Đêm Của Những Ông Hoàng

Lượt đọc: 30 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Iii

❊ ❊ ❊

Không biết Terhane được thông báo bằng cách nào, mà từ cái phòng xép nơi hắn thường xuyên tự giam mình ấy, bất cứ việc gì xảy ra ban đêm ở nhà hàng đều không thể lọt qua được mắt hắn. Vì thế cho nên, khi hắn bảo Litchourine gọi Hélène hôm sau đến gặp hắn, viên cựu đại tá hiểu ngay là về chuyện Hélène đã gây ra. Litchourine báo cho Hélène biết và dặn:

- Nhất là cô chớ bối rối. Cần phải cho hắn cảm thấy cô là một nữ quý tộc, còn hắn chỉ là một tên thô lỗ tầm thường. Hắn rất tự hào là thuê mướn được chúng ta và chúng ta càng làm nhục hắn, hắn càng bằng lòng: như vậy hắn càng thấy rõ sự khác nhau giữa chúng ta và hắn.

Hélène không cần đến những lời khuyên ấy. Ngay khi Terhane chưa kịp nói gì, cô đã bảo:

- Nếu là để nói về tên đểu cáng đêm qua thì vô ích. Tôi sẽ không bao giờ cho ai sờ vào người tôi trái với ý tôi. Hãy học điều ấy một lần là đủ.

Gã chủ người Cận Đông cao lớn kia nghe cô nói thế bèn lim dim đôi mắt như người đang được vuốt ve, lúc ấy hai con mắt hắn chỉ còn như một sợi chỉ bằng nhung.

- Mời cô hãy ngồi xuống và nghe tôi nói, cô bé thân mến - Terhane nói. - Tôi biết ngay là tôi đang có chuyện với ai rồi, và tôi không đòi cô phải làm cái việc không thể làm được. Ở những nhà hàng khác, người ta đòi các nữ ca sĩ phải làm bất cứ điều gì khách muốn, ngay cả sau giờ đóng cửa. Tôi thì không thế. Trái lại. Đấy là kiểu buôn bán bất lương. Người khách, khi đã đạt được ý muốn, không ham trở lại nhà hàng nữa. Cô thấy rõ là tôi rất hiểu việc đời. Chỉ có điều là đừng làm mất lòng khách. Tất cả là ở cách làm. Hãy để cho ông ta hy vọng, hãy lịch sự, ông ta sẽ đến và sẽ uống. Đó là điều quan trọng. Những chai rượu, những chai rượu, những bó hoa, những con búp bê, những điếu thuốc lá đắt tiền. Họ ngu xuẩn đến nỗi họ không dám từ chối điều gì đối với một người đàn bà. Nhất là khi người đàn bà ấy lại là một nữ quý tộc. Cô thấy không, có gì hại cho nhà nữ quý tộc khi người ta ôm hôn cánh tay hoặc bả vai mình nếu mình vẫn là nhà nữ quý tộc?

Thấy Hélène lắc đầu ra vẻ từ chối, hắn nắm lấy cổ tay cô và nói với giọng quả quyết hơn nữa:

- Cô hãy nghĩ thêm một chút nữa đi. Tôi chưa nói đến món tiền mà tôi đã ứng cho cô do hoàn toàn tin cậy, món tiền ấy cô không thể trả cho tôi bằng cách nào khác. Nhưng những chai rượu mà cô mời khách uống, chúng giúp cho các bạn của cô có cái để sống đấy! Đấy, tôi biết rõ là cô chưa nghĩ đến điều này. Này nhé, cô thử nghĩ xem: nếu tất cả mọi người đều hành động như cô, chẳng mấy chốc tôi buộc phải thải bớt nhân viên. Thế thì những người khốn khổ ấy ra sao? Tất cả đều là những người rất tốt: ông đại tá, ông hoàng, các ông sĩ quan và, trong đoàn dân ca, tôi lại có cả một ông Chưởng lý của hoàng gia, một vị giáo sư, một tùy viên sứ quán (hắn vừa liệt kê vừa nhắm cả hai mắt lại). Thế đây! Tôi chắc rằng cô đã hiểu tôi, cô bé thân yêu ạ.

Nghe Terhane nói, Hélène chợt rùng mình ghê tởm. Nhưng cô thấy trong lòng cô không có điều gì chống lại cả.

"Hắn có lý, hắn có lý - Hélène nhắc thầm - mình đang mắc nợ hắn cái gì đó."

Ý nghĩ phải chịu ơn con người này thật không thể tha thứ được. Như vậy là phải lật ngược lại tình hình với bất cứ giá nào!

Hélène đứng lên và nói:

- Tôi hiểu rồi.

Còn lại một mình, Terhane mơ màng một lát với nụ cười tinh vi lạ kỳ trên đôi môi dày cộp, rồi lại trở lại với những con tính của hắn.

Samuel đang lo lắng chờ cuộc nói chuyện xong xem sao, rất mừng thấy gương mặt cô vẫn điềm tĩnh khi ra khỏi cái "hang" của Terhane, nhưng nhìn kỹ cô, anh thấy lo vì cô đang quyết định một việc gì không thể thay đổi được. Và như là một điều ám ảnh.

Hélène nói với Ludmilla:

- Bạn thân mến, tối qua tôi thật ngớ ngẩn. Tại vì chưa quen. Bây giờ tôi muốn được khách mời càng nhiều càng tốt. Tôi rất mong cô và ông hoàng Rizine quên câu chuyện kỳ cục ấy và giúp cho tôi được làm việc.

Cô khép nhẹ hai hàm răng và nhắc lại:

- Làm việc!

Rồi cô đến gần Lanskoï:

- Đại úy, hôm qua anh đã sai, nhưng từ hôm nay, anh đúng. Chúng ta không mắc nợ nhau và tôi mong anh coi như không có tôi.

Hélène nhanh chóng trở thành "người tiêu thụ" sang nhất: của nhà hàng Samovar. Nhan sắc của cô, dáng vẻ vô tư lự vừa dữ dằn, vừa thất vọng của cô rất được ngưỡng mộ. Cô đã học được cách đổ sâm banh vào cái xô đựng đá rất kín đáo, có thể nói là rất chểnh mảng sau khi cho mở nút một chai:

- Loại vang này tôi không thích, tôi thích thứ ít ngọt hơn.

Vì những nét mặt căng thẳng của cô luôn luôn giữ được vẻ quý phái giản dị vốn có, vì cô diễn đạt được bằng tiếng Pháp, tiếng Anh và tiếng Italia một cách dễ dàng và trong sáng, cô đã làm cho những người khách ít có dịp ngồi cùng cô rất nể sợ cô. Cho nên cô muốn ở họ điều gì, rất hiếm khi cô không đạt được.

Đôi khi, những đôi môi đẫm rượu hôn lên cổ cô, đôi khi những bàn tay không kiềm chế được đã ép vào người cô. Tuy nhiên điều làm cô khó chịu nhất là buộc phải nói chuyện với những kẻ không quen biết mà ánh đèn của khu Montmartre đã cuốn hút về đây từ khắp các xó xỉnh của thế giới này. Cô biết rõ họ không đến Samovar như đến bất cứ hộp đêm nào chỉ để uống và vui chơi. Chắc chắn họ còn bị hấp dẫn bởi những đồ trang trí, những bộ quần áo, những bài hát mới lạ, nhưng cũng còn bởi lòng ham muốn được thâm nhập, dù chỉ trong một vài giờ, vào cảnh cùng quẫn của những người di cư, và để thêm vào cái thú nhàm chán của một đêm say rượu, một cái thú khác, bí hiểm hơn, mập mờ hơn, đồi trụy hơn, nó giống như một sự chinh phục, một sự cưỡng dâm.

Và hơn cả những cái hôn, Hélène đau khổ về những câu hỏi, mãi mãi là những câu hỏi cũ, về quá khứ, về nền giáo dục, về gia đình của cô, về cái cách của cô đã sa vào một nhà hàng như thế này. Bấy giờ cô hiểu ra rằng cái mà cô đem bán ở Samovar, không chỉ là rượu sâm banh, những bài hát, hoặc cả đến một phần thân thể của cô nữa, mà còn là và nhất là cái chất quý tộc và nỗi đau khổ của cô.

Và những bản nhạc kia đang đập vào thần kinh, vào các giác quan, những điệu hát di-gan dâm dật, ám ảnh! Và cái tình huống bị buộc phải uống rượu cứ gây cho Hélène một cảm giác choáng váng buồn bã, bởi vì cô vẫn còn chưa muốn đẩy tình trạng ấy đến tận ngưỡng cửa của sự lãng quên!

Chỉ có những lúc Vera Petrovna hát mới mang lại cho cô những phút nghỉ ngơi. Gương mặt và giọng hát tuyệt mỹ ấy không gì có thể làm biến chất được. Gương mặt và giọng hát ấy dường như thuộc về một bậc nữ tu đã tiến gần tới mức thần thánh mà những kẻ uống rượu ở nhà hàng Samovar đều tìm đến một cách mù quáng và thấp hèn. Và những bài hát kia chứa đầy thứ thuốc độc gì vậy! Đó chỉ là những lời ca và nhịp điệu man rợ đầy những tiếng nức nở và tiếng kêu dâm dật.

Nhưng khi cô rời khỏi Samovar, Hélène phải trở về một căn phòng khốn nạn trong một khách sạn dành cho sự dâm ô nhớp nhúa nhất. Thường thường, buổi sáng, khi đi qua quán cà phê Yên tâm hay các quán rượu cùng loại ấy, cô thèm được vào đó để trà trộn với những người Nga đến đó, và để uống, uống không phải vì làm nghề mà uống hoàn toàn theo ý mình và vì thích thú. Lúc ấy, cô mới sực nhớ là mình không có tiền. Kiếm được bao nhiêu, cô phải để trả cho Terhane, cô luôn luôn bị ám ảnh vì ý nghĩ hoàn lại tiền cho Terhane càng sớm càng tốt.

Sự ganh ghét lúc ban đầu của các bạn trong dàn đồng ca bầy giờ không còn hung hăng nữa, nhưng vẫn tồn tại ngâm ngầm và ngụy trang dưới hình thức xã giao lạnh nhạt. Nhưng nữ ca sĩ Nadia, người ngồi bên cạnh cô khi đồng ca thì thù cô ra mặt.

Người đàn bà gầy gò này, nhiều tuổi hơn các bạn đồng nghiệp một chút, nét mặt đã tàn và vô duyên luôn luôn mang một vẻ hoảng hốt kỳ lạ. Giọng của chị ta chuẩn nhưng yếu và run run khiến cho Hélène cảm thấy thương mà không mến, cũng không nhiệt tình, cứ như đứng trước một căn bệnh đáng sợ. Chỉ có cảm giác này mới ngăn cô không quật lại những câu nói đùa cay độc và những lời cạnh khóe hiểm ác về việc cô được khách mến mộ mà tối nào Nadia cũng chĩa vào cô.

Cuộc cãi lộn công khai cuối cùng đã xảy ra sau một buổi tối mà Hélène đã ngồi cùng bàn với hai ông già Mỹ say đến ngã lăn quay ra nhưng vẫn giữ tư cách cao quý. Nghe cô nói tiếng Anh, hai ông rất xúc động và khi ra đi đã gần như ép buộc ấn vào tay cô một gói đô-la. Đây là lần đầu tiên cô nhận puốc-boa một cách trắng trợn như vậy. Gói tiền như đốt bỏng bàn tay cô, nó được trao lại cho Rizine theo qui định, cô thấy nhẹ cả người. Đến giờ chia phần, ông hoàng Rizine bảo:

- Số tiền đô-la Mỹ, tôi cho vào quỹ để đổi, ngày mai chúng ta sẽ chia.

Vừa lúc ấy, Nadia cất tiếng lanh lảnh:

- Tôi tin chắc là người đẹp của chúng la đã giữ phần của mình rồi.

Thấy vậy, Hélène tiến sát đến trước mặt Nadia và nói bằng một giọng bình tĩnh nhưng đầy dữ dội:

- Hãy khám tôi ngay ở đây, hãy khám khắp người tôi, nhưng nếu chị không thấy gì thì...

Nhưng một cánh tay quàng qua vai cô đã ngăn lại. Cô định hất tung cánh tay ra nhưng chợt nhận thấy áp ngay bên má mình là mái tóc của Vera Petrovna:

- Em gái – bà già di-gan nói khẽ – em đừng nói gì cả. Chị sẽ giải thích cho em...

Rồi bằng một giọng quyết liệt:

- Nadia, cô lầm rồi, cô hãy xin lỗi đi!

Nadia vâng theo với một thái độ chán nản đột ngột và khốn khổ khiến Hélène quên hết tức giận.

- Bây giờ thì lại đây, - Vera Petrovna bảo Hélène.

Hai người ngồi trên một chiếc ghế dài giữa nhà hàng vắng vẻ, một luồng ánh sáng mờ mờ của rạng đông đang dọi vào căn phòng và một người lao công đang quét nhà. Vera bắt đầu:

- Em gái ạ, chính chị mơi là người có lỗi. Chị đã không yêu mến em và chị đã lên giọng bắt ne bắt nét em.

- Nhưng tại sao, tại sao hả chị?

- Rất giản đơn: chị tưởng em cũng thuộc loại bợm rượu đi hết nhà hàng này đến nhà hàng khác, hát thì tồi, tự bán mình và tranh chỗ của người khác. Mà dàn đồng ca, chính là đàn con của chị. Nó chẳng đáng giá gì lắm, chị công nhận thế, nhưng họ đều là những người nghèo, những người lương thiện đến mức chị cần phải bảo vệ.

- Em biết, - Hélène vừa nói vừa nhớ lại những điều Ludmilla đã kể với cô.

- Em hiểu không – Vera tiếp – khi chị thấy em, chị nghĩ là em đến để thay chân một người của chị. Terhane hắn tàn nhẫn lắm, nếu hắn ta chưa đuổi ai ra, chính là vì hắn sợ chị. Chị đã ghét em – không thể dùng chữ nào khác được. Chị không có những tình cảm nửa chừng, và cả dàn đồng ca cũng thế, và nhất là Nadia, cô ấy cảm thấy mình sẽ là người bị loại. Không ai mời cô ấy đến bàn cả. Cô là cái gánh nặng cho Terhane. Nếu cô ấy bị Terhane thải thì cô ấy sẽ ra ngoài vỉa hè. Cô ấy có hai đứa con và một người chồng thất nghiệp.

- Nhưng em không chấp nhận điều đó, em không muốn thế, em ra đi là đúng hơn, Hélène thốt lên.

Vera ôm lấy cô mà bảo:

- Em biết đấy. Chị xét đoán con người ở tiếng nói. Từ lúc được nghe em hát, chị đã hối hận và chị chờ dịp tối đầu tiên để chứng tỏ... Thế đấy, bây giờ, thế là xong! Nhưng chị cũng chẳng làm gì được cho Nadia đâu.

Bà im lặng một lát rồi nói tiếp:

- Chị cũng nói để em biết, Nadia đã từng có một khách sạn riêng ở trước mặt khách sạn của chị, thế mà bây giờ cả nhà bốn người phải ở trong một căn phòng, và cô ấy có được một phrăng cũng đã sướng run lên rồi. Cho nên, thấy người ta tiêu tiền ở đây, cô ấy phát điên lên là chuyện tự nhiên. Cô ấy ghen với tất cả mọi thứ, mọi người, và ngay cả với chị nữa, chị tin chắc thế, cầu Chúa hãy tha thứ cho cô ấy. Biết làm sao được, ba cái miệng phải nuôi, già trước tuổi, lại làm cái nghề này.

- Chị Vera Petrovna, thế chị cũng làm cái nghề này đấy thôi!

Vera cười một hồi – giọng cười từ cổ họng – và nói:

- Ôi! Chị ấy à? Chị lại là chuyện khác. Chị đã từng có một ông bố không chính thức là một lãnh chúa lớn, nhưng dòng máu chính mà chị mang trong người là dòng máu của mẹ chị. Em có biết mẹ chị là một người đàn bà như thế nào không. Bà ấy hát và nhảy múa suốt đêm, suốt ngày ở nhà, và khi bà kiệt sức, bà thuê một đứa con gái nhỏ để cho nó hát và múa. Chị thì chị bắt đầu múa hát từ lúc tám tuổi. Vào nửa đêm, chị ngủ trên cái ghế tựa. Lúc ấy, người ta đổ rượu Vodka vào mồm chị cho chị tỉnh dậy. Nếu em muốn nghe chuyện đời chị, em phải nghe mất cả buổi tối mai nữa. Người ta bắt chị lấy chồng lúc mười ba tuổi, lấy một tay vũ phu chuyên nhảy múa như thế nào, một vị tướng trẻ đã cướp chị đi như thế nào, và chị ở trong lãnh địa của ông ấy, vừa là một cô gái hoang dã, vừa là một bà chúa, rồi đám cưới lần thứ hai của chị đã khiến chị trở thành giàu có, rồi cuộc cách mạng làm cho chị nghèo khổ, và chị đã đi chân đất đến Berlin thế nào. Rồi chị đói và khát. Nhưng chuyện ấy để hôm khác. Ô cái tên thô lỗ kia làm gì mà bắt mình đợi thế này nhỉ!

Bà lên tiếng gọi:

- Cyrille, anh có đến không?

Một tiếng nói khàn khàn cất lên từ gian bếp phụ:

- Chị hãy ra trước, tôi còn đếm số đĩa.

- Ai thế chị? - Hélène hỏi.

- Người đầu bếp của chúng tôi, Héridzé.

- Héridzé nào ạ?

- Đúng, em gái ạ, em không thể tin được, nhưng chính là anh ta, ông hoàng Cyrille Héridzé nổi tiếng.

Còn nhỏ, Hélène đã nghe nói về người đàn ông này. Cô chỉ biết ông ta nhờ một vài điều nghe lỏm được trong những câu chuyện của bố mẹ cô và các bạn của ông, bà, nhưng chỉ thế cũng đã đủ là một giai thoại về tình yêu, về sự điên rồ và tội ác.

Ông ta là người thừa kế của các ông hoàng trị vì ở xứ Kavkaz..., là kỵ sĩ đẹp nhất của nước Nga..., biết bao trái tim đã bị cuốn theo bước chân ngựa của ông... Anh hùng của cuộc chiến tranh chống Nhật. Kết thân với hoàng tộc Nga... Một người vợ bị đánh chết bằng roi da. Những tài sản thừa kế mất sạch trong một ván bài. Ba lần bị hạ cấp. Tham gia Đại chiến với câp bậc lính trơn. Những khẩu liên thanh cướp được bằng một con dao găm. Những vụ lừa đảo lớn. Trở thành một thứ vua ở Turkestan trong cuộc cách mạng, rồi mất dấu vết.

Con người không phanh ấy như thế đấy...

- Chính vẫn con người Héridzé ấy – Vera tiếp – bây giờ mỗi tối làm một món chachlik (cừu nướng) cho khách của chúng ta. Lại đây, ông ấy đến đấy.

Bên ngoài, trời đã sáng. Mặt trời chưa lên cao trên thành phố, nhưng cũng sắp sửa, và mặc dù những rác rưởi của cuộc sống ban đêm ở Montmartre, bầu không khí sáng sớm vẫn trong sạch nhiều. Tuy nhiên Vera và Hélène vừa ra khỏi bầu không khí suốt đêm nặng trĩu mùi thuốc lá, mùi rượu và mùi người chen chúc, lại bước ngay vào một căn phòng kín mít và hẹp chẳng kém gì. Nhà hàng này có tên là Lesghine (có nghĩa là thuộc xứ Kavkaz), nổi tiếng về các món ăn Kavkaz. Chỉ có những người Nga mới đến đây, và nhà ăn này không phải dành cho các khách sang. Người phục vụ ở đây cũng bình đẳng với khách. Dàn nhạc gồm một dương cầm và một vĩ cầm. Tất cả đồ trang trí chỉ là hai tấm thảm treo đối xứng ở trên tường, nhưng từ nhà bếp bốc ra một mùi gia vị và mùi dầu rất phương Đông.

Nhà hàng tuy xoàng xĩnh nhưng Vera Petrovna được đón tiếp như một bà hoàng. Người chủ vốn là nghệ sĩ nhảy múa cũ ở Samovar, đến hôn tay bà và mời bà vào bàn tốt nhất. Hélène tò mò nhìn các khách quen của nơi này. Đó hầu hết là những người Kavkaz, dáng thanh mảnh, gương mặt nhìn nghiêng nhọn cằm làm ta nhớ đến Fédor. Có lẽ anh ta đã khỏi rồi. Cô nhẩm tính thấy hơn một tháng đã trôi qua từ khi cô đi khỏi bệnh xá, và, lần đầu tiên, cô sợ hãi cảm thấy thời gian đi nhanh quá. Thế mà cô đã không được sung sướng gì. Rồi cô nghĩ đến Nathalie Borissovna.

Chị cô có biết nay cô đã ra sao rồi không?... Có lẽ chị ấy biết qua Chouvaloff hoặc Samuel Iakovlevitch... Và chắc chắn chị ấy không muốn gặp cô.

- Đừng có nghĩ buồn, em gái, – Vera Petrovna chợt bảo cô, – không nên nghĩ ngợi gì cả. Hãy uống chúc cho tình bạn của chị em mình.

- Nhưng chị rót cho em gì thế? - Hélène mỉm cười nhỏ nhẹ. - Rượu Vodka với cốc to thế này ư? Em chưa từng uống thế.

- Phải bắt đầu đi thôi. Chị muốn cho em thành một người di-gan thực thụ. Trước tiên là Vodka, còn mọi cái để sau. Em đến làm việc với chị. Vậy là với giọng hát của em khi em thuộc hai mươi bài romance, và em hát chúng như mẹ chị đã dạy chị, em không cần phải đến các bàn của khách, chị đoan chắc với em như vậy. Hoặc là em đến như chị, chỉ hát mà thôi. Và người ta sẽ kính trọng em.

Vera uống và ăn rất nhiều. Người ta cảm thấy cơ thể bà cần các thức ăn bổ và rượu để bù lại sự gắng sức lao động hàng đêm. Nhưng điều làm cho Hélène ngạc nhiên và thiết tha với người đàn bà di-gan này là cái sức cơ thể ấy không hề làm hại đến những cử chỉ thoải mái và vẻ đẹp kiêu hãnh của gương mặt bà, đến dáng vẻ lịch sự tự nhiên trong cách đi đứng và những câu chuyện của bà. Cô đã nói điều ấy với bà.

- Thôi nào, em gái – người đàn bà kỳ lạ đã thổi linh hồn vào những đêm biểu diễn ở Samovar kia thốt lên – Thôi, đừng tìm cách nịnh một bà già nữa!

Bà cất tiếng hát nhẹ nhàng một điệp khúc di-gan:

Tất cả những gì đã đến

Tất cả những gì đem lại niềm vui

Từ lâu rồi, đã đi hết

Từ lâu rồi, đã trôi qua...

Thế là, từ ngưỡng cửa nhà hàng, một giọng khàn, chính giọng nói mà Hélène đã nghe ồ gian bếp phụ của Samovar, kêu lên:

- Ôi, Vera, Vera của lòng tôi, lúc nào cũng miệng ca bài hát, môi nhấp Vodka!

Có tiếng ồn ào lớn trong phòng: tất cả những người Kavkaz đứng dậy chào ông hoàng Cyrille Héridzé.

- Cám ơn tất cả các bạn, – ông hoàng nói, – các bạn đã hoan nghênh chàng kỵ sĩ djiguite già nhất của các bạn.

Ông hoàng mặc một chiếc áo dài cũ màu lam bẩn với những túi chứa đạn hoen rỉ, chiếc mũ da thú đã sờn lông, và nhìn ông cài khuy cổ đến tận cằm, người ta đoán ông không mặc đồ lót dưới lần dạ xù xì. Tuy vậy, sự cùng khổ và sự cẩu thả chỉ làm cho nhân vật này thêm hấp dẫn với vẻ mặt kiêu kỳ và dữ dội, vừa của một vị thủ lĩnh, vừa của một tên ma cô.

Ông đã gần sáu mươi tuổi nhưng thân hình ông cao và thẳng như một cây giáo, toát ra một sức mạnh không thể hủy diệt được. Ông hói đầu, nhưng răng ông trắng bóng như men răng của một chàng trai. Đầu ông lúc nào cũng thẳng, dáng kiên cường, dường như không gì có thể bắt nó cúi xuống, và mọi cử chỉ của ông đều cho thấy một sự vững vàng đường bệ. Gương mặt đẹp còn những đường nét đều đặn, và đôi mắt có ngọn lửa mãnh liệt, và nhất là cái vẻ điên cuồng tỉnh táo và nồng nhiệt. Chỉ khi ông cười, người ta mới nhận thấy ở con người này, có cái gì đó hâm hâm, quỷ quái và sa sút mà không thể sửa được.

Khi ông chìa tay bắt tay Hélène, cô dán mắt vào cái sẹo ghê gớm cắt cổ tay ông gần tới tận xương.

- Người ta sẽ bảo là vết cùm sắt phải không? - Ông vừa nói vừa ngồi xuống - Tôi đã mang xiềng xích trong một chiếc thuyền buồm từ Trébizonde đến Constantinople[1]. Tôi đã không kể với chị chuyện ấy, Vera. Tôi cùng với hai người Tartare đã tìm cách ném bọn thủy thủ xuống biển. Không! Kỷ niệm ấy là ở Mãn Châu.

Ông nhìn chăm chăm vào Hélène:

- Gương mặt đẹp, thân hình đẹp! Nhưng một cô gái di-gan giả! Vào thời đó, tôi sẽ không phải lòng cô. Tôi đã yêu những cô di-gan đích thực, họ biết làm cho người ta đau khổ. Bên cạnh họ, những người đàn bà khác chỉ là giẻ rách. Phải không, Vera? Bà chị của chị, chị còn nhớ không, chị ta như một con đỉa. Đôi lúc, tôi muốn vặn cổ chị để trả thù gia đình chị. Vậy thì hãy cho tôi uống để giải phiền. Nhưng đừng cho Vodka, giờ này là lúc uống vang đỏ và ăn phó mát dê.

- Thế còn Jacquot thế nào? - Vera hỏi.

- Tôi vừa đến thăm cháu. Cho nên lâu thế. Cháu ngủ. Thế là tôi yên tâm (ông ta nở một nụ cười dịu dàng). Chị biết, tôi sắp có thể mua cho cháu một cái áo. Tôi có một việc với Terhane.

- Một việc cho anh ư?

- Tôi vừa tìm cho hắn một nghệ sĩ nhảy, một tay chị chưa từng thấy. Đừng hỏi là ai. Đó là một bí mật. Chỉ có tôi quyết định được việc ấy. Vì nỗi buồn của tôi, Terhane tặng cho Jacquot một cái áo.

Ông ta nuôi rượu vang từng cốc lớn và ăn phó mát bằng những ngón tay mà không hề mất cái vẻ quý phái như một con chim ưng đẹp.

Bỗng nhiên Héridzé ngừng ăn và lắng tai nghe. Một tiếng ồn nghe không rõ từ ngoài vọng vào, những câu nói rời rạc và câ tiếng chửi.

- Một cuộc ẩu đả – ông hoàng lẩm bẩm, và đôi mắt ông tóe lửa.

Ông sắp đứng lên thì cánh cửa dập vào đánh rầm, một người đàn bà to béo bước vào, da đỏ, đầu trần, tóc xõa, theo sau là hai người đàn ông. Cả ba đều say khướt.

- Olga đây mà! – Vera nói không chút ngạc nhiên. Người đàn bà to béo hét lên:

- Vera xinh đẹp, bảo hai người kia hãy đứng yên.

- À! Mày lại định bỏ chúng tao – một trong hai người đàn ông nói bằng một thứ tiếng Pháp ấm ớ – để đi với một lão già ư?

Hắn ta vừa chỉ cái đầu hói của Héridzé vừa cười. Nhưng hắn chưa cười xong thì ông hoàng đế đã tiến sát hắn:

- Ngồi xuống, - ông nói với hai người Kavkaz, hai người này cũng lặng lẽ ngồi bên cạnh ông.

- Ra khỏi đây, - ông gầm ghè giơ nắm đấm, làm hai vai ông gồng lên khác thường.

Bỗng Olga dịu giọng và nói:

- Đừng ác quá với họ, chính tôi mời họ uống đấy.

Nắm đấm của Héridzé hạ xuống:

- Thôi được!

Rồi nắm mỗi tên bằng cổ áo vét-tông, ông giang cánh tay xách hai người có vẻ nhẹ như không ra tận ngưỡng cửa nhà hàng. Rồi người ta nghe tiếng hai thân người lăn huỳnh huỵch trên hè phố.

- Tôi biết chắc là Héridzé sẽ gỡ tôi thoát khỏi chúng mà. - Olga vừa nói vừa cười - Nhưng tôi chỉ sợ anh ấy làm đau họ quá thôi. Một lần tôi đã thấy anh ấy ở Constantinople, một mình anh ấy đánh nhau với tám sĩ quan của Denikine. Anh ấy không thể chịu được chúng. Anh bắn một phát súng lục vỡ cái đèn để chúng không bắn được anh, đến lúc có ánh sáng, thì tất cả chúng nằm ngổn ngang trên mặt đất trong tình trạng thảm hại.

Trong khi bà ta nói, Hélène ngắm đôi môi đầy nhục cảm, đôi mắt xanh màu nước biển của bà với cảm giác bực bội là mình đã thấy những con mắt ấy ở đâu đó rồi nhưng không nhớ rõ ở đâu và lúc nào.

- Bà không nhận ra tôi ư? - Cô hỏi - Hình như chúng ta đã gặp nhau.

- Không... không, nhưng tên cô là gì?

- Hélène Borissovna Stoudnitzki.

- Con gái của ngài Tổng trấn? Đúng ư? Nhưng sao thế được! Đúng rồi! Thong thả, à, tôi đã ở nhà cô ba hôm với chồng tôi hồi ấy đi thanh tra, chồng tôi là bá tước Vahlen. Nhưng lúc ấy cô còn bé tí. Đó là năm 1916, nếu tôi không nhầm.

Bỗng dưng Hélène thấy mình như bị di chuyển đi rất xa đến hàng ngàn cây số, cách xa nhà hàng Lesghine ở phố Pigal, ra khỏi cái buổi sáng kỳ lạ của khu Montmartre nơi những con người mệt mỏi vì cả một đêm không ngủ đang tiếp tục hành hạ thân xác và tâm hồn mình. Cô thấy một thảm cỏ lớn và tươi ở vườn hoa, một chiếc xe đẹp, từ đó bước ra một ông già đeo xủng xoảng những tấm huân chương và hình chữ thập, cùng với một người vợ trẻ tươi tắn, mảnh khảnh và có đôi mắt xanh của Olga bây giờ.

- Ôi, tôi nhớ biết bao, – Hélène lẩm bẩm với một nụ cười trẻ thơ. – Và ngay lập tức bà đã đòi một con ngựa để cưỡi phải không?

- Chắc chắn là cô ấy rồi – Héridzé vừa mới trở lại ngồi yên lặng ở đó lên tiếng. Cô ấy cưỡi ngựa như một kỵ sĩ của sư đoàn dã chiến. Này, Olga thân mến, thời đó cô đã rất yêu tôi. Và những cuộc đi săn bằng chó ở vùng đất của Litchourine. Viên đại tá cao lớn ấy, thế mà hắn khôn ra. Xong công việc ở Samovar hắn về nhà hắn ở ngoại thành. Cô hãy hình dung ở đó hắn có một mảnh vườn con khiến hắn rất hạnh phúc. Đúng là bản tính một tay phụ trách nhà ăn!

Ông ta cười một tiếng cười ma quái và đau đớn mà mỗi lần nghe, Hélène lại cảm thấy sợ.

- Đừng nói gì, đừng nói gì! – Olga nói khẽ. – Cô đừng chế nhạo anh ấy, anh ấy sẽ có lý do để chống lại chúng ta.

- Ha, ha! Bà bá tước thân mến – Héridzé cười khẩy – tôi nghĩ rằng lúc này chúng ta đang trồng bông hoa đức hạnh và tưới nó bằng những giọt nước mắt của tuổi trẻ đã bị hủy hoại đấy! Tôi tôn trọng, tôi tôn trọng, nhưng mà tôi uống rượu.

Olga cướp cốc rượu của ông già Héridzé và uống một hơi:

- Nữa, nữa... – bà ta nói giọng thèm thuồng.

Rồi quàng lấy vai bà bạn di-gan:

- Verotchka thân mến, hát một bài romance, nhanh lên! Chị biết tôi thích bài nào rồi!

- Nhưng không có người đệm ghi-ta của tôi ở đây!

- Anh ta đâu?

- Có lẽ ở quán Yên tâm, hoặc đi ngủ rồi.

- Hãy cho người đi tìm, hãy cho người đánh thức anh ta, tiền cho anh ta đây. Tôi rất giàu. Tôi đã mời khách uống suốt đêm. Vậy thì hãy vui chơi đi, nào!

Rồi bà ta hú lên tiếng hú mà Hélène đã nghe thấy trong cuộc biểu diễn của những kỵ sĩ djiguite.

Thế là một cuộc liên hoan kỳ lạ bắt đầu. Có thể nói là trong ba con người ấy, đột ngột bung ra cùng một sức mạnh huyền bí và khao khát. Giọng hát của Vera Petrovna chưa bao giờ sâu thẳm như thế, cũng như gương mặt bà chưa bao giờ bị sự đam mê tàn phá như thế. Chính vì bà hát cho những con người được tạo ra theo hình ảnh của bà; bà cũng dùng tiếng hát điên cuồng, vui vẻ man rợ để kích thích họ trong khi sự suy sụp về tinh thần đang đè nặng lên họ.

"Cần gì, cần gì – những con mắt nhớn nhác của họ dường như muốn nói vậy. – Chúng ta đã có lý do để sống bằng rượu vang, bằng tình yêu, bằng thái độ vô tư lự và bằng lòng dũng cảm, như chúng ta đã làm. Cần gì sự khinh bỉ của cái thành phố không biết chút gì là mạo hiểm này, cái thành phố mà chúng ta không thèm biết đến; chúng ta đã có những phút vui mà không một cư dân nào của họ được nếm trải.”

Những điệp khúc của các bài hát di-gan bay lên như những cánh chim ưng núi, trong khi Vera lắc lắc mái tóc bạc, trong khi ông hoàng Héridzé, nét mặt bất động, nắm chặt hai nắm tay đã từng chém giết bao người, trong khi những giọt nước mắt nặng nề và hiếm có chảy xuống từ đôi mắt màu xanh mà Hélène đã nhận ra. Và tất cả họ uống không ngừng, uống mà không nhận thấy mình uống, như để làm cho đậm đặc thêm, phong phú thêm cái chất liệu mẫn cảm của họ, để hiến thân nhiều hơn nữa cho vị thần man rợ của họ, vị thần không mặt, không tên mà họ mang trong những trái tim quá trông trải, vị thần luôn luôn đã cướp phá cả cuộc đời phóng túng của họ.

❀ ❀ ❀

[1] Trébizonde: một cảng của Thổ Nhĩ Kỳ. Constantinople: nay là Istanbul, cảng của Thổ.

✦ ✦ ✦

Sau buổi sáng hôm ấy, trong Hélène bỗng thức dậy cái thói cũ như một thôi thúc đòi hỏi cô luôn luôn phải vượt lên mình và luôn luôn tìm cách nâng mình lên ngang một hình tượng cao cả nào đó.

Trong mấy tuần thích nghi với hoàn cảnh mới ở Samovar, cô đã nghĩ rằng chẳng có gì trong cuộc đời này có thể đem lại cho cô một khoảnh khắc hứng khởi như khoảnh khắc trước đây đòi hỏi cô, buộc cô phải làm sao giống như một khuôn mẫu lý tưởng. Thế mà giờ đây giữa những con người cuồng nhiệt đến điên loạn này cô lại tìm thấy nó. Lúc ấy, cái thói cũ nhủ cô: "Cô xem, cuộc đời nào cũng có một khía cạnh anh hùng của nó. Bây giờ, cô đã thành người di-gan. Hãy di-gan như họ, hãy thả mình, hãy dữ dội, hãy vui lên. Đừng sợ rượu. Đừng giữ ý với mình. Hãy hát và bùng cháy lên. Đó là vẻ đẹp duy nhất của cái nghề hát. Như vậy, cô sẽ trở nên quý phái và trong sáng, cùng một lúc vừa là nữ tu sĩ vừa là nạn nhân của cuộc truy hoan."

Một ánh lửa đặc biệt đã nhen lên trong đôi mắt của Hélène mà ngày thường các khách của Samovar chỉ thấy xa vắng và buồn. Một vẻ táo bạo lạ lẫm đã khiến nét mặt cô linh động hẳn lên. Cô không tránh mà đi tìm rượu, đòi rượu. Và, rượu làm giọng cô sâu thêm, cô tìm ra một âm sắc không ai bắt chước được, nó nâng lên và dấn sâu những giai điệu di-gan vào các trái tim, như một nỗi dằn vặt lạ kỳ. Ngay cả Vera Petrovna cũng thấy bàng hoàng.

- Em biết không, – bà bảo cô, (vì từ buổi sáng ở nhà hàng Lesghine hai người không rời nhau), – có những bản romance em đã hát rồi, chị không dám hát nữa!

Bây giờ, mỗi khi hát xong, Hélène không về ngay phòng mình nữa: cô đã trả hết nợ cho Terhane rồi, và số tiền kiếm được, cô được sử dụng theo ý mình. Cô tiêu tiền dữ dội và giận dữ trong tất cả các nhà hàng Nga, trong tất cả các quán rượu Pháp chuyên đón vào lúc rạng sáng những người vừa làm trò vui ban đêm cho các nhà khác. Cô nợ đìa khắp nơi, vì cô không thể uống một mình được. Cô phải mời Vera, Héridzé, Olga và những người khác mà cô quen biết trong những buổi sáng điên rồ như thế này. Cuối cùng, cô đã trở thành công dân của khu Pigal, công dân được yêu mến vì tính ngay thẳng và rộng rãi. Những người đàn ông, những người đàn bà mà cô chỉ biết tên tắt hay tên tục xưng hô thân mật với cô. Không biết bao nhiêu buổi sáng đầu tóc lòa xòa, quần áo xộc xệch, cô đã băng qua các phố, lảo đảo đi tìm một nhà ăn yên tĩnh không có tiếng ồn, không có tiếng hát, không đông người.

Chỉ đến trưa, cô mới trở về khách sạn, và lúc ấy, mệt nhoài sau mười hai giờ cuồng nhiệt, cô ngủ thiếp như chết, thường là để nguyên cả quần áo. Khi cô ra khỏi giấc ngủ nặng nề ấy, những chiếc đèn đường đã sáng. Cô thường đến nhà Vera Petrovna, lúc ấy bà vẫn còn nằm và hút liên tiếp những điếu thuốc lá có đầu dài bằng giấy các-tông do bà cuốn lấy. Ở đó hai người đàn bà cùng uống trà, rồi tạt vài phút vào quán cà phê Yên tâm. Rồi nhà hàng Samovar nuốt lấy họ cả đêm, sau đó đến những hàng ăn nhỏ ở đó họ tiêu phí đến cùng kiệt số tiền kiếm được và cả năng lực thần kinh của họ. Cái vòng tròn lại khép kín lại, cái vòng tròn định mệnh của khu Pigal.

Chưa bao giờ Hélène thành công rực rỡ như trong thời kỳ này. Cô đang còn vẻ đẹp của một cô gái trẻ, nhưng do cách sống của cô hiện nay, vẻ đẹp ấy đã bị đục ngầm ở bên trong. Vì thế, nét mặt cô luôn luôn thay đổi và xúc động, gương mặt cô lúc nào cũng kết hợp cả cuộc sống quá khứ và cuộc sống hiện tại.

Nhưng không người đàn ông nào được cô hát cho nghe ở Samovar có thể chạm vào người cô được. Sự mến mộ của họ dựa trên đồng tiền. Nhưng gương mặt lý tưởng mà cô tự tạo cho mình đã làm cho những ý nghĩ vụ lợi và mọi sự tính toán không có chỗ dung nạp. Nếu cô cho rằng mình sống vượt lên trên những quy tắc thì có một quy tắc mà cô tự đặt cho mình rất khắt khe: đó là quy tắc về tình yêu không vụ lợi và không đòi trả giá. Về mặt này, cô xử sự giống như các cô bạn gái khác; để nhận được những món tiền nhỏ, các cô chấp nhận uống cho đến lúc mất hết lý trí, nhưng dù say đến ngã lăn queo, các cô vẫn từ chối những cái vuốt ve vì tiền mặc dù khách trả tiền cao đến mấy. Vả lại, trong số những người đàn ông hay đến với Hélène, không có một người nào khiến cô vừa lòng. Đó chỉ là những người khách hoặc những người bạn. Thêm nữa, cô cũng không có thì giờ để nghĩ đến việc kết thân với ai: từ nửa đêm trở đi, đầu nóng bừng vì rượu, cô chỉ nghĩ đến uống, hát và nghe hát.

★ ★ ★

Tuy nhiên, cũng có một lúc, Hélène tưởng cô có thể yêu...

Trong suốt một tuần, Terhane cho các báo đăng tin đến ngày 15 tháng sáu ở nhà hàng Samovar, bắt đầu có một nghệ sĩ nhảy múa Kavkaz giấu tên và thượng thặng mệnh danh là "con chim ưng đỏ xứ Daghestan" biểu diễn. Tính tò mò của dân Pigal trở thành gần như một căn bệnh. Mọi ngày, người ta được biết ngay là ai, nhưng lần này chưa ai có thể biết tên nhân vật ấy. Chỉ có Héridzé cười khẩy khi nghe những lời đồn đại lưu truyền ở các quán cà phê và từ chối không nói gì.

Đến ngày đã báo, nhà hàng Samovar chật cứng, nhưng đến tận một giờ sáng, cả các nhạc công, cả các nữ ca sĩ khồng ai biết người lạ mặt là ai. Tất cả những gì mà Samuel Iakovlevitch có thể nói ra được, đó là anh ta đã nhận được lệnh là ngay sau khi dàn đồng ca vừa chấm dứt, phải cho dàn nhạc nổi bản nhạc nhảy Lesghinka[1]xả láng.

Ludmilla sốt ruột hơn ai hết, cứ mười lăm phút lại kêu lên:

- Dù sao chúng ta cũng thấy anh ta trước khi anh ta bắt đầu. Thế nào anh ta cũng phải đi qua cửa lớn như mọi người.

Nhưng dàn đồng ca đã hát xong mà chẳng thấy bóng người mới nào hiện ra. Đã nghe vang lên những nhịp đầu của bản Lesghinka.

Lúc ấy, gian buồng xép của Terhane đột ngột mở ra, và từ đó nhảy ra một con quỷ mặc toàn màu đỏ tía. Hélène khẽ kêu lên. Đó là Fédor!

Trước khi nhìn rõ mặt anh ta, cô nhận ra ngay cái dáng thon dài của Fédor mà không ai có.

Đúng! Rõ ràng là Fédor: anh ta nhảy như anh ta cưỡi ngựa, như Vera hát.

Cái cơn cuồng điên nhịp nhàng ấy, cái cơn say tuyệt mỹ của cơ bắp ấy, những tư thế nhón chân kiểu vũ nữ ba-lê ấy làm cho cái thân hình lực sĩ cao lớn lên và tạo thành một con chim chúa tể giang cánh, tất cả những cái ấy đều như ở ngoài thời gian, ngoài cuộc đời.

Tiếng nhạc đẩy nhịp dồn dập. Vera Petrovna bất giác vỗ tay theo và hòa theo giọng hát xót xa của mình. Tiếng hê kiểu kỵ sĩ djiguite tự bật ra từ miệng của Fédor, và những lưỡi dao găm trần lấp lánh giữa những ngón tay anh. Anh lùa liên tiếp những lưỡi dao qua hai hàm răng trắng lóa và gương mặt anh biến thành một cái mặt nạ chiến đấu, anh quay cuồng như một phù thủy.

Khi, cùng với hòa âm cuối cùng, anh buông mình quỳ xuống một bên gối, tất cả khán giả nổi một cơn hứng khởi gần như phát cuồng. Cùng một lúc, mười, hai mươi tiếng mời chào vây anh tứ phía, ở khắp các bàn, nhất là các bàn của phụ nữ, họ đòi anh đến với họ. Nhưng anh không trả lời bàn nào, và, chào cả phòng xong, đi về phía một cô di-gan mà anh bắt gặp luồng mắt lóe sáng.

- Hélène Borissovna, cô đấy ư?... - anh hỏi.

Nghe cái giọng nói ngờ vực ấy, Hélène hiểu ra rằng mình đã thay đổi biết bao. Fédor ngồi ngay trước mặt cô, luôn tay lau những giọt mồ hôi mà bài nhảy Lesghinka đã vắt ra trên trán anh, và anh ngắm người thiếu phụ trẻ, không nói gì, như là anh thấy cần phải làm quen với người đàn bà xa lạ này trước khi nói chuyện.

Trước sự ngạc nhiên ấy, Hélène cảm thấy nỗi bối rối mà Fédor gây cho cô đã tan đi. Lúc nãy, trong khi Fédor đang nhảy với một niềm hăng say man rợ, sức thôi miên của anh đã tác động vào cô, và cô còn thấy thêm một cái gì đó bạo liệt, sâu thẳm, mới lạ và thích hợp với cuộc sống hiện nay của cô. Nhưng nhìn con mắt chằm chằm của Fédor, cô đoán rằng không bao giờ anh có thể tách biệt hoàn toàn cô gái di-gan của nhà hàng Samovar với cô gái trẻ của nhà trọ Mesureux trước đây. Tức thì cô nhớ ngay đến một câu mà chính anh đã nói: "Với cuộc sống mới, không thể có quần áo cũ được!".

Và cô hỏi chuyện anh chỉ với tình bạn mà thôi.

-      Tất cả rất giản đơn – Fédor nói – Rizine đã nói về tôi với Héridzé. Héridzé vốn quen tôi từ ngày tôi mới biết đi. Tôi vừa ra khỏi bệnh viện thì anh ấy đến gặp và khuyên tôi đến đây. Tôi đã từng lang thang mãi trên hè phố rồi, và ngoài anh ấy, không ai có thể thuyết phục tôi. Tôi nghĩ rằng nếu con người mang dòng máu thuần túy nhất của xứ Kavkaz đi làm đầu bếp ở Samovar, thì tôi cũng có thể nhảy thuê ở đấy được. Nhưng cô thì sao, Hélène Borissovna?

Cô mỉm cười nghĩ rằng chính vì anh ta mà cô phải đến đây, cô cũng cười vì thấy chỉ có anh, người tình của cô, mới trịnh trọng xưng hô với cô như thế, trong khi đám người lộn xộn ở Pigal thì mày tao chi tớ với cô.

-      Fédor, chàng kỵ sĩ của em – cô nói giọng hài hước – tối nay anh là một con cừu, nhưng chờ một tuần nữa, rồi anh sẽ hiểu.

Cô ôm hôn Fédor thân tình như anh em, đòi uống rượu, anh không dám nói với cô là Nathalie Borissovna đang lo thắt ruột vì không nhận được tin em gái.

Hélène không lầm. Chỉ trong một vài hôm Fédor đã bị cuốn vào cùng một guồng máy với cô. Nhưng sức dẻo dai của anh thật phi thường, cho nên suốt một tuần liền, anh đã uống rượu vang đỏ, nhảy và chuyện trò với những người Kavkaz ở Pigal, trong khi cô gái Ludmilla đã bỏ Rizine để theo anh và nằm ngủ cạnh anh trên một chiếc ghế dài của nhà hàng Samovar hay quán cà phê.

Thành công của Fédor đêm hôm trước đã khiến Terhane đem ra thực hiện một dự định mà hắn rắp tâm từ lâu. Hắn mời Vera Petrovna đến phòng hắn và bảo:

-      Bà bạn thân mến, nhà nghệ sĩ lớn, tôi có một tin không vui phải báo với bà. Chúng ta đang tiến sâu vào mùa hè, công việc càng khó khăn hơn. Tôi buộc phải loại ra ít nhất hai người trong dàn đồng ca của bà. Đó là ông cựu chưởng lý và cô Nadia.

Bà định phản đối và dọa hắn. Terhane chặn lại:

-      Đừng nói với tôi là bà sẽ bỏ đi, bà Vera Petrovna rất thân mến – hắn tiếp – tôi sẽ thất vọng, nhưng tôi chẳng làm gì được.

-      Nhưng chưa bao giờ đông khách thế này, – Vera kêu lên.

-      Vâng, nhưng sẽ được bao lâu và tôi phải thuê ông hoàng Achkeliani với giá rất đắt, mà thuế thì cứ tăng mãi. Ôi! Nếu không phải thuế thì...

Hắn cố ý luẩn quẩn trong một câu nói dài đầy những lời khen và lời hối tiếc. Vera Petrovna không thèm nghe nữa. Bà giận dữ điểm lại xem những nhà hàng mà bà có thể đến hát.

-      Bây giờ nếu bà bỏ đi – Terhane vừa nói vừa đưa mắt làm ra vẻ dịu dàng theo dõi nét mặt bà – hiển nhiên là tôi buộc phải thải hồi tất cả số người còn lại của dàn đồng ca.

-      Khốn kiếp – Vera lẩm bẩm – đồ khốn kiếp!

-      Nhưng không – Terhane trả lời dịu dàng – tôi sẽ tăng lương cho bà.

-      Thôi đi, tôi cấm anh điều ấy, hoặc là không gì có thể giữ tôi lại đây, ngay cả sự đe dọa của anh. Và anh đừng có trông cậy vào tôi để báo tin cho những người khốn khổ ấy.

Cựu đại tá Litchourine được Terhane giao làm việc báo tin ấy. Đôi vai hộ pháp của ông này cảm thấy như kiệt sức khi ông gặp nạn nhân đầu tiên: Đó là một người cao tuổi, có bộ râu bạc, ngay cả dưới tấm áo di-gan, vẫn có dáng một quan tòa cũ.

-      A! Được, được – ông già nói, nét mặt không để lộ chút gì về tác động của đòn đánh vừa giáng xuống ông, nhưng ông giàu vội hai bàn tay run bần bật vào trong túi áo.

Với Nadia, Litchourine chưa cần nói câu nào. Nhìn nét mặt ông, Nadia đã rền rĩ:

-      Đuổi việc ư? Hả? Hả?

Thấy Litchourine ngượng ngùng cúi đầu, Nadia lao về phía Hélène và Vera đang ngồi bên nhau, và kêu lên:

-      Hai người bây giờ sung sướng nhé! cả hai người! Phải không? Tôi thừa biết cái gì sẽ xảy ra từ khi hai người kết thân với nhau để làm hại tôi.

-      Sao? Gì vậy? – Hélène làu bàu chưa hiểu chuyện gì.

-      Thôi đừng giả bộ ngây thơ đi, cái hạng gái nghiện sâm banh và kiếm tiền hoa hồng...

Người ta phải lôi người đàn bà khốn khổ ấy ra chỗ khác.

-      Chị Vera, chị Vera, không thể được – Hélène kêu lên. – Em không thể ở đây phút nào nữa.

Vera giữ hai vai cô lại và buồn bã nói:

-      Em định làm gì? Em đến một Samovar khác và, vì em đẹp và em biết hát, người ta sẽ đuổi một ca sĩ khác...

Tối hôm ấy, Hélène say chưa từng bao giờ say thế, và lúc ba giờ sáng, cô đột ngột rời khỏi cái bàn mình đang hát:

-      Tôi mang một cốc sâm banh đến cho ông chủ – Cô vừa nói vừa cất tiếng cười lanh lảnh.

Cô vào buồng Terhane không gõ cửa, và hắn chưa kịp nói gì, cô đã đập cái cốc vào giữa mặt hắn. Hắn ngây ra mất mấy giây. Một dòng máu chảy từ cằm vào trong cổ áo hắn. Hắn cũng không nghĩ đến chuyện lau đi. Những hồi ức lộn xộn về tuổi trẻ hiện lên trong đầu hắn. Đã lâu lắm, hắn không sống cái cảm giác run rẩy của một con vật bị đánh. Hắn nhìn không thù hằn mà bằng một trí tò mò kỳ lạ người đàn bà đã đem lại cảm giác ấy cho hắn sau bao nhiêu năm. Cô ấy đẹp, tuyệt mỹ... và cô ấy mời khách uống rất tài. Hắn khẽ đẩy cô ra, gần như âu yếm, đến tận ngưỡng cửa.

Sau sự việc này, suốt một tuần, Hélène đi lang thang như một người điên trên mấy quãng phố ngàn quanh khu vực cô đang sống. Cô bắt đầu uống rượu thực sự. Cho đến lúc ấy, cô chỉ uống để cho mình được ngang hàng với các bạn, để quên đi những đêm dài và nỗi cô đơn vào buổi sáng. Nhưng từ hôm nhìn thấy gương mặt thảm hại của Nadia bị đuổi việc thì rượu đối với cô như moóc-phin đối với người bị thương quá đau đớn. Mỗi khi tỉnh táo lại đôi chút, cô lại nghĩ đến người đàn bà khốn khổ ấy và các con của chị ta, lúc đó cô nghiến răng lại để khỏi kêu lên. Chỉ có rượu cho cô thấy cuộc đời còn chấp nhận được. Ngay cả Vera Petrovna cũng lo sợ về những cơn say quá mức ấy, nó đẩy Hélène vào những cơn khủng hoảng, cứ hết một cơn hung dữ lại đến một cơn lả đi, những lúc đó, lý trí của cô dường như sắp sửa tan biến.

-      Trời ơi! Ngừng lại đi em! – Vera bảo cô – Em không có thói quen uống rượu từ bé như chị. Em tự giết mình đấy!

-      Mặc em, mặc em. Trước hết cần phải quên chuyện ấy.

Một tối, cô chưa hết cơn say thì đô đốc Andreïeff, luôn luôn với cương vị người gác cổng, đến báo có một bà muốn gặp cô.

-      Một bà ư? Thật kỳ - cô uể oải đáp.

Cô đã uống nhiều quá, vừa đi ra phòng chờ, vừa khe khẽ hát. Ra đến nơi, mặc dầu say khướt, cô chợt bước giật lại một bước và kêu:

-      Natacha! Làm sao chị...

-      Fédor đã báo cho chị. Cậu ấy biết chị đau buồn biết bao... Em yêu quý, em yêu quý, Lénotchka, nhưng em hãy ôm hôn chị đi chứ! Kìa!

Hélène ôm chị say đắm. Cô cười, cô khóc, cô rên rỉ.

-      Ôi, sung sướng quá. Vị nữ thánh của em, cô nữ y tá thân yêu của em. Chị đã đến!

Hai chị em bị một nhóm người cười đùa chen đẩy.

-      Đừng ở đây – Hélène kêu – Chúng ta vào trong phòng đi.

-      Nhưng chị ăn mặc không được tử tế, được ra khỏi bệnh xá là chị vớ cái gì mặc cái ấy.

-      Không sao cả, chị vào đây, vào đây, em giới thiệu chị với Vera Petrovna và ông hoàng Héridzé, chị biết không, ông hoàng nổi tiếng ấy, rồi thì Olga, người đã đến nhà mình, gặp ba ấy. Chị sẽ thấy, kỳ lắm. Chị tưởng em say ư, không đâu, không đâu; được gặp chị, em sung sướng quá đấy. Chị vào đây, chúng ta nhất thiết phải uống với nhau cái gì đó.

Hélène để Nathalie ngồi cạnh Vera Petrovna và nói:

-      Chị Vera, chị ruột em đây, chị biết không, chị ruột em đấy. Người chị hiền nhất, kỳ lạ nhất và đã đau khổ biết bao! Em chưa nói đến chị ấy bao giờ vì em xấu hổ về em thay cho chị em. Nhưng chị em đã đến đây. Chị hãy xem: gương mặt nhỏ nhắn chưa! Hãy mang sâm banh cho chị ấy, nhanh lên, anh Fédor, lại đây, anh hãy nói xem chị ấy đã chăm sóc anh thế nào?

Ông hoàng Fédor đến nghiêng mình chào Nathalie Borissovna:

-      Nếu tôi biết chị đến đây, tôi đã không viết thư cho chị.

-      Chị chưa ăn gì phải không? – Hélène kêu. – Trông chị buồn thế, phải không chị Natacha?

Cô ôm riết chị mạnh đến nỗi Nathalie phải van vỉ:

-      Léna, em yêu quý, đêm nay đừng uống nữa.

-      Có điều gì chị muốn mà em không làm. Này!

Gạt tay một cái, cô hất tất cả cốc trên bàn xuống. Đại tá Litchourine đến, nhẹ nhàng bảo cô:

-      Sao lại làm thế, Hélène, cô biết rằng người ta sẽ khấu trừ số cốc của cô kia mà !

-      Tôi bất cần Terhane! Chị Natacha, chị biết đấy, thằng khốn kiếp đó, em đã đập vỡ cốc vào mặt nó.

Fédor nói nhỏ:

-      Nathalie Borissovna, tôi muốn nói với chị một việc.

Khi Nathalie đi theo anh, anh nói:

-      Chị hãy đi khỏi đây, trời phù hộ cho chị. Đêm mới chỉ bắt đầu. Chị đừng đánh giá cô ấy vội quá. Chẳng bao lâu, chúng ta cũng sẽ như cô ấy.

-      Được, được, tôi sẽ đi – Nathalie nói – nhưng làm thế nào để kéo được cô ấy ra khỏi chỗ này?

-      Tôi thề với chị là nếu cần phải giết một người nào đó, tôi sẽ giết ngay – Fédor nói – Nhưng bây giờ lại phải giết chính cô ấy thì cô ấy mới bỏ. Hoặc là phải có một chuyện thần kỳ nào xảy ra. Chị hãy đi đi, tôi van chị, vì bây giờ tôi phải nhảy, mà tôi không thể nhảy được trước mặt chị. Không phải tôi kiêu ngạo hơn cô ấy, nhưng tôi bắt đầu vào đây chậm hơn cô ấy hai tháng và tôi chịu đựng được rượu vang khỏe hơn cô ấy, thế thôi.

Nathalie Borissovna cúi xuống Hélène, hôn rất lâu vào mắt cô:

-      Tạm biệt, em thân yêu – nàng cố tỏ ra vui – Chị phải đi đây. Chị không biết bao giờ lại trở lại. Em đã biết ở đó chị bận thế nào rồi. Nhưng em hãy đến đấy. Mùa này ởNeuilly đang đẹp lắm. Sẽ rất có lợi cho em.

-      Ngày mai, chị Natacha thân yêu, chắc chắn ngày mai.

Suốt tháng này đến tháng khác, Hélène đều gác lại chuyến thăm ấy đến ngày mai.

Buổi sáng tiếp theo ngay đêm ấy, ở nhà hàng Lesghine, trong khi Hélène khóc cuồng loạn trên vai của Vera thì Fédor uống rượu với Héridzé.

-      Thưa Điện hạ, - Fédor Achkeliani nói (những người Kavkaz bao giờ cũng dành tước hiệu cho người nhiều tuổi nhất và có cấp bậc quý tộc cao nhất trong số họ) - Điện hạ có biết rằng ở Syrie đã có những đại đội lính Tcherkesse [2] không?

-      Tin hay đấy! Bạn tôi là Osman Bey đã ở đấy từ hai năm nay.

-      Tôi mới được tin hôm nay do một người từ đó về. Anh chàng ấy là một thiếu úy bé nhỏ tên là Collet, họ đánh trận ra trò trên lưng ngựa.

Yên lặng một lúc lâu. Héridzé nhìn Fédor, mặt ông buồn rười rượi: ông đoán ra anh chàng trai trẻ đang nghĩ điều gì. Bỗng nhiên, Fédor nói:

-      Điện hạ, ta đi đi. Nơi đó, đúng là nghề của chúng ta, mặt trời ở đó cũng là mặt trời của chúng ta. Còn ở đây thì mọi việc đều kết thúc tồi tệ.

-      Cậu hãy đi một mình, – Héridzé nói.

-      Tôi không muốn. Anh biết đấy, nào hộ chiếu, nào phải vượt biển, và ở nơi đó không có bạn bè. Trong khi đó thì ở với anh, hê, cuộc đời sẽ đẹp. Anh là xếp, là người cũ của tôi! Và những đường gươm của anh mới đẹp sao, ông Hoàng!

-      Cậu im đi, – Héridzé hét lên, – tôi không chịu được nữa rồi!

-      Anh tưởng anh đã già quá rồi!

-      Hê! Không, thằng vô lại, mày khỏe thật đấy, nhưng ta sẽ bẻ mày gẫy làm đôi!

-      Vậy thì?

-      Đó là vì Jacquot. Cậu không biết. Mình không cho ai biết, trừ với Vera. Mình không muốn Jacquot ngửi thấy cái mùi Pigal ở cậu.

-      Một người đàn bà?

-      Cậu có biết một người đàn bà nào có thể giữ ta ở lại không? Ta, một kẻ nấu bếp, kẻ-nấu-bếp, trong khi ở khắp phương Đông, ta có bao thành phố để chiếm lấy. Hả?

Một cơn giận dữ man rợ và bất lực lắc mạnh ông, ông như đang chống lại một cái phanh mà, lần đầu tiên trong đời, ông cảm thấy nó mạnh hơn tất cả các ham muốn. Ông làu bàu nguyền rủa một lúc lâu.

-      Đó là con gái ta! – Cuối cùng ông đã nói ra. – Đúng, một đứa con gái nhỏ năm tuổi mà ta có được ởConstantinople. Ma quỷ đã làm gì cái bụng của mẹ nó. Mẹ nó đã để lại Jacquot trên cánh tay ta.

Rồi ông cười dữ dội:

-      Mình đã có những đứa con, cậu biết. Ba đứa trai không biết giờ ở đâu, một đứa con gái có lẽ phải làm điếm như tất cả bọn chúng. Mình cũng đành.

Gương mặt khủng khiếp của ông bỗng trở nên vừa dịu dàng vừa đáng thương một cách dữ dằn.

-      Nhưng, vì Jacquot, cậu biết không, tôi phải làm gì, tôi không biết. Nhưng ngày nào tôi cũng phải gặp nó và tôi phải làm cho nó vui. Bởi vì cậu, cậu mang dòng máu mà tôi yêu nhất, tôi đã bán cậu đi cho nó có được một bộ váy áo[3]. Nó đã làm hỏng tôi, Fédor ạ. Nó đã làm hỏng lão già Héridzé. Vera! Vera đâu, hãy hát một bài hát cho rung cửa kính lên đi!

❀ ❀ ❀

[1] Một điệu nhảy Kavkaz.

[2] Tcherkesse: một tộc người ở Bắc Kavkaz. Ở đây nói về những người Tcherkesse làm lính đánh thuê.

[3] Héridzé đã giới thiệu Fédor làm việc cho Terhane và Terhane đã tặng ông tiền mua áo cho Jacquot.

thời gian đã mất được chính A. Makin, nhà văn Nga lưu vong sưu tầm và trích dẫn trở lại). Rồi sự thích ứng. Một điều bất cứ ai, dù chưa dấn thân vào kiếp sống nơi đất khách quê người, cũng có thể dự đoán được, ấy là sự mưu sinh ở đây cực k
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 10 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

2 Trong Tổng Số 3 tác phẩm của Joseph Kessel

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.