Ngày hôm sau, Chouvaloff bị bắt. Nhưng ông thanh minh rằng ông buộc phải làm thế vì bị dọa giết chết, và vì trong tiểu sử, ông chưa hề phạm một lỗi nào, hơn nữa một nhà phẫu thuật lớn của Pháp lại bảo lãnh cho ông, nên ông chỉ bị thu bằng lái xe. Sau đấy, ông biến mất khỏi Pigal.
Còn về Fédor, vài tuần sau đó, người ta được tin anh đã sang châu Phi và sung vào một đại đội lính lê dương. Người ta chỉ còn nhớ về anh như một giai thoại của một con người đẹp trai và có sức mạnh phi thường.
Tháng chín đã đến.
Hélène và Stéphane vẫn sống một cuộc sống tẻ nhạt và thận trọng. Vụ đánh nhau ở quán Yên Tâm càng làm hai người nhích lại gần nhau, bởi vì người nọ ngấm ngầm tìm ở người kia một nơi trú ẩn chống lại những thế lực huyền bí và man rợ mà họ cảm thấy mình bị đe dọa. Hélène dịu dàng, bình tĩnh và hạnh phúc, chỉ sống cho Stéphane.
Một ngày cuối tháng, Stéphane theo lệ thường mua của ông Alexeï Dmitritch một tờ báo, ông này chiều nào cũng giáp mặt người con gái mà con trai ông đã yêu, nhưng ông không hề nhận ra. Mở tờ báo Stéphane có cảm giác như hơi chóng mặt. Một bản thông báo in chữ rất đậm báo tin cuốn sách mới đây của anh đã được xuất bản.
"Sao, đã bấy nhiêu ngày rồi ư?", anh ngạc nhiên nghĩ thầm. Chẳng có gì giúp anh đo thời gian tốt nhất bằng quá trình biến một bản thảo thành ra ấn phẩm. Đối với anh, khoảng thời gian ấy như cả một cuộc đời.
Anh sốt ruột nghĩ về cuốn sách cả đêm. Bộ mặt của nó sẽ ra sao? Đây là lần đầu tiên trong đời, anh không chữa các bản in thử. Tên các nhân vật có được giữ nguyên không? Và những từ hiếm, từ khó, những từ có hiệu lực nhất – những "nhỡn tự"?
Sáng hôm sau, còn rất sớm, anh bảo Hélène:
- Chắc chắn là nhà xuất bản đã gửi những tập sách về nhà anh. Anh phải về xem chúng ra sao.
Cô giật mình hơi lo. Cô chưa bao giờ rời khỏi anh, suốt cả ngày, cả ban đêm, bao giờ cô cũng có anh bên cạnh, trong một quán cà phê nào đó ở Pigal.
Cô rụt rè hỏi:
- Anh không muốn em đi cùng ư?
- Không, không, anh cần phải đi một mình.
Cô lại thấy trên gương mặt anh cái vẻ cau có và tàn nhẫn mà cô chỉ thấy có một lần và nó đã làm bùng lên cơn giận đầu tiên. Nhưng bây giờ cô rất thuần phục, cô sợ hãi đến mức cúi đầu và chỉ van nài anh:
- Về nhanh nhé, Stéphane thân yêu của em, thiếu anh, em không sống được.
- Tất nhiên rồi, tất nhiên em ạ. Anh sẽ đi rất nhanh. Anh chỉ muốn khoe em cuốn sách của anh.
Lời trấn an của anh làm cô rất vui. Cô đoán là chỉ có điều mong muốn ấy mới có thể làm cho Stéphane quay về với cô. Tuy vậy cô vẫn mặc áo ngủ đứng một lúc lâu ở ngưỡng cửa buồng để nghe tiếng chân người tình.
Stéphane vừa về đến căn nhà tồi tàn của anh thì bà Couvrard trông thấy và reo lên:
- Ái chà! Ai thích nói gì thì cứ nói, nhưng mà đây đúng là thật rồi. Ông ở đâu ra thế kia, đầu tóc thì như chui từ đất. May sao ông về đúng hạn bởi vì cái bà cho thuê nhà đã bắt đầu lộn tiết lên rồi. Tôi thật muốn chết.
- Bà Couvrard, bà Couvrard, tôi rất vui được thấy lại bà. Tôi xin lỗi, đáng lẽ tôi phải viết thư cho bà từ Pigal.
- Từ đâu kia?
- Không, tôi sẽ nói với bà sau. Chắc chắn bà có gì cho tôi chứ? À, cái gói kia, đúng, đúng, từ Berlin. Cái ấy, đấy cái ấy. Ôi, tôi đánh mất chìa khóa rồi, bà cho tôi mượn chìa khóa của bà, mau. Đúng, đúng, chốc nữa tôi sẽ nói chuyện với bà.
Anh leo lên gác nhanh nhẹn như một chàng trai, vừa đi vừa cởi sợi dây gói sách xước cả móng tay, nhưng đến cửa phòng làm việc, anh dừng lại, cảm thấy nôn nao.
Có tiếng gì rung rung kỳ lạ chào đón anh, một cái gì đó không sờ thấy, nhưng hơi nằng nặng, như một giọng nói vừa sống vừa chết. Anh ngửng lên nhìn, thì ra đó là những vị thần bí hiểm giữ nhà cho anh đang than vãn vì bị cô đơn quá lâu, những hồn ma run rẩy trên sợi dây sống động căng dọc căn phòng, đồng tiền vàng, bộ xương cá, mảnh đạn hình con chuột chù mà Irtych đã mang về cho anh.
Stéphane thở dài thườn thượt. Lại sắp phải rời bỏ nơi trú ẩn này, để trở lại nơi xa kia, nơi những dốc phố nối nhau, ồn ào, trở lại với cái thế giới bị ngăn cách bởi thành phố Paris rộng mênh mông, như một cái hang đầy ánh sáng trong đó đung đưa những bông hoa to mù lòa? Tuy nhiên, không có phút giây nào mà anh không nghĩ trở lại với Hélène. Cô ấy đang ở trong phòng chờ anh, và anh phải báo tin cho Irtych biết về cô ấy.
Stéphane bắt đầu lật giở cuốn sách của anh và anh cảm thấy nó hoàn toàn mới lạ. Đã một giờ, anh vẫn chưa đọc xong. Bà Couvrard mang giăm bông, phó mát và hoa quả đến. Anh giữ bà lại để bói bài. Rồi anh ăn với một niềm thích thú chưa từng có từ lâu. Tất cả mọi thứ trong căn phòng này đều có mùi vị rất thích.
Anh lại bắt đầu đọc. Đọc xong, anh lờ mờ nhớ ra rằng anh phải đi một cuộc đi dài và vất vả. "Đúng rồi, đúng rồi, đi đến cửa Orléans, đổi tàu ở Barbès, rồi xuống ở Pigal", anh chăm chú nhắc lại lời dặn của nhân viên métro.
Anh xuống thang, trả lại chìa khóa cho bà gác nhà. Bà hỏi bao giờ anh về, anh buồn bã trả lời:
- Tôi cũng không biết nữa, bà Couvrard ạ, tôi đoan chắc với bà là chuyện ấy không tùy thuộc ở tôi.
Bên ngoài, buổi hoàng hôn chầm chậm của mùa thu lúc ấy mới bắt đầu phô vẻ kiều diễm của nó. "Mình còn có thì giờ," Stéphane nghĩ, anh thấy trời còn sáng và ngạc nhiên thấy một ngày ở đây sao dài thế, còn ở Pigal thì sao ngắn thế. Và anh đến công viên Montsouris.
Khu công viên của người nghèo này lúc này hầu như vắng ngắt, nhưng Stéphane rất thích được tĩnh lặng một mình. Anh sẽ nói gì với Émile và lũ trẻ nếu chúng đòi anh kể chuyện? Những câu chuyện mà anh mang về từ khu phố chơi đêm kia không thể dành cho những gương mặt trẻ thơ sớm cần lao của chúng. Anh cúi đầu bước đi, qua những lối đi, không gặp gì cản trở, bỗng chốc anh nghe có người nói tiếng Nga.
Trên một chiếc ghế dài, một người đàn ông cao tuổi và một thiếu phụ đang ngồi. Ông ta có một vầng trán nghĩ ngợi và một mái tóc dài quăn đẹp. Người thiếu phụ, nhìn nghiêng thấy khuôn mặt dài và có những nét mệt mỏi bơ phờ. Stéphane đến ngồi cạnh họ. Họ nhìn anh vẻ thản nhiên, rồi tin chắc là giữ kín được câu chuyện riêng vì nói bằng tiếng nước ngoài, họ cứ thế tiếp tục.
Ông già là một nhà quý tộc, còn thiếu phụ thuộc tầng lớp tư sản trí thức. Ông già làm việc dịch những bức điện tiếng Anh ở một ngân hàng, còn thiếu phụ thì dạy đàn dương cầm.
- Tôi không chịu nổi nữa. Trong một ngày phải chạy từ Ternes đến Bastille, rồi từ Bastille đến Neuilly rồi về nhà ở Sceaux. Nếu ở chỗ nào, người ta cũng còn cho uống trà thì có lẽ cũng còn đỡ.
- Thế trong lúc ấy thì cháu Aliocha ra sao? - Ông già hỏi.
Gương mặt kiệt sức của thiếu phụ chợt rạng rỡ lên.
- Cháu được bán trú ở Lakanal, cháu học lớp chín và cháu khỏe.
- Đó là cơ may cho bọn trẻ, cho chúng ta. Chúng thích nghi dễ dàng thế. Còn chúng ta thì khó mất gốc hơn chúng. Thằng cháu nội của tôi cũng học tốt. Nó rất xứng đáng được tôi cho mỗi tháng hai mươi phrăng.
- Trời! Hai mươi phrăng! - Người thiếu phụ vừa nói vừa chắp hai bàn tay lại như ao ước. Bao nhiêu là tiền!
Tiếng còi tàu ngoại ô rít lớn khiến người đàn bà chạy về phía ga. Ông già cũng chạy theo.
Stéphane còn nán lại một lúc trên chiếc ghế. Anh không nghĩ ngợi gì cả, nhưng khi anh đứng lên để trở về nhà thì trên đỉnh một ngọn đồi cao với hai bên sườn sáng rực, có một bóng người đang gọi anh. Nhưng cái bóng ấy chẳng làm gì được.
❀ ❀ ❀
Cũng vào lúc ấy, Hélène mở cửa buồng, ngó nhìn vào cầu thang tối om – cả ngày hôm nay, cô đã bao lần làm như thế. Những bậc thang cọt kẹt dưới chân người. Cô thừa biết rằng đó không phải là bước chân hơi lệt sệt và mềm của Stéphane, nhưng cô vẫn chờ, trái tim ngưng lại với một hy vọng ngoan cố, mù quáng rằng độ chính là anh trở về.
Nhưng những bước chân dừng lại ở tầng dưới. Hélène nghe tiếng nói lười biếng của một người đàn bà:
- Vào đi, nhưng đừng mở cửa sổ, tôi còn say quá chưa thể chịu được ánh sáng ban ngày.
Hélène quay lại giường. Từ khi Stéphane đi vắng, cô chỉ rời giường khi nghe có người dừng ở chiếu nghỉ cầu thang. Cô cầm lấy tờ báo Nga mà Stéphane để lại và đọc đến trăm lần bản thông báo:
"Vừa xuất bản: Ba đứa trẻ nhỏ của Stéphane Morski, nhà xuất bản Griabine. Có bán tại khắp các hiệu sách Nga ở Paris."
Nhưng trong đầu cô, Hélène không thể nào hình dung được người tình của mình lại chính là tác giả cuốn sách mà người ta đưa tin trên mặt báo này. Ông tác giả này, một người quen biết, nổi tiếng, có thể nói là một nhân vật quan trọng, sao chẳng có chút gì giống với Stéphane với đôi mắt xa vắng, với những cử chỉ vụng về của anh? Nhưng anh ấy làm gì vậy? Kìa bóng tối đã ngập đầy phố nhỏ.
Hélène không muốn nghĩ đến nỗi lo chính của cô, nó đã xâm chiếm lấy cô từ khi cô thấy Stéphane bước ra khỏi căn buồng. Không thể, không thể chấp nhận được nỗi lo ấy, hoặc là lập tức lao mình xuống hè phố, mắt nhắm lại, cồn hơn.
Hélène lại cầm lấy tờ báo. Nhưng cô đã bao lần cầu cứu nó đến nỗi cô như thuộc lòng từng chữ những bài báo và những bức điện đăng ở đó.
Cô bắt đầu đọc những tin vặt. Như mọi lần, đầu trang báo, bao giờ cũng là những tiếng gọi thất vọng:
“Alexandre Serguievitch Martinoff cầu xin ông bà nào biết tin tức gì về vợ tôi là Catherine Andreevna mà tôi đã để lại ở Rostov tháng 6 năm 1920, hãy viết thư về cho tòa báo.”
"Tôi có hai con là Paul và Marie, tôi xa các cháu từ tháng 5-1919, nay các cháu đã 10 tuổi và 8 tuổi; các ông bà di cư nào đã từng sống những năm ấy và những năm sau ở Kiev xin làm ơn cho tôi biết tin tức về các cháu nếu có - Anna Ivanovna Ribitnina."
Nửa cột báo như vậy. Những tiếng kêu đau đớn và lo sợ đến từ Bucarest, Belgrade, Madrid, Luân Đôn, cả từ Tunisie, Ấn Độ, in bằng cỡ chữ nhỏ cho rẻ tiền nhất, chúng lướt qua dưới mắt Hélène. Ngày nào cũng vậy, cô đã đọc những dòng tin ấy quá nhiều, nên đã quen với những tín hiệu trao đổi qua thế giới bao la giữa những con người bị ly tán khắp nơi ấy, mà ngày thường cô cũng thản nhiên bỏ qua. Nhưng chiều hôm nay, những dòng tin vặt ấy đã làm cô bàng hoàng.
"Nếu anh ấy không trở lại, cô chợt hoảng hốt nghĩ thầm, mình cũng sẽ như tất cả những con người ấy, mình cũng không biết cả địa chỉ của anh ấy nữa."
Cô nhảy ra khỏi giường. Bây giờ cô không thể chờ đợi hơn nữa. Nỗi lo âu bám riết lấy cô. Cô phải đi ra, phải đi cho khuây khỏa. Người ta gặp cô ở tất cả các quán cà phê, các nhà hàng, nơi tụ tập những người Nga ở Pigal. Cô đi từ quán này sang quán khác, như bị săn đuổi, nhưng cất tiếng cười vang. Bất chợt, cô lại lao về khách sạn của mình, hỏi xem có ai thấy Stéphane không và mỗi lần được trả lời không lại quay lại chiếc bàn cũ của mình để rồi lại chuyển sang bàn khác. Cứ thế cho đến lúc đến giờ làm việc.
Suốt đêm, cơn khủng hoảng ấy cứ bám lấy cô. Cô vừa hát xong một bản romance đã chạy sang quán cà phê Yên tâm, không hỏi ai, đưa mắt tìm ở sân thượng và bên trong quán.
Rạng sáng, Hélène không về nhà ngay như cô vẫn làm đều từ ngày rời khỏi Samovar. Cô rất sợ cái phòng của mình, cái buồng đáng ghê tởm mà mới hôm qua cô còn cảm thấy ấm áp thế, thân thương thế.
Thế rồi những người di-gan đến, cô uống rượu với họ. Vera phải đưa cô đi chỗ khác bởi vì cô nức nở điên cuồng, gục xuống bàn và kêu:
- Hãy bảo tôi là anh ấy sắp về! Anh ấy sắp về.
Từ hôm ấy, Hélène mê sảng. Không thể nói khác về cách sống ấy của cô. Cô say triền miên không ngớt. Ngay trong giấc ngủ, những dấu vết ấy cũng hiện lên. Vừa thức giác, cô đã vươn cánh tay với chai Vodka để ở đầu giường. Chỉ có cách ấy, cô mới tìm lại được những đêm hoảng loạn. Chừng nào người ta không khiêng cô bất tỉnh lên phòng cô, cô vẫn cứ uống, cứ cười đến lúc nổi cơn co giật, cứ khóc cho đến lúc nghẹn ngào, cứ hát và nguyền rủa, và hối hận, rồi lại nguyền rủa, hát và uống nữa.
Không có gì có thể ngăn cô lại trong cơn lốc điên rồ, bất kể là những lời van vỉ của Vera, hay là những phản ứng dè dặt của người chủ quán Cá Tầm, ngay cả đến thái độ khinh bỉ gần như ghê tởm của những người ở khách sạn của cô. Cô chỉ nghĩ cách làm sao có rượu. Muốn vậy, phải có tiền, mà tiền của cô đã cạn rất nhanh, kể cả các món tiền cô xin ứng trước. Cô vay Vera, cô bán váy áo, chỉ còn bộ đồ di-gan để mặc. Những món tiền xoay sở ấy chỉ đủ cho một vài tối.
Thế là cô tìm những người khách đến nhà hàng. Cô để họ vuốt ve, ôm ấp đổi lấy một chai rượu. Vừa được rượu một cái, cô lập tức kêu lên, hét lên, văng ra những câu chửi tục tằn.
Chẳng bao lâu, cô bị đuổi ra khỏi nhà hàng Cá Tầm. Nhờ sắc đẹp vẫn còn giữ lại được, nhờ giọng hát ngày càng đau đớn, ngày càng xé ruột, nhất là nhờ cái tài mời khách uống, cô vẫn dễ dàng kiếm được một hợp đồng làm việc tại một nhà hàng đêm khác. Cô chỉ ở đó được một thời gian vì đã bập vào một anh chàng có khuôn mặt giống Stéphane.
Lần này, cô để mấy ngày đi tìm việc. Cô lại đến quán Yên Tâm vì ở đây cô còn được mến mộ ít nhiều. Thế là ở đây, cô gặp lại Chouvaloff.
- A, chà, ông Maxime, Pigal vẫn không tha ông, - cô kêu lên, - nhưng ông còn việc gì làm ở đây đâu, ông tài xế không có taxi?
Cô cũng chẳng buồn nghe ông đáp ra sao và hỏi tiếp:
- Ông có thể mời tôi uống không?
- Nếu cô muốn thật thì tôi mời.
- Nếu tôi muốn ư? Ông thật lễ phép mà cũng thật ngu xuẩn. Nhưng ông giàu quá nhỉ, ông có bao nhiêu giấy bạc (cô hạ giọng) ông tiêu bạc giả hay sao? Không? Hả? Tôi biết một người sống bằng cách ấy đấy! Hắn không hề đáng ghét. Trông kìa, cái tay chơi bài trong xó kia kìa! Có lẽ tôi sẽ đến với hắn. Ở một mình chán lắm rồi. Cho tôi một cốc nữa.
Hélène gặp lại Chouvaloff ngày hôm sau và những buổi chiều sau nữa ở quán Yên Tâm. Cô hơi ngờ ngợ không hiểu ông chăm đến đây để làm gì, bởi vì hình như ông chỉ đến đây để nói chuyện với cô, mà không uống, rồi lại đi sau một hay hai giờ chuyện trò. Nhưng cô cũng không hỏi ông. Vì cớ gì mà ông đến đây thì có quan trọng gì bởi vì ông đảm bảo cho cô có rượu uống thế là đủ rồi.
Một buổi chiều, Chouvaloff hỏi cô:
- Vẫn không tin tức gì về Stéphane sao?
Hélène đang khe khẽ hát ngừng lại. Giữa hai người, từ trước đến nay, chưa ai đọc đến cái tên ấy.
- Ông biết chuyện gì sao? - Cô vừa lẩm bẩm vừa nắm lấy hai cổ tay ông.
- Không, không, tôi cũng như cô thôi. Tôi không quen cậu ấy trước khi cậu ấy đến đây. Nhưng tôi đã gặp Irtych khi cậu ấy ở Paris một vài tuần. Và nếu cô muốn gặp cậu ấy...
- A! A! Tôi hiểu rồi. - Hélène chậm rãi nói. - Không, không, ông Maxime thân yêu, bây giờ tôi không cần cả anh ta, cả ông.
Đột nhiên, cô nổi giận run lên và kêu:
- Cút đi, không thì tôi đập cái cốc này lên đầu ông, đồ mật thám, ông cũng là đồ mật thám.
Ít lâu sau đó, cô lại hát cho một nhà hàng Nga khác. Tối đầu tiên, cô được mời đến bàn của một người lai da đen nói tiếng Pháp có chen một vài tiếng lóng Mỹ. Khi Hélène đến ngồi cạnh thì người ấy đã say rồi. Sáng ra, trước mặt họ đã có một chục cái chai không. Đến lúc phải trả tiền, người ấy rút ví ra, ngơ ngác xem ví rồi làu bàu:
- Người ta ăn cắp tiền của tôi rồi! Lúc đến đây, tôi có năm nghìn phrăng kia. Chỉ có cô này.
Hélène đầu ngất ngư cười và nhìn ngón tay màu nâu của hắn như một con sâu ngọ nguậy trước mắt cô. Trong khi đó, người kia cứ nhất quyết nhắc đi nhắc lại:
- Hãy khám cô ấy! Hãy khám cô ấy!
Rồi không nghe lời phản đối của các nhân viên nhà hàng, và thấy mọi người không ai đụng đến cô, hắn chạy ra phố, gọi một viên cảnh sát.
Người chủ nhà hàng đến gần cô, bảo:
- Cô phải đến đồn cảnh sát thôi, nhưng đừng sợ vì cô chẳng làm gì nên tội.
Hélène, vẫn chưa hiểu người ta định làm gì mình, ngoan ngoãn đi vào phòng thay quần áo. Thấy một người cảnh sát đứng chờ, cô vừa lùi lại vừa lảo đảo.
- Cái gì thế này, - cô kêu lên, - không được đụng vào tôi.
Gương mặt cô bị biến dạng đi vì cơn say, vì mất ngủ và sợ hãi, nhưng người cảnh sát đã quá quen với những gương mặt này hàng đêm.
- Nào, không lôi thôi, không ồn ào gì cả. Đi! - Hắn quát.
- Nhưng tôi không làm gì cả. Tôi không...
- Việc đó không can hệ gì đến tôi. Đi!
Anh ta nắm lấy cánh tay cô. Cử chỉ thô bạo ấy, mùi đồng phục cảnh sát đẫm nước mưa làm cô ngưng lại mọi suy nghĩ và cảm tưởng. Cô để người ta lôi đi sềnh sệch.
Đến trước cửa đồn cảnh sát Rochechouart, viên cảnh sát đưa mắt tìm kẻ khiếu nại. Nhưng gã lai đen đã biến mất.
- Tiết mục này cũng kỳ đấy! - Viên cảnh sát làu nhàu.
Anh ta nhìn Hélène và ngập ngừng một giây. Nhưng có có vẻ rất ngơ ngác. Ngay cả nếu cô ta không có lỗi, cũng không nên để cô ta lang thang ban đêm – anh ta nghĩ.
Hélène leo lên một cái thang, vào một căn phòng ánh sáng lờ mờ thảm hại, nhìn thấy nhiều người mặc đồng phục vẻ mệt mỏi và buồn bã. Họ cũng chẳng buồn nhìn cô nữa, cô đi theo một người, lại xuống thang và đột nhiên vào giữa một đám lúc nhúc, lộn xộn dưới ánh đèn lù mù. Thế là thần kinh của cô phản ứng, cô hét lên một tiếng the thé.
- Lại có một con mụ nằm mê – có tiếng người cười khẩy.
- Nhưng tôi ở đâu thế này? Cuối cùng có chuyện gì xảy ra vậy? - Hélène hỏi bằng tiếng Nga.
Thê là có một tiếng khác cất lên:
- Con mụ ấy nói tiếng Chà-và !
Tiếng nói này khàn khàn, ghê tởm khiến Hélène phát sợ, cô không biết mình đã đứng bất động, không dám cựa quậy, đã bao lâu rồi. Tuy nhiên, vì người ta quên cô, thân thể cô rã rời ra, đầu gối cô khuỵu xuống và cô nhẹ nhàng lăn ra đất. Mặt đất nhầy nhụa nhưng Hélène không còn sức để gượng dậy nữa.
Từ một góc xa, đưa lại một tiếng ngáy. Gần hơn, những người đàn ông thì thầm trò chuyện. Hélène vô tình cố nghe xem họ nói những gì nhưng những tiếng lóng làm cô không hiểu được. Một cái gì đầy lông lá chạm vào rất nhanh làm cô rụt chân lại.
Trời lâu sáng quá. Hélène run lẩy bẩy trong bộ quần áo ướt. Cơn say đã tan hết, nhưng cơn mệt mỏi và nỗi lo sợ cũng tác động mạnh như rượu khiến cô không hiểu được đầu đuôi câu chuyện thế nào mà cô lại ở đây. Bông nhiên cô nảy ra ý nghĩ có thể người ta trừng phạt cô vì cách sống thường ngày của cô, bởi vì còn có pháp luật, và cô sẽ bị nhốt ở đây hàng năm.
"Nhưng người ta phải xét xử chứ, mình đã bị xét xử đâu!" - cô nghĩ thầm. Cô nén ghê tởm, cô run rẩy hỏi một tên lêu lổng nằm sát ngay bên cô:
- Đây là nhà tù ư?
- Cũng chẳng khác gì nhà tù, nếu cô không có giấy tờ.
- Nhưng tôi có giấy tờ - Hélène kêu lên.
- Thế thì vì ma túy phải không? Không ư? Hay cô đánh nhau? Cũng không ư? Cô không đánh ai? Cũng không? Vậy nêu cô không muốn nói gì thì hãy cút đi cho rảnh.
Hắn còn cười và nói vài câu tục tĩu về bộ quần áo di-gan của cô. Cô lấy hai tay che mặt và ngồi im. Lúc mười giờ, một viên cảnh sát hiện ra ở cửa. Từng người bị giam lên gặp người thư ký. Nhưng số người này quá đông. Đúng trưa rồi mà Hélène chưa được gọi tên.
- Chúng mình phải đợi ít nhất đến bốn giờ chiều, - gã lêu lổng lẩm bẩm.
Hélène rùng mình. Lại chờ đợi, lại chung chạ, lại hoàn toàn bất trắc. Cồ lên cơn sốt, và tuy dạ dày cô không biết đói vì đã bị rượu tàn phá lâu nay, cô lại cảm thấy một cơn khát ghê gớm, cháy cả cổ họng, cả mồm. Cơn nóng lan vào gáy, vào óc. Cô cảm thấy như có thể chết đến nơi...
Cánh cửa lại mở một lần nữa, viên cảnh sát ra hiệu cho Hélène. Cô lảo đảo theo hắn, cô nghe những lời khiển trách khá lịch sự của viên cẩm mà không rõ câu gì, cô cũng không hiểu ông ta nói đến sự may mắn của cô là may mắn gì, và có người đến xin cho cô ra là ai. Cô chỉ biết gật đầu và lẩm bẩm:
- Cám ơn ông, cám ơn ông.
Rồi như một con điên, ở cổng đồn cảnh sát, cô gạt một người đàn ông mặc áo choàng dường như đứng đợi cô, rồi cô chạy đến nhà Vera.
Cô kêu lên:
- Chúng nó hại tôi... chúng nó...
Rồi cô đổ vật xuống, nằm giẫy đành đạch.
★ ★ ★
Trận mưa bên ngoài gõ vào cửa kính của ngôi nhà chỉ gây tiếng động nhỏ không đáng kể trong căn phòng có ba người yên lặng đứng nhìn Hélène ngủ. Trong suốt hai mươi ngày, đây mới là giác ngủ đích thực đầu tiên của cô. Trước đây, cả ngày, cả đêm, những cơn mê sảng, những cơn sốt liên tiếp hành hạ cô.
Nathalie Borissovna ra hiệu cho hai người đàn ông. Họ theo nàng ra ngoài. Chouvaloff nói:
- Tôi nghĩ rằng lần này thực sự không còn gì đáng lo ngại nữa.
Irtych quay mặt đi, làm dấu.
- Cô ấy sắp dậy rồi, còn yếu, nhưng mà tỉnh táo - Chouvaloff tiếp. - Chính lúc cuối cùng là lúc có thể gây nguy hiểm nhất. Phải để cho cô ấy tiếp xúc lại với cuộc sống và những kỷ niệm một cách rất nhẹ nhàng. Nhưng Nathalie Borissovna, tôi cần gì phải nói với chị điều này. Đối với cô ấy, chị là người bác sĩ giỏi hơn bất cứ ai. Tôi rất yên tâm.
Gương mặt gần như kiệt sức của Nathalie tỏ vẻ hơi ngượng và như van xin:
- Anh Anton Ivanitch... - nàng bắt đầu và rụt rè nhìn anh.
- Vâng, - Irtych nói và mỉm cười gượng, - tôi sẽ không vào trước khi được chị cho phép.
Anh thở dài rồi nói với Chouvaloff:
- Anh, Maxime, anh có biết tại sao tôi lại khiến cho cô ấy sợ đến nỗi trong cơn mê sảng, cô ấy chỉ nói đến ông bố của Vassia và tôi thôi không?
Nathalie bảo hai người:
- Hai người nói chuyện với nhau, tôi đi vào trong kia.
Nàng vào ngồi ở đầu giường của em gái và vui mừng nghe hơi thở đều đặn của Hélène qua đôi môi tái nhợt. Hélène ngủ ngon, trong sáng biết bao. Lúc này, cô chẳng có gì giống với người đàn bà di-gan rú rít người ta đưa đến Neuilly một buổi chiều. Lúc ấy chính cơn sợ hãi cô đang trải qua đã là dấu hiệu để Nathalie nhận ra cô.
Nathalie Borissovna nghĩ: "Đây là đứa em ruột thịt, như là con của mình, bây giờ mình chỉ có nó mà thôi!".
Ở hai đuôi mắt của Hélène, có hai vết răn rất mới. Những cơn kích động liên tiếp trước đây hiện lên trên gương mặt của người ốm khiến cho Nathalie đã không thấy được những vết răn đó. Giờ đây, Hélène đang ngủ yên tĩnh, chúng mới lộ ra, giống như hai vết sẹo rất tinh vi. Nathalie đưa ngón tay khẽ sờ vào chúng, như muốn xóa đi những dấu vết của một trận ốm thập tử nhất sinh.
Dù ngón tay của Nathalie lướt rất nhẹ, nó cũng làm những mí mắt của Hélène rung lên. Hai mắt cồ từ từ mở ra, nhìn bất động một vài giây. Rồi dần dần, ánh sáng của trí khôn hiện lên. Nathalie nín thở. Hélène nhìn nàng một lúc lâu, cứ như là cô cần phải nhận ra từng nét một của chị mình, để rồi tập hợp chúng lại và gọi thành tên:
- Natacha!
Đó là một tiếng thở dài yếu ớt, nhưng chứa đầy một sự khám phá.
- Sao, em thân yêu, em gái yêu của chị, em cần gì?
Nhưng Hélène chỉ đáp:
- Natacha! Natacha! Natacha!
Hình như là cái tên ấy, mỗi lần đọc to hơn, có ý nghĩa hơn, đã làm sáng lên những vùng nhận thức mỗi lúc mỗi mở rộng thêm trong đầu óc của Hélène. Cô ngắm những tấm ga giường trắng, những bức tường trắng, những bàn ghế sơn trắng và, giữa quang cảnh ấy, cái bóng trắng của Nathalie:
- Đây là một bệnh viện, - cô vừa thì thầm vừa cau đôi lông mày. - Không đúng, phải không?
Rồi bằng một giọng sung sướng - cô sung sướng thấy trí nhớ mình vừa thắng được trạng thái mơ hồ - cô nói:
- Đây là nhà nghỉ, nơi chị làm y tá !
- Đúng rồi, Lénotchka.
Hélène vất vả giơ một bàn tay lên tận mắt và hoảng sợ thấy mình gầy quá. Cô hỏi:
- Em ốm quá, phải không?
- Không đâu, không đâu, em chỉ sốt thôi. Mọi người đưa em đến đây cốt để em nghỉ cho lại sức, thế thôi.
Hélène vẫn nhìn hai cổ tay tóp lại với những mạch máu nổi lên rất rõ. Cô bảo:
- Cho em chiếc gương!
- Lấy gương làm gì, em gái. Thong thả đã, đừng vội, em sẽ mệt đấy.
- Chiếc gương! - Hélène gắt gỏng nhắc lại khiến Nathalie phải làm theo ngay. Nhưng trước khi đưa cho cô, Nathalie còn ngần ngừ:
- Đừng sợ, cơn hiểm nghèo nhất đã qua rồi, em ạ.
Hélène ngơ ngác một giây trước khuôn mặt đột ngột hiện lên trong gương. Không phải mặt cô. Cô sốt ruột giật chiếc gương từ tay chị, và hình như cô ngờ bị đánh lừa, ngắm cái gương rất tỉ mỉ. Rồi cô cúi mình xuống mặt gương. Trong gương là hình ảnh lạ kỳ của một người con trai với đôi má hõm và tái, đôi mắt trũng sâu trong quầng tím bầm, đôi lưỡng quyền quá xa nhau và nhất là những túm tóc ngắn dựng đứng bên trên vầng trán.
- Nhưng tôi đã làm sao thế này? Ai đã làm gì tôi thế này? - Cô kêu lên.
- Em hãy bình tĩnh lại, em gái, trông em khác thế là vì người ta phải cạo tóc em đi. Em phải hiểu rằng cũng như mỗi lần em bị bệnh chấy rận, người ta phải cạo tóc đi, em nhớ chứ? Không sao cả đâu, rồi tóc sẽ mọc lại đẹp hơn. Bây giờ đưa lại chị cái gương đi.
- Thong thả đã, thong thả đã. Trông em giống ai nhỉ? Đừng quấy rối em, khó nhớ quá. À phải, em biết rồi, giống Vassia!
Hélène buông một tiếng rên rỉ:
- Em không muốn nhìn thấy ông Alexeï Dmitritch với tập báo của ông nữa. Ông ấy không nhận ra em, nhưng thế lại càng tệ hơn nữa. Natacha, chị Natacha, đừng để ông ấy đến. Đuổi ông ấy đi.
Nathalie tưởng rằng cơn mê sảng lại tái diễn, nàng đưa tay với chiếc khăn mặt ướp đá vẫn dùng để đắp trán Hélène trong những cơn khủng hoảng. Nhưng Hélène giữ lấy thắt lưng nàng, khẽ bảo:
- Không, không, ông ấy sẽ không đến. Em đang ở nhà nghỉ, còn ông ấy thì đến quán cà phê Yên Tâm. Quán cà phê Yên Tâm...
Cô không nói gì nữa, lắng vào một cơn suy nghĩ khiến nét mặt cô cau có lại. Mỗi khi Natacha lo lắng sợ em nghĩ ngợi nhiều không có lợi, tìm cách giúp em khuây khỏa bằng một câu hỏi hay một cái vuốt ve thì Hélène lại lắc lắc cái đầu như đầu con trai ốm để bảo nàng im lặng. Thỉnh thoảng, một vài tiếng, một vài từ rất khẽ bật ra cho thấy cô đang cố gắng nhớ lại điều gì: Vera... chai rượu... bài hát... Stéphane... cảnh sát...
Nhưng không có từ nào âm vang sâu xa trong đầu cô hơn từ nào. Chúng mới chỉ là những yếu tố của một hình ảnh còn mờ tối. Cuối cùng, Hélène hoảng sợ nói:
- Pigal!
Cô quay đôi mắt ngơ ngác về phía Nathalie. Nhưng Nathalie đang ôm cô rất chặt trong hai cánh tay; nàng nói với cô với một niềm tin tha thiết: "Chuyện ấy hết rồi, Lénotchka!" khiến Hélène khe khẽ gật đầu và lại chìm vào trong giấc ngủ.
✦ ✦ ✦
Những ngày tiếp theo là những ngày êm đềm nhất trong cuộc sống của Hélène. Cô để cho cơ thể mình được sống thoải mái, cả ngày cô lấy làm sung sướng được thở, được ăn, được cảm thấy dòng máu lưu thông trong cơ thể mình.
Đợt nghỉ sung sướng này kéo dài suốt thời kỳ lại sức đầu tiên. Thế rồi, một buổi sáng, Chouvaloff đến thăm cô:
- Tồi vui sướng được thấy cồ đã hoàn toàn thoát hiểm. Đúng là chúng ta đã quá may mắn, Hélène Borissovna ạ. Bệnh sốt đau màng óc của cô bình thường không dễ thoát khỏi thế đâu. Tôi nghĩ chẳng bao lâu nữa, cô lại khỏe như thường. Cô hài lòng chứ?
Hélène không đáp, cô không dám nhìn thẳng vào đôi mắt trong và thân mật của ông bác sĩ.
"Thế mà mình dám ăn nói suồng sã với bác ấy, lại đòi bác ấy phải cho uống rượu." Cô vừa sợ, vừa buồn, thầm nghĩ.
Trông cô cũng biết cô đang dằn vặt mình thế nào. Chouvaloff, sau khi hỏi mãi cô cũng không nói gì, bèn ra đi.
Irtych đang chờ ông ở ngoài hỏi:
- Thế nào, Maxime?
Chouvaloff không thể không giật mình ngạc nhiên trước vẻ thất sắc của Anton, con người ngày thường cực kỳ bình tĩnh thế.
- Đúng! Anh thấy tôi hôm nay như một đứa trẻ con, phải không? - Irtych hỏi. - Tôi đã mất lòng tin rồi. Chừng nào cô ấy còn ở đó uống rượu say và điên dại thì... việc cô ấy nói hay không nói gì...
- Cậu muốn gì hơn? Với tôi, cô ấy còn chưa chịu được sự có mặt của tôi nữa là. Phải chờ thêm nữa.
- Được, được, Maxime. Anh giỏi hơn tôi nhiều về chuyện sức khỏe, nhưng dù sao thì trước một tuần nứa, Hélène cũng phải quyết định. Tất cả công việc của tôi đều phải dừng lại để chờ một câu nói của cô ấy. Anh Maxime ạ, anh hãy nói với chị cô ấy, anh hãy nói. Tôi, tôi không thể nói được nữa.
★ ★ ★
Tất cả lòng yêu mến và sự dịu dàng của Nathalie đã không đem lại được cho trái tim khắc khoải của Hélène nỗi yên tâm – một nỗi yên tâm có thể làm cho đôi mắt cô tĩnh lặng và sáng lên. Ngược lại giờ đây, một nỗi lo đang dằn vặt cô, không để cô yên. Cơ thể cô đang phục hồi lại mỗi ngày. Sức lực và nhựa sống tăng thêm. Song cô lại không có được tự do và bình thản để chịu đựng những ý nghĩ đang hành hạ.
Một hôm, trời nắng nhẹ cuối mùa, Nathalie đề nghị mặc quần áo cho Hélène để cô đi dạo buổi đầu tiên, Hélène tái mặt:
- Em phải đi ngay khỏi đây ư?
- Sao em lại nghĩ thê, em Léna. Em còn phải tĩnh dưỡng một hai tháng nữa kia mà! Bác sĩ Chouvaloff đã bảo chị thế, mà chính em cũng cảm thấy thế kia mà !
Hélène ngập ngừng một lát, nhưng dường như cô nghĩ rằng nếu mình cứ im lặng thì mình sẽ lập tức trở thành đồng lõa với một việc gì đó mà mình không muốn. Cô nhẹ nhàng nói với chị:
- Chị Natacha! Em biết rằng tiền viện phí ở đây đắt lắm. Để trả viện phí cho Fédor, em đã phải đến Pigal. Vậy ai sẽ trả viện phí cho em? Không thể là chị, chị Natacha khốn khổ của em, cũng không thể là bác Chouvaloff. Vậy thì chính là... anh ta, Irtych phải không?
Hélène đã đọc rất khẽ và rất khó khăn cái tên của người đàn ông ấy, người mà bất cứ ở đâu, trong những tháng vừa qua, cô cũng thấy ảnh hưởng của anh ta: đằng sau Stéphane, đằng sau Chouvaloff, và cuối cùng, đằng sau chị gái cô.
Nathalie khe khẽ cúi đầu.
Hélène im lặng một lúc lâu, cứ như là, trong thâm tâm, cô muốn tìm một câu trả lời khác và kỳ lạ hơn. Cô nói tiếp, giọng trầm trầm:
- Chị ơi, em không muốn nghĩ đến chuyện ấy nữa. Cho đến bây giờ, em không muốn chịu trách nhiệm về cái gì cả, và hơn nữa, từ hôm bác Chouvaloff đến thăm, đáng lẽ em phải..., nhưng cần gì. Chị Natacha, ngay từ hôm nay, em sẽ dọn lên buồng chị. Lúc nào chị cũng vẫn có căn buồng ở trên kia, phải không? Em nghĩ thế. Và, rồi em sẽ tìm công việc. Bỏi vì, cuối cùng – cô nói to hơn – tôi có quyền gì mà nhận cứu trợ của Irtych? Nhưng sao chị lại nhận lời để anh ta đưa em vào đây? Em nghìn lần muốn vào một nhà thương làm phúc hơn là phải chịu món nợ này.
- Léna, em hãy nghe chị đã, chị van em, em đừng nổi nóng - Nathalie nói. - Chị muốn để thong thả sẽ nói với em tất cả các chuyện này khi em đã khỏe hơn. Nhưng vì em đã nói thì chị phải nói. Anton Ivanitch chăm sóc em bởi vì... em hãy để chị nói đã... đừng sốt ruột, là tại vì thế này, em ơi... Anh ấy yêu em, anh ấy muốn cưới em.
- Và chị có thể nghĩ rằng...
- Chị không làm gì cả, không nghĩ gì cả. Chị chỉ nghĩ là chị sẽ săn sóc, trông nom em, là sau bao lâu xa cách, giờ em phải ở với chị.
- Thế ý kiến chị bây giờ là thế nào?
- Lénotchka, em muốn gì vậy, chính tự em phải...
- Em cám ơn chị đã để cho em được tự do hành động, ít nhất là về việc ấy, - Hélène nói có vẻ mỉa mai.
Rồi, chợt nhận thấy trong đôi mắt chị gái một nỗi đau buồn vô hạn, cô nắm lấy hai tay chị, xiết chặt tha thiết và nói với một giọng buồn não ruột, nước mắt lưng tròng:
- Chị Natacha, chị hãy tha lỗi cho em. Lúc nào chị cũng quá tốt với em và chị là người duy nhất trên đời này mà, ở bên chị, em không cảm thấy bị hạ thấp, chị yêu em đến thế còn gì. Chỉ có điều chị không thể hiểu rằng việc để cho một gã mu-gích giàu sổi và tính khí đồng bóng đeo đuổi mình là một việc không thể chấp nhận được, vì đó không có gì khác hơn là một chuyện bốc đồng mà thôi. Chị chưa bao giờ bị theo dõi liên tục; chị chưa thấy một người đàn ông mình yêu lại ở bên mình theo lệnh một người khác, và cuối cùng người ấy không nhặt lấy chị như một con chó ốm chỉ là để mua chị với một giá rẻ.
"Irtych đã theo dõi em từng bước một, anh ta đoán rằng cuối cùng em sẽ không thoát được cảnh khốn khổ... Thế rồi anh ta buộc em phải cưới anh ta và hiện ra như một vị cứu tinh để bắt em trả giá suốt cả cuộc đời em... Chị Natacha, chị, em đoan chắc với chị rằng em không còn kiêu ngạo nữa. Đã hết hẳn rồi. Nhưng, nếu như vậy, thà rằng em quay lại Pigal còn hơn. Chị cần trả lời anh ta phải không? Đó chính là cách anh ta thường bắt người khác phải hành động. Chị hãy viết cho anh ta bức thư, cho người cầm ngay đến, cho anh ta biết. Chừng nào chị chưa làm việc này thì em chưa yên được."
❀ ❀ ❀
Chiều hôm ấy, Hélène chuẩn bị mang quần áo lên gian phòng xép của chị gái thì Nathalie vào, vẻ rất xúc động. Cô hiểu ngay ý chị mình và thoạt tiên định từ chối. Nhưng sau một lát tự kiềm chế, cô nói:
- Em không thể từ chối anh ta, nhưng chị hãy ở lại với em, Natacha.
Rồi cô vội vàng lấy cái khăn san trùm đầu che mái tóc đang mọc lởm chởm. Dưới cái khăn quê mùa ấy, và với những nét đẹp giản dị, cô có một gương mặt rất Nga khiến Irtych bối rối. Anh khẽ thốt lên:
- Cứ thế này cô lại rất xinh và lại quen quen.
- Mời anh ngồi, anh Anton Ivanitch, - Hélène nói.
Cô ngạc nhiên không hiểu sao mình bình tĩnh vậy. Trong khi chờ đợi Irtych, cô như co hết các móng vuốt lại chuẩn bị đón một kẻ thù nguy hiểm. Nhưng lúc này đây, trông thấy anh thì bao nhiêu sợ hãi và hằn thù lại nhường chỗ cho một nỗi yên tâm kỳ lạ. Cô lờ mờ nhớ lại rằng hai lần duy nhất mà cô đứng trước mặt anh, cô cũng có cảm giác như vậy.
Một con người với cái vẻ tự nhiên như thế, giản dị như thế, với đôi vai như đượm mùi hương đất đai, không thể muốn làm nhục mình. Hélène thầm nghĩ. Người ấy không thể có những tình cảm phức tạp như thế cùng một lúc, vừa thấp hèn lại vừa tinh tế được. Cái gì anh ấy muốn, anh ấy bộc lộ thẳng thừng, không bóng gió, không quanh co. Anh ấy chỉ nhầm. Mình không thể ghét anh ấy được.
Qua những cử chỉ của Irtych chỉ trong mấy giây, tất cả những ý nghĩ trên đây và những ý nghĩ khác nữa đã nảy ra trong đầu Hélène. Cô cũng cảm thấy trong đó có cả niềm tin cậy, sự bình yên, sự thoải mái và tình thân thiện.
Nghe Hélène mời, Irtych đã lấy một cái ghế, khe khẽ nhấc lên và đặt xuống như muốn thử xem nó có vững không. Rồi anh thong thả ngồi, chắc chắn. Mỗi cử chỉ của anh cho thấy tính thận trọng nhưng không nhỏ nhen, tính tiết kiệm tiềm ẩn để dành những dự trữ lớn cho khi cần thiết.
Dù sẵn sức lực vạm vỡ, chiều hôm ấy, Anton vẫn không giấu nổi một chút rụt rè, nhưng nó làm dịu bớt con mắt sắc của anh. Cái vẻ rụt rè ấy làm cho Hélène thấy yên tâm và yên tĩnh. Cô thấy rằng mặc dầu tất cả sự giúp đỡ của anh đối với cô, mặc dầu anh đã kéo cô ra khỏi cái hố sâu bẩn thỉu kia, cô vẫn mạnh hơn anh bởi vì có lẽ đây là lần đầu tiên trong đời anh, anh phải đến đây với tư cách một kẻ cầu xin điều đã từng bị từ chối.
- Cô Hélène Borissovna, tôi không biết cách khéo léo nói ra những điều tôi cảm nghĩ - Irtych bắt đầu câu chuyện - và chắc là tôi cũng sẽ không nói với cô điều ấy nếu tôi không nhận được bức thư của chị cô. Tôi nghĩ rằng việc cô tự nói ra với tôi lời từ chối lại là một vinh dự cho tôi. Xem cách cô đã cư xử với tôi, tôi biết rằng cô không chỉ từ chối một tình bạn tốt với tôi - điều này không ai có thể đòi hỏi ở ai được - mà cô còn ghê tởm và khinh bỉ tôi. Và điều này tôi không muốn chút nào vì cả cô, cả tôi đều không đáng phải thế.
Anh nghỉ một chút, đưa mu bàn tay quệt lên đôi môi khô khốc, ngồi vững trên chiếc ghế và tiếp:
- Tôi đã nghĩ đến cô rất nhiều, cô Hélène Borissovna ạ, và tôi cho rằng tôi có lý về mọi mặt, chỉ trừ một điều: tôi đã sai lầm khi không có mặt ở bên cô. Vì thế cô cho rằng tôi đã thuê tiền để người khác báo cho tôi biết cái ngày tôi có thể hái được cô như một trái táo mùa thu. Vâng, đây là vấn đề tôi phải giải thích. Từ buổi đầu gặp cô, tôi đã nói rằng tôi rất thích cô. Tôi đã nói ngay với cô. Tại sao? Hừ! Tại sao anh chàng Anton Ivanitch kia chưa hề bao giờ nghĩ đến việc lấy vợ, mà vừa gặp cô đã muốn lấy cô? Vâng, tôi xin nói thành thực. Ở bên nước nhà, tôi không bao giờ giao du với những người thuộc các tầng lớp như cô. Họ đã tiếp đón tôi tử tế khi tôi rất giàu, nhưng tôi, tôi không thích thế. Tôi biết sự đời và tôi muốn ở đúng vị trí của tôi. Chỉ có điều là bây giờ vị trí của tôi không còn ở tầng lớp mà tôi xuất thân, cũng không ở các tầng lớp khác, chẳng ở chỗ này, mà cũng chẳng ở chỗ kia, cô thấy không? Vâng, vậy thì khi Maxime đưa tôi đến chỗ cô vào cái đêm đầu năm mới, tôi nghĩ thầm: "Chẳng còn nước Nga nữa, chẳng còn tầng lớp nữa, ta đến xem sao?" Và dù trong đầu tôi ý tưởng ban đầu chỉ mong manh như sợi chỉ, ai ngờ đâu nó lại trở nên vững chắc như một dây thừng và không dễ gì cắt đứt được.
"Tôi rất biết là cô đã đối xử với tôi như với người mu-gích. Chỉ có điều là tôi cũng thấy rằng gã mu-gích ấy là cái gì đó rất cần cho cô khi tính kiêu ngạo của cô hết đi. Bởi vì tính kiêu ngạo của cô rất mạnh, Hélène Borissovna, cho phép tôi được nói thế, nó không xấu, không độc ác, nó như tính của một con ngựa còn non, còn nóng hổi. Nhưng tôi biết rằng cuộc đời sẽ thắng dây cương cho nó. Nhưng điều tôi không dự kiến được, đó là không ngờ dây cương lại nghiệt ngã thế, và nó làm cho cô đau đớn đến nỗi sau đó, cô phải lấy làm xấu hổ. Cô đừng trả lời tôi vội.
"Vâng. Tôi đã thấy điều đó khi tôi đến Samovar cùng Stéphane Matveïtch. Ngày hôm ấy, tôi lấy làm đau đớn cho cô. Cậu ấy là một kẻ đi hút hồn người khác. Cậu ấy chiếm lấy cái cậu ấy cần rồi bỏ đi. Phải rất vững vàng mới có thể yêu cậu ấy mà không nguy hiểm. Nhưng tôi có thể làm gì khác được nếu không ra đi? Trước hết, tôi cần phải giàu. Tôi mà nghèo thì chẳng khác gì chiếc ghi-ta không dây. Rồi thì tôi nghĩ rằng tôi cùng dự vào cuộc sống mà cô đang sống lúc ấy, chắc chắn tôi sẽ bị cô ghét. Đó là điều tôi đã lầm. Lẽ ra tôi phải ở lại và cho cô thấy rằng tôi cũng chẳng thánh thần hơn ai, và như vậy, cô sẽ không xấu hổ về tôi, và khi cô mệt mỏi gần muốn chết, cô sẽ làm hiệu gọi tôi. Đáng lẽ phải làm thế, tôi lại làm như cho người theo dõi cô và lặng lẽ giật dây. Tôi đã không muốn làm tổn thương đến lòng kiêu hãnh của cô, nhưng trái lại đã xúc phạm cô theo cung cách mu-gích. Nhưng Hélène Borissovna ạ, không bao giờ tôi có ý nghĩ xấu về cô. Bây giờ thì mọi việc đã qua rồi.”
Trong suốt cuộc trò chuyện dài dòng ấy, Irtych không hề thay đổi thái độ: hai bàn tay tựa trên đầu gối, cong người lại dựa vào lưng ghế không hề cựa quậy. Anh nói bằng một giọng đều đều, gần như hát.
Hélène không hề có ý định ngắt lời anh một lần, và khi anh nói xong, cô thoáng có ý tiếc không được nghe anh nói nữa. Tiếng nói ấy đã ngăn lại trong cô những gì trăn trở, cứ như là qua những làn sóng trong thinh không, cô nghe thấy những tiếng nói khôn ngoan từ mặt đất, bầu trời.
Yên lặng một lúc lâu. Nathalie đứng xa ở phía cửa sổ muốn biến vào sau những tấm rèm, không muốn sự có mặt của mình gây trở ngại cho những gì sẽ diễn ra.
- Anh Anton Ivanitch, anh đến như vậy là rất tốt - cuối cùng Hélène đã lên tiếng. - Tôi cảm ơn anh rất nhiều về sự chăm sóc của anh và tôi rất hài lòng vì hôm nay đã cảm nhận được điều đó.
Rồi cô im lặng, nhưng anh vẫn đứng như còn đợi một điều gì nữa. Khi tin chắc rằng cô không nói thêm điều gì nữa, anh đưa mắt nhìn ra chỗ khác, và bằng một giọng nói không âm sắc, hạ thấp giọng như nói về một điều không đáng kể.
- Thế bây giờ đã rõ mọi chuyện, cô vẫn không thay đổi ý kiến ư?
Hélène chợt cảm thấy vô cùng chán nản. Cô chỉ còn muốn một điều là con người ấy hãy đi đi, càng nhanh càng tốt, con người đã đem lại cho cô một nỗi yên tâm sâu sắc, nhưng đồng thời đòi hỏi cô phải quyết định một điều làm thay đổi hoàn toàn cuộc sống của cô.
Nhưng anh vẫn ngoan cố, tuy mặt ngoài tỏ ra bình tĩnh, anh nói tiếp:
- Tôi sẽ làm mọi điều cô muốn, Hélène Borissovna. Nếu cô thích, chúng ta sẽ ở lại Paris, tôi sẽ có thể mua đất và xây nhà, đó là công việc mà tôi rất thạo. Hoặc là chúng ta có thể quay lên phía Bắc. Tôi đã có một dự án: mở một trang trại lớn. Tôi biết khai thác đất đai và nuôi súc vật. Và bốn bề xung quanh, tôi sẽ tập hợp những thanh niên đã làm việc với tôi. Sẽ lập một làng Nga đích thực!
- Không, không, tôi chẳng muốn gì hết, - Hélène gần như hét lên. - Tôi không muốn nhìn thấy mọi người, cũng chẳng muốn sống với họ. Tôi không muốn nhìn thấy người nào trước mặt mình.
Irtych gật đầu và trong giây lát, dường như anh cũng cảm thấy bất lực như Hélène:
- Con quỷ vẫn ám cô đã thả cô ra rồi, nhưng con quỷ khác đã thay vào chỗ nó, mà còn tệ hơn - anh nói. - Không ai có thể làm gì được với nó, con quỷ mới ấy. Thế bây giờ cô sẽ làm gì?
- Ôi, điều ấy có gì quan trọng đâu. Thiên hạ rất cần đầy tớ, tôi sẽ tìm được một chân.
- Vâng vâng, tôi hiểu, cô muốn chôn quá khứ thật sâu. Đúng là một việc cần làm. Vậy thì chúc cô may mắn, Hélène Borissovna. Tôi không nói là cô đã bẻ tôi gãy làm đôi, tôi không phải là thứ gỗ đó, nhưng dù sao...
Anh chìa tay, định bắt tay từ biệt, cử chỉ ấy bỗng làm anh nhớ đến một việc mà anh cần chuyển cho cô.
- Suýt nữa, tôi quên mất, - anh nói. - Ông Maxime, biết rằng cô ngại gặp ông ấy, có nhờ tôi gửi lời chào tạm biệt cô.
- Ông Chouvaloff ra đi ư? - Hélène bất giác thốt lên.
- Và đi rất xa, sang tận châu Phi, bên dưới xích đạo. Chính phủ Pháp đã dành một số chỗ làm việc cho các thầy thuốc Nga. Năm năm ở lại đó. Ông ấy không còn sự lựa chọn nào nữa.
- Ôi! Thật may mắn cho ông ấy quá!
Câu nói đó của Hélène như ngọn lửa đột ngột đốt Anton bỏng rát. Anh lẩm bẩm:
- Thế mà mình không nghĩ ra việc ấy!
Irtych lại gần Hélène và nói to, giọng cương quyết:
- Điều này sẽ giải quyết hết mọi việc, Hélène Borissovna. Tôi sẽ thanh toán ngay mọi việc ở đây, tôi sẽ mở một công trình khai thác bên đó, bất cứ về mặt nào, cô đừng sợ gì hết. Trong tay tôi công việc sẽ tự nó tiến hành. Không có một gương mặt da trắng nào ở cách nơi đó hàng trăm dặm xung quanh. Cô sẽ ở trên một hòn đảo hoang vắng.
- Sao? Anh sẽ làm... anh sẽ đi... không có gì buộc anh phải thế...
- Ôi, chừng nào chưa phải là trên đất Nga, thì tôi cắm cái gậy của tôi vào đâu chẳng thế, có gì là quan trọng. Vậy thì Hélène Borissovna, cô nghĩ sao?
Hélène nhắm hai mắt lại. Cô nhìn thấy những khoảng không rộng lớn hoang vu, những con người chất phác và man rợ, một vầng mặt trời đốt cháy tất cả: cỏ cây, đất đai, kỷ niệm... và Irtych bình lặng, mạnh mẽ, thoải mái và, đối với cô...
Hélène nghĩ đến Pigal với những cuộc vật lộn mới đang đợi cô, rồi lại nghĩ đến những miền đất nóng bỏng và hoang vắng kia. Một cảm giác run rẩy nhẹ nhàng xâm chiếm lấy cô.
❀ ❀ ❀