Trong số những nhân vật kỳ lạ ấy, người đặc biệt nhất chắc hẳn là Fédor Achkeliani, ông hoàng trẻ xứ Kavkaz. Người ta không thể gặp ở đâu một người đàn ông đẹp hơn, nhất là người đàn ông ấy đồng thời lại làm ta nghĩ đến một con vật tuyệt đẹp. Vẻ trong trắng mạnh mẽ của gương mặt và của thân hình, bộ ngực rộng và sâu, mình thon và dẻo, cổ chân, cổ tay thanh, tất cả ở con người này còn in dấu một bộ tộc lâu đời và khỏe đẹp được nuôi dưỡng trên những đỉnh núi cao, trong chiến trận và trong tự do.
Achkeliani cho ta cảm giác về một sức mạnh vô biên. Có thể nói rằng những cơ bắp của chàng được liên kết với nhau chặt chẽ nhất, được hun đúc tốt hơn hết ở mọi người khác, người ta cảm thấy chúng được rèn trên một cái đe chắc nhất, những cơ bắp rắn, nhanh và luôn luôn chịu sự chỉ huy của một lực đẩy sinh học không phụ thuộc vào ý chí con người. Những cơ bắp mà bao nhiêu thế hệ kỵ sĩ và đàn bà miền núi có những bầu vú nhọn đã chuẩn bị tạo nên.
Tất cả cuộc đời của chàng tuân theo sự điều khiển của những cơ bắp ấy. Mặc dù đã học ở Học hiệu Hoàng gia, đã luyện tập ở những câu lạc bộ đặc quyền, đã học tập những kiểu cách tinh tế nhất, chàng vẫn chỉ thích những con ngựa, những hội hè, những truyền thống của các bộ tộc và chiến trận. Và dĩ nhiên, đàn bà, mà ít người cưỡng lại được chàng.
Cơ nghiệp của gia đình chàng và thời thế đã phục vụ những sở thích của chàng cho đến cái ngày chàng bị ném lên bến cảng Marseille, chàng đã vốc từ túi ra một vốc đá quý, đó là tất cả tài sản chàng có. Những viên ngọc ấy đã giúp chàng đến Paris và sống ở đó một tháng ăn tiêu ngất trời. Sau đó, chàng tìm đến nhà trọ Mesureux. Từ cái ngày mà chàng ghi tên vào cuốn sổ nhà trọ, chàng chưa từng nói một lời nào với cô gái già. Vì thế cho nên buổi chiều ngày 12 tháng giêng, cô ngạc nhiên thấy chàng đến gần:
- Thưa cô, – chàng nói, – mai là đêm tất niên, đêm trước ngày Tết đầu năm của chúng tôi. Vâng, Tết của chúng tôi sau Tết của các vị mười ba ngày. Mười ba, đó là một con số đẹp. Mười ba (chàng nhắc lại từ này với một giọng nhấn mạnh). Tôi có mấy người bạn đến ăn cơm và tôi muốn được dùng căn phòng khách. Như một phòng riêng, cô hiểu không? Khi chúng tôi đập vỡ cốc – để lấy may ấy mà, cô hiểu không – như thế rất tiện.
Đứng trước cái gương mặt quá rạng rỡ kia – gương mặt ấy dường như cảm thấy thất vọng vì mong muốn quá nhiều – cô Mesureux cụp mắt nhìn xuống. Chà, một ông hoàng tính đếm những ngày tháng của mình khác hẳn mọi người và đập vỡ bát đĩa vì mê tín...
- Vâng, tùy theo ý thích của ông, – cô gái già trả lời với một giọng nói không chút âm sắc.
★ ★ ★
Vào ngày đầu năm Nga, trong một căn buồng sát mái và hơi xiêu của nhà trọ Mesureux, Alexeï Dmitritch Borkoff giật mình tỉnh dậy giữa trưa. Từ chiếc ghê xôpha ngắn mà cô gái già đã vui lòng cho ông mượn, mái đầu bạc trắng của ông đột ngột nhô ra và vươn về phía góc gian phòng mà hình như ông nghe thấy phát ra một tiếng thở dài mệt nhọc. Những cánh cửa sổ đều đóng kín nên ông không thể phân biệt được xem gương mặt cậu con trai thấp thoáng trong bóng tối và gối trên chiếc gối có mở mắt không.
- Con ngủ đấy à, Vassia? Ông nói hết sức khẽ khàng. Không nghe thấy tiếng trả lời, ông yên tâm. Cậu con trai không cần đến ông. Cái tiếng gì đó mà ông tưởng nhầm là tiếng gọi chắc hẳn là tiếng rít của một chiếc lò xo gẫy mà mỗi lúc cựa mình ông vẫn thấy cái đầu nhọn chọc vào người. Hoặc là một tiếng mớ cũng nên.
“Lạ thật, Borkoff nghĩ, mình ngủ mê rất nhiều. Thế mà người ta cứ bảo là đi bộ thì giúp cho đầu óc yên tĩnh”. Ông lại ngả mình xuống chiếc ghế quá ngắn đối với tấm thân dài và gầy gò của ông. Những khớp xương của ông trục trặc, những giờ ngủ nằm co đã làm cho chúng cứng lại và gồ lên. Mặc dầu vậy, ông vẫn muốn ngủ lại, bởi vì ông cảm thấy mệt bã người.
Cũng như mọi ngày, ông chỉ ngủ vào khoảng bốn giờ sau khi đi bộ từ nhà in của tòa báo trở về. Từ xưởng dệt thảm Gobelins đến phố Passy, con đường khá dài. Mỗi đêm, trên quãng đường vô tận, ông mệt gẫy cả người, thở dốc, ông tự nhủ:
- Dứt khoát là không thể được. Mình sẽ không chịu nổi. Phải tìm một chỗ ở gần hơn.
Nhưng mỗi khi về đến những khu phố có không khí thoáng đãng, ở đấy người ta cảm thấy gần cây cối, gần những mảnh đất không bị tận dụng từng tấc một vào kỹ nghệ của con người, ông lại nghĩ đến đứa con trai và ông không thể đành lòng kéo nó về ở cái mảnh đất của Paris đầy những tiếng gầm gào và những chướng khí mà ông đang làm việc ở đấy. Vả lại, ở chỗ khác, ông có thể tìm đâu ra người chủ nhà dễ dãi như cô Mesureux, chỉ với một nghìn phrăng một tháng cũng bằng lòng nuôi hai bố con ông cả ăn và ở.
Tất nhiên là căn buồng ông ở có hơi bị xiêu, nhưng ở tầng ba được thở hít không khí trong lành hơn tầng một. Có lẽ, những suất ăn của ông có phần bị xẻn xo hơn suất ăn của những người khác, nhưng Alexeï Dmitritch cũng hiểu rõ rằng với số tiền ông nộp hàng tháng như vậy thì không thể đòi hỏi hơn được – mà thức ăn cũng lành sạch – đó là điều quan trọng đối với Vassia.
Đúng vậy, với một nghìn phrăng mà cả hai cha con được sống chỉnh tề và ăn no như thế, thật cũng là một điều kỳ lạ. Ông kiếm được một ngàn hai trăm phrăng mỗi tháng, mỗi tuần lễ phải ba lần viết bài phông cho báo và sửa tất cả những bản đập. Thế là quá tốt đối với một người di cư như ông. Đã bao nhiêu đồng nghiệp Nga coi ông là gặp vận may, ấy là nói những người đã kiếm được một công việc gì đó. Còn những người khác thì...
Tuy nhiên, một trăm hai mươi nghìn phrăng tức là khoảng một trăm đồng rúp cũ... Vậy là, sau ba mươi lăm năm hành nghề thuận buồm xuôi gió, sau khi đã điều hành những tờ báo lớn, đã từng làm việc với các vị Bộ trưởng và có thể hơn cả những đại sứ, mà bây giờ thế này đây. Alexeï Dmitritch lắc đầu như để xua đuổi những hình ảnh, những toan tính, những suy nghĩ xô đến tấn công ông mỗi lúc thức giấc, vào lúc ông cảm thấy mình bất lực nhất, và chúng như cướp nốt chút sức lực còn lại của ông. Vậy mà ông lại rất cần, rất cần, rất cần đến chúng – những hình ảnh, những toan tính, những suy nghĩ ấy! Ông thầm nhắc lại mấy chữ ấy như để lấy đó làm sức chống lại sự mỏi mệt và nỗi thất vọng, rồi đưa mắt nhìn về phía chiếc giường nơi đứa con trai đang ngủ. ít nhất, ông cũng tin như thế.
Bởi vì, Vassia – mặc dầu ông đã phải cởi giày trước khi bước vào phòng, mặc dầu ông đã mở cửa hết sức khéo léo như một tên ăn trộm, mặc dầu tất cả các động tác của ông đều nhẹ nhàng như do một bàn tay phụ nữ – Vassia cũng đã thức dậy vì cuộc trở về thầm lén của ông. Từ lúc ấy, cậu con trai không thể ngủ lại được nữa.
Đó là một chàng trai mười chín tuổi nhưng với hệ thần kinh suy nhược như của một người đã sống quá nhiều năm. Ra đời khi bố mẹ đã già, tuổi thơ của cậu chỉ như là một cuộc báo động dài. Hai người anh đã chết trong chiến tranh ở Galicie[1], một nhà đầy tang tóc, rồi đến cách mạng, đói rét, bà mẹ chết trong tù, ông bố phát điên lên, rồi đến cuộc chạy trốn. Đứa bé ra đời giữa tất cả những thử thách ấy với một cơ thể ốm yếu dễ sợ và một trái tim lúc nào cũng săn sàng bỏ nó lại với những cơn sợ hãi chết người.
Buổi sáng hôm ấy, mọi cử chỉ của cậu đều bình tĩnh và Vassia cảm thấy gần như sung sướng vì cơn mất ngủ đã cho cậu được ung dung thưởng thức một điều thông lệ mà kỳ lạ. Cậu được thong thả nhìn xem bình minh mờ mờ tiến vào trong căn phòng hẹp. Ánh sáng đã dần dần mở rộng các bức tường đến mức bất giác Vassia thấy mình hoàn toàn thoát khỏi sự bao vây của chúng. Có cái gì đó như một dòng sông êm đềm đã dâng lên trước mặt cậu và làm cho những hình ảnh đáng yêu và hiếm hoi của đời cậu tan ra thành một làn sóng phẳng phiu: một buổi sáng tháng Năm trên những hòn đảo của Saint-Petersbourg; cuộc xuôi dòng sông Volga mà Alexeï Dmitritch trong khi được phái đi làm điều tra đã cho cậu đi theo, lúc mới mười tuổi, rồi một đêm trên boong chiếc tầu chở cha con cậu đến Marseille, và buổi hoàng hôn trên biển Địa Trung Hải, ở đó cậu đã nhìn thấy tia sáng xanh như trong cuốn tiểu thuyền của Jules Verne. Cậu cố gắng mà mãi không sao nhớ được tên của những nhân vật trong cuốn truyện ấy. Vì đã quá xa trong trí nhớ của cậu rồi. Thế là cậu bèn nghĩ đến những truyện đã đọc gần đây, chúng mới là cuộc đời thật của cậu.
Chiến tranh và Hòa bình, cậu yêu tác phẩm ấy biết bao! Cái đêm thức trắng của nàng Natacha bên Hoàng thân André đang hấp hối. Thế nhưng, theo bản năng, cậu không dám nghĩ đến cảnh ấy nữa, bởi vì trái tim của cậu đã đập thình thịch lên rồi!
Thế là cậu bèn đọc những câu thơ của Lermontov đầy những nắng, đầy hân hoan dịu nhẹ và sảng khoái. Giờ phút êm ả trôi đi giữa những mộng mơ.
Đôi khi, tiếng thở khó khăn của ông Alexeï Dmitritch làm xáo động dòng mơ tưởng nhẹ nhàng. Nhưng, mặc dầu ngày thường, một chút tiếng động khó chịu cũng đủ làm các cơ bắp của Vassia co thắt lại vì nỗi sốt ruột mệt nhoài, những tiếng khó thở kia, cậu lại chịu đựng được mà không bực mình. Cậu biết rõ tiếng thở kia là hậu quả của sự mệt nhọc đến thế nào. Cậu cũng biết rõ cha cậu đã che chở cậu bằng một tình yêu không dứt, không gì lay chuyển được và có thể nói là anh dũng như thế nào.
Thực ra, ông Alexeï Dmitritch không bao giờ nói với Vassia về tình hình sức khỏe nguy kịch của cậu. Ông giả tảng coi như con mình vẫn khỏe mạnh, và tình âu yếm giữa hai bố con đã đem lại sức sống cho một vở kịch kỳ lạ: cậu con trai nằm dài suốt ngày và ông già chăm sóc con đầy tận tụy hy sinh cứ làm như cuộc sống vẫn bình thường!
"Ba không muốn mình tin là mình ốm!". Vassia vừa nghĩ thầm, vừa xúc động ngắm nhìn gương mặt của ông bố với đôi lông mày thưa điểm bạc, đôi má răn reo mà những tia sáng nhợt nhạt dọi thẳng từ những khe cửa soi rõ một cách thảm hại. Ấy chính là lúc cậu thiếu niên phát ra tiếng thở dài sâu thẳm đánh thức ông dậy. Nhưng cậu vừa nhìn thấy cử chỉ lo lắng của bố thì lại nhắm mắt vào giả vờ ngủ. Cậu không muốn cướp đi của tấm thân già mỏi mệt kia vài phút nghỉ ngơi.
Vassia không cựa quậy thêm chút nào nữa khi ông Alexeï Dmitritch đã trở dậy và quàng chiếc măng-tô lên mình thay cho áo ngủ, và cậu biết rằng những cử chỉ đầu tiên của bố là dành cho mình, và, muốn giữ nguyên những “luật chơi” quy ước ngầm giữa hai bố con, thì không nên để cho ông nghĩ rằng con nó đã nhìn mình; nếu không, ông sẽ phải tìm những cớ để giải thích khiến cả hai bố con đều đau lòng.
Thế là ông nhà báo già có thể lặng lẽ lấy ra từ một gói nhỏ hai quả trứng mang về từ tối qua, châm chiếc đèn cồn đặt trên tấm đá của cái tủ com-mốt – đó là chiếc đồ gỗ duy nhất có thể kê cùng với chiếc giường và cái tràng kỷ ở trong căn phòng xép. Khi trứng đã luộc chín, ông đun ấm nước để uống trà. Rồi thì, hé cánh cửa một chút, ông đến ngồi ở đầu giường con trai.
Vassia vẫn chần chừ chưa mô mắt. Đó là giây phút khó khăn nhất mà cậu phải lựa chọn rất kỹ càng để khỏi làm hỏng mất cái tình thế tế nhị có thể cho phép hai bố con vừa nhìn thấy nhau vừa mỉm cười tự nhiên. Vassia khe khẽ mở đôi mí mắt khép hờ, nhưng vừa lúc ấy thì cậu lo lắng nhận thấy rằng đã không kịp nữa rồi: một cái nhìn thương mến vô biên đang nhìn vào cậu, một cái nhìn đau xót, đầu hàng, hy sinh, khôn tả xiết, như sự tận tụy, nỗi tuyệt vọng của một con vật, một cái nhìn mà người ta không thể đón nhận, cũng không thể đáp lại, đó là món quà tặng quá sang đối với sự nghèo nàn của con người.
Để trốn tránh cái nhìn ấy, để không cảm thấy nữa tất cả tâm lực của ông bố già hiến dâng và tan biến đi, Vassia bất giác nhắm nghiền mắt lại. Nhưng ngay cả làm như vậy, những sợi dây thần kinh quá mong manh của cậu vẫn nhận thấy đôi mắt của cha mình. Đôi mắt nhìn vào cậu, cháy bỏng, sâu thẳm, sùng mộ, khốn khổ. Và trái tim thất thường của cậu đã bắt đầu loạn nhịp.
Làm sao nhận ra được một thiên bẩm như vậy? Biết nói thế nào đây với gương mặt bị tàn phá ấy – gương mặt gần như khôi hài với cái mũi to, đôi môi trề ra – về tấm lòng trìu mến của bố đối với mình. Ông già, ít nhất, có biết rằng con trai ông chẳng hề bị lừa bởi niềm vui giả tạo của ông, rằng nó chỉ tôn trọng ông để tránh những gì đau đớn nhất? Ông có biết rằng không một cử chỉ tế nhị nào, không một sự chăm sóc ngờ nghệch và xúc động nào của ông là vô ích cả? Ôi, làm sao cho ông hiểu được điều đó mà không phải dùng lời, mà chỉ bằng một động tác, một cái bắt tay chặt, để không làm ông sợ, nhưng để ông hiểu được rõ ràng, không thể lập lờ, để cảm ơn ông...
Một cảm xúc như vậy là quá mạnh, quá bức bách đối với Vassia. Bất chợt, hai bàn tay cậu ôm lấy cái ngực ốm yếu, cậu cố sức ngồi dậy mà đành bất lực, cơn sợ hãi làm mồ hôi toát ra chảy dòng dòng trên hai thái dương sâu hoắm. Bản năng nhanh nhạy khiến ông Alexeï Dmitritch đỡ vội con trai, cho cậu tựa vào chiếc gối, cởi các khuy áo trên của chiếc sơmi, mở rộng cửa sổ. Rồi với cái sơ-ranh lúc nào cũng để sẵn, ông tiêm cho con một ống dầu long não. Khi Vassia tỉnh lại, ông đột nhiên quay về chiếc đèn cồn đun nước đang sôi. Vài giây trôi qua cho phép bố và con lấy lại vẻ mặt bình thường. Cậu con trai cảm thấy giọng nói của mình đã lại sức, cất tiếng:
- Con đã ngủ quá muộn, ba ạ. Con đã bị mê. Một giấc mơ đẹp... cùng với ba...
- Càng hay, – Alexeï Dmitritch vừa ôm con vừa nói, không hề lộ xúc động. – Như vậy, con sẽ ăn ngon miệng.
- Ba chỉ hay nói đến chuyện ăn.
Rồi Vassia mỉm cười, cậu cố gắng lấy nụ cười che lấp tất cả những tình cảm vừa qua đã làm cậu mệt nhoài. Cũng như mọi ngày, cậu ăn mà cảm thấy ghê sợ, nhưng không hề để lộ trên nét mặt, và nói:
- Ba làm bếp khéo quá, đúng là ba có năng khiếu.
Alexeï vẻ mặt tươi tỉnh:
- Tiếc thay, ba không nhận ra từ đầu để chọn nghề. Nghề bếp này chắc chắn hơn cái nghề giấy trắng mực đen của ba. Trong khi chờ đợi, ba xuống dưới nhà lấy bữa ăn sáng. Ba chẳng muốn xuống nhà chút nào. Phòng chúng ta vui hơn dưới nhà ăn. Còn con, con quá thích cái giường nên chưa thể rời nó ra được.
Xuống đến tầng một, ông mới ngần ngại. Cô Mesureux đã giúp bố con ông bao nhiêu việc, nghe thấy lại có chuyện phiền, cô ấy sẽ nói sao đây? Gặp cô, ông khẽ nói rất nhanh:
- Con trai tôi, cháu hơi mệt, tôi sẽ đem cháo và thịt lên cho cháu. Còn tôi, tôi chẳng cần gì. Buổi sáng, cô biết đấy, tôi ăn rất ít...
- Nhưng Mélanie rất có thể giúp ông...
- Không, không... – Alexeï vội cắt ngang, hàng tháng ông rất lo ngại về khả năng chi puốc-boa ít ỏi của mình – Mélanie bận rất nhiều việc.
Năm giờ sáng Alexeï Dmitritch phải đến tòa báo. Hôm nay đến lượt ông phải viết bài phông và ông phải đi xin chủ trương của ban biên tập tờ báo nhỏ bằng tiếng Nga nơi ông đang làm việc. Trước khi đi, ông bảo Vassia:
- Con hãy nghỉ cho khỏe. Nhớ là tối nay Achkeliani mời ba con ta ăn cơm, đêm nay là giao thừa mà. Sẽ có ông bác sĩ, Nathalie và Hélène Borissovna.
Còn lại một mình, cậu trai nhắm mắt và nhắc lại thật to hai chữ Hélène Borissovna, Hélène Borissovna như để hưởng cái thú nghe âm vang của cái tên ấy.
Alexeï Dmitritch cố gắng trở về hết sức sớm, sau tình hình nguy cấp buổi sáng của Vassia, ông cảm thấy không thể làm việc ở nơi xa con được. Trên con phố nhỏ, ông gặp Maxime Chouvaloff, mặt mũi cạo nhẵn và ăn mặc quần áo sang trọng.
- Anh lạ lắm sao khi thấy tôi không mặc bộ đồ làm việc? – ông lái xe vừa nói vừa cười. - Chính vì anh không bao giờ về vào lúc này, lúc này là giờ của tôi, giờ tôi đi dạo một vòng trên các đại lộ. Lại đi bộ nữa. Không gì tốt hơn cho các cơ bắp. Anh biết đấy, tôi ngồi mọc rêu ra trên cái ghế xe tắc-xi chết tiệt ấy suốt cả đêm mà.
Bình thường Alexeï Dmitritch rất thích nói chuyện với Chouvaloff. Ông này không bao giờ phàn nàn kêu ca nên chuyện trò với ông rất bổ ích. Có thể nói là việc chờ đón khách cho đến rạng sáng trước các nhà hàng của khu Montmartre đã tạo cho ông một tham vọng, và đó là phần thưởng tự nhiên cho những công trình nghiên cứu lâu dài và công phu của ông.
Nhưng chiều nay, nhà báo già chỉ có thể nghĩ đến một việc. Ông hỏi:
- Này bác sĩ, chín giờ tối nay, anh về chứ?
- Đúng thế, và chúng ta sẽ cùng đón giao thừa[2] kia mà!
- Vậy thì xin anh hãy vui lòng rẽ qua chỗ chúng tôi trước bữa ăn tối.
- Thằng con trai anh không được khỏe hay sao?
Trong câu hỏi của Chouvaloff, có sự ân cần, tất nhiên, nhưng cũng có một thoáng vui mừng: ông thích nhớ lại rằng mình là một người thầy thuốc.
Alexeï Dmitritch kể lại vắn tắt cuộc khủng hoảng của Vassia, Chouvaloff kêu lên:
- Không, tôi không muốn anh phải đợi thêm nữa. Tôi hiểu rằng anh rất sốt ruột. Nào, tôi đi theo anh, - Chouvaloff cắt ngang không để Alexeï kịp cám ơn, và cũng không thú nhận rằng chính ông cũng đang muốn đến ngay để xem khả năng chẩn bệnh của mình – hồi mới cách mạng đã bắt đầu nổi tiếng ở Mátxcơva – có còn nhanh nhạy như trưởc nữa không?
Trong cầu thang, lợi dụng bóng tối, Alexeï Dmitritch thì thào:
- Này, bác sĩ, tôi không muốn dự cuộc thăm bệnh. Tôi đợi anh ở ngoài chiếu nghỉ.
Khi Chouvaloff gặp lại nhà báo già, sự kích thích của nghề nghiệp đã dịu bớt và ông chỉ thấy khó nói thẳng ra điều cần phải nói:
- Anh ạ, – ông bắt đầu, – con trai anh không bị tổn thương nào hệ trọng. Tất nhiên là sự thể sáng nay cho thấy là phải giữ gìn cho nó. Tình hình này, phải bắt nó nằm tại chỗ, nhất là không thể dậy trước hai, ba hôm.
- Ngay cả tối nay ư? - Alexeï Dmitritch lẩm bẩm.
- Không được, không được. Tôi rất hiểu, đối với một chàng trai còn quá trẻ, gặp một ngày vui thế này mà phải bỏ thì quá buồn, nhưng cần phải thế, anh hãy tin tôi. Tôi không lo về trái tim của cậu ấy, nhưng rất lo về tình trạng thiếu máu toàn thân... cái thể trạng suy nhược nguy hiểm kia...
Rồi thì, tránh cái nhìn đăm đăm của ông già, ông vội nói tiếp:
- Tôi cũng không biết phải dùng những thuốc gì. Có lẽ cần phải...
Alexeï Dmitritch nói thay ông bác sĩ bằng một giọng không âm sắc:
- Vâng, tôi biết... cần phải một nơi thoáng khí, có tiện nghi đầy đủ... có nắng... Miền Nam...
Ông khẽ cất một tiếng cười lạc lõng và tiếp:
- Bác sĩ ơi, nói để anh biết rằng trước đây tôi đã kiếm mỗi năm sáu mươi ngàn rúp, tức là một trăm năm mươi ngàn phrăng thời trước chiến tranh, tức là sáu trăm ngàn phrăng bây giờ...
❀ ❀ ❀
[1] Galicie: một vùng đất ở Đông Âu, ở phía Bắc dãy Carpates, luôn luôn bị giành giật bởi Nga, Ba Lan và Áo. Năm 1945, Ba Lan chiếm miền Tây, Liên Xô chiếm miền Đông và sát nhập vào Ukraina.
[2] Đón năm mới theo lịch Nga.
❀ ❀ ❀
Alexeï Dmitritch phải quanh co và nương nhẹ rất nhiều để báo với Vassia điều cấm kỵ của Chouvaloff. Nhưng vừa nghe tin đó, chàng trai thường chấp nhận tất cả một cách kiên nhẫn và dịu dàng bỗng nhỏm dậy khỏi mặt gối, máu dồn lên hết hai gò má:
- Không được, con không muốn thế đâu, con sẽ đi!
Và mặc dầu những con mắt van xin của ông bố mà ngày thường cậu vẫn phục tùng, cậu nhắc lại:
- Con sẽ đi!
Trước sự phản kháng ấy, Alexeï Dmitritch hoang mang trong giây lát. Rồi một ánh sáng lóe lên qua cơn bối rối, và ông nói:
- Con biết đấy, ba không nghĩ rằng bữa ăn tối nay lại vui đến thế đâu. Ba còn nghe nói Hélène Borissovna được nơi khác mời.
Không cần phải minh mẫn lắm, ngay cả một người dửng dưng, cũng có thể nhìn thái độ bối rối của ông mà đoán ra là ông nói dối. Vassia vốn quen với từng ngữ điệu của ông, lập tức biết ngay. Nhưng cậu lặng đi trước lời nói dối ấy. Bởi vì nếu cha cậu phải nói dối thì chắc là...
Đột nhiên Vassia cảm thấy điều bí mật của mình bị phơi trần ra ánh sáng, cậu xấu hổ đến nỗi chỉ thì thào rất khẽ:
- Ba nói phải, ba nói phải. Con thật trẻ con.