất cả tan đi lúc nào không biết.

Người ta đến ăn bữa sáng chậm năm phút, người ta xin lỗi, người ta đề nghị bỏ qua món cháo – và tất cả các việc ấy diễn ra lịch sự đến mức nếu quở trách họ thì thật là một điều sai lầm. Nếu cô Mesureux có phàn nàn ai đó đã giữ bạn đến thăm ở lại quá hai giờ đêm và còn tiễn khách một cách ồn ã, thì người ấy khẽ khàng đáp:

- Đó là khách của tôi đấy ạ, thưa bà! vả lại chúng tôi nói chuyện gia đình, anh ấy vừa từ bên kia về.

Thế là cô Mesureux xin lỗi.

Mọi việc đều diễn ra như thế. Mỗi một việc – dù là việc bất ngờ nhất hoặc khó chịu nhất – đều có một lý do khó mà không chấp nhận, hoặc – nếu không phải như vậy – thì là một việc mà sau đó người ta hối hận đến mức xin chuộc lại lỗi lầm. Cách cư xử của những người ấy có cái gì đó thành thực và giản dị khó cưỡng lại được. Cô Mesureux có cảm tưởng là những người ấy sống trong cuộc đời một cách mộc mạc hơn những người khác. Họ dường như rất lành hiền nhờ ở tính chất phác không thay đổi. Và dần dần, cô cũng quen thân với những gương mặt ấy và bắt đầu quan tâm đến những câu chuyện của họ, cô như mắc vào một cái bẫy tình cảm.

Không phải ngẫu nhiên mà mọi người trong khu phố ngày nào cũng hỏi cô:

- Những người Nga của cô ra sao rồi?

Ông già Borkoff, anh chàng kéo vĩ cầm Blumenfeld, hai chị em nhà số 14, ông lái xe Chouvaloff và những người khác đã trở thành người nhà của cô, như những con người thuần phác mà cô đã cưu mang.

❀ ❀ ❀

[1] Hội Quốc liên đóng trụ sở ở Genève.

thời gian đã mất được chính A. Makin, nhà văn Nga lưu vong sưu tầm và trích dẫn trở lại). Rồi sự thích ứng. Một điều bất cứ ai, dù chưa dấn thân vào kiếp sống nơi đất khách quê người, cũng có thể dự đoán được, ấy là sự mưu sinh ở đây cực k
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 10 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

2 Trong Tổng Số 3 tác phẩm của Joseph Kessel

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.